1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật việt nam hiện hành từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

82 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 852,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và trong tổ chức thực thi pháp luật về du lịch nói chung và pháp luật về cấp phép kinh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LÊ PHƯƠNG ANH

ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH TỪ THỰC

TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LÊ PHƯƠNG ANH

ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH TỪ THỰC

TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.8.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Hà Nội, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được thành quả như ngày hôm nay, tôi vô cùng biết ơn gia đình, biết ơn Ban giám đốc, cùng quý thầy cô cán bộ quản lý, quý nhân viên khoa Luật học của Học viện Khoa học xã hội, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng bổ ích cho tôi mà trước đó tôi chưa từng được tiếp cận tới

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Cương người

đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Nguyễn Lê Phương Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình của nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Cương Các số liệu trong luận văn được tác giả thu thập dưới nhiều hình thức khác nhau, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định Trong luận văn, tác giả có sử dụng một số nhận xét, đánh giá của một số tác giả khác, có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố dưới bất

kỳ hình thức nào Tôi xin cam đoan và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với nội dung nghiên cứu của mình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Nguyễn Lê Phương Anh

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

7 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 7

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 7

1.1 Những vấn đề lý luận về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch 7 1.1.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ du lịch 7

1.1.2 Đặc điểm của điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch 21

1.1.3 Vai trò của điều kiện kinh doanh du lịch và sự cần thiết quy định bằng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch 22

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch 27 1.2.1 Pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch ở Mỹ 27

1.2.2 Pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch ở Singapore 30

Trang 6

1.2.3 Pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch ở Trung

Quốc 32

1.2.4 Bài học kinh nghiệm và ý nghĩa thực tiễn về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại Việt Nam 34

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 37

ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 37

2.1 Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật hiện hành 37

2.1.1 Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành 37

2.1.2 Điều kiện cấp phép kinh doanh vận tải khách du lịch 41

2.1.3 Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch 42

2.1.4 Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ khác du lịch 45

2.2 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch 47

2.3 Tình hình cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh 52

2.4 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh 53

2.4.1 Mặt làm được 53

2.4.2 Hạn chế 53

2.4.3 Nguyên nhân 55

Tiểu kết chương 2 58

Trang 7

Chương 3 60

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 60

3.1 Bối cảnh bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh 60

3.2 Một số giải pháp đảm bảo hiệu quả việc thực hiện pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới 62

Tiểu kết chương 3 67

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 ACRA Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp

của Singapore

2 BVHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

3 DCRA Cơ quan quản lý chung của quận, đảm bảo

phúc lợi sức khỏe, an toàn và kinh tế của người dân thông qua chương trình cấp phép, kiểm tra, tuân thủ và thực thi pháp

luật

4 DHO Giấy phép chuyên ngành của Sở Y tế

Colombia

5 DDOT Bộ Giao thông vận tải quận của Colombia

quy định không gian công cộng và Văn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng khách du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh (2014 - 9 tháng đầu năm 2019)

Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng giấy phép kinh doanh du lịch được cấp tại thành phố Hồ Chí Minh (2014 - 9 tháng đầu năm 2019)

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, du lịch đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp rất lớn cho tổng thu nhập bình quân của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, góp phần vào sự thịnh vượng của mỗi quốc gia Có thế nhận thấy rằng du lịch không chỉ đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, mà du lịch còn tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác, ngành du lịch đã tạo ra được nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân… Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước đã và đang nỗ lực phát triển, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp phát triển ngành du lịch với tư cách là một ngành kinh tế chiến lược trọng điểm, tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các nước trong khu vực và quốc tế, tiến đến việc phát triển du lịch bền vững Để đạt được thành công như vậy không thể không nhắc đến vai trò quản lý nhà nước về du lịch

Kinh doanh dịch vụ du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, có hiệu quả về nhiều mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội Có thể nhận định rằng, không có không một ngành kinh tế nào đi tắt đón đầu và đuổi kịp với trình độ phát triển của các nước trong khu vực nhanh bằng du lịch Chính vì thế, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã và đang có sự quan tâm đặc biệt sâu

sắc đến ngành “công nghiệp không khói” này Nhà nước đã ban hành nhiều

quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh dịch vụ và quản lý nhà nước về du lịch, tạo môi trường pháp lý kinh doanh lành mạnh, đa dạng, mở cửa cho các tổ chức và cá nhân có cơ hội kinh doanh dịch vụ du lịch Luật Du lịch lần đầu tiên được ban hành năm 2005 và được thay thế bằng Luật Du lịch năm 2017 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực pháp lý vào ngày 01/01/2018 đã có những thay

Trang 11

đổi, bổ sung đáng kể, kịp thời nhất là trong thủ tục cấp phép kinh doanh dịch

vụ du lịch

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước Ngành du lịch của thành phố có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển bởi điều kiện tự nhiên, các loại hình dịch vụ du lịch đa dạng và phong phú, đóng góp đáng kể trong việc tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh tương đối phong phú và đa dạng bao gồm hệ thống các sông, kênh rạch phục vụ cho phát triển du lịch đường sông, hệ thống bệnh viện đạt chất lượng tốt phục vụ cho du lịch y tế, hệ thống nhà hàng, khách sạn, cơ sở lưu trú 4 - 5 sao phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, các điểm tham quan (tự nhiên

và nhân tạo) đạt chuẩn chất lượng tốt đang được đầu tư và chú trọng xây dựng, các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, các cơ sở tôn giáo phục vụ cho nhu cầu tham quan du lịch của du khách trong và ngoài nước Phát huy những lợi thế đó, trong những năm qua thành phố Hồ Chí Minh đã và đang tập trung: Xây dựng chiến lược thu đầu tư trong và ngoài nước, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch, tăng cường nguồn nhân lực có liên quan Ngày 16/01/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Trên cơ sở đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành các chương trình,

kế hoạch triển khai thực hiện

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và trong tổ chức thực thi pháp luật về du lịch nói chung và pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch nói riêng cần phải khắc phục để tiềm năng du lịch của thành phố được khai thác đầy đủ hơn nữa

Với những lý do nêu trên, người viết chọn đề tài “Điều kiện cấp phép

kinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật việt nam hiện hành từ thực tiễn

Trang 12

Thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Luật

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

mà trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như:

Luận văn thạc sĩ của học viên Lê Công Bằng “Pháp luật kinh doanh lữ hành” (2014) (Đại học Luật TP Hồ Chí Minh) đã có những đánh giá đúng đắn về tầm quan trọng của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động du lịch lữ hành, bàn đến phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, luận văn này phân tích cơ sở pháp lý là Luật Du lịch năm 2005 (đến nay không còn hiệu lực) Luận văn thạc sĩ của học viên Hoàng Thị Tâm “Điều kiện kinh doanh dịch

vụ du lịch theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” (2018) (Học viện Khoa học xã hội) mới tập trung vào phân tích tình huống tại Ninh Bình (mảnh đất cố đô xưa), chưa có điều kiện phân tích tình hình của thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Thị Minh Thảo “Điều kiện kinh doanh du lịch lữ hành theo pháp luật Việt Nam hiện nay” (2018) (Học viện Khoa học xã hội) có nhiều phát hiện và đóng góp có giá trị khi phân tích quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch lữ hành trên mặt bằng chung của

cả nước, chưa có điều kiện đi sâu phân tích, đánh giá tình hình tại thành phố

Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Thị Thái “Điều kiện kinh doanh dịch

vụ lữ hành theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” (2020) (Học viện Khoa học xã hội) đã hệ thống được các văn bản pháp luật du lịch Việt Nam cùng các quy định về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành,

Trang 13

tuy nhiên luận văn chưa phân tích, đánh giá điều kiện kinh doanh các loại dịch

vụ du lịch khác

Học viên còn tham khảo thêm một số đề tài luận văn của các tác giả khác,

nhưng về “Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật Việt

Nam hiện hành từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” thì chưa có học viên nào

thực hiện vì thế việc học viên triển khai nghiên cứu đề tài này bảo đảm không

có trùng lặp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch từ góc

độ phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh nhằm chỉ ra được những hạn chế, bất cập hoặc khó khăn, vướng mắc để đề xuất những giải pháp pháp tháo gỡ, khắc phục

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

Hệ thống hóa các quy định pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch, bao gồm cấp phép kinh doanh lữ hành (quốc tế, nội địa), cấp phép kinh doanh cơ sở lưu trú, cấp phép kinh doanh vận tải du lịch theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch và chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật của các tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất các giải pháp giúp tháo gỡ những hạn chế, bất cập hoặc những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh

du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch ở Việt Nam hiện nay, bao gồm Luật du lịch năm

2017 và các quy định pháp luật có liên quan cùng thực tiễn thực thi các quy định này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung vào điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch, bao gồm các điều kiện cấp phép kinh doanh lữ hành (quốc tế, nội địa), cấp phép kinh doanh cơ sở lưu trú, cấp phép kinh doanh vận tải du lịch qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trên cơ sở đó, Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học bao gồm:

+ Phương pháp tổng hợp

+ Phương pháp phân tích

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp thống kê

+ Các phương pháp nghiên cứu khác có liên quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm sáng rõ hơn các khía cạnh lý luận pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch ở Việt Nam hiện nay

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở các nội dung nghiên cứu, luận văn đề xuất

Trang 15

nữa công tác thực thi pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du

lịch trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh Luận văn cũng có thể được dùng làm tài

liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu

pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch từ đó ứng dụng trong hoạt động kinh

doanh của mình

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các

từ ngữ viết tắt, kết cấu luận văn được chia làm 3 chương chính

Chương 1 Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về điều kiện cấp phép

kinh doanh dịch vụ du lịch

Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện

cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Giải pháp đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện cấp

phép kinh doanh dịch vụ du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU

KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH

1.1 Những vấn đề lý luận về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

1.1.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ du lịch

1.1.1.1 Du lịch

Thực tế, có rất nhiều khái niệm về du lịch đã được đưa ra Những khái niệm này có thể phản ánh du lịch dưới những góc độ khác nhau tùy thuộc vào cách nhìn nhận du lịch trong từng giai đoạn phát triển

Một số học giả, chuyên gia về du lịch trên thế giới thường cho rằng:

“Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân” Khái niệm này đề cập

đến mục đích chính của du lịch là “đi chơi” [12]

“Du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người” Trong khái

niệm này, ý nghĩa tích cực về mặt văn hóa du lịch chính là việc tăng cường sự hiểu biết cho con người [12]

“Du lịch là sự chinh phục không gian của con người đến một địa điểm không phải là nơi ở thường xuyên của họ” [12] Đặc điểm nổi bật của du lịch

chính là việc con người phải rời nơi cư trú đi đến một địa điểm khác, tuy nhiên mục đích chính của việc rời đi này lại chưa được đề cập cụ thể trong khái niệm này

“Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp du lịch” Khái niệm này đề cập đến việc khách du lịch sử dụng

phương tiện giao thông và sản phẩm của các đơn vị kinh doanh du lịch, là những

Trang 17

“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi

ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” [12] Trong khái niệm này, sự tiến

triển lớn trong nhận thức về du lịch được thể hiện khi người đưa ra khái niệm

đề cập đến đồng thời hoạt động của người đi du lịch và những hoạt động khác liên quan được bắt nguồn từ việc đi du lịch của khách du lịch Những hoạt động

đó có thể được phát sinh nhằm hỗ trợ cho việc đi du lịch của khách du lịch được thuận tiện hơn, cũng có thể là những tương tác giữa khách du lịch với những yếu tố hoặc những người họ gặp trong chuyến hành trình của mình Điều đó thể hiện tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, không đơn thuần chỉ là hoạt động

di chuyển và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú, để thỏa mãn những nhu cầu cá nhân của họ, mà còn liên quan đến rất nhiều mối quan hệ, với những tác động nhiều mặt không chỉ về kinh tế, mà cả về văn hóa - xã hội, môi trường Mặt khác, theo quan điểm của Robert W.MC.Intosh, Charles R.Goeldner, J.R

Brent Ritcie, “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ các tác động

qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch” [11] Đây là quan điểm tiếp

cận tổng hợp, chỉ ra được bốn thành cùng tham gia và tạo nên hoạt động du lịch: khách du lịch; các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; chính quyền sở tại; cộng đồng dân cư địa phương

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ khác nhau Cụ thể, du lịch có thể được hiểu là [14]:

Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

Trang 18

Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, thưởng lãm danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa và dân tộc, từ

đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ

Năm 2005, Luật Du lịch được ban hành, chính thức quy định các nội dung liên quan đến du lịch và ngành du lịch Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 đã quy

định tại Điều 4 về khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên

quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [27] Khái niệm này cơ bản được kế thừa trong

Luật Du lịch năm 2017 (tại Khoản 1 Điều 3), theo đó, “Du lịch là các hoạt

động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [27]

Từ các khái niệm trên đây, có thể thấy, không phải tất cả hoạt động đi lại rời khỏi nơi cư trú của con người đều được coi là du lịch Du lịch được giới hạn

Trang 19

nghỉ dưỡng ở nơi khác, thời gian được xác định cụ thể, thời gian hết thì chủ thể tham gia chuyến đi du lịch sẽ trở về nơi xuất phát ban đầu (nơi ở hiện tại) Các hoạt động đi ra nước ngoài du học, đi công tác, không là hoạt động du lịch Theo pháp luật du lịch của Việt Nam hiện nay khái niệm du lịch được giới hạn với 04 mục đích chính là hoạt động tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng và giải trí Một cách khác ta có thể hiểu rằng du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú với mục đích của chuyến đi là tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng, giải trí có thời gian được hoạch định rõ ràng cụ thể

và luôn có sự trở về nơi xuất phát ban đầu

1.1.1.2 Kinh doanh dịch vụ du lịch

Để hiểu biết cụ thể hơn về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, chúng ta

không thể nào bỏ qua thuật ngữ “kinh doanh” (một trong những thuật ngữ đang

được sử dụng khá phổ biến trong đời sống nhất ở cả Việt Nam và trên thế giới)

Định nghĩa “kinh doanh” đã được pháp luật Việt Nam chính thức sử dụng bắt

đầu từ năm 1990 trong nội dung của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư

nhân Từ năm 1990, định nghĩa “kinh doanh” được nhắc đến trong Luật Doanh nghiệp tư nhân tại Điều 2 “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công

đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Khái niệm này được giải thích

trong Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999 như sau: “Kinh doanh là

việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [19] Đến năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh

nghiệp 2014 với định nghĩa cụ thể về kinh doanh tại Khoản 16 Điều 4 “Kinh

doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [25] Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp

Trang 20

năm 2020 giải thích “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc

tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.” Theo luật

định, có thể thấy kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa từ các hoạt động sản xuất, nhằm mục đích sinh lợi cho doanh nghiệp Định nghĩa “kinh doanh” trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nét tương đồng với định nghĩa thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 (Khoản 1 Điều

3), theo đó hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao

gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[19] Như vậy, đến giai đoạn hiện nay

định nghĩa về kinh doanh có thể được hiểu chính là hoạt động thương mại theo nghĩa rộng

Ở những thế kỷ trước, các nhà khoa học, các nhà kinh doanh quan niệm

du lịch là hoạt động mang tính chất văn hóa giúp cho con người thỏa mãn nhu cầu giải trí, tìm hiểu của con người và khi đó du lịch không được xem là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được chú trọng đầu tư phát triển Hiện nay, du lịch đang được cả thế giới chú ý đến và được xem là một ngành kinh tế tổng hợp từ các ngành khác đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Du lịch bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ kinh doanh khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống, cung cấp quà lưu niệm cho du khách,… Từ việc tổng hợp các kiến thức

lý luận và từ thực tiễn về hoạt động du lịch tại Việt Nam hiện nay, tại Khoản 3

Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 đã định nghĩa hoạt động du lịch: “là hoạt động

của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch”[27] Hoạt động của khách

du lịch có thể hiểu là việc đi và ở của du khách xuất phát từ nơi ở hiện tại đến

Trang 21

một địa phương khác gắn liền với hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu

kiến thức văn hóa, lịch sử, nghệ thuật hoặc có thể là nghỉ dưỡng chữa bệnh…

Các đơn vị, cá nhân tham gia vào việc kinh doanh du lịch là hướng dẫn viên du lịch, các đơn vị kinh doanh lưu trú, kinh doanh nhà hàng, hoạt động vận chuyển đưa đón du khách tham quan, hoạt động kinh doanh hàng hóa, và các dịch vụ khác có liên quan,…nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế và sinh lợi nhuận

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện nay, để thúc đẩy tăng trưởng ngành du lịch bền vững thì các loại hình dịch vụ liên quan cũng cần được chú trọng ISO 9001:1991 đã định nghĩa rằng dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp với khách hàng, nhờ các hoạt động của người cung cấp đáp ứng nhu cầu của khách hàng là người tiêu dùng [34]

Tại Điều 38 Luật Du lịch năm 2005 quy định kinh doanh du lịch bao gồm các ngành, nghề sau:

- “Kinh doanh lữ hành;

- Kinh doanh lưu trú du lịch;

- Kinh doanh vận chuyển du lịch;

- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;

- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác”

Chương V Luật Du lịch năm 2017 quy định rõ ràng các mục của từng hình thức kinh doanh du lịch:

(1) Kinh doanh dịch vụ lữ hành

(2) Kinh doanh vận tải khách du lịch

(3) Kinh doanh lưu trú du lịch

Trang 22

(4) Kinh doanh dịch vụ khác (bao gồm các dịch vụ như dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm, dịch vụ vui chơi và giải trí, dịch vụ thể thao cũng như dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ khác phục vụ cho du khách)

Theo chức năng, tính chất hoạt động của ngành nghề, có thể xếp vào nhóm cung ứng dịch vụ du lịch hình thức (2), (3) và (4) Nhóm (1) được xếp vào nhà phân phối sản phẩm du lịch

Hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm các hình thức sau đây:

Thứ nhất, dịch vụ lữ hành:

Theo đó, dịch vụ lữ hành bao gồm các hoạt động chính: “Làm nhiệm vụ

giao dịch ký kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch” [27]

Như vậy, dịch vụ lữ hành luôn tồn tại song song 02 hoạt động khá phổ biến sau đây:

Một là, kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): đây là việc thực

hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, hình thành định hướng để thành lập các chương trình du lịch từng phần hoặc trọn gói cho du khách; thực hiện hoạt động quảng cáo, bán chương trình du lịch trực tiếp hoặc gián tiếp cho người có nhu cầu đi du lịch (có thể là qua trung gian, văn phòng đại diện của công ty, hướng dẫn viên du lịch) Vì thế, kinh doanh lữ hành có các đặc trưng cơ bản sau:

+ Sản phẩm lữ hành thường có tính tổng hợp: sản phẩm lữ hành được đem ra kinh doanh thường là sự kết hợp dịch vụ của nhiều ngành phối hợp đồng

bộ với nhau đó là: dịch vụ khách sạn, nghỉ tại gia (homestay), nhà nghỉ … (thường gọi là kinh doanh dịch vụ lưu trú), dịch vụ vận chuyển khách du lịch, dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng, quán ăn… Các đơn vị cung ứng sản phẩm phải cùng nhau gắn kết thực hiện chương trình cho khách du lịch

Trang 23

+ Chương trình du lịch mang đặc tính không thể chuyển quyền sở hữu

từ người này sang người kia Khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ khi

đã đăng ký mua chương trình du lịch và thực hiện giao dịch bằng hợp đồng, và không có quyền sở hữu cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng sản xuất dịch vụ du lịch

Vì thế, pháp luật du lịch đã điều chỉnh các ngành nghề kinh doanh du lịch phù hợp và có sự riêng biệt để dễ dàng quản lý… Trên cơ sở các đặc trưng này, nhà nước đã có biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động kinh doanh du lịch từ các đơn vị kinh doanh du lịch nói chung và đơn vị kinh doanh lữ hành nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển ngành du lịch Việt Nam theo hướng bền vững Theo quy định của pháp luật du lịch hiện nay, các doanh nghiệp cung cấp chương trình du lịch buộc phải cung cấp đầy đủ thông tin về dịch vụ, giá cả cho khách du lịch biết, nhấn mạnh lợi ích mà dịch vụ mang lại cho khách Doanh nghiệp lữ hành buộc phải hoạt động trong khuôn khổ pháp

lý phù hợp mà nhà nước sở tại quy định nhằm đem lại lợi ích đến với khách du lịch những sản phẩm du lịch tốt nhất, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan

+ Các đơn vị kinh doanh lữ hành (công ty du lịch) là cầu nối liên kết các sản phẩm du lịch thành một chương trình du lịch trọn gói Khách hàng sẽ là người lựa chọn sản phẩm du lịch này theo nhu cầu của mình

Hoạt động kinh doanh lữ hành chính là kinh doanh các chương trình du lịch trọn gói mà đơn vị lữ hành đang liên kết Các đơn vị kinh doanh lữ hành buộc phải tìm hiểu và nghiên cứu thị trường cùng với việc phối hợp tổ chức các chương trình du lịch Hoạt động này và việc tìm hiểu về sở thích, thị hiếu của khách, quỹ thời gian rỗi mà khách dành cho việc đi du lịch, nhu cầu của khách, đặc điểm tiêu dùng và khả năng thanh toán của du khách, bên cạnh đó không thể thiếu việc nghiên cứu các yếu tố khác về du lịch trên thị trường tại thời điểm hiện tại (nghiên cứu về tài nguyên du lịch đang khai thác, điểm tham quan du lịch “hot” hấp dẫn, sức chứa của điểm tham quan,…) và các đơn vị kinh doanh

Trang 24

là đối đang cạnh tranh trực tiếp hoặc gián tiếp trên thị trường nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh các chương trình du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Khi hoàn thành việc xây dựng chương trình du lịch, tính giá bán sản phẩm các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành hoạt động quan hệ công chúng (PR), Marketing (cung cấp các chương trình du lịch trực tiếp tại đơn vị mình cho khách có nhu cầu đi du lịch, liên kết hợp tác với các đơn vị kinh doanh lữ hành

“bạn” hoặc đối tác, trích hoa hồng cho các đơn vị nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện ký kết hợp đồng, tổ chức được chương trình du lịch cho khách và đem lại doanh thu cho đơn vị Khi đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng đã giao kết với khách hàng cần có những chuẩn bị nhất định như sau: hướng dẫn viên du lịch đồng hành với khách suốt hành trình, thông tin về đoàn khách tham gia du lịch, các lưu ý về chuyến đi và các yếu tố cần thiết khác khi tổ chức chương trình du lịch cho khách Vì thế, cần chọn hướng dẫn viên du lịch có khả năng làm việc độc lập, có chuyên môn và nghiệp

vụ tốt, buộc phải có kiến thức tốt về văn hóa, lịch sử, chính trị, pháp luật, kinh

tế, nắm vững kỹ năng giao tiếp và tâm lý khách du lịch, cần có sự hiểu biết về

y tế… với hướng dẫn viên du lịch cần phải kết hợp tốt các yếu tố trên để kịp thời nắm bắt, xử lý và có những hướng giải quyết, quyết định đúng lúc đảm bảo chương trình du lịch thực hiện đúng với hợp đồng đã được ký kết tạo sự thành công cho chuyến đi Kết thúc chương trình du lịch của khách, các đơn vị kinh doanh sẽ tự thanh quyết toán cho nhau cùng với việc rút kinh nghiệm cho lần phối hợp thực hiện tiếp theo

Hai là, kinh doanh đại lý lữ hành (Travel Sub-Agency Business): đây là

việc thực hiện các dịch vụ đón tiễn, đăng ký nơi ở cho khách, hướng dẫn tham quan du lịch, cung cấp các chương trình du lịch của các đơn vị kinh doanh lữ

Trang 25

hành đến với khách, hỗ trợ cung cấp thông tin cho khách du lịch và tư vấn dịch

vụ cho khách lựa chọn sử dụng nhằm hưởng hoa hồng từ việc cung cấp đó

Thứ hai, dịch vụ lưu trú du lịch:

Theo Điều 48 Luật Du lịch năm 2017, dịch vụ lưu trú bao gồm: Khách sạn (từ 1 đến 5 sao); Biệt thự du lịch; Căn hộ du lịch; Tàu thủy lưu trú du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê; Bãi cắm trại du lịch; Các cơ sở lưu trú du lịch khác [34]

Thứ ba, vận tải du lịch:

Khoản 1 Điều 45 Luật Du lịch năm 2017 quy định kinh doanh vận tải du

lịch là “việc cung cấp dịch vụ vận tải đường hàng không, đường biển, đường

thủy nội địa, đường sắt, đường bộ chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, tại khu du lịch, điểm du lịch” [27] Du lịch có một đặc trưng mà

không phải ngành nào cũng có được là sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên, với khoảng cách khá xa từ nơi này đến nơi khác Vì vậy, khi nhắc đến du lịch nói chung, và nhắc đến hoạt động kinh doanh về du lịch nói riêng, một điều không thể thiếu đó là hoạt động kinh doanh vận chuyển hành khách Ngày nay, hoạt động kinh doanh vận chuyển ngày càng phổ biến, các phương tiện vận chuyển (như máy bay, ô tô, tàu thủy, tàu hỏa v.v.) ngày càng được trang bị hiện đại, nâng cấp phù hợp nhằm phục

vụ tốt nhất cho khách du lịch… Tuy vậy, trong thực tế, ít có doanh nghiệp kinh doanh du lịch nào (không tính đến các tập đoàn du lịch trên thế giới) có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch trong suốt chương trình du lịch

mà mình đã ký kết với khách Đa phần các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thường liên kết với các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận chuyển, nhằm mục đích cuối cùng là đem lại thành công cho chuyến đi Kinh doanh vận chuyển du lịch

là một loại hình kinh doanh có điều kiện

Thứ tư, dịch vụ du lịch khác:

Trang 26

Trong kinh doanh du lịch, ngoài các hoạt động đã nói trên đây, không thể không nói đến các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch khác, thường được gọi là hoạt động kinh doanh bổ trợ như: kinh doanh các loại dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm, dịch vụ thể thao và chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ vui chơi giải trí, các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch… Với xu hướng phát triển

du lịch mới ngày càng đa dạng, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, sự tăng trưởng của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch dẫn đến gia tăng cạnh tranh trên thị trường du lịch, kéo theo sự phát triển của các hoạt động kinh doanh dịch vụ bổ trợ đóng góp đáng kể vào nền kinh tế chung và sự phát triển của ngành du lịch

Từ những phân tích trên đây có thể khẳng định: Dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch

và khách du lịch, thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ [34] Hoạt động kinh doanh du lịch gồm kinh doanh dịch vụ lữ hành, kinh doanh dịch vụ vận chuyển, kinh doanh dịch vụ lưu trú, kinh doanh dịch vụ ăn uống, và kinh doanh các dịch vụ giải trí khác nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch 1.1.1.3 Cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

Pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch và hoạt động quản lý nhà nước về việc đăng ký cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

Các quan hệ xã hội có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về điều kiện đăng ký cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm:

Quan hệ giữa toàn ngành du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; Quan hệ giữa doanh nghiệp kinh doanh du lịch với khách du lịch, giữa các

Trang 27

Quan hệ nội bộ bên trong của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; Quan hệ giữa nước tiếp nhận khách du lịch đến tham quan;

Quan hệ giữa nước gửi khách du lịch và nước tiếp nhận khách đến tham quan;

Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh doanh du lịch, giữa các tổ chức kinh doanh du lịch và cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch [38]

Pháp luật về cấp phép kinh doanh du lịch là tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động cấp phép kinh doanh

du lịch

Nguồn quan trọng nhất của các quy định pháp luật du lịch là Luật Du lịch

số 07/2017/QH14 được Quốc hội Khóa XIV kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) Luật Du lịch năm 2017

quy định rõ về “Tài nguyên du lịch và các hoạt động du lịch; quyền và nghĩa

vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, các cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan tới du lịch, quản

lý nhà nước về du lịch” [27] Cùng với đó là Luật Doanh nghiệp năm 2014 (mà

tới đây là Luật Doanh nghiệp năm 2020) đã có những quy định cụ thể về việc thành lập doanh nghiệp, cơ cấu và tổ chức của doanh nghiệp, các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp… Một điều không thể thiếu và rất thiết thực với hoạt động kinh doanh doanh là bảo hiểm du lịch đang được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 trong đó quy định về bảo hiểm du lịch cho khách du lịch trong và ngoài nước Du lịch gắn liền với hoạt động đi lại, các phương tiện giao thông vận tải Vì thế, Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã có những điều kiện bắt buộc về điều kiện của xe ô tô vận chuyển khách du lịch Ngoài ra, còn có các luật của Quốc hội, các văn bản quy phạm pháp luật khác do Chính phủ, các Bộ ban hành quy định về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch [34]

Trang 28

1.1.1.4 Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, việc mở rộng quyền tự do kinh doanh luôn được các quốc gia trên thế giới coi trọng Hiến pháp năm 1992 trước đây và Hiến pháp năm 2013 hiện hành đã quy định việc thể chế hóa quyền

tự do kinh doanh của công dân tại Điều 33 như sau “Mọi người có quyền tự do

kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” [22] Các nhà

nghiên cứu pháp luật cho rằng, quyền tự do kinh doanh chính là quyền tự do trong hoạt động kinh tế, tạo ra của cải vật chất cho xã hội Đây là một trong những quyền năng giữ vị trí trung tâm trong đời sống xã hội, ảnh hưởng tới các mặt hoạt động của quốc gia Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh cũng luôn có những ràng buộc nhất định mà khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia quy định Khi đó, tự do trong kinh doanh và giới hạn quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của thị trường luôn có quan hệ mật thiết Ứng với mỗi giai đoạn phát triển, pháp luật lại có những thay đổi nhất định trong việc xác định nội hàm của quyền tự do trong kinh doanh Một lẽ đương nhiên khi quyền tự do kinh doanh của cá nhân được mở rộng, pháp luật phải thay đổi cách thức và nội dung quản

lý nhà nước đối với thị trường [13]

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 hiện nay (mà tới đây là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2020) đã thể chế hóa quyền tự

do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp với cách tiếp cận theo hướng đơn giản hóa điều kiện và thủ tục đăng ký kinh doanh, tháo gỡ hàng loạt những hạn chế và bất cập của quy định cũ, mở rộng các nhóm quyền tự quyết và tự chủ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh

nghiệp năm 2014 quy định doanh nghiệp có quyền được “Tự do kinh doanh

trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”[25] Doanh nghiệp được

quyền lựa chọn để kinh doanh tất cả các ngành, nghề; trừ một số ngành nghề

Trang 29

hưởng tới thuần phong mỹ tục được quy định trong danh mục ngành, nghề bị pháp luật cấm kinh doanh [13]

Để hiểu rõ về điều kiện cấp phép kinh doanh, trước tiên cần phải hiểu được định nghĩa điều kiện Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt, điều kiện

là “cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra” [17]

Như vậy, có thể hiểu điều kiện chính là những yếu tố tiên quyết, mang tính chất quyết định đối với sự xuất hiện của một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó

Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 trước đây đã định nghĩa

về điều kiện kinh doanh như sau: “Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh

nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu

về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác” [19] Luật Doanh nghiệp năm 2014 không

nêu ra định nghĩa hoặc khái niệm về điều kiện kinh doanh hoặc những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mà thay vào đó tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

năm 2014: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà

việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [25] Như vậy, điều kiện kinh doanh được

hiểu là những yêu cầu Nhà nước đặt ra buộc các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi thực hiện kinh doanh trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) cũng liệt kê và tổng hợp các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao gồm 243 ngành, nghề kinh doanh, đồng thời các điều kiện kinh

doanh phải được quy định tại “Các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc

tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bộ, cơ quan

Trang 30

ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”[25]

Từ những lý do trên đây cho thấy điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ

du lịch là yêu cầu mà các tổ chức, cá nhân phải buộc phải đáp ứng khi kinh doanh dịch vụ du lịch được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thể hiện bằng các hình thức theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm của điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

Kinh doanh dịch vụ du lịch hiện nay được vận hành theo cơ chế thị trường nhằm tạo ra môi trường kinh doanh đa dạng, cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Bên cạnh đó, du lịch được thế giới và Việt Nam coi là một ngành kinh tế tổng hợp: sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch Các nhu cầu thiết yếu như: nhu cầu vận chuyển, nhu cầu (ở) lưu trú, nhu cầu thưởng thức ẩm thực (ăn - uống), nhu cầu vui chơi và giải trí, cùng các nhu cầu khác của khách du lịch Do du lịch có tính chất tổng hợp mà hoạt động này chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các ngành kinh tế liên quan khác… Trên thế giới hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch phát triển đa dạng ở nhiều quốc gia và nhiều vùng miền khác nhau, với sự đa dạng về loại hình du lịch, đối tượng tham gia du lịch Luật Du lịch ra đời đã quy định chi tiết về điều kiện cấp phép kinh doanh đối với từng loại hình dịch

vụ du lịch

Với đặc điểm thị trường du lịch, các điều kiện về cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm:

(1) Chủ thể kinh doanh du lịch bao gồm: Các tổ chức, cá nhân được cơ quan

có thẩm quyền ra quyết định thành lập, chấp nhận cấp giấy phép cho đầu

tư kinh doanh

Trang 31

(2) Ký quỹ doanh nghiệp: Từng loại hình kinh doanh du lịch mà có mức ký quỹ khác nhau đã được pháp luật du lịch Việt Nam quy định

(3) Cơ sở vật chất - cơ sở hạ tầng: Phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy, cơ sở hạ tầng theo đúng pháp luật quy định đối với các doanh nghiệp, các công ty

(4) Điều kiện về trình độ và nghiệp vụ của người quản lý phải đúng và hợp pháp

(5) Điều kiện khác: An ninh trật tự, vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng… phải được đảm bảo

Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch được áp dụng với các điều kiện kinh doanh riêng phụ thuộc vào từng lĩnh vực mà chủ thể đăng ký cấp phép kinh doanh Nói chung, các quy định pháp luật tuy có khác biệt trong các thời kỳ khác nhau theo từng giai đoạn theo tiến trình của hội nhập kinh tế quốc

tế nhưng giữa các quy định này vẫn có sự nhất quán về nhiều nội dung cơ bản

1.1.3 Vai trò của điều kiện kinh doanh du lịch và sự cần thiết quy định bằng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch

Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận tự do kinh doanh là một quyền con người cơ bản Pháp luật Việt Nam quy định trong một số ngành, nghề nhất định mặc dù với tinh thần “được tự do kinh doanh” nhưng các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được các điều kiện nhất định đối với ngành, nghề đó

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, sự phát triển du lịch đem lại hiệu quả cao trong nền kinh tế quốc dân do tự bản thân nó khai thác được những giá trị có sẵn về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Quá trình khai thác tài nguyên du lịch cần phải đặc biệt chú ý đến việc gìn giữ tài nguyên tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường du lịch nhằm hướng đến việc phát triển du lịch một cách bền vững

Trang 32

Để kinh doanh dịch vụ du lịch cũng như nhiều ngành, nghề khác, chủ thể kinh doanh phải đăng ký cấp phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Kinh doanh dịch vụ lữ hành và kinh doanh lưu trú du lịch là những ví

dụ về ngành, nghề đặc thù, tác động đến nhiều lợi ích chung của cộng đồng cũng như tác động đến nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch khác do đó chủ thể kinh doanh cần được cấp phép trước khi tiến hành kinh doanh Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cũng như đáp ứng được các quyền lợi khác về kinh tế,

an ninh, trật tự xã hội, môi trường, danh lam thắng cảnh, việc đăng ký cấp phép kinh doanh lữ hành và kinh doanh lưu trú cần đảm bảo các điều kiện do pháp luật Việt Nam hiện hành quy định Việc quy định các điều kiện cấp phép kinh doanh du lịch là rất cần thiết Chính vì vậy, Luật Du lịch năm 2017 có quy định

về điều kiện để được cấp phép kinh doanh lữ hành tương ứng với 03 mô hình kinh doanh là:

(1) Kinh doanh lữ hành nội địa (khoản 1 Điều 31);

(2) Kinh doanh lữ hành quốc tế (khoản 2 Điều 31);

(3) Kinh doanh đại lý lữ hành (Điều 40)

Pháp luật du lịch Việt Nam quy định về các điều kiện để được cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch dựa trên tính đặc thù cũng như vai trò của ngành du lịch như sau:

- Đối với chính trị - an ninh quốc gia:

Du lịch góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia trên thế giới, tăng cường sự hiểu biết về đất nước, con người, lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, kinh tế - xã hội của các nước mà du khách đến tham quan du lịch Du lịch là hoạt động gắn kết đưa con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết nhau hơn và xích lại gần nhau, các hoạt động kinh doanh

du lịch theo chủ đề đã và đang được thực hiện, kêu gọi hàng triệu người quý

Trang 33

khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết

về tình hữu nghị của các dân tộc Năm 1979, Đại hội của UNWTO đã thông qua Hiến chương du lịch và chọn ngày 27 tháng 9 là ngày du lịch thế giới [34]

- Đối với hoạt động về kinh tế:

Hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế của một đất nước, một vùng, một địa phương thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch Đồng thời, thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp (như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp dệt, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi ) Du lịch

là ngành luôn đòi hỏi hàng hóa chất lượng cao, đa dạng và phong phú về chủng loại, thẩm mỹ về hình thức góp phần phát triển thị trường sản xuất hàng hóa Mặt khác, thị trường du lịch rộng lớn với nhu cầu hàng hóa và dịch vụ rất

đa dạng, khách hàng có khả năng thanh toán và chi trả khá cao so với các ngành kinh tế khác Thị trường du lịch hoạt động trong không gian và lãnh thổ nhất khá đa dạng, cụ thể như thị trường du lịch nội địa, thị trường này có khả năng

“xuất khẩu tại chỗ” thu vào ngoại tệ Sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh các ngành nghề khác trong nước cùng với đó là việc tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác [13]

- Đối với văn hóa, xã hội:

Trong đời sống xã hội của con người, du lịch là hiện tượng khách quan,

có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, khôi phục sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân Góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế vùng có hoạt động du lịch và giảm quá trình đô thị hóa Dựa vào việc tài nguyên du lịch tự nhiên có ở các vùng hẻo lánh, xa xôi, vùng ven biển việc khai thác đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế,

Trang 34

văn hóa, xã hội Do vậy, việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế

- xã hội giữa các vùng trong nước, giảm đi sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng đó, đồng thời góp phần làm giảm sự tập trung dân cư ở những trung tâm Thông qua việc sử dụng các dịch vụ du lịch, khách

du lịch sẽ được thường xuyên tiếp xúc với người dân địa phương làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị

Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ, sự hiểu biết của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật, di tích lịch sử văn hóa Bên cạnh đó, du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc, từ đó có ý nghĩa rất to lớn đối với việc khai thác và bảo vệ cộng các di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề thủ công truyền thống ,góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội [13]

- Đối với môi trường sinh thái:

Vai trò sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động của con người Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vụ nhất định lại đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tài nguyên

tự nhiên với mục đích du lịch Hiện nay, việc khai thác du lịch ở một số nơi chưa tốt do vậy con người phải đặt ra vấn đề bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Môi trường và xã hội trong lĩnh vực du lịch luôn có một mối quan hệ chặt chẽ Làm du lịch và bảo vệ môi trường là hai hoạt động gần gũi, tương hỗ liên quan với nhau Môi trường có ổn định, có lành mạnh thì mới tạo đà cho du lịch

Trang 35

Bên cạnh những lợi ích to lớn của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội của nước ta thì du lịch vẫn còn tồn tại những điểm tiêu cực buộc Nhà nước phải đặt ra những điều kiện cho hoạt động kinh doanh du lịch nhằm mục đích quản

lý, kiểm tra, giám sát Thực tiễn cho thấy rằng việc phát triển du lịch quốc tế vẫn còn thụ động và quá tải dẫn đến việc làm mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế nó gây ra nhiều áp lực cho việc lạm phát Ngành du lịch mang tính thời

vụ, do đó ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng lao động, tạo ra sự mất cân đối cục bộ do tính thời vụ trong hoạt động du lịch Ngoài ra, việc khai thác kinh doanh du lịch tại một số nơi chưa tốt còn làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên của đất nước do khai thác không khoa học, khai thác quá mức hoặc không hợp lý Sức chứa của nhiều nơi phục vụ du lịch đã quá tải Ngoài ra, ô nhiễm nước và không khí do nước thải, tràn dầu, do chất thải, khí thải của phương tiện vận tải khách du lịch như tàu, thuyền, ô tô, xe máy cũng

đã diễn ra Việc nuôi trồng thủy sản, rừng bị tàn phá để đầu tư xây dựng các khu du lịch, cung cấp nguyên vật liệu và đáp ứng nhu cầu ẩm thực cho hoạt động du lịch đã gây ảnh hưởng tới ảnh hưởng lớn đến tính đa dạng sinh học Các hoạt động giải phóng mặt bằng hoặc quy hoạch xây dựng hạ tầng, cơ

sở dịch vụ gây xáo trộn cuộc sống hoang dã, hủy hoại thực vật Di sản thiên nhiên, văn hóa cũng như tính đa dạng của các nền văn hóa đang tồn tại tạo ra lực hấp dẫn to lớn, đôi khi tạo ra sự phát triển tùy ý, không được kiểm soát của các dịch vụ du lịch đe dọa tới tính toàn vẹn của tự nhiên và ý nghĩa của di sản [13]

Mặt khác du lịch phát triển nhanh nhưng quản lý yếu kém sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng Nhiều tệ nạn xã hội, các loại hình kinh doanh không lành mạnh trong nhà hàng, khách sạn cũng ngày càng tăng Du lịch là con đường mà các thế lực phản động hay sử dụng để tuyên truyền, kích động phá hoại chế độ chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa Đội lốt các du khách để xâm nhập

Trang 36

vào đất nước nhằm móc nối, xây dựng các cơ sở, tổ chức phản động Đồng thời,

du lịch cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở các điểm du lịch Pháp luật du lịch cần điều chỉnh các ngành, nghề kinh doanh du lịch một cách riêng biệt với các cơ quan quản lý trực tiếp Du lịch mang tính thời vụ, khách du lịch không ổn định, khi tới mùa du lịch, lượng khách du lịch tới các khu du lịch tăng đột biến Khách du lịch đi lẻ với tâm lý ngẫu hứng, thiếu thông tin cũng như sự không tập trung của nguồn khách lễ đã dẫn tới các khó khăn trong việc quản lý khách du lịch của Nhà nước, khó khăn trong việc cung cấp sản phẩm du lịch cũng như an ninh khu vực Sản phẩm du lịch được tạo ra từ sự kết nối các sản phẩm du lịch khác một cách khoa học, một chương trình du lịch tác động đến nhiều chủ thể kinh doanh khác như lưu trú, ăn uống, vận chuyển tác động đến di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh cũng như tác động đến khách du lịch, đất nước Việt Nam trong mắt khách du lịch Trong một sản phẩm du lịch như vậy, có rất nhiều quan hệ phát sinh, dễ dẫn đến nhiều tranh chấp phức tạp

Những lý do như trên đòi hỏi phải có những quy định cụ thể về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng vận động chung của thị trường, nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch, một mặt đảm bảo lợi ích của các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch, mặt khác đảm bảo quyền lợi khách du lịch cũng như lợi ích chung của quốc gia, của dân tộc [13]

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch

1.2.1 Pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch ở Mỹ

Mỹ là một quốc gia cộng hòa lập hiến liên bang, gồm có 50 bang và một đặc khu liên bang Hệ thống pháp luật của Mỹ bao gồm hệ thống pháp luật liên

Trang 37

động kinh doanh trong quốc gia này, doanh nghiệp phải tuân thủ hàng loạt các quy định của từng địa phương, từng tiểu bang và của liên bang

Pháp luật đăng ký cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch của các doanh nghiệp tại Mỹ cũng có những quy định khác nhau về điều kiện gắn với các loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh khác nhau Các nhà nghiên cứu đều đánh giá rằng, việc bắt đầu thành lập một doanh nghiệp ở Mỹ tương đối dễ dàng

vì những quy định khá đơn giản, gọn nhẹ về thủ tục đăng ký cấp phép kinh doanh Song song với hệ thống đăng ký cấp phép kinh doanh, nhà nước Mỹ đã thiết lập cơ chế xin cấp giấy phép kinh doanh và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận rất rõ ràng và cụ thể để kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp[39],[40]

Nước Mỹ có hai hệ thống cấp phép đó là:

(1) Giấy phép và sự chấp thuận của Liên bang;

(2) Giấy phép và sự chấp thuận của tiểu bang

Hai hệ thống này tồn tại song song, chi phối đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Bản thân doanh nghiệp đó phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản để xin phép kinh doanh tại địa phương, tiểu bang - nơi mà doanh nghiệp có trụ sở Nếu như doanh nghiệp đó kinh doanh lĩnh vực, ngành nghề

có sự kiểm soát của liên bang thì doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động kinh doanh đó khi được chính quyền liên bang chấp thuận hoặc cấp giấy phép kinh doanh

Song song đó, từng địa phương, từng tiểu bang có quy định khác nhau về việc cấp giấy phép và cho phép kinh doanh đối với doanh nghiệp, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và chính sách từng địa phương Bên cạnh đó cũng có những địa phương đòi hỏi doanh nghiệp phải có giấy phép chung do liên bang cấp, một số nơi còn quy định giấy phép theo từng ngành nghề kinh doanh, một

số nơi quy định giấy phép theo loại hình doanh nghiệp [39],[40]

Trang 38

Thực tiễn tại Columbia hiện nay [39],[40]: Hầu hết các cá nhân và các công ty kinh doanh tại Quận Columbia phải có giấy phép kinh doanh cơ bản của DCRA - Cơ quan quản lý chung của quận, đảm bảo phúc lợi sức khỏe, an toàn và kinh tế của người dân thông qua chương trình cấp phép, kiểm tra, tuân thủ và thực thi pháp luật Ngoài ra, Sở Y tế (DHO) phát hành giấy phép chuyên ngành nhất định, Bộ Giao thông vận tải quận (DDOT) quy định không gian công cộng và Văn phòng Phân vùng (DCOZ) kiểm soát sử dụng đất Bên cạnh giấy phép kinh doanh cấp cho doanh nghiệp, Mỹ cũng tồn tại cơ chế cấp phép cho cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến năng lực, chuyên môn của cá nhân này nhằm bảo đảm lợi ích công cộng Rất nhiều ngành nghề

ở Mỹ chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý Sự kiểm soát này thể hiện ở

3 hình thức:

Thứ nhất, cấp phép: Là cơ chế bắt buộc đối với một số ngành nghề vì chỉ

khi có được giấy phép hành nghề này thì cá nhân mới được phép hoạt động trên thực tế (nếu không có mà vẫn thực hiện hoạt động nghề nghiệp đồng nghĩa với việc đã vi phạm pháp luật) Để có được giấy phép hành nghề này, cá nhân đó phải đáp ứng những quy định, tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền, ví dụ như: bác sỹ, luật sư, y tá

Thứ hai, cấp giấy chứng nhận: Cấp giấy chứng nhận được đặt ra khi hoạt

động đó không có trong giới hạn của ngành nghề được cấp giấy phép, chủ thể thực hiện có thể tự nguyện xin xác nhận là có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực này từ các cơ quan có thẩm quyền mà nhà nước chỉ định

Thứ ba, đăng ký: Cơ quan có thẩm quyền sẽ lập một danh sách, cung cấp

những điều kiện nhất định để được có tên trong danh sách này, sau đó các chủ thể có nhu cầu đăng ký tên và địa chỉ, trình độ với các cơ quan quản lý Chỉ cần

có khiếu nại của người tiêu dùng (khách hàng), hoặc việc thực hiện niêm yết

Trang 39

này Điều đó đồng nghĩa với việc tiếp tục thực hiện kinh doanh sẽ là trái pháp luật

Ngoài những điều kiện kinh doanh này, ở mỗi bang, tùy từng thời kỳ khác nhau, doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các điều kiện khác mà cơ quan quản lý đưa

ra chẳng hạn như: chứng minh vốn pháp định (bang Delaware, bang NewYork), chứng minh khoản nợ của doanh nghiệp (ở Columbia)…[39],[40]

1.2.2 Pháp luật về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch ở Singapore

Tại Singapore, pháp luật doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ pháp luật Anh (trừ những nội dung mang tính địa phương), được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ đem lại hiệu quả hiệu chỉnh cao đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trong và ngoài nước.[39], [40] Chủ thể muốn đăng ký cấp phép thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ du lịch thì nộp hồ sơ thông báo đến cơ quan có thẩm quyền về đăng ký cấp phép kinh doanh tại Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp của Singapore (ACRA) Doanh nghiệp đăng ký cấp phép kinh doanh có thể thực hiện hoàn toàn qua hệ thống đăng ký trực tuyến của ACRA

Để thực hiện việc đảm bảo lợi ích của nền kinh tế, yêu cầu của quá trình quản lý nhà nước, bên cạnh cơ chế đăng ký cấp phép thành lập doanh nghiệp, Singapore đặt ra quy định về điều kiện kinh doanh nghề nhất định đối với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch

Theo pháp luật Singapore hiện hành, để có thể đăng ký cấp phép kinh doanh hoặc thực hiện kinh doanh, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.[39], [40]

Tại Singapore hiện nay có 3 loại giấy phép phổ biến, đó là:

Thứ nhất, giấy phép bắt buộc: Đây là một loại giấy phép cấp cho doanh

nghiệp kinh doanh nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp mà chỉ một số loại hình doanh nghiệp nhất định đòi hỏi phải có giấy phép đặc biệt này trước

Trang 40

khi họ có thể hoạt động Cụ thể như: Trường tư, các công ty sản xuất video, các nhà phân phối rượu, người cho vay, các ngân hàng và các trung tâm chăm sóc trẻ em… đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch Chủ thể kinh doanh cần phải có giấy phép này khi đăng ký kinh doanh với ACRA

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cần phải có giấy phép này thì mới được đăng ký kinh doanh Thời hạn kiểm tra và cấp phép kinh doanh từ 14 ngày đến 60 ngày, để có được tất cả các giấy phép cần thiết, sự cho phép và phê duyệt để lập thành doanh nghiệp Pháp luật Singapore rất tạo điều kiện, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các chủ thể đăng ký cấp phép kinh doanh bằng cách cho phép họ có thể đăng ký kinh doanh và nộp đơn xin giấy phép bắt buộc cùng một lúc bằng cách sử dụng dịch vụ cấp giấy phép kinh doanh trực tuyến (OBLS)

Thứ hai, giấy phép nghề nghiệp: Một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

du lịch muốn hoạt động, phải có giấy phép nghề nghiệp Loại giấy phép này không cấp cho doanh nghiệp mà cấp cho cá nhân là người quản lý doanh nghiệp hoặc các nhân viên của doanh nghiệp đó Giấy phép này sẽ được cấp bởi các tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý tương ứng

Thứ ba, giấy phép hoạt động kinh doanh: Sau khi được thành lập, đi vào

hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cải tạo, dựng biển quảng cáo trên cơ sở của doanh nghiệp, thuê lao động nước ngoài, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, buôn bán những hàng hóa bị kiểm soát như rượu, thuốc lá… doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động đó khi được cấp giấy phép hoặc được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [39], [40]

Ngày đăng: 14/12/2020, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w