Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để có được đánh giá khách quan
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS TS Bùi Thị Xuân Mai
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực,
được trích nguồn và trích dẫn đầy đủ
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Trang 3- Tôi vô cùng biết ơn bà Luwahati Pablo - Giám đốc Chương trình Việt Nam của Tổ chức dịch vụ gia đình và cộng đồng quốc tế (CFSI) Thời gian làm việc với bà đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều
- T ôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám đốc và các thầy/cô của Học viện Khoa học xã hội Việt Nam (GASS) và Học viện xã hội Châu Á (ASI) - những người đã cho tôi hành trang tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
- Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới các anh chị đã tham gia vào quá trình khảo sát trong nghiên cứu này.
- Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý thầy cô, các nhà khoa học, các anh chị đồng nghiệp để tôi hoàn thiện những thiếu sót của luận văn.
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ 11
1.1 Một số lý luận về nghèo, hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 11 1.2 Một số lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 16 1.3 Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 21 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 27 1.5 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Thông tin chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu 32 2.2 Thực trạng đời sống, nhu cầu của hộ nghèo do phụ nữ làm chủ và đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo làm chủ hộ 36 2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 45 2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 64
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 71
3.1 Định hướng bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 71 3.2 Các giải pháp bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo
do phụ nữ làm chủ 72
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo theo giới tính của chủ hộ (%) 33
Bảng 2.2 Độ tuổi của chủ hộ (đơn vị:%) 35
Bảng 2.3 Tình trạng hôn nhân chủ hộ (đơn vị:%) 35
Bảng 2.4 Nghề nghiệp của chủ hộ (đơn vị:%) 37
Bảng 2.5: Các nhu cầu của hộ nghèo do phụ nữ làm chủ 40
Biểu đồ 2.1 Trình độ học vấn của chủ hộ 36
Biểu đồ 2.2 Thu nhập hộ gia đình (%) 38
Biểu đồ 2.3 Nguồn thu nhập so với 5 năm trước (%) 39
Biểu đồ 2.4 Người đóng góp thu nhập nhiều nhất 39
Biểu đồ 2.5 Nhu cầu ưu tiên (%) 41
Biểu đồ 2.6 Chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ 43
Biểu đồ 2.7 Hiểu biết về nghề CTXH (%) 65
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB) thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1.3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ
em Phụ nữ chiếm số đông trong những người nghèo đói cũng là kết quả được khẳng định qua Báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Số liệu thống kê của UNDP cho thấy phụ nữ chiếm khoảng 70% tổng số
người nghèo trên thế giới - điều này tạo nên một nhận định rằng “nghèo đói mang
gương mặt phụ nữ” Họ phải hứng chịu rủi ro đói nghèo cao hơn do có sự phân biệt
đối xử trong lực lượng lao động, thiếu quyền sở hữu và phải gánh trách nhiệm nặng
nề liên quan tới việc đồng áng, tự cung tự cấp, trách nhiệm trong gia đình và cộng
đồng Những hộ gia đình có phụ nữ làm chủ đang trở nên phổ biến hơn và đặc biệt
dễ bị tổn thương trước đói nghèo [29, tr.18] Qua các số liệu nói trên, chúng ta có
thể thấy rằng vấn đề phụ nữ nghèo không riêng của một quốc gia nào mà là vấn đề của toàn cầu
Ở Việt Nam, tuy chưa có số liệu thống kê người nghèo/hộ nghèo theo giới tính nhưng theo báo cáo kết quả Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ X, cả nhiệm kỳ đã
có tới 1.7 triệu lượt hộ nghèo do PNLC nhận sự trợ giúp từ Hội LHPN Việt Nam Trong Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh vai trò chủ thể, tính chủ động và phát huy nội lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống Hội LHPN Việt Nam luôn coi nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có hoạt động hỗ trợ hộ nghèo do PNLC giảm nghèo bền vững
Tp HCM đã có riêng những mô hình thể hiện sự quan tâm thích đáng đối với
hộ nghèo do PNLC nhưng tỷ lệ hộ do PNLC nằm trong diện hộ nghèo còn chiếm con số tương đối cao và có xu hướng tăng trong một số giai đoạn, cụ thể là tỷ lệ hộ nghèo do PNLC/tổng số hộ nghèo năm 2010 là 47.2%, năm 2011 là 48.3%, năm
2012 là 48.99%, năm 2013 là 53%, năm 2014 là 49% Như vậy, vấn đề hộ nghèo do
Trang 8“Kết quả giảm nghèo ở thành phố chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo đối với
một bộ phận dân cư vẫn còn khá cao” Hội thảo“Nghiên cứu tiếp cận và thử nghiệm phương pháp đo lường nghèo đa chiều tại Tp HCM” cũng đã chỉ ra một số hạn chế
trong công tác giảm nghèo của thành phố như tình trạng nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác; chính sách hỗ trợ còn cào bằng và chưa đúng nhu cầu; đồng thời, các chương trình và hoạt động hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn thành phố bị chồng chéo về đối tượng và nội dung hỗ trợ có khi lại phân tán, manh mún, làm cho hiệu quả giảm nghèo chưa cao, chưa toàn diện và bền vững Trong giai đoạn 2016 - 2020, thành phố sẽ chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, không chỉ quan tâm đến vấn đề thu nhập mà quan tâm và
hỗ trợ người nghèo toàn diện trên tất cả các bình diện liên quan đến sức khỏe, giáo dục, hòa nhập xã hội, phát triển các kỹ năng, tăng cường năng lực… cho người nghèo [30] Để thực hiện tốt được các chính sách giảm nghèo theo hướng tiếp cận
đa chiều thì vai trò của nghề CTXH nói chung và hoạt động cung cấp dịch vụ CXTH nói riêng là hết sức cần thiết Trong đó, nhân viên CTXH sẽ giữ vai trò cầu nối, làm việc với các nhóm đa ngành và điều phối các nguồn lực để đảm bảo rằng các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ nghèo do PNLC được tiếp cận các dịch vụ phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của mình
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác
xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để
có được đánh giá khách quan về thực trạng các dịch vụ CTXH cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC tại Tp HCM;
từ đó đề xuất những biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đảm bảo chất lượng
Trang 93
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghèo đói là vấn đề toàn cầu, không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển Vấn đề nghèo đói luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
ở tất cả các quốc gia trên thế giới và ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực khác nhau
Do vậy, những nghiên cứu về người nghèo nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng không phải là mới trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu Bài viết “Gender, poverty and globalization in India” của
tác giả Pande R (2007) đề cập đến mối liên quan giữa giới, nghèo đói và toàn cầu hóa Tác giả cho rằng tại Ấn Độ quá trình toàn cầu hóa đã gây ra sự bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực theo địa vị, giới và dòng tộc Phụ nữ nghèo ở khu vực nông thôn và trong các khu vực phi chính thức bị ảnh hưởng nặng nề nhất do các làn sóng chuyển đổi kinh tế gần đây [34]
Bài viết “Gender earnings and poverty reduction: post - communist
Uzbekistan” của tác giả Bhat B.A (2011) đề cập đến vấn đề thu nhập theo giới và
xóa đói giảm nghèo Trong bài viết này, tác giả chỉ ra rằng ở Uzbekistan, phụ nữ có
ít của cải, địa vị xã hội, quyền lực và cơ hội để tự khẳng định mình so với đàn ông
có cùng vị trí xã hội Quá trình nữ hóa nghèo đói ở Trung Á và Uzbekistan liên quan mật thiết với những hạn chế về văn hóa và thể chất Chính điều này tạo ra bức trần cản trở sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế [33]
Cũng đề cập đến vấn đề phụ nữ nghèo nhưng tác giả Allahdadi F (2011)
trong bài viết “Towards rural women’s empowerment and poverty reduction in
Iran” lại cung cấp một cách tiếp cận về trao quyền cho phụ nữ nông thôn trong hoạt
động giảm nghèo tại Iran Nghiên cứu này đã khẳng định đóng góp to lớn của phụ
nữ trong công cuộc XĐGN ở nhiều vùng nông thôn tại các nước đang phát triển Tác giả đã chỉ ra rằng, việc trao quyền cho phụ nữ nông thôn bị giới hạn bởi những rào cản văn hóa, hạn chế họ tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế Những đặc điểm văn hóa đã gây ra những hạn chế rất nghiêm trọng đối với sự tự chủ, đi lại, và các loại hình sinh kế sẵn có dành cho phụ nữ [32]
Trang 104
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bàn về vấn đề phụ nữ nghèo, tác giả Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Hân (1996)
trong cuốn sách “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường” đã mô
tả được bức tranh về phụ nữ nghèo ở nông thôn Tác giả đã đánh giá được thực trạng đời sống cũng như những khó khăn của phụ nữ nghèo nông thôn và đưa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN [6]
Nghiên cứu về vấn đề phụ nữ làm chủ hộ, tác giả Vũ Mạnh Lợi (1996) đã khái quát được bức tranh về hộ gia đình do PNLC ở Việt Nam, trong đó có chỉ ra những yếu tố quyết định của hiện tượng chủ hộ là nữ bao gồm tuổi, tình trạng hôn nhân, nơi ở, sự hiện diện của cha mẹ hay con cái đã trưởng thành trong hộ và số
năm đi học Năm 2011 trong bài viết “Chủ hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam là
ai?”, tác giả nghiên cứu sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến số lượng phụ nữ là
chủ hộ gia tăng, trong đó chỉ ra nguyên nhân lớn nhất là do sự biến đổi mạnh mẽ về thiết chế hôn nhân và gia đình Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một số hiện tượng đáng lưu ý như: tỷ lệ goá bụa ngày một cao ở phụ nữ lớn tuổi, di dân của nam giới khiến nông thôn nhiều nữ giới, tình trạng ly thân, ly hôn ở các gia đình trẻ, xu hướng phụ nữ trẻ quyết định lựa chọn cuộc sống làm mẹ đơn thân ngày một nhiều [19] [20]
Tác giả Trịnh Thị Ngọc Lan (2013) đã có một nghiên cứu sâu hơn về hộ
nghèo do PNLC trong đề tài luận văn thạc sỹ “Tác động của chính sách xóa đói
giảm nghèo đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ” Tác giả nghiên cứu tác động của
chính sách XĐGN đối với hộ nghèo do PNLC thông qua việc phân tích thực trạng tổ
chức, triển khai thực hiện các chính sách XĐGN cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích được sự thay đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của các hộ nghèo do PNLC dưới tác động của chính sách XĐGN và đưa ra các khuyến nghị về chính sách và với các chủ thể triển khai thực hiện chính sách XĐGN với hộ nghèo do PNLC [16]
Những nghiên cứu nêu trên đều là những nghiên cứu tiếp cận từ hướng nghiên cứu xã hội học và chủ yếu liên quan đến phụ nữ nghèo và phụ nữ làm chủ
Trang 115
hộ Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu khoa học trực tiếp liên quan đến hộ nghèo do
PNLC Đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào liên quan đến dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC cũng như chưa có những hướng tiếp cận vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ nhóm đối tượng này Mặc dù vậy, đã có nhiều nghiên cứu
về DVXH và dịch vụ CTXH
Trong cuốn sách “Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến năm 2020 - Một số
lý luận và thực tiễn”, tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) đã luận giải bản
chất kinh tế - xã hội của DVXH, cơ sở lý luận của phát triển DVXH, phân loại DVXH và chức năng của DVXH đối với sự phát triển xã hội ở nước ta; làm rõ vai trò và giới hạn của các chủ thể nhà nước và ngoài nhà nước trong tham gia tổ chức cung ứng DVXH; phân tích kinh nghiệm phát triển DVXH ở một số nước trên thế giới và thực trạng phát triển DVXH ở nước ta và những vấn đề đang đặt ra hiện nay;
đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển DVXH và đổi mới quản
lý phát triển DVXH ở nước ta đến năm 2020 [13]
Cùng bàn về các DVXH, tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) trong bài viết
“Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam - những khuyến nghị giải pháp”
lại đi sâu nghiên cứu nhu cầu và thực trạng mạng lưới các cơ sở cung cấp DVXH hiện nay ở Việt Nam Qua đó, tác giả ra các giải pháp nhằm phát triển hệ thống DVXH, trong đó đề cập đến giải pháp phát triển mô hình mạng lưới của các cơ sở vừa tham gia quản lý nhà nước vừa tham gia cung cấp dịch vụ tại xã/phường [23]
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thái Lan, Đỗ Ngọc Bích, Chu Thị Huyền Yến
(2016) trong bài viết“Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam:
thực trạng và nhu cầu” tại Hội thảo khoa học quốc tế ở Tp HCM đề cập đến dịch
vụ CTXH với khía cạnh chuyên nghiệp hóa Trong đó, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng, nhu cầu chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH ở Việt Nam và đề xuất phát triển dịch vụ CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đảm bảo chất lượng [17]
Cũng nghiên cứu ở khía cạnh chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH nhưng
tác giả Hà Thị Thư (2016) lại nghiên cứu trên nhóm đối tượng yếu thế Bài viết “Sự
chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế” của
Trang 126
tác giả một lần nữa khẳng định nhu cầu dịch vụ CTXH ở Việt Nam ngày càng cao Tác giả cũng đã phân tích vai trò của dịch vụ CTXH với nhóm đối tượng yếu thế và chỉ ra hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi trường chuyên nghiệp” [26]
Các nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý giá và vô cùng hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài Chúng tôi sẽ sử dụng các giả thuyết nghiên cứu, kết quả và kết luận trong các nghiên cứu kể trên để so sánh, bàn luận và làm rõ trong nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC
và thực trạng dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC từ thực tiễn Tp HCM, trên
cơ sở đó đề xuất những biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC nói chung và tại Tp HCM nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết được các nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa những khái niệm về hộ nghèo do PNLC, CTXH với hộ nghèo
do PNLC và dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC
Đánh giá thực trạng đời sống, nhu cầu của hộ nghèo do PNLC và thực trạng dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC
Đề xuất các biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch
vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC nói chung và tại Tp HCM nói riêng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC từ
thực tiễn Tp HCM
Trang 137
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu các loại hình
dịch vụ CTXH và công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo
do PNLC từ thực tiễn Tp HCM
Phạm vi nghiên cứu về khách thể: 70 hộ nghèo do PNLC tại quận 9; 10 hộ
cận nghèo do PNLC tại quận 5; 20 nhân viên, cộng tác viên CTXH
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu thực địa tại
quận 9, tuy nhiên có triển khai nghiên cứu tại quận 5 để so sánh đối chứng
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC, tác giả hệ thống hóa khái niệm về hộ nghèo,
hộ nghèo do PNLC, CTXH, CTXH với hộ nghèo do PNLC, dịch vụ, dịch vụ CTXH
và dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC; và đề xuất các biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC nói chung và tại Tp HCM nói riêng
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như quan điểm của Đảng và nhà nước về hệ thống an sinh xã hội, chính sách dành cho người nghèo, phương pháp tiếp cận đa chiều, quan điểm phát triển nghề CTXH trong đó
có quan điểm về phát triển dịch vụ CTXH tại Việt Nam
Trang 148
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Với nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu để đảm bảo các thông tin thu được khách quan và đảm bảo tính khoa học Các phương pháp chúng tôi đã sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
* Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đề tài thực hiện việc phỏng vấn bằng bảng câu hỏi trực tiếp đối với hộ nghèo
do PNLC để thu thập thông tin
Số lượng mẫu là 70 hộ nghèo do PNLC được lựa chọn theo tiêu chí là đối tượng thụ hưởng của khách thể nghiên cứu
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Bên cạnh phương pháp điều tra bảng hỏi, chúng tôi cũng tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp PVS nhằm khảo sát sâu hơn những vấn đề mà phương pháp bảng câu hỏi chưa hướng tới được Đối tượng PVS bao gồm: 20 nhân viên, cộng tác viên CTXH và 10 phụ nữ nghèo làm chủ hộ
* Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng các thông tin có sẵn từ các cuộc nghiên cứu, các bài viết, tài liệu, giáo trình… đã được công bố có nội dung liên quan đến vấn đề mà đề tài nghiên cứu như giáo trình nhập môn CTXH, lý thuyết CTXH, tài liệu hội thảo “Nghiên cứu tiếp cận và thử nghiệm phương pháp đo lường nghèo đa chiều tại Tp HCM”, kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo CTXH với chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH”, báo cáo nghiệm thu đề tài “Các giải pháp giảm hộ nghèo, tăng hộ khá ở Tp HCM giai đoạn 2014 - 2020”…
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
Trang 159
từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát khi nghiên cứu đề tài nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát hoàn cảnh sống, thái độ, biểu hiện thể chất/tâm thần của người được điều tra
* Phương pháp thảo luận nhóm
Chúng tôi đã tiến hành thảo luận nhóm đối với nhóm phụ nữ cận nghèo làm chủ hộ để có cơ sở so sánh thực trạng dịch vụ CTXH giữa hộ nghèo do PNLC và hộ cận nghèo do PNLC
* Phương pháp chuyên gia
Ngoài các phương pháp nghiên cứu nêu trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá về thực trạng dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC từ thực tiễn Tp HCM, từ đó tìm ra biện pháp tối ưu cho việc cung cấp các dịch vụ này
6 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm phong phú thêm hệ thống lý
luận của CTXH với phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt, hẹp hơn là CTXH với phụ nữ nghèo Đề tài cũng góp thêm cơ sở lý luận cho các chương trình, chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững của Hội LHPN Việt Nam
Những thông tin thu thập được từ luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo và hướng tiếp cận nghèo đa chiều có lồng ghép giới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài làm sáng tỏ thực trạng dịch vụ CTXH với hộ nghèo
do PNLC từ thực tiễn Tp HCM Đây là nguồn tham khảo cho nhân viên, cộng tác viên CTXH trong hoạt động giảm nghèo của Tp HCM Đề tài cũng góp thêm các
Trang 1610
thông tin, số liệu thực tế cho các giảng viên đang giảng dạy môn CTXH với phụ nữ
có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có phụ nữ nghèo
Đề tài cũng đã góp phần một phần nhỏ trong việc khẳng định sự cần thiết của những người thực hành CTXH đối với công tác giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều Đó cũng chính là một trong số những mục tiêu được thể hiện trong Đề án 32 về phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020
Qua việc nghiên cứu thực trạng dịch vụ CTXH, tác giả đã đóng góp một vài ý tưởng trong việc cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC Những ý tưởng này được rút ra từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu để đưa ra những định hướng và giải pháp đảm bảo việc cung cấp dịch vụ CTXH cho hộ nghèo do PNLC
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do
phụ nữ làm chủ
- Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ
làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công
tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1711
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ 1.1 Một số lý luận về nghèo, hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
1.1.1 Khái niệm nghèo và hộ nghèo
1.1.1.1 Khái niệm nghèo
Nghèo là một vấn đề toàn cầu, được xã hội quan tâm vì đang càng ngày càng trở nên phức tạp do sự thay đổi mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội, trong đó nổi lên các vấn đề phân hóa giàu nghèo, phân tầng theo thu nhập, phân tầng theo mức sống xã hội, đặc biệt là ở các đô thị lớn
Theo Tuyên bố Liên Hợp Quốc tháng 6/2008: Nghèo là sự phủ nhận quyền lựa chọn và cơ hội, là sự vi phạm nhân phẩm con người Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không đủ
ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, dễ bị bạo hành, không có quyền, bị loại trừ, phải sống ngoài lề xã hội hoặc dễ gặp rủi ro, không được tiếp cận nước sạch
và vệ sinh
Vì có nhiều khía cạnh được đề cập trong khái niệm nghèo nên tùy theo góc quan sát cũng như quan điểm của mỗi tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo mà có
cách tiếp cận khác nhau Nhưng các khái niệm về nghèo đều phản ánh ba khía cạnh
chủ yếu của người nghèo đó là: có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Như vậy, nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo không chỉ dừng lại ở việc thiếu hụt về thu nhập mà cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt hay không
được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người
Trang 1812
1.1.1.2 Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là một khái niệm động, biến đổi theo không gian và thời gian Về không gian, chuẩn nghèo biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng như đô thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi Về thời gian, chuẩn nghèo biến đổi theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử Căn cứ vào mức sống thực
tế của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho từng giai đoạn cụ thể Dựa theo chuẩn nghèo quốc gia, các địa phương đưa ra chuẩn nghèo phù hợp với tình hình kinh tế -
xã hội của địa phương
Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020 đã đưa ra chuẩn nghèo như sau:
- Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các DVXH cơ bản trở lên
- Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các DVXH cơ bản trở lên
Hộ nghèo của Tp HCM là những hộ (có hộ khẩu thường trú/KT3) có một hoặc cả hai tiêu chí, gồm thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống;
có tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo từ 40 điểm trở lên Hộ cận nghèo là những hộ (có hộ khẩu thường trú/KT3) có hai tiêu chí gồm có thu nhập bình quân từ trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệu đồng/người/năm; có tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo dưới 40 điểm (từ 0 đến 35 điểm)
Trang 1913
1.1.2 Các phương pháp đánh giá nghèo
Các phương pháp đánh giá nghèo căn cứ vào một tiêu chí/một chiều gọi là
nghèo đơn chiều hay nhiều tiêu chí/nhiều chiều gọi là nghèo đa chiều
Nghèo đơn chiều: Phương pháp đánh giá nghèo đơn chiều thường dựa vào
thu nhập hay chi tiêu Hội nghị thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra con số thu nhập để đánh giá nghèo,
theo đó: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp dưới một đô la (USD)
một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu
để tồn tại.” Tương tự với quan điểm trên là nhận định của nhà kinh tế học người Mỹ
Galbraith: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó,
họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái sự cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức” Nghèo đơn chiều đã được các quốc gia trong
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thống nhất là “tình trạng một bộ phận dân cư
không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
Nghèo đa chiều: Cách xác định hộ nghèo theo phương pháp thu thập được
xem là chuẩn của nhiều quốc gia trong nhiều năm nhưng gần đây đã được các chuyên gia đánh giá là không ổn và đưa ra thêm cách tính mới về nghèo được gọi là nghèo đa chiều Việc đánh giá nghèo đa chiều nhằm tiếp cận những khía cạnh phi tiền tệ của nghèo Nghèo đa chiều là một cách tiếp cận mới nên khái niệm nghèo đa chiều đang được nghiên cứu, xây dựng và áp dụng tại hơn 30 nước trên thế giới Theo đó, thước đo đa chiều xem xét mức sống của dân cư một cách đầy đủ hơn, toàn diện hơn Nó đo lường mức sống cả mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều khác nhau như: giáo dục, y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro… Việc đo lường mức sống theo đa chiều là việc xác định các chỉ tiêu để đo các chiều và việc gộp các chiều thành bộ đo đơn hay để riêng từng chiều và sử dụng trọng số của các chiều [30, tr.30]
Trang 2014
1.1.3 Khái niệm hộ nghèo do phụ nữ làm chủ và đặc điểm tâm lý của phụ
nữ nghèo làm chủ hộ
1.1.3.1 Khái niệm hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Để làm rõ khái niệm về hộ nghèo do PNLC, chúng ta cần làm rõ quan điểm
về chủ hộ trong gia đình Theo Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, UNDP và The Royal Netherlands Embassy (2005): “Chủ gia đình là thành viên của
hộ gia đình, là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ Thông thường (nhưng không nhất thiết), chủ hộ là người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên Về mặt pháp lý, chủ hộ là đại diện hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể làm chủ hộ Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự (Điều 107, Bộ luật dân sự)
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm hộ nghèo do PNLC là hộ
nghèo theo chuẩn nghèo của địa phương, trong đó người phụ nữ (có thể là chủ hộ hoặc không là chủ hộ) nhưng họ đóng vai trò trụ cột, là lao động chính và tạo ra thu nhập chính cho gia đình
1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo làm chủ hộ
Theo số liệu thống kê về giới những năm đầu thế kỷ 21, tỷ lệ chủ hộ nữ trên toàn quốc tăng lên theo tuổi và đạt 31.5% ở nhóm tuổi 55 - 59 và 37.8% ở nhóm tuổi từ 65 tuổi trở lên Nguyên nhân chủ yếu là bởi những biến đổi mạnh mẽ về thiết chế hôn nhân và gia đình Tỷ lệ goá bụa ngày một cao ở phụ nữ lớn tuổi Hiện tượng di dân của nam giới khiến nông thôn nhiều nữ giới Tình trạng ly thân, ly hôn
ở các gia đình trẻ, xu hướng phụ nữ trẻ quyết định lựa chọn cuộc sống làm mẹ đơn thân ngày một nhiều lên Nhiều hộ gia đình do PNLC bị rơi vào tình trạng “khuyết thiếu”, thường có ít nguồn lực kinh tế Họ còn chịu thiệt thòi do các bất bình đẳng
về kinh tế trong lương bổng, phụ nữ vẫn thường phải làm các công việc được trả công ít hơn so với nam giới hoặc nếu có làm cùng công việc như nam giới thì mức tiền công vẫn bị thấp hơn [37, tr 1] Phụ nữ làm chủ hộ thường phải đối mặt với rủi
Trang 2115
ro đói nghèo đang tăng lên do những thay đổi đang xảy ra trong cấu trúc gia đình,
cơ hội việc làm, hệ thống an sinh xã hội và biến đổi khí hậu [29, tr 34] Họ bị liệt
kê vào đối tượng gia đình dễ bị tổn thương trước các cú sốc về mất mùa, mất việc làm, thiên tai, bệnh tật Ở những hộ gia đình nghèo do PNLC, nhiều trẻ em còn phải tham gia vào các hoạt động kiếm sống cùng mẹ
Bởi vì hoàn cảnh và đặc điểm xã hội nêu trên nên một số phụ nữ nghèo làm chủ hộ cũng có những đặc điểm tâm lý giống với phụ nữ nghèo nói chung như buông xuôi, cam chịu số phận, thiếu nghị lực và cố gắng cần thiết để vươn lên Một
số khác có tâm lý rụt rè, mặc cảm, tự ti nên thường ít tiếp xúc, không mạnh dạn và ngại tham gia vào các hoạt động tập thể Nếu phải tham gia thì họ cũng rất e ngại khi phải trình bày ý kiến, quan điểm của mình Chính vì điều này mà họ thường không có chính kiến, không tiếng nói trong cộng đồng và ít có khả năng nhận được giúp đỡ từ người khác Một bộ phận phụ nữ nghèo làm chủ hộ có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước [14, tr 11] Cũng bởi những đặc điểm nêu trên mà một số phụ nữ nghèo làm chủ hộ là đối tượng có nguy cơ dễ bị tổn thương Họ phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngược đãi, thất nghiệp, con cái phải nghỉ học giữa chừng, bệnh tật Nguy cơ dễ bị tổn thương tạo nên một tâm lý sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn tìm cách né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao
Do phụ nữ làm chủ hộ là trụ cột kinh tế, là người tạo ra thu nhập chính trong gia đình, với những gia đình “khuyết thiếu” họ phải đóng cả hai vai trò làm cha và làm mẹ nên họ cũng có những đặc điểm tâm lý khác như có ý chí và nghị lực sống mạnh mẽ Cho dù gặp nhiều khó khăn nhưng không buông xuôi mà luôn tìm cách vượt qua thất bại, luôn giữ chữ tín trong việc trả nợ vay Họ cũng có sự tự chủ về kinh tế và kiểm soát thu nhập Với vai trò là chủ hộ nên họ thường có quyền trong việc ra các quyết định chính trong gia đình và có tiếng nói quan trọng hơn trong phân phối thu nhập, chi tiêu trong gia đình Phụ nữ nghèo làm chủ hộ cũng có rất nhiều tiềm năng Nhưng vì sự mặc cảm, tự ti về hoàn cảnh nghèo khó nên bản thân
họ không nhận ra hết những giá trị và tiềm năng sẵn có của mình Một lý do khác là
Trang 2216
chưa có ai giúp họ phát hiện ra tiềm năng và cũng như chưa có môi trường thuận lợi
để họ phát huy những tiềm năng đó
1.2 Một số lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm công tác xã hội
Theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc tế của các nhân viên CTXH (IFSW) và Hiệp hội Các trường đào tạo CTXH thế giới (IASSW, 2014): “CTXH là một nghề thực hành và là một ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, trao quyền và sự tự do của con người CTXH dựa trên các nguyên tắc then chốt bao gồm công bằng xã hội, các quyền của con người, trách nhiệm tập thể và sự tôn trọng những khác biệt Dựa trên nền tảng các lý thuyết về CTXH, các khoa học xã hội thu hút sự tham gia của mọi người và các thể chế để giải quyết những thách thức cuộc sống và cải thiện phúc lợi”
Ở Việt Nam, một trong những khái niệm được sử dụng khá phổ biến là khái
niệm của tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010), theo đó “CTXH là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh
xã hội” [22]
1.2.1.2 Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thị Thái Lan (2011): “Nhân viên CTXH là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH, họ
có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”
Trang 2317
1.2.1.3 Khái niệm công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Từ các khái niệm về CTXH nêu trên, có thể phát biểu khái niệm CTXH với
hộ nghèo do PNLC như sau: CTXH với hộ nghèo do PNLC là một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp hộ nghèo do PNLC và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu, tăng cường chức năng xã hội; đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ để hộ nghèo do PNLC và cộng đồng giải quyết, phòng ngừa các vấn đề xã hội, thoát nghèo và vươn lên thành hộ khá
1.2.2 Mục đích, vai trò của công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Mục đích CTXH với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ: Tăng cường sự tự nhận
thức của phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong gia đình về điểm mạnh, điểm yếu, quan điểm, hành vi, nguồn lực, vấn đề…; Phục hồi củng cố và phát triển các chức năng xã hội của phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong gia đình; Nâng cao năng lực cho hộ nghèo do PNLC để họ chủ động hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ cũng như các hoạt động của cộng đồng thông qua tham vấn, truyền thông, tập huấn, tổ chức hoạt động sinh hoạt nhóm…; Thúc đẩy việc xây dựng, thực hiện và điều chỉnh các chính sách dành cho hộ nghèo do PNLC; Huy động nguồn lực và xây dựng mạng lưới hỗ trợ hộ nghèo do PNLC; Cải thiện các điều kiện sống, môi trường sống của các hộ nghèo do PNLC; Hạn chế các khó khăn của hộ nghèo
do PNLC trong việc tiếp cận các dịch vụ CTXH…
Vai trò của CTXH với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ: Vấn đề và nhu cầu của
hộ nghèo do PNLC rất đa dạng từ những nhu cầu tối thiểu đến các nhu cầu ở thứ bậc cao hơn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, tư pháp, công an, thông tin, nước sạch, việc làm… Do đó, để giải quyết các vấn đề xã hội của hộ nghèo do PNLC cần có sự phối hợp liên ngành Mỗi ngành đảm nhận một hay một vài vai trò, trong đó ngành CTXH đóng vai trò trung tâm, cầu nối giữa các ngành liên quan để đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của hộ nghèo do PNLC
Trang 2418
1.2.3 Các phương pháp công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Công tác xã hội cá nhân: Là phương pháp mà nhân viên CTXH tác động đến
phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong hộ nhằm giúp cho các thành viên hiểu rõ về bản thân và vấn đề của chính họ, từ đó vận dụng các nguồn lực để giải quyết vấn đề đang gặp phải Các dịch vụ CTXH có thể cung cấp cho các hộ nghèo
do PNLC theo phương pháp CTXH cá nhân như quản lý trường hợp, can thiệp khủng hoảng, tham vấn, tạo điều kiện để tiếp cận các DVXH cơ bản, tư vấn để hưởng các chính sách, giới thiệu các tiềm năng trong cộng đồng, biện hộ, lập kế hoạch trợ giúp, huy động và kết nối nguồn lực để các hộ nghèo do PNLC được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận giáo dục, trợ giúp pháp lý, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm
Công tác xã hội nhóm: Là phương pháp mà nhân viên CTXH tác động đến
nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ cùng vấn đề, cùng mục đích thông qua hoạt động nhóm Vai trò của nhân viên CTXH không chỉ nhằm vào từng thành viên trong nhóm mà tác động đến mối quan hệ tương tác trong nhóm nhằm tạo ra những biến chuyển tích cực của nhóm Công cụ ở đây chính trong CTXH nhóm là sự tương tác
và ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong nhóm để giải quyết vấn đề chung của nhóm đồng thời hỗ trợ giải quyết vấn đề của các thành viên trong nhóm Khi áp dụng phương pháp CTXH nhóm với hộ nghèo do PNLC, nhân viên CTXH có thể sử dụng các loại hình nhóm như: nhóm trị liệu, nhóm tự giúp, nhóm hành động, nhóm giáo dục Các loại hình CTXH nhóm có thể sử dụng cho cá nhân phụ nữ nghèo làm chủ hộ hoặc các thành viên trong gia đình
Phát triển cộng đồng: Là quá trình làm chuyển biến một cộng đồng nghèo,
thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và nguồn lực sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức để tiến tới tự lực phát triển Các hoạt động có thể cung cấp cho các hộ nghèo do PNLC theo phương pháp PTCĐ bao gồm liên hệ với người dân, chính quyền các cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề xuất chính
Trang 2519
sách với các cơ quan có thẩm quyền; xây dựng mạng lưới nhân viên, cộng tác viên CTXH; tổ chức huy động nguồn lực để trợ giúp đối tượng; truyền thông, giáo dục cộng đồng; xây dựng và quản lý các dự án PTCĐ
Các phương pháp CTXH không tồn tại độc lập mà chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhân viên CTXH cần sử dụng linh hoạt các phương pháp trên khi trợ giúp các hộ nghèo do PNLC
1.2.4 Các nguyên tắc hành động của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Nhân viên CTXH phải tuân thủ các nguyên tắc trong việc thực hiện chức năng chuyên môn của mình Dưới đây là một số nguyên tắc cơ bản của nhân viên CTXH khi làm việc với hộ nghèo do PNLC
Chấp nhận hộ nghèo do PNLC: Nhân viên CTXH cần chấp nhận một cách
“vô điều kiện” từ quan điểm, thái độ, hành vi, cảm xúc đến những điểm mạnh, điểm yếu của hộ nghèo do PNLC Tuy nhiên, việc chấp nhận các hành vi trong quá khứ và hiện tại của các hộ nghèo do PNLC không có nghĩa là đồng tình với những hành vi sai trái của họ Nhân viên CTXH cần giúp cho hộ nghèo do PNLC hiểu được rằng,
dù không đồng tình với những hành vi sai trái đó nhưng chúng ta vẫn tôn trọng họ
Các hộ nghèo do PNLC cần tham gia tối đa vào quá trình giải quyết vấn đề:
Mỗi người đều có khả năng phân tích vấn đề và đưa ra những giải pháp tự giải quyết
những vấn đề khó khăn bằng chính nội lực, khả năng của bản thân Hoạt động của
nhân viên CTXH là giúp đỡ các hộ nghèo do PNLC tăng thêm tính độc lập tự chủ và
có khả năng tự quyết Vì vậy, nhân viên CTXH nên khuyến khích, tạo cơ hội cho hộ nghèo do PNLC bộc lộ các tiềm năng, sức mạnh và sử dụng năng lực của chính mình một cách thích hợp Tuyệt đối tránh làm hộ, làm thay hoặc tạo cho các hộ
nghèo do PNLC có sự ỷ lại, dựa dẫm vào nhân viên CTXH
Tôn trọng quyền tự quyết của hộ nghèo do PNLC: Trong giải quyết vấn đề,
nhân viên CTXH luôn tôn trọng quyền tự quyết của hộ nghèo do PNLC (trong giới hạn luật pháp) về vấn đề của họ Các ý kiến hộ nghèo do PNLC đưa ra trong khi bàn bạc với nhân viên CTXH cần được tôn trọng Nhân viên CTXH giúp hộ nghèo do
Trang 2620
PNLC đưa ra các phương án, giải pháp, còn sự lựa chọn tùy thuộc vào họ Khi những quyết định chưa phù hợp hoặc hạn chế thì nhân viên CTXH phải phân tích, định hướng để họ suy nghĩ lại và đưa ra các quyết định đúng đắn nhất
Cá biệt hoá: Các hộ nghèo do PNLC có nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng
mỗi hộ có nhu cầu, hoàn cảnh, vốn kinh nghiệm sống, niềm tin, giá trị khác nhau Nguyên nhân dẫn đến vấn đề nghèo của mỗi hộ khác nhau và nguồn lực để giải quyết vấn đề cũng khác nhau Chính vì vậy, nhân viên CTXH không thể áp dụng cứng nhắc một giải pháp Mỗi hộ nghèo do PNLC cần có kế hoạch trợ giúp phù hợp
để họ có thể phát huy hết khả năng và vươn lên thoát nghèo
Đảm bảo sự bí mật, riêng tư của hộ nghèo do PNLC: Nhân viên CTXH phải
giữ kín mọi thông tin, nội dung trao đổi trong quá trình làm việc với hộ nghèo do PNLC, không tự ý trao đổi chia sẻ, tiết lộ cho bất kỳ ai, trừ khi được họ cho phép Nếu cần phải chia sẻ thông tin để các hộ nghèo do PNLC được cung cấp những dịch
vụ cần thiết thì nhân viên CTXH cần trao đổi trước với họ Các hộ nghèo do PNLC
cần được biết về quyền giữ bí mật và quyền cho phép chia sẻ thông tin nếu cần thiết
Nhân viên CTXH phải luôn ý thức về chính mình: Nhân viên CTXH cần ý
thức rằng bản thân là người có tư cách đại diện của cơ quan xã hội Phục vụ hộ nghèo do PNLC là trách nhiệm của nhân viên CTXH và được giới hạn bởi chức năng, nhiệm vụ, chuẩn mực đạo đức của ngành Nhân viên CTXH cần chủ động áp dụng những nguyên tắc hành động, đạo đức của nghề nghiệp, không lợi dụng cương
vị công tác của mình để đòi hỏi sự hàm ơn của các hộ nghèo do PNLC
Xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp giữa nhân viên CTXH và hộ nghèo do PNLC: Mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và hộ nghèo do PNLC là mối quan hệ
nghề nghiệp thể hiện ở sự bình đẳng, tôn trọng sự tham gia của hộ nghèo do PNLC, không để các yếu tố cá nhân, gia đình ảnh hưởng tới công việc Quan hệ nghề nghiệp còn được thể hiện trong việc trao đổi, hợp tác, thống nhất phương hướng và
kế hoạch hành động Mối quan hệ giữa hai bên đều phải tỏ rõ thiện chí
Trang 27Như vậy, dù có nhiều cách hiểu ở những góc độ khác nhau nhưng các khái niệm đều khẳng định rằng dịch vụ là các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người và xã hội
1.3.1.2 Khái niệm dịch vụ xã hội
Theo Alfred Kahn (1973): DVXH là các dịch vụ nhằm trợ giúp, thúc đẩy,
hay phục hồi chức năng của cá nhân hay gia đình, cung cấp những điều kiện đảm bảo cho phát triển sự xã hội hóa của họ Các DVXH có thể do cá nhân hay cơ quan
tổ chức cung cấp, nó không chỉ có chức năng phục vụ cho cá nhân, gia đình mà cho
cả những nhóm xã hội, tham gia vào giải quyết các vấn đề, đáp ứng nhu cầu của xã hội DVXH gắn liền với chức năng là phục vụ xã hội, thỏa mãn nhu cầu của người dân trong cộng đồng
Các tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng: DVXH là những dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi xã hội và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn, vì con người; là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do Nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân
sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác
Trang 2822
Quan niệm này cũng tương đồng với khái niệm về DVXH của Tổ chức Lao
động quốc tế (ILO, năm 2004): DVXH là các sáng kiến, can thiệp nhằm vào các nhu
cầu và vấn đề của hầu hết nhóm đối tượng dễ tổn thương, bao gồm cả việc ngăn chặn bạo lực, nghèo đói, tan vỡ gia đình, tàn tật (tinh thần và thể chất) và tuổi già Những ví dụ cụ thể về DVXH là: phục hồi chức năng, nhà dịch vụ trợ giúp, nhà chăm sóc và nuôi dưỡng, dịch vụ thức ăn, chăm sóc ban ngày,… và các hình thức khác được thực hiện bởi những người làm CTXH và/hoặc các chuyên gia liên quan
1.3.1.3 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): Dịch vụ CTXH có thể được coi là một loại hình DVXH được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH Việc cung cấp các dịch vụ CTXH không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục,
dịch vụ truyền thông và các dịch vụ khác Chính vì vậy, nhân viên CTXH hội phải
có sự nối kết chặt chẽ với các DVXH khác trong quá trình thực hiện dịch vụ CTXH
Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2016) cũng đưa ra khái niệm DVXH như sau: Dịch vụ CTXH là những dịch vụ hỗ trợ, can thiệp với các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội nhằm giúp các đối tượng giải quyết những vấn đề của mình đảm bảo cuộc sống và môi trường phù hợp, đáp ứng lợi ích tốt nhất của thân chủ
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng DVXH bao hàm cả dịch vụ CTXH, dịch
vụ CTXH là một loại DVXH Trong đó, các dịch vụ CTXH hướng nhiều tới các hoạt động hay dịch vụ trợ giúp xã hội cho những người có vấn đề xã hội, đặc biệt nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi, người có HIV/AIDS, người bị bạo lực gia đình, người nghiện ma túy, người có vấn đề tâm thần, người nghèo…
1.3.2 Dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
1.3.2.1 Khái niệm, vai trò dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
* Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Dựa vào những khái niệm nêu trên, khái niệm dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC có thể được phát biểu như sau:
Trang 29Như vậy, dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC là hoạt động có chủ đích được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH Trong quá trình cung cấp, điều phối các dịch vụ CTXH, nhân viên CTXH phải tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức và phương pháp chuyên môn Hay nói cách khác, để chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC thì cần phải có một đội ngũ nhân viên, cộng tác viên được đào tạo bài bản về CTXH
Dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC có chức năng phòng ngừa các khả năng xảy ra rủi ro cho hộ nghèo do PNLC như bệnh tật, bỏ học giữa chừng, thất nghiệp, bạo lực Khi chức năng phòng ngừa không thực hiện được thì dịch vụ CTXH hướng đến việc giúp các hộ nghèo do PNLC tiếp cận các dịch vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của các rủi ro mà họ gặp phải Chức năng cuối cùng là giúp hộ nghèo do PNLC khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng
Đối tượng thụ hưởng của dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC là phụ
nữ nghèo làm chủ hộ và gia đình của họ Các loại hình dịch vụ CTXH có thể cung cấp, điều phối cho từng cá nhân phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong gia đình của họ, cho một nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ hoặc cả cộng đồng Các dịch vụ CTXH này có thể do nhân viên CTXH trực tiếp cung cấp hoặc có thể do nhân viên CTXH điều phối, kết nối để đáp ứng nhu cầu của hộ nghèo do PNLC Các loại hình dịch vụ CTXH không chỉ hướng đến việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu mà quan trọng hơn là hướng đến phát triển nâng cao năng lực cho hộ nghèo do PNLC và gia đình của họ
Mục đích của các dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC là đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội của hộ nghèo do PNLC Để đảm bảo chất lượng, các dịch vụ CTXH phải đáp ứng được các tiêu chí như phải nhanh chóng và kịp thời,
Trang 3024
phù hợp với nhu cầu và tài chính của hộ nghèo do PNLC, đa dạng và đáp ứng được các nhu cầu của hộ nghèo do PNLC, phải liên tục và không gián đoạn, phải bền vững và tiết kiệm
* Vai trò của dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Dịch vụ CTXH có ý nghĩa quan trọng đối với hộ nghèo do PNLC vì nó góp phần nâng cao năng lực, sự tự tin và tự chủ cho cá nhân phụ nữ nghèo làm chủ và gia đình của họ; giúp hộ nghèo do PNLC có thể tự tìm cách để giải quyết các vấn đề
mà họ đang gặp phải hoặc các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai
Dịch vụ CTXH góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hòa nhập xã hội của hộ nghèo do PNLC vì nó tạo cơ hội để hộ nghèo do PNLC dễ dàng tiếp cận với các DVXH cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm, nước sạch, thông tin và tăng cường các chức năng xã hội của họ
Dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC góp phần nâng cao nhận thức của không chỉ của hộ nghèo do PNLC mà còn của người dân và cộng đồng về nghề CTXH và vai trò của nhân viên CTXH
1.3.2.2 Các loại hình dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ
làm chủ
Mỗi một hộ nghèo do PNLC có đặc điểm, hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến nghèo khác nhau Nhu cầu của họ rất đa dạng từ các nhu cầu tối thiếu đến các nhu cầu ở cấp độ cao hơn Một hộ nghèo do PNLC có thể vừa cần tăng thu nhập, đào tạo nghề vừa cần có nơi gửi con nhỏ, cần được tham vấn, được học về kỹ năng làm mẹ
và những kỹ năng khác để thay đổi hành vi, cuộc sống… Ngành CTXH không thể đáp ứng được hết các nhu cầu của hộ nghèo do PNLC mà cần đến sự hỗ trợ của các ngành, các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, từ nhiều nguồn lực khác nhau Do vậy, dịch vụ CTXH cung cấp cho hộ nghèo do PNLC phải đa dạng thì mới có thể đáp ứng một cách tối đa các nhu cầu của họ Các loại hình dịch vụ CTXH có thể chia thành các loại hình dịch vụ CTXH với cá nhân phụ nữ nghèo và các thành viên trong gia đình, các loại hình dịch vụ CTXH với nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các chương trình PTCĐ
Trang 3125
Dịch vụ CTXH hỗ trợ cho cá nhân phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong gia đình như: Dịch vụ khẩn cấp như tiếp nhận, đánh giá, bảo đảm an toàn, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp; Dịch vụ cải thiện sinh kế; Dịch vụ quản lý trường hợp; Dịch vụ tư vấn tâm lý, tham vấn; Dịch vụ tư vấn cho đối tượng được hưởng chính sách xã hội; Dịch vụ can thiệp khủng hoảng; Dịch vụ biện hộ
Dịch vụ CTXH hỗ trợ cho nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ bao gồm: Thành lập các nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ có cùng nhu cầu hoặc cùng mối quan tâm theo các từng loại hình nhóm như: (1) Nhóm trị liệu nhằm hỗ trợ cho nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ có tâm lý mặc cảm, tự ti, chấp nhận số phận hoặc có sự ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước Mục tiêu của nhóm trị liệu này nhằm hỗ trợ tâm lý, nâng cao sự tự tin về bản thân và tin vào khả năng thay đổi cuộc sống của phụ nữ nghèo (2) Nhóm tự giúp nhằm hỗ trợ những phụ nữ nghèo có hoàn cảnh giống nhau để họ tự giúp đỡ lẫn nhau (3) Nhóm hành động nhằm để đáp ứng các nhu cầu cho các hộ nghèo do PNLC (4) Nhóm giáo dục nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ nghèo làm chủ hộ như kiến thức sản xuất, cách làm ăn buôn bán,
kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng quản lý chi tiêu, kỹ năng bán hàng, giá trị sống, quản
lý stress ; củng cố các nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ có sẵn trong cộng đồng; tiến hành các buổi sinh hoạt; truyền thông nhóm
Các dịch vụ, chương trình PTCĐ như truyền thông và giáo dục cộng đồng; xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền; tổ chức kết nối và huy động nguồn lực để trợ giúp hộ nghèo
do PNLC; vận động người dân và cộng đồng cùng tham gia vào quá trình trợ giúp các hộ nghèo do PNLC; xây dựng và quản lý các dự án PTCĐ
1.3.2.3 Công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Nói đến công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC là nói đến việc đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch, quy trình thực hiện, tổ chức thực hiện và giám sát, lượng giá các hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ Để nâng cao chất lượng của dịch vụ, các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH cần có những
Trang 3226
quy trình thu hút sự tham gia của các hộ nghèo do PNLC; phải tìm kiếm thông tin phản hồi của họ về nhu cầu, kỳ vọng và sự hài lòng về dịch vụ Đồng thời, các cơ sở cần cung cấp đầy đủ thông tin cho các hộ nghèo do PNLC trước khi họ quyết định
có lựa chọn dịch vụ đó hay không Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC là cải cách hành chính công Mục đích của cải cách hành chính công là cung cấp dịch vụ công với chất lượng cao hơn cho người dân, đặc biệt là các hộ nghèo do PNLC
Một dịch vụ CTXH chuyên nghiệp được cung cấp và điều phối cho hộ nghèo
do PNLC cần được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý có hệ thống văn bản quy định kiểm soát chất lượng và chuyên môn Cơ quan cung cấp dịch vụ CTXH đối với
hộ nghèo do PNLC cần có được quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô, cần phải xây dựng hệ thống chính sách vĩ mô để quản lý chung hệ thống cơ quan cung cấp dịch
vụ trong toàn quốc Đặc biệt là cần phải có một cơ quan đầu mối theo dõi cập nhật thông tin về các cơ sở cung cấp dịch vụ, các loại hình dịch vụ và chất lượng các dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC Nguồn thông tin của cơ quan đầu mối sẽ
là cơ sở cho việc chuyển gửi các hộ nghèo do PNLC và căn cứ để quản lý, hoạch định chiến lược và chính sách ở tầm vĩ mô Nguồn thông tin này cần được cập nhật thường xuyên và giám sát chặt chẽ
Để hoạt động cung cấp, điều phối các dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC đạt hiệu quả và quản lý được thì cần thiết phải xây dựng được mạng lưới cơ
sở cung cấp dịch vụ phong phú về chủng loại, kịp thời, chuyên nghiệp, thuận tiện trong tiếp cận và gọn nhẹ về thủ tục hành chính Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch
vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC có thể ở các lĩnh vực khác nhau để đáp ứng một cách toàn diện những nhu cầu khác nhau của hộ nghèo do PNLC Các dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC được cung cấp bởi những nhà chuyên môn như nhân viên CTXH hoặc được nhân viên CTXH kết nối với những chuyên gia về lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và các trợ giúp xã hội khác Các cơ quan cung cấp dịch vụ tồn tại trong hệ thống hay mạng lưới cơ sở cung cấp các dịch vụ khác nhau cho hộ nghèo do PNLC như:
Trang 3327
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ công lập (Chính phủ, Nhà nước)
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập (ngoài Chính phủ)
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các tổ chức tôn giáo
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ, Hội nông dân…)
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các nhóm tự giúp, tổ, đội, CLB với
hệ thống các nhân viên CTXH chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp tạo thành mạng lưới CTXH
Kinh nghiệm ở các nước có nghề CTXH phát triển cho thấy, các cơ sở cung cấp dịch vụ được thiết lập để giúp các thân chủ ở ngay tại cộng đồng nơi họ sinh sống Các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH có thể là tư nhân hay công lập Do đó để cung cấp các dịch vụ CTXH có hiệu quả, các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng thể chế chính sách để vận hành sự hoạt động đồng bộ của hệ thống dịch vụ trong một mạng lưới đảm bảo đúng pháp luật và đáp ứng chuyên môn Trong đó, Nhà nước có một vai trò quan trọng trong việc quản lý các dịch vụ Một số nước trao quyền cho các tổ chức tư nhân, ngoài công lập phát triển và cung cấp dịch vụ, nhưng cái “gậy” để họ giám sát hoạt động của cơ sở cung cấp đó chính là luật pháp, chính sách Nhà nước thể chế hóa thành các luật, văn bản dưới luật thống nhất cho quản lý phát triển DVXH (Trịnh Xuân Thắng, 2013)
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
1.4.1 Yếu tố về đặc điểm của hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Vấn đề của các hộ nghèo do PNLC khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Do vậy, mạng lưới các dịch vụ CTXH cần phải phong phú, đa dạng thì mới có thể đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của họ
Với đặc điểm như mặc cảm, ngại tham gia các hoạt động cộng đồng… nên hộ nghèo do PNLC có thể thiếu chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp nhận các dịch vụ CTXH Do vậy, nhân viên CTXH phải là người chủ động tiếp cận và xây dựng mối quan hệ tốt với họ khi cung cấp dịch vụ Trong quá trình can thiệp, nhân viên CTXH
Trang 3428
cần phải hết sức nhẫn nại thì mới có thể giúp các hộ nghèo do PNLC thay đổi được nhận thức và tăng cường sự tự lực, đặc biệt là với những hộ nghèo có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ Quá trình này sẽ làm mất rất nhiều thời gian cũng như công sức của nhân viên CTXH, trong khi đó, lực lượng đội ngũ nhân viên, cộng tác viên lại mỏng nên sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH
1.4.2 Yếu tố về đội ngũ nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội
Các dịch vụ CTXH dành cho hộ nghèo do PNLC cần phải được cung cấp bởi những người có chuyên môn Người tham gia cung cấp các dịch vụ CTXH trực tiếp cho hộ nghèo cần được đào tạo bài bản, có kiến thức, có kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Người tham gia quản lý các dịch vụ CTXH phải là người có tư duy đổi mới, sáng tạo và hiểu biết sâu rộng về kinh tế - xã hội, đặc biệt là cần có những hiểu biết nhất định về CTXH Những người cung cấp các dịch vụ CTXH phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức, giá trị nghề nghiệp Đồng thời, họ cũng phải xác định được những thuận lợi, khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ
Đánh giá về đội ngũ nhân viên, cộng tác viên CTXH hiện nay, ông Nguyễn
Hải Hữu cho biết: “Trình độ cán bộ làm việc trong trung tâm dịch vụ và thực hành
CTXH còn thấp, đến nay mới chỉ có khoảng 10% cán bộ làm việc trong các tổ chức cung cấp DVXH biết đến dịch vụ CTXH và thực hành cung cấp dịch vụ CTXH”
Như vậy có thể thấy rằng đội ngũ nhân viên, cộng tác viên CTXH là một yếu
tố ảnh hướng rất lớn nhất đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH có chất lượng và đảm bảo chuyên môn Để mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ, các cơ sở có thể sử dụng đội ngũ cộng tác viên nhưng người phụ trách từng trường hợp phải là nhân viên chuyên trách, được đào tạo bài bản về CTXH
1.4.3 Yếu tố về chính sách
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực giảm nghèo, các chính sách hiện nay chưa nhằm vào nâng cao năng lực tự thoát nghèo cho người nghèo; mức hỗ trợ thấp trong nhiều chính sách dẫn tới dàn trải, khó giúp cải thiện cuộc sống người nghèo; nhiều hộ nghèo triền miên nhưng lại chưa có chính sách phù hợp; nhiều hộ thoát
Trang 3529
nghèo nhưng lại dễ tái nghèo; chính sách giảm nghèo hiện tại chủ yếu tập trung vào tăng thu nhập cho người nghèo, chưa chú trọng đúng mức việc tăng phúc lợi cho người nghèo Những bấp cập đó có ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp dịch vụ CTXH cho hộ nghèo nói chung và hộ nghèo do PNLC nói riêng
Nghề CTXH là một nghề mới ở Việt Nam nên hiện tại các khung khổ pháp lý
về nghề chưa được hoàn thiện, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH chưa được xác định cụ thể trong một số Bộ luật, Luật liên quan như Bộ Luật lao động, Bộ Luật dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em… Điều này ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH nói chung và cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC nói riêng
1.4.4 Yếu tố về nhận thức của người dân và cộng đồng
Nhận thức của người dân và cộng đồng, đặc biệt là của hộ nghèo do PNLC
về nghề CTXH và vai trò của nhân viên CTXH có ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp dịch vụ CTXH Bởi vì, cho dù các dịch vụ CTXH có đa dạng và dễ tiếp cận đến đâu
mà các hộ nghèo do PNLC không biết thì bản thân họ không thể chủ động tìm kiếm các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cho bản thân và gia đình của họ Đánh giá về kết quả truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về nghề CTXH, ông Nguyễn
Văn Hồi cho biết: “Với nỗ lực của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông
tin và truyền thông và các Bộ ngành khác, trong những năm gần đây, nhận thức và hiểu biết về nghề CTXH đã có bước chuyển biến căn bản, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, các hội, đoàn thể Tuy nhiên, mức độ hiểu biết của người dân tại cộng đồng về nghề CTXH vẫn còn hạn chế, vẫn còn nhiều người không hiểu bản chất của CTXH và coi đó là một hoạt động tự nguyện mà không cần đào tạo”
1.5 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Định hướng thứ hai trong định hướng chính sách giảm nghèo giai đoạn 2011-
2020 là tạo lập những tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề nghèo trong mô hình mới; phát triển các hình thức giáo dục miễn phí phổ cập về nghề nghiệp cho những người trong diện đói nghèo Nên dựa vào các tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện
Trang 3630
các dự án về giáo dục, y tế, xã hội Như vậy, theo định hướng giảm nghèo giai đoạn
2011 - 2020, các chính sách giảm nghèo sẽ hướng đến việc tăng cường khả năng tự lực, tự chủ để vươn lên thoát nghèo Muốn đạt được điều này thì cần phải có người làm CTXH để triển khai, chuyển giao và thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho người nghèo để đạt được sự giảm nghèo bền vững
Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (2012 - 2017) đã đề ra mục tiêu là “Đoàn kết, vận động phụ nữ phát huy nội lực, chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Xây dựng người phụ nữ Việt Nam yêu nước, có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới” Như vậy, điểm mới trong Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI so với Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc là thứ X đó là nhấn mạnh vai trò chủ thể, tính chủ động và phát huy nội lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống Hội LHPN Việt Nam luôn coi nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá…
Ngày 25/3/2010 Chính phủ đã ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về Đề án Phát triển nghề giai đoạn 2010 - 2020 (gọi tắt là Đề án 32) Mục tiêu chung của Đề
án là: “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức toàn
xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ
sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Như vậy, có thể thấy là mục tiêu thứ ba của Đề án hướng tới phát triển hệ thống dịch vụ CTXH Đây được xem là một trong những mục tiêu có ý nghĩa quan trọng của Đề án, bởi suy cho cùng CTXH có thực sự trở thành một nghề hay không phụ thuộc rất nhiều ở việc nó có thực sự phục vụ người dân hay không thông qua hệ thống/mạng lưới dịch vụ CTXH Sau Đề án 32, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có nhiều thông tư, thông tư liên tịch, trong đó có thông tư số 34/2010/TT-
Trang 3731
BLĐTBXH ngày 08/11/2010 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH và Thông tư 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên CTXH xã, phường, thị trấn Hai thông tư này là cơ sở để bổ sung và tăng cường đội ngũ nhân viên, cộng tác viên CTXH tại các cơ sở bảo trợ xã hội công và tại cộng đồng
Căn cứ vào Đề án 32, UBND Tp Hồ Chí Minh ra quyết định số UBND ban hành kế hoạch triển khai thực hiện quyết định số 32/2010/QĐ-TTG ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 trên địa bàn Tp HCM Mục tiêu chung của Quyết định 1511 là: Phát triển CTXH trở thành một nghề tại thành phố; nâng cao nhận thức của toàn
1511/QĐ-xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ
sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến trên địa bàn của thành phố
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã xác định được các khái niệm trọng tâm như khái niệm hộ nghèo do PNLC, CTXH với hộ nghèo do PNLC và dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC Những khái niệm này đã làm rõ hơn khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài Trong chương này, tác giả cũng đã trình bày đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo làm chủ hộ cũng như mục đích, vai trò, các phương pháp
và nguyên tắc hành động của nhân viên CTXH khi làm việc với hộ nghèo do PNLC
Điểm quan trọng nhất trong phần nghiên cứu lý luận là tác giả đã chỉ ra được các loại hình dịch vụ CTXH và công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH cũng như cơ sở pháp lý về dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC
Những nghiên cứu lý luận trong chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực địa mà kết quả sẽ được trình bày trong chương 2
Trang 3832
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thông tin chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Tp HCM là đô thị đông dân nhất cả nước với quy mô dân số hơn 7,9 triệu người vào năm 2013 Thành phố là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao thông và hội nhập quốc tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước Thành phố đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của đất nước, luôn đi đầu cả nước trong các phong trào xã hội, là nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, Tp HCM phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội như tình trạng nghèo đói, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội… Trong bối cảnh đó, lãnh đạo thành phố đã mạnh dạn khởi xướng và triển khai thực hiện chương trình XĐGN vào năm 1992 (nay là chương trình giảm nghèo tăng hộ khá) Qua 23 năm thực hiện chương trình đã trải qua 4 giai đoạn với 7 lần điều chỉnh nâng chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo theo tiêu chí bình quân thu nhập đầu người phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sau khi tổng kết hoàn thành mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 3 (2009 - 2015) trước thời hạn 02 năm, đầu năm 2014, thành phố triển khai chương trình giảm nghèo giai đoạn 2014 - 2015 với mức chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được điều chỉnh nâng lên với mức thu nhập bình quân đầu người từ 16 triệu đồng/người/năm trở xuống và hộ cận nghèo có mức thu nhập bình quân đầu người từ trên 16 - 21 triệu đồng/người/năm Tính đến cuối tháng 8/2015, Tp HCM còn hơn 17.000 hộ nghèo
và có đến 12/24 quận/huyện không còn hộ nghèo theo chuẩn thu nhập bình quân 16 triệu đồng một người một năm Thực hiện dự án “Hỗ trợ giảm nghèo đa chiều khu vực đô thị Tp HCM” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc tài trợ, thành phố
Trang 39Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo theo giới tính của chủ hộ (%)
Tỷ lệ hộ nghèo do PNLC/
Nguồn: Văn phòng BCĐ Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá Tp HCM
Theo báo cáo Ban kinh tế của Hội LHPN Tp HCM, tổng số hộ nghèo tính đến ngày 30/9/2015 của thành phố là 14.855 hộ, trong đó có 7.190 hộ nghèo do PNLC, chiếm 48.4% Tỷ lệ này có giảm so với năm 2014 là 49% nhưng không đáng
kể Huyện Cần Giờ và huyện Bình Chánh có số hộ nghèo do PNLC cao nhất, lần lượt là 1.555 hộ và 1.159 hộ Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2014 - 2015, thành phố có 12/24 quận/huyện không có hộ nghèo, bao gồm quận 1, quận 2, quận 3, quận 5, quận 6, quận 10, quận 11, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận Tân Phú, quận Bình Tân (Xem thêm tại phụ lục 4)
Như vậy, có thể thấy rằng chủ hộ nghèo là nữ là một vấn đề cần được lưu ý trong quá trình trợ giúp để đảm bảo nguyên tắc cá biệt hóa của CTXH
2.1.2 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tại quận 9, Tp HCM Địa bàn khảo sát bảng hỏi
là phường Tân Phú và phường Tăng Nhơn Phú B quận 9
Quận 9 là một quận ngoại ô của Tp HCM, được thành lập theo Nghị định số
03/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 6/1/1997 tách ra từ huyện Thủ Đức cũ
Quận 9 nằm về phía Đông, cách trung tâm thành phố khoảng 7 km theo đường xa lộ
Hà Nội, phía Đông giáp huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp quận Thủ
Trang 40tệ nạn xã hội, nghèo, nhập cư…
Phường Tân Phú, quận 9 có tổng diện tích là 445,11 ha, nằm về phía Bắc quận 9 Phường Tân Phú có 6 khu phố với 6.012 hộ và 21.445 nhân khẩu Số dân nhập cư chiếm 41% Phường đã triển khai xét hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều vào tháng 5/2016 Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm của Ban giảm nghèo, hiện phường Tân Phú có 245 hộ nghèo và 84 hộ cận nghèo Trong đó có 132 hộ nghèo do PNLC và 32 hộ cận nghèo do PNLC Số hộ nghèo và hộ cận nghèo theo tiêu chí đa chiều cao hơn rất nhiều so với tiêu chí đơn chiều
Phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9 có tổng diện tích là 529 ha, bao gồm 5 khu phố với 46 tổ dân phố Dân số hiện nay của phường là 7.034 hộ với 23.833 nhân khẩu Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm của Ban giảm nghèo, hiện phường Tăng Nhơn Phú B có 180 hộ nghèo, trong đó có 63 hộ nghèo do PNLC
2.1.3 Thông tin chung về khách thể nghiên cứu
Trong thời điểm khảo sát thực địa, các địa phương đã có danh sách hộ nghèo, cận nghèo theo phương pháp đa chiều Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 70 hộ nghèo
do PNLC theo phương pháp đa chiều tại phường Tân Phú, phường Tăng Nhơn Phú
B quận 9 Trong phần này, chúng tôi sẽ làm rõ một số thông tin chung về các hộ nghèo do PNLC về độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn
* Độ tuổi
Theo kết quả khảo sát, phụ nữ nghèo làm chủ ở nhiều độ tuổi khác nhau nhưng đa số họ ở lứa tuổi trung niên và quá tuổi lao động, cụ thể là từ 25 - 34 tuổi chiếm 5.7%, từ 34 - 44 tuổi chiếm 15.7%, từ 45 - 55 tuổi chiếm 32.9%, trên 55 tuổi chiếm 45.7% Người cao tuổi nhất trong số những người được khảo sát đã 76 tuổi