1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tư tưởng hồ chí minh về phật giáo và sự vận dụng tư tưởng đó của đảng ta trong giai đoạn hiện nay

105 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 793,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì tất cả các lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ HÀ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta trong giai

đoạn hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẬT GIÁO 13

1.1 Một số nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo 13

1.1.1 Truyền thống gia đình 13

1.1.2 Truyền thống, văn hóa dân tộc 17

1.1.3 Tinh hoa văn hóa nhân loại 21

1.1.4 Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh 26

1.1.5 Chủ nghĩa Mác – Lênin 29

1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo 31

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo Phật 31

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, tự do tín ngưỡng của đạo Phật 37

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết Phật giáo 40 1.2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận từ góc độ văn hóa đối với Phật giáo 45

1.2.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về các giá trị của đạo Phật 49

CHƯƠNG 2 SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẬT GIÁO CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 56

2.1 Khái quát tình hình Phật giáo Việt Nam hiện nay 56

2.2 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo của Đảng, Nhà nước ta 67

2.2.1 Đảng, Nhà nước đề ra đường lối, chính sách chung cho các vấn đề tôn giáo 67

2.2.2 Đảng, Nhà nước đề ra đường lối, chính sách riêng đối với đạo Phật 79

2.2.3 Một số kiến nghị đề xuất 86

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hà

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị anh hùng dân tộc, là danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm đến bến bờ vinh quang Cả cuộc đời Người là tấm gương đạo đức cho mọi thế hệ noi theo Tư tưởng của Người là kho tàng tri thức vô giá của cả dân tộc Việt Nam Do vậy, Đảng và Nhà nước

ta luôn luôn coi trọng việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi hoàn cảnh, điều kiện của đất nước Tại các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: Đảng và Nhà nước ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng lại tiếp tục nhấn mạnh bài học lớn đầu tiên qua thực tiễn hai mươi năm đổi mới là

“kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng”[18, 131] Theo định hướng chung đó, việc học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thấm nhuần hệ thống tư tưởng sâu sắc, vận dụng một cách sáng tạo các tư tưởng đó trong tình hình hiện nay vừa là yêu cầu lý luận, vừa là đòi hỏi khách quan của thực tiễn

Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều vấn đề, nhiều nội dung phong phú, rộng lớn đã được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Một trong các nội dung trong hệ thống tư tưởng của Người hiện nay đang thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu là tư tưởng của Người về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng Tính cho đến thời điểm hiện nay, nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức, khá nhiều kết quả nghiên cứu chuyên khảo về vấn đề trên đã được xuất bản Tuy nhiên, ở một phạm vi hẹp hơn là tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo, các công trình nghiên cứu đã được công bố còn hạn chế

Trang 6

Như chúng ta đã biết, Phật giáo là một tôn giáo lớn đã được du nhập vào Việt Nam khá sớm và tồn tại trong một thời gian dài cho đến ngày nay Trải qua nhiều thăng trầm, biến động trong lịch sử, Phật giáo đã gắn bó sâu sắc với dân tộc Việt Nam, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của mọi người con đất Việt không chỉ trong quá khứ mà cả hiện tại Phật giáo cũng đã ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện, tư tưởng Ngược lại, Hồ Chí Minh cũng đã dành nhiều sự quan tâm ưu ái đối với Phật giáo Như vậy, việc lựa chọn tiếp tục đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung, Phật giáo nói riêng là việc làm có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn cấp bách Nó sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, làm mở rộng và phong phú thêm nội dung

tư tưởng Hồ Chí Minh ở thời điểm hiện tại

Mặt khác, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo theo đánh giá của chúng tôi còn có ý nghĩa quan trọng Cho đến nay, các công trình nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu khai thác ở các nguồn gốc như Nho giáo với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh… Do vậy, với

đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ một bộ phận mới trong việc nghiên cứu nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh: Phật giáo với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Hơn nữa, trong điều kiện ngày nay, tôn giáo đang vận động theo các xu hướng phức tạp Các thế lực thù địch đang hàng ngày, hàng giờ lợi dụng các

sơ hở của xu hướng vận động đó để gây mất ổn định chính trị, phá hoại cách mạng, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH của ta Việt Nam đang là tâm điểm của âm mưu “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch Cho nên vấn đề tôn giáo đang là vấn đề phức tạp và nhạy cảm Ngay cả tôn giáo Phật giáo, một tôn giáo đã gắn bó lâu dài cùng dân tộc Việt Nam

Trang 7

địch Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn

đề tôn giáo và đưa ra các tư tưởng chỉ đạo cho phù hợp với tình hình thực tế Trước tình hình đó, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy và kế thừa hơn nữa các di sản chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta cũng là một yêu cầu tất yếu

Vì tất cả các lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả Các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác ở các góc độ khác nhau trong tư tưởng của Người Các vấn đề đã được nghiên cứu nhiều như: nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, CNXH…Mỗi công trình nghiên cứu đều làm sáng tỏ, sâu sắc và phát hiện thêm nhiều giá trị mới trong

tư tưởng của Người

Theo tình hình chung đó, việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu Ở lĩnh vực này, có thể khái quát các mảng vấn đề đã được công bố như sau:

1, Các công trình tổng hợp có liên quan là nghiên cứu tình hình tôn giáo ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu đó đã nêu bật thực trạng, đặc trưng của tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay dưới tác động của các tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Có thể kể một số các công trình tiêu biểu:

- Tác giả Đặng Nghiêm Vạn với công trình “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005

Trang 8

Đây là kết quả kế thừa từ đề tài khoa học cấp nhà nước KHXH - 04 - 06

“Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam Chính sách của Đảng và Nhà nước” Ở công trình nghiên cứu này,

GS Đặng Nghiêm Vạn đã trang bị cho người đọc những vấn đề lý luận chung nhất về tôn giáo, trình bày đặc điểm và tình hình tôn giáo ở Việt Nam cũng như đặc trưng, vai trò cụ thể của các tôn giáo lớn Điểm đáng chú ý là các tôn giáo này đều được minh họa cụ thể, chi tiết từ cuộc điều tra xã hội học về tôn giáo ở ba thành phố lớn Hà nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả công trình nghiên cứu cũng đã phân tích và làm rõ một số vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng chính sách tôn giáo lớn ở Việt Nam hiện nay

- Tác giả Đỗ Quang Hưng với cuốn “Về vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam Lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005 Theo chúng tôi đây là một công trình tổng hợp đã khái quát các nội dung cơ bản liên quan đến lĩnh vực tôn giáo như tác giả khái quát bối cảnh quốc tế của vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, phân tích dưới góc độ triết học những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề tôn giáo cũng như bước khởi đầu nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam

về vấn đề tôn giáo Đặc biệt là hệ thống hóa sự phát triển về quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề tôn giáo qua các thời kỳ cách mạng Các văn bản pháp luật về vấn đề tôn giáo nói chung, các tôn giáo cụ thể (Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hòa hảo) đều được tác giả khái quát và kiến giải

2 Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng có các công trình lớn sau:

- Công trình của Viện nghiên cứu tôn giáo, “Hồ Chí Minh về tôn giáo tín ngưỡng” Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996

Với ba phần cơ bản, có thể khẳng định đây là cuốn cẩm nang cho

Trang 9

Nội dung cuốn sách đều là các chỉ dẫn quan trọng cho những ai bước đầu nghiên cứu tìm hiểu, học hỏi và kế thừa ở lĩnh vực này

- Công trình của tập thể tác giả thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh do tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003

Đây là một công trình nghiên cứu lớn, tập hợp, tổng kết tất cả các bài viết ở các góc độ khác nhau, nghiên cứu sâu về các khía cạnh phong phú trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, có tác dụng chỉ dẫn và định hướng cho các công trình nghiên cứu sau tiếp tục đi sâu tìm hiểu về lĩnh vực này

- Công trình của tác giả Hồ Trọng Hoài và Hoàng Thị Nga “Quan điểm của C Mác - PH.Ăngghen - V.I Lênin, Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Cuốn sách gần 200 trang đã khái quát những vấn đề lý luận chung nhất về các quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh về tôn giáo và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo Khác với các nghiên cứu trước, chúng tôi nhận thấy đây là công trình nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam một cách khái quát

và dưới góc độ triết học mới mẻ Các tác giả không chỉ chú ý về nội dung mà còn phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn cho các quan điểm của mình

3 Xung quanh vấn đề nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo, chúng tôi nhận thấy còn ít công trình được công bố Theo thống kê của chúng tôi, đáng lưu ý có công trình của tác giả Phùng Hữu Phú đã được xuất bản thành sách “Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam (1945 - 1969)” Ở công trình nghiên cứu này tác giả là người đầu tiên đã cố gắng khái quát nội dung, khẳng định mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo dân tộc,

Trang 10

tìm hiểu những nhân tố triết lý Phật giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên do dung lượng ít ỏi, tác giả chưa thể chỉ dẫn nhiều Hồ Chí Minh nói gì, viết gì, nghĩ gì về Phật giáo cũng như chưa mở rộng nghiên cứu của mình, đi sâu tìm hiểu những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng ta

Bên cạnh công trình này, chúng tôi nhận thấy một số tác giả khác cũng

có xu hướng nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với Phật giáo Song, hầu hết các công trình của các tác giả này được trình bày dưới dạng bài viết nhỏ, đăng trên các tạp chí hoặc các bài phát biểu tại các hội thảo khoa học Tiêu biểu như các bài viết nhỏ được tập hợp trong cuốn “Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh” tại Thừa Thiên Huế lần I”, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 1994: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và giáo lý đạo Phật” của Thượng Tọa Thích Đức Thanh; “Hồ Chí Minh trong lòng tăng ni, Phật tử Thừa Thiên Huế” của tác giả Đặng Văn Chương; “Khát vọng giải phóng những người cùng khổ, nét lớn trong sự gặp gỡ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và

tư tưởng Phật giáo” của tác giả Lê Cung Ngoài ra, đáng chú ý còn có “Hồ Chí Minh với Phật giáo” của Lê Cung ; “Cuộc gặp gỡ đầu tiên của Chủ tịch

Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam” của tác giả Minh Chi Hai bài viết này được đăng trên cuốn “Sáng ngời Hồ Chí Minh những bài viết tâm đắc”, do tác giả Phan Văn Hoàng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà nội, 2005; Bài viết “Hồ Chí Minh với Phật giáo” đăng trên cuốn “Về danh nhân văn hóa

Hồ Chí Minh” của tác giả Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong, Nhà xuất bản Lao Động, 2005 Tất cả các bài viết trên đều là các bài viết nhỏ của các tác giả quan tâm đến tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo Mỗi bài viết đề cập đến các góc độ khác nhau của vấn đề, song hầu hết các tác giả đều tìm hiểu điểm tương đồng trong tư tưởng Hồ Chí Minh với giáo lý đạo Phật, tìm nét tương đồng giữa Hồ Chí Minh với đấng chí tôn của đạo Phật là Đức Phật tổ Thích

Trang 11

Ca Ngoài ra các tác giả cũng bộc lộ tình cảm ngưỡng mộ, mến yêu trước một

vị lãnh tụ mang trong mình tâm thức sâu sắc của đạo Phật

Do vậy, khi nghiên cứu đề tài này, từ góc độ tiếp cận triết học, chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu nói trên với các gợi ý quan trọng, nhất là chú ý kế thừa và phát triển các thành quả tư tưởng của tác giả Phùng Hữu Phú và các tác giả nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo Ngoài ra, chúng tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu từ góc độ triết học, giá trị học, triết học văn hoá để khai thác các giá trị tư tưởng nổi bật của Hồ Chí Minh về Phật giáo và đặc biệt là đi sâu tìm hiểu sự vận dụng các tư tưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ một số nguồn gốc hình thành và nội dung tư tưởng

Hồ Chí Minh về Phật giáo cũng như sự vận dụng các tư tưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+Tìm hiểu một số nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo + Đi sâu nghiên cứu, hệ thống hóa các tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo +Phân tích sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng để chỉ đạo tình hình tôn giáo hiện nay, nhất là tình hình Phật giáo

+Đề ra các kiến nghị, đề xuất của bản thân để góp phần làm cơ sở cho các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về Phật giáo qua các văn bản, trước tác Người để lại, qua các câu chuyện thực tế trong cả cuộc đời hoạt động của Người; các chủ trương, chính

Trang 12

sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng giai đoạn hiện nay dưới ánh tư tưởng Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn nghiên cứu chủ yếu ở các quan điểm của Hồ Chí Minh

về Phật giáo và một số nội dung tư tưởng của Người về tôn giáo, giới hạn ở các thời điểm lịch sử, các địa điểm cụ thể có liên quan đến việc hình thành cũng như nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo Mặt khác, chúng tôi cũng giới hạn nghiên cứu ở các chủ trương, chính sách cơ bản nhất của Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Đề tài vận dụng những phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lấy các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở

lý luận cho việc nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, thống kê, lôgic - lịch sử …

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã phân tích, hệ thống hóa được những nguồn gốc và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

Luận văn cũng đã phân tích được thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta vào việc đề ra các chính sách đối với tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng trong giai đoạn hiện nay

Luận văn cũng đề xuất được một số các kiến nghị về mặt giải pháp để góp phần làm cơ sở cho các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước

7 Ý nghĩa của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi đã làm phong phú, sâu sắc thêm những hiểu biết về tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực tôn giáo mà cụ thể là tư

Trang 13

tưởng của Người về Phật giáo Do vậy, luận văn có ý nghĩa góp thêm vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống nhiều công trình lớn nghiên cứu về tư tưởng của Người Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về vấn đề này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHẬT GIÁO 1.1 Một số nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

1.1.1 Truyền thống gia đình

Hồ Chí Minh sinh ra tại một gia đình nhà nho nghèo thuộc Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An - một vùng đất hiếu học, sinh ra nhiều tài danh về nho - Phật - Đạo yêu nước, thương dân Gia đình Bác cũng là một gia đình có truyền thống hiếu học, khổ học Cả hai bên nội, ngoại: ông nội - Nguyễn Sinh Nhậm, bà nội - Hà Thị Hy, ông ngoại - Hoàng Đường, bà ngoại - Nguyễn Thị Kép đều là các bậc tiền bối hiếu học, ham học Tuy không có ai đỗ đạt cao nhưng cũng góp phần làm đông đảo thêm đội ngũ trí thức bình dân ở địa phương, duy trì truyền thống hiếu học, khổ học của quê hương Cha Bác, ông Nguyễn Sinh Sắc là một người nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ khi còn nhỏ Lớn lên, dù hoàn cảnh gia đình rất mực khó khăn nhưng ông vẫn theo đuổi sự nghiệp học hành Từ một ông đồ dạy học trong làng, ông đã khổ học, rèn luyện, vượt qua gian truân để trở thành một ông phó Bảng

Với tinh thần hiếu học, khổ học, các thế hệ đi trước đã ảnh hưởng đến các thế hệ về sau mà trực tiếp là cậu bé Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành Từ nhỏ cậu đã bộc lộ tư chất thông minh, ham học, ham hiểu biết, tìm tòi những điều mới lạ Những năm tháng theo cha nay đây, mai đó cậu đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới qua các trường lớp và sách vở Sau này cuộc sống dù gian truân nơi xứ người nhưng cậu vẫn miệt mài học tập, tích lũy tri thức để đạt được mục đích của mình

Chính sự khổ luyện, ham học hỏi thời trẻ đó ở Hồ Chí Minh là cơ sở để sau này Người tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa dân tộc trong đó có Phật giáo

Trang 15

Từ đó hình thành trong tư tưởng của Người một hệ thống sâu sắc những tình cảm, nội dung về một tôn giáo mang đậm nét dân tộc - tôn giáo Phật giáo

Gia đình Hồ Chí Minh ngoài truyền thống hiếu học còn là hiện thân của lòng nhân ái, bao dung độ lượng “từ, bi, hỷ, xả” Có thể nói lòng nhân ái cao cả của ông bà ngoại là cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép đã làm thay đổi cuộc đời thân phụ của Bác Thân phụ Bác từ nhỏ đã là trẻ mồ côi, có hoàn cảnh

éo le, phải sống nhờ vào người anh cùng cha khác mẹ Cảm thương trước một cậu bé nghèo khổ nhưng thông minh, ham học, cụ Hoàng Đường lúc bấy giờ là thầy đồ trong làng đã xin về nuôi và dạy cho học Có thể nói, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc chính là sản phẩm của tấm lòng nhân ái ấy, nếu không có tấm lòng nhân ái cao cả đó, có lẽ chỉ có một anh nho Sắc hay một ông đồ Sắc

Cũng từ lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, bà Hoàng Thị Loan khi lớn lên đã vượt qua lễ giáo phong kiến, môn đăng hộ đối, đem lòng cảm mến, yêu thương ông Nguyễn Sinh Sắc và kết thành tình nghĩa vợ chồng sâu nặng

Trưởng thành trong tình yêu thương, đùm bọc của mọi người, ông Nguyễn Sinh Sắc đã tô đậm thêm lòng nhân ái vốn có của mình Ông là hiện thân của tình yêu thương nhân dân nghèo khổ Khi vinh quy về làng, vì sợ tốn kém cho nhân dân, ông đã khước từ lễ đón rước linh đình Trước khi rời quê vào kinh đô làm quan, ngoài việc để lại cho cô con gái ít ruộng để sinh nhai, ông đã bán hết và chia cho dân nghèo Sau này, cũng chính từ lòng nhân ái, thương quần chúng nghèo khổ, căm ghét chốn quan trường tham ô, lộng hành, ông đã từ quan về làm ông đồ dậy chữ trong làng và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân

Từ lòng nhân ái, bao dung cao cả của ông bà, cha mẹ đó đã tác động đến hai người anh và chị của Bác là ông Nguyễn Tất Đạt, bà Nguyễn Thị

Trang 16

Thanh Lớn lên, họ đều thấu hiểu nỗi khổ cực của nhân dân và trở thành những người yêu nước, hoạt động cách mạng vì dân, vì nước

Chính những nhân cách cao cả trong gia đình Hồ Chí Minh đã tác động đến Người ngay từ khi còn nhỏ, hình thành lên ở Người cái tâm từ bi, nhân ái, bao dung của đạo Phật Người dành tình thương cho mọi tầng lớp nhân dân:

từ thương người nghèo khổ đói ăn, mặc rách đến thương nhân dân, đồng bào đang rên riết dưới những tầng áp bức, bóc lột của thực dân Đỉnh cao của lòng nhân ái đó đã biến tư tưởng thành hành động - Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nhân loại cùng khổ dù cho có phải hy sinh bản thân mình

Tất cả các tình cảm quý báu đó sau này đã giúp Hồ Chí Minh hiểu được những triết lý sâu sắc của đạo Phật, thấy được những giá trị đích thực của tôn giáo đã gắn bó nhiều năm với dân tộc Từ đó hình thành ở Người những tư tưởng, tình cảm sâu sắc về Phật giáo, ca ngợi vai trò to lớn, giá trị đạo đức, văn hóa của Phật giáo

Những người thân trong gia đình Bác không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành tâm từ bi, nhân ái của Hồ Chí Minh mà còn trực tiếp tác động đến việc hình thành tư tưởng của Người về Phật giáo

Trước hết, bà ngoại, mẹ và chị gái cùng với những hoạt động thực tiễn gắn bó với đạo Phật của họ đã ảnh hưởng đến Bác Ba người phụ nữ ít nhiều mang trong mình tâm linh của người mộ đạo Họ am hiểu nhiều thơ ca, tục ngữ dân gian, thường xuyên tham gia các lễ hội đình chùa Đặc biệt bà ngoại Nguyễn Thị Kép là “người rất mộ đạo Phật, thường xuyên đến thăm viếng, dâng hương hoa ở các chùa chiền”[65, 14] Cụ lên chùa một phần có thể do tâm lý người già, song ở cụ cũng có niềm tin nơi cửa Phật, mong muốn sự che chở, trợ giúp cho cuộc sống của gia đình, dân làng cũng như cả nước thoát khỏi đói khổ, xiềng xích thực dân Vì thế, mẹ và chị gái của Bác cũng chịu

Trang 17

ảnh hưởng từ bà ngoại Do vậy, ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh thường theo họ lên chùa dâng hương làm lễ cầu Phật

Tất cả các ảnh hưởng thời thơ ấu đó đã tác động nhiều đến Người Sau này, Người đã dành nhiều tình cảm sâu nặng cho phụ nữ, viết nhiều trang viết thể hiện nỗi cảm thông, thấu hiểu với nỗi khổ của nhiều người phụ nữ

Tuy nhiên, ảnh hưởng sâu sắc nhất đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo chính là thân phụ của Người - cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là người nắm vững tam giáo Nho, Phật, Đạo, gắn bó với đạo Phật, tinh thông Phật học Sử sách đã ghi chép lại nhiều hoạt động của cụ phó bảng liên quan đến Phật giáo: Một thời gian dài khi chán trường chốn quan cụ thường xuyên lui tới các chùa đàm đạo với các nhà

sư, nghiên cứu kinh Phật, kết hợp với bắt mạch, bốc thuốc, chữa bệnh cho nhân dân Những vị sư mà cụ thường tiếp xúc, đàm đạo trong thời gian này là Chư tôn hòa thượng Bích Liên, Liên Tôn ở Bình Định; Huệ Đăng ở chùa Thiên Thai (Bà Rịa Vũng Tàu); Từ văn ở chùa Hội Khánh (Bình Dương)…Cụ Nguyễn Sinh Sắc vào chùa là để nghiên cứu Phật học Cho nên cụ rất am hiểu

và tinh thông Phật học Cụ đã từng được cấp chứng chỉ quy y do Hòa thượng Hồng Đại Hữu Phước, trụ trì chùa Sùng Phước (Nam Vang – Huế) cấp ngày 2 tháng 7 năm Nhâm Tuất tức ngày 24 tháng 8 năm 1922 Do am hiểu Phật học như vậy nên hầu hết các chùa mà cụ lưu đến đều có bút tích do cụ để lại:

“Tiên tức Phật, Phật tức tâm, bát vạn trần lạo độ tịnh tâm

Linh như hư, hư như giác, tam thiên thế giới tổng bao hàm”

Dịch là: “Tiên là Phật, Phật ở trong tâm, tám vạn khổ đau đều do ở tâm tạo ra

Linh như không có, không mà có, ba ngàn thế giới đều nằm trong đó”[25, 98]

Trang 18

Nếu không xuất phát từ một một tình cảm sâu sắc và có tâm huyết với Phật giáo, không có một trình độ hiểu biết thâm sâu triết lý Phật học thì không thể viết lên những câu mang đậm triết lý Phật giáo như vậy và cũng không thể nhiệt tình tham gia vào các công việc của một tín đồ mộ đạo: “Cụ Nguyễn Sinh Sắc đã từng là cố vấn cho hòa thượng Khánh Hòa - một người chủ xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, gây dựng tổ chức Phật giáo Trong những năm đầu thế kỷ XX, cụ Sắc đã gợi ý sáng tỏ cho cụ Khánh Hòa là phải

tổ chức, có tổ chức mới có cơ sở để làm việc, để tạo thế mạnh và hoằng đạo, phải tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo Bấy lâu cụ Khánh Hòa có ý, giờ đây được cụ Sắc làm sáng tỏ hẳn lên và cụ Sắc trở thành một lý thuyết gia của

cụ Khánh Hòa”[65, 12-13]

Rõ ràng, có thể khẳng định rằng quê hương, dòng tộc, những người thân trong gia đình Hồ Chí Minh là cái nôi nuôi mầm gien Phật giáo trong Bác Từ ông bà đến cha mẹ, anh chị đều có mối quan hệ mật thiết với đạo Phật thì không thể nói rằng Hồ Chí Minh không có mối quan hệ với đạo Phật Ngược lại, chính Hồ Chí Minh đã thực hành lối sống như là hiện thân của Đức Phật trong đời thường Những câu chữ Người dùng không phải là ngôn ngữ Phật giáo nhưng nội dung yêu thương con người thì hiện hữu triết lý của đạo Phật

1.1.2 Truyền thống, văn hóa dân tộc

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử đoàn kết dựng nước và giữ nước Lịch sử đó đã tạo dựng một nền tảng văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những giá trị truyền thống, những tinh hoa tốt đẹp

và cao quý Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là truyền thống cần cù lao động, đoàn kết dân tộc Đây chính là những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc ra đi tìm đường cứu nước Nó là cơ sở

Trang 19

cách mạng của Người Đây cũng chính là cơ sở, nguồn gốc chính yếu hình thành tư tưởng về Phật giáo ở Người về sau

Truyền thống yêu nước

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm Ứng với mỗi thời kỳ lịch sử, truyền thống yêu nước thể hiện những nội dung phong phú và sâu sắc khác nhau Kế thừa truyền thống đó của dân tộc,

Hồ Chí Minh đã phát triển thành nội dung chủ nghĩa yêu nước phù hợp với thời đại mới Ở Người, yêu nước là quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, là lao vào hoạt động thực tiễn để tìm chân lý cứu nước Trong hoàn cảnh đất nước dưới ách thống trị của thực dân, nhân dân bị đầy đọa lầm than cơ cực như kiếp ngựa trâu, giá trị văn hóa dân tộc bị trà đạp, xúc phạm, quần chúng nhân dân đã nhiều lần đánh đuổi kẻ thù nhưng không thành công thì chính truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa nhân ái của dân tộc đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân

Rõ ràng, yêu nước ở Hồ Chí Minh là xuất phát từ lòng trắc ẩn, từ bi, yêu thương những con người cùng khổ Yêu nước là nung nấu một nhiệt huyết ra đi tìm đường cứu quần chúng khỏi cảnh lầm than, là luôn luôn mong muốn đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, dân tộc Người nhấn mạnh:

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[46, 161]

Truyền thống yêu nước là cơ sở chủ đạo hình thành hệ thống tư tưởng

về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo ở Hồ Chí Minh Đó cũng là cơ sở cho việc hình thành các quan điểm của Người đánh giá về giá trị nhân văn, nhân bản của đạo Phật, cũng như các tư tưởng đánh giá vai trò to lớn của đạo Phật đã phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, tham gia nhiệt tình vào cuộc đấu tranh vì tự do cho đất nước

Trang 20

Truyền thống cần cù, nhẫn nại trong lao động, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất

Dân tộc Việt Nam từ buổi bình minh của lịch sử vừa phải chống chọi với thiên tai, lũ lụt, hạn hán vừa phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm Chính những hoàn cảnh này đã góp phần hình thành nên đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất của nhân dân ta Không ai có thể phủ nhận rằng con người Việt Nam là cần cù trong lao động, thông minh sáng tạo trong sản xuất Không chỉ cần cù trong lao động sản xuất, lao động vật chất, lao động trí óc, con người Việt Nam còn cần cù trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm Truyền thống này đã được đúc kết trong các thần thoại, truyền thuyết, tục ngữ ca dao và cả văn chương bác học Truyền thống đó không chỉ thể hiện ở từng cá nhân mà cả cộng đồng dân tộc Nó là một đức tính lớn của dân tộc, góp phần gìn giữ đất nước trong lịch sử và xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay

Truyền thống yêu lao động, siêng năng cần cù là đức tính quý báu của người dân Việt Nam nói chung và nhân dân Nghệ An nói riêng Đây là miền quê có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn sỏi đá Cho nên con người luôn phải lao động cật lực vì miếng cơm manh áo Từ thế hệ này đến thế hệ khác, con người Nghệ An luôn phải chống chọi với thiên nhiên, phải đào kênh, lấp biển, đắp đập, khai hoang để mưu sinh Chính việc lao động và cải tạo thiên nhiên đó làm cho con người xứ Nghệ được tôi luyện càng trở lên cần cù chịu khó, tin yêu, quý trọng sức lao động của mình cũng như những thành quả lao động

Bản lĩnh nhẫn nại, kiên cường trong lao động như vậy đã ăn sâu trong

tư tưởng, nhận thức của Hồ Chí Minh từ khi còn nhỏ

Mặt khác, ngay từ tuổi niên thiếu, Người cũng đã trải qua thực tiễn lao động sản xuất vất vả phục vụ cuộc sống Khi vắng cha, mất mẹ, Người phải tự

Trang 21

lực cánh sinh nuôi bản thân cùng em nhỏ Do vậy, Người thấu hiểu giá trị của sức lao động, sẵn sàng lao động khi cần thiết Thực tế, Người đã không sợ khó, sợ khổ khi ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng Người đã lao động làm thuê đủ mọi nghề để kiếm sống Sau này, khi đã là người lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh vẫn coi trọng lao động Người sống giản dị cần cù như mọi người dân bình thường khác và thấu hiểu nỗi lo toan của người dân

Tất cả các đức tính đó Người đã hấp thụ từ quê hương mình, từ tinh hoa dân tộc mình Đó là cơ sở quan trọng giúp Hồ Chí Minh gần gũi với nhân dân lao động, thấu hiểu nỗi khổ của quần chúng, và sẵn sàng chia sẻ, đấu tranh vì hạnh phúc nhân dân, nhân loại Đây là điểm gặp gỡ trong tư tưởng Hồ Chí Minh với các triết lý sâu sắc “từ, bi, hỷ, xả, cứu khổ cứu nạn” của nhà Phật Thấu đạt các triết lý đó, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tình cảm ca ngợi các triết

lý “cứu khổ cứu nạn” của đạo Phật Người đã dành nhiều thời gian quan tâm thăm hỏi đồng bào tăng ni Phật tử cũng như đến thăm nhiều chùa chiền trong nước và thế giới Từ đó hình thành một hệ thống tư tưởng, tình cảm sâu sắc đối với đạo Phật

Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, cố kết cộng đồng

Kết cấu cá nhân - gia đình - làng nước là một kết cấu bền chặt của xã hội Việt Nam từ trong lịch sử đến nay Cá nhân luôn gắn bó với gia đình, tập thể Gia đình là làng, nước thu nhỏ, làng nước là gia đình mở rộng Mỗi thành viên trong cộng đồng người Việt luôn ý thức phải cấu kết, phải đoàn kết thành một cộng đồng thống nhất Tâm lý này là do chính tồn tại xã hội quy định Trong quá khứ, dân tộc ta phải thường xuyên đương đầu với việc đắp đê chống lũ, chống hạn, chống giặc ngoại xâm Thực tế đó đã nảy sinh yêu cầu

cả dân tộc cần một khối đoàn kết để tồn tại và phát triển Dân tộc ta trong lịch

sử đã dần tạo dựng cho mình truyền thống quý báu này Mỗi người dân Việt Nam luôn nghĩ về người khác, sẵn sàng giúp đỡ người khi gặp khó khăn Con

Trang 22

người Việt Nam luôn hòa đồng, gắn bó với tập thể, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích làng nước lên trên lợi ích gia đình Lịch sử đã minh chứng cho tinh thần tương thân thương ái, đoàn kết cộng đồng của dân tộc ta Tinh thần đó đã phát huy được sức mạnh to lớn đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH ngày nay

Ngay từ thời niên thiếu, Hồ Chí Minh đã từng chứng kiến kết quả của tinh thần đoàn kết dân tộc trong cải tạo thiên nhiên, đấu tranh gìn giữ non sông Quan trọng hơn, quê hương Nghệ An của Bác là nơi “đất xấu, dân nghèo” nhưng xóm làng đầm ấm, cảnh vật thì thi vị với nhiều đền đài, lăng

mộ, di tích Đây là kết quả của những tháng năm hợp quần lao động của nhân dân Tất cả đều ghi dấu ấn khó phai đối với Nguyễn Tất Thành - một con người có trái tim nhạy cảm, ham hiểu biết và tìm tòi những điều mới lạ

Những nền tàng tư duy và tình cảm đó theo chân Bác đi nhiều nơi trên thế giới, cọ xát với thực tiễn phong phú và được nâng lên thành một bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là tư tưởng đoàn kết, chiến lược đại đoàn kết Tư tưởng này của Hồ Chí Minh vừa thể hiện sự kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc, vừa thể hiện triết lý “lục hòa” của Phật giáo Bởi

lẽ có hòa hợp mới có tin yêu và đoàn kết, “thiếu lục hòa chúng ta có lạc giọng kêu gọi đoàn kết cũng không khi nào có đoàn kết”[75, 50] Trên tinh thần này,

Hồ Chí Minh đã tạo dựng một hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết với nhân dân sâu và rộng Trong chiến lược đại đoàn kết của Người thì tư tưởng đoàn kết lương giáo, đoàn kết Phật giáo với các tôn giáo khác giữ một vai trò quan trọng

1.1.3 Tinh hoa văn hóa nhân loại

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh, từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được trang bị một trình độ Hán học vững chắc Trên cơ

sở đó, Người trực tiếp tiếp thu văn hóa Phương Tây tại trường Quốc học

Trang 23

Huế Những năm tháng bôn ba nay đây mai đó, Người đã không ngừng học hỏi, thông thạo nhiều ngôn ngữ tiêu biểu cho nhiều nền văn minh nhân loại Thêm vào đó, tuổi thơ của Người được tắm gội trong nền văn minh dân tộc, văn minh phương Đông - nền văn hóa của các tư tưởng Nho, Phật, Đạo Cho nên có thể nói Hồ Chí Minh là hiện thân của sự am tường các nền văn minh Đông Tây kim cổ Người đã tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa của hai nền văn minh phương Đông và phương Tây phù hợp với mục đích, chân lý đích thực mà Người theo đuổi: giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, từ đó dần hình thành nên tư tưởng của Người về đạo Phật

Văn hóa phương Đông là cái nôi của những giá trị, tư tưởng, triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống, xã hội loài người còn tồn tại đến ngày nay như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Từ tuổi ấu thơ, Hồ Chí Minh đã được tắm gội trong nền văn minh đó Ra đi tìm đường cứu nước, Người mang theo hành trang lớn nhất là lòng yêu nước, truyền thống văn hóa dân tộc, và khối tri thức Người đã được trau dồi - tri thức văn hóa phương Đông Quá trình hoạt động cách mạng, Người đã được học tập, mở rộng tầm nhìn, học hỏi nhiều tri thức phương Tây, song các giá trị, tư tưởng văn hóa phương Đông đã có sẵn trong Người và ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các

tư tưởng của Người về sau

Trước hết, nói đến tư tưởng và văn hóa phương Đông là nói đến Nho giáo Đây là một hệ tư tưởng chính trị - xã hội lớn, có ưu thế trong việc xây dựng một trật tự xã hội kỷ cương phép tắc, xây dựng một nền đạo đức nhân nghĩa

Người đọc có thể đặt câu hỏi: những tư tưởng đó của Nho giáo ảnh hưởng gì đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo? Nếu chú

ý ta sẽ thấy Nho giáo trong lịch sử đã dần tích hợp một cách từ từ nhiều giá trị, triết lý Phật giáo Do đó, đem đối chiếu, chọn lọc có thể tìm thấy nhiều điểm hợp lý, tương đồng của Nho giáo với tư tưởng Phật giáo Hồ Chí Minh

Trang 24

Tuy là một học thuyết chính trị - xã hội mang lễ giáo phong kiến nhưng Nho giáo là một tư tưởng có triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, ước vọng một

xã hội an ninh, hòa mục, một thế giới đại đồng và dần hỗn dung với nhiều giá trị Phật, Đạo

Những tư tưởng đó có thể được xem là nguồn gốc cho nhiều tư tưởng nhân văn, nhân đạo, nhân ái ở Hồ Chí Minh: khát vọng giải phóng con người, khát vọng cứu khổ, cứu nạn, cứu nhân loại ra khỏi bể khổ trầm luân

Bên cạnh việc kế thừa các yếu tố có giá trị tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh từ sớm đã lên án, phê phán những yếu tố, tư tưởng bất bình đẳng, phân chia đẳng cấp trong xã hội: Khổng Tử “là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột, chống lại những người bị áp bức”[34, 435] Tư tưởng này vừa là cội nguồn của tình cảm thương yêu, thấu hiểu nỗi bất hạnh của quần chúng bị áp bức, vừa là cơ sở cho các tư tưởng bình đẳng như Đức Phật

đã dậy: “không ai có đẳng cấp trong dòng máu đỏ, không ai có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”

Phật giáo là hệ tư tưởng quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các dân tộc phương Đông nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng Vì là một thế giới quan tôn giáo nên Phật giáo khó tránh khỏi những định hướng bi quan, yếu thế, tiêu cực Song nổi bật, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong tư duy và hoạt động của con người là những giá trị tích cực Giới nghiên cứu đã khái quát các giá trị tích cực đó là:

Thứ nhất là tư tưởng từ bi, vị tha, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, một tình yêu bao la đến cả chim muông, cây cỏ

Thứ hai là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện Thứ ba là tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ, chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp

Thứ tư: Phật giáo Thiền tông đề cao lao động, chống lười biếng

Trang 25

Thứ năm: Phật giáo vào Việt Nam hình thành phái Thiền Trúc Lâm, chủ trương không xa rời mà gắn bó với cuộc sống nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc[51, 34]

Với vai trò là lãnh tụ, bằng nhãn quan sáng suốt của mình, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận một cách chủ động những giá trị tích cực, tiêu biểu như trên Mặt khác, Người còn tiếp nhận Phật giáo từ cội nguồn thông qua các bậc cha, chú là những bậc thương dân, yêu nước Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhiều

di thảo và hành động của Hồ Chí Minh chúng ta sẽ phát hiện được nhiều tư tưởng của Người về vị trí, vai trò của Phật giáo, về các giá trị văn hóa, đạo đức Phật giáo

Sau khi được trang bị một khối tri thức văn hóa dân tộc, tri thức văn hóa phương Đông đa dạng, phong phú, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa phương Tây

Điểm khởi đầu đánh dấu việc Người làm quen với các tri thức phương Tây là Người theo học trường tiểu học Vinh - Nghệ An vào năm 1905 Đây là lần đầu tiên Người được làm quen với các từ: “tự do, bình đẳng, bác ái” Những thuật ngữ đó tạo niềm đam mê cho Người, mong muốn tìm hiểu về lịch sử nước Pháp, về cuộc cách mạng vĩ đại đã diễn ra trên đất Pháp, tìm hiểu những gì ẩn sau các từ “tự do, bình đẳng, bác ái”

Năm hai mươi mốt tuổi, Người đã rời quê hương ra đi tìm đường cứu nước Người đến với nền văn minh phương Tây đang phát triển rực rỡ Dừng chân ở nhiều nước phương Tây: Anh, Pháp và sau này là các nước Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ khác đã cho phép Người tiếp xúc và học hỏi nhiều tư tưởng, giá trị mới

Trên đất Pháp - cái nôi của nền văn minh công nghiệp phát triển rực rỡ bấy giờ, Hồ Chí Minh đã được học tiếng Pháp, hiểu về văn hóa Pháp Đặc biệt,

Trang 26

Người được tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà triết học khai sáng: Vônte, Rutxô, Môngtécxkiơ… với các tư tưởng dân chủ, tự do, công bằng

Mặt khác, tinh hoa văn hóa phương Tây từ cổ đại đã được tích lũy tại trung tâm văn hóa Pháp Tìm hiểu, nghiên cứu kho tàng giá trị nhân văn đó,

Hồ Chí Minh đã tìm thấy chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo, khát vọng tự do, giải phóng con người, giải phóng nhân loại Bên cạnh đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng của quần chúng nhân dân lao động, nô lệ, bị áp bức, bóc lột Tiêu biểu như những tác phẩm của Tônxtôi, VichtoHuygô, Sêchxpia….Đọc những tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã tìm thấy sự đồng cảm, khát vọng giải phóng của những người nô lệ, bị áp bức Từ đó, Người nung nấu một ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại bị áp bức

Với thái độ cầu thị, khoan dung mở rộng, Hồ Chí Minh đã tiếp thu các

tư tưởng nhân văn, nhân ái cao cả của đạo Kitô - một thành tố quan trọng trong tư tưởng văn hoá phương Tây Từ năm 1920, dù là người theo chủ nghĩa Mác - Lênin, theo thế giới quan duy vật nhưng Hồ Chí Minh đã không giáo điều tả khuynh để đi đến xóa bỏ, phủ nhận sạch trơn vai trò, giá trị của các tôn giáo Người nhận thấy sự đồng điệu của các bậc sáng lập tôn giáo, nhận thấy tấm lòng từ bi nhân ái vô biên của Đấng Thiên Chúa Cho nên, Người không thể bỏ qua những sách viết nói về lòng nhân ái cao thượng của Đức Giêsu Người ghi nhận, học tập và noi theo tấm gương đạo đức của Thiên Chúa Đem vốn tri thức đó trở lại quê hương - nơi đại đa số nhân nhân theo các tôn giáo khác nhau, Người đã đề ra các tư tưởng đại đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo, đoàn kết giữa Phật giáo với các tôn giáo khác Do vậy, có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào Phật giáo và các tôn giáo, cho tinh thần khoan dung hòa hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo,

Trang 27

đặc biệt là tiêu biểu cho việc đánh giá, đề cao các giá trị đạo đức nhân văn của Phật giáo

Rõ ràng, văn hóa phương Tây đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành các tư tưởng từ bi, nhân ái, bao dung ở Hồ Chí Minh Tác giả Nguyễn Gia Hồng đã nhận định “chắc chắn rằng, thời gian sống, lao động và hoạt động ở nước Pháp đã góp phần quan trọng nếu không nói là quyết định trong

sự nghiệp phát triển của các tư tưởng nhân ái của Hồ Chí Minh ” [54, 115]

1.1.4 Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh

Với nhiều lý do khác nhau mà Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều hoạt động thực tiễn phong phú, trải nhiều vùng đất, tham gia nhiều lĩnh vực hoạt động, hình thành nên một con người vĩ đại, một nhân cách vĩ nhân Những đặc điểm tính cách, tư tưởng vĩ nhân đó rõ ràng là sản phẩm của sự tác động biện chứng giữa điều kiện xã hội khách quan và chủ thể tích cực trong việc phản ánh, tiếp thu những yếu tố khác nhau của hiện thực khách quan mà Người sinh sống Trong mối quan hệ đó, như trên đã phân tích gia đình Bác là một xã hội thu nhỏ thể hiện mối quan hệ tiếp xúc thường xuyên, là yếu tố quyết định, là cơ sở, nền tảng của việc hình thành tính cách, tấm lòng nhân ái, bao dung cao thượng Vượt lên trên yếu tố gia đình đó chính là môi trường xã hội mà Bác đã sinh sống, những mối quan hệ Bác từng trải qua hay nói cách khác là toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người Quan trọng nhất của quá trình hoạt động thực tiễn là những năm tháng tuổi thơ của Bác Bởi lẽ thời thơ ấu niên thiếu là quãng thời gian quyết định việc hình thành tâm lý, tính cách, tình cảm của một con người Quy luật đó chi phối mọi người từ người bình thường cho đến vĩ nhân Ở vĩ nhân Hồ Chí Minh trong việc hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp cho đạo Phật, quy luật đó là hoàn toàn phù hợp

Tuổi thơ của Bác đã trải qua những năm tháng cơ cực, biến động thăng trầm trên đất cố đô Lần đầu, khi theo cha vào kinh đô Huế cả gia đình Bác

Trang 28

sống trong cảnh khó khăn thiếu thốn về kinh tế Song, khó khăn, cơ cực lớn nhất đối với Bác là lúc cha và anh trai trở ra Thanh Hóa coi thi Nơi cố đô xa

lạ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sống trong niềm đau thương vô hạn khi người mẹ thân yêu đột ngột qua đời Nhờ sự giúp đỡ của dân làng, cậu một mình đưa tang mẹ Hàng ngày cậu vừa bế em đi xin sữa vừa xin cơm nuôi mình Những ngày tháng đó đã khắc sâu trong tâm thức của Người Có lẽ, chính cuộc sống tuổi thơ từng trải đau thương này đã giúp hình thành ở Bác tâm từ bi, nhân ái, bao dung sau này Tác giả Trần Thái Bình trong cuốn “Hồ Chí Minh sự hình thành một nhân cách” đã viết rất sâu sắc: “Không có một cậu bé Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình yêu thương và sự chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại, đến năm ba tuổi đã phải chịu tang ông ngoại, năm mười một tuổi đã phải chôn cất chính mẹ mình lâm trọng bệnh qua đời ở đất Huế xa xôi trong lúc vắng cha; không có những ngày phải ẵm

em nhỏ mới lên một tuổi không còn có sữa mẹ, phải đi xin bú nhờ những nhà hàng xóm thì có lẽ khó có một con người biết mở rộng lòng mình ra đón những nỗi đau chung của nhân loại, của dân tộc” [8, 214 - 215 ]

Huế như quê hương thứ hai của Bác, Bác đã sống gần mười năm tuổi thơ của mình ở đây Cho nên không chỉ biến động thăng trầm trong cuộc sống

mà cảnh vật, con người, văn hóa Huế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến Người Như ta đã biết, ngay từ thế kỷ XVII, Phật giáo đã được chúa Nguyễn sử dụng như quốc sách về văn hóa Phật giáo góp phần trở thành bộ phận hạt nhân trong văn hóa Huế, chi phối thiên nhiên, con người Huế Cái đẹp của Huế là

sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người phảng phất phong vị triết học Phật giáo “con người Huế cảm nhận sự vật bằng trực giác hơn bằng lý trí, tâm hồn Huế thơ hơn thực, và vì thế tính cách Huế là Thiền hơn là Nho”[76, 13]

Những tình cảm nên thơ, hài hòa giữa thiên nhiên và con người nơi kinh đô đó không thể không ảnh hưởng đến tư duy của một cậu bé đang trong

Trang 29

quá trình hình thành nhân cách Đó không chỉ là tình cảm hài hòa với thiên nhiên mà còn bao dung với mọi người, cảm thông chia sẻ với đồng bào, dân tộc, hình thành lối tư duy không chỉ nghĩ cho mình mà nghĩ cho đông đảo đồng bào, quần chúng, sẵn sàng hy sinh bản thân để “vào bể khổ cứu chúng sinh”

Bên cạnh cuộc sống hiện thực và văn hóa Huế thời niên thiếu, hoạt động thực tiễn những năm sau này của Hồ Chí Minh cũng gắn bó nhiều với Phật giáo

Vào đầu thế kỷ XX, khi Người hoạt động ở Thái Lan, Người đã cậy nhờ nhà chùa để làm cách mạng Năm 1927, Người đã đứng ra vận động Việt Kiều tại Thái Lan xây dựng nhà chùa lớn nhất tại Phothixomphen - Đông Bắc Thái Lan

Tại Ấn Độ, Người nói chuyện, tiếp xúc, làm việc với nhiều nhà sư Ấn

Độ và nhận được nhiều tình cảm đặc biệt từ các vị tăng ni, Phật tử Các nhà

sư đã tôn Người là Phật sống, Bồ tát hóa thân cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh

Khi về nước hoạt động cách mạng, Người đã nhiều lần dành sự ưu ái, quan tâm tới đạo Phật Nhiều lần Người đến thăm viếng chùa chiền, gặp gỡ chia sẻ với đồng bào tín đồ, tăng ni trong nước

Ngoài ra, trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến nhiều cuộc biến động chính trị Các cuộc xung đột, chiến tranh dân tộc, tôn giáo xảy ra ở nhiều nước Hồ Chí Minh đã đi nhiều nơi trên thế giới, đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh dân tộc, sắc tộc đó Người cũng chứng kiến cả những cuộc sống khổ cực của nhân dân và hoài bão, khát vọng được giải phóng của quần chúng bị áp bức Quá trình trải nghiệm thực tiễn đó đã cung cấp cho Người nhiều kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo, dân tộc ở các nước và nhất là ở Liên Xô Tất cả các bài học đó đều làm sáng tỏ trong Hồ Chí Minh một tư

Trang 30

tưởng: giải quyết mọi vấn đề tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đều phải nhằm phục vụ mục tiêu cách mạng chân chính là giải phóng dân tộc, giải phóng con người Đó là cơ sở để sau này Người vận dụng và đưa ra nhiều giải pháp về vấn đề tôn giáo, Phật giáo phục vụ cho cuộc kháng chiến của dân tộc như đoàn kết tôn giáo, đoàn kết Phật giáo, hoà hợp dân tộc, đề cao vai trò, giá trị của tôn giáo, Phật giáo…

Tất cả các hoạt động thực tiễn gắn bó sâu sắc với đạo Phật đó ở Hồ Chí Minh đã tạo ở Người một con người mang đức “từ, bi, hỷ xả” của Phật giáo, một người có tâm “từ bi” luôn trắc ẩn trước cảnh nghèo túng của nhân dân, có

“hạnh vô ngã” luôn quên mình vì mọi người, vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân, có “đức hiếu sinh” không chỉ ngăn chặn việc ác mà làm cho phần thiện trong mỗi người nảy nở

1.1.5 Chủ nghĩa Mác - Lênin

Hồ Chí Minh là học trò trung thành của chủ nghĩa Mác - Lênin trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Gặp được lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là niềm vui mừng tột đỉnh trong cuộc đời của Bác Như chính Người đã nói: “giống như người đi đường đang khát nước mà có nước uống, đang đói cơm mà có cơm ăn” Cho nên cả cuộc đời Người đã vận dụng sáng tạo, kiên trì phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành nguồn gốc quan trọng nhất không thể thiếu trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Các tác giả

đi trước khi xuất bản bộ Hồ Chí Minh toàn tập năm 1995 ngay tại phần Mở đầu đã giới thiệu “Người đã nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học tinh thần biện chứng và nhân đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện nước ta Người

đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành từ nguồn gốc đó’’[48,

Trang 31

Rõ ràng, không thể phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin là một nguồn gốc quan trọng chính yếu trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Song sẽ còn nhiều ý kiến dễ lầm tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan duy vật biện chứng còn Phật giáo là một tôn giáo mang thế giới quan duy tâm là xung khắc và loại trừ nhau Phải chăng không có sự liên quan nào giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo? Liệu có sự tiếp thu, kế thừa các tư tưởng nào của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh khi hình thành các quan niệm của Người về tôn giáo Phật giáo? Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hoàn toàn có thể khẳng định ở phương diện phương pháp luận của vấn đề, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng vẫn luôn là một nguồn gốc quan trọng góp phần vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

Trước hết, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học cái tinh thần, học phương pháp của nó Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là kinh thánh cho chúng ta tụng, niệm mà chỉ là kim chỉ nam cho chúng ta suy nghĩ và hành động Do vậy, Người đã chọn lọc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo Người đã tiếp thu linh hồn của học thuyết này Đó là phương pháp làm việc biện chứng Chính phương pháp làm việc biện chứng đã chỉ cho Người phương thức suy nghĩ và hành động Người không đoạn tuyệt với quá khứ, không phiến diện xóa bỏ mọi thành tựu của quá khứ, của dân tộc và nhân loại Người đã gạn đục khơi trong, tiếp thu các giá trị tích cực của văn hóa dân tộc và nhân loại trong lịch

sử Trong đó có các giá trị văn hóa, đạo đức của các tôn giáo Nếu không có phương pháp làm việc biện chứng, Hồ Chí Minh không thể đánh giá cao vai trò của các tăng ni Phật tử trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Người cũng không thể hết lời ca ngợi vị chí tôn của nhà Phật “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” cũng như các giá trị văn hóa tốt đẹp của Phật giáo Quan trọng nữa, Hồ Chí Minh đã tìm ra mối liên hệ, đồng thuận giữa thế giới quan duy

Trang 32

vật biện chứng và thế giới quan duy tâm tôn giáo Đó là ở lòng nhân ái, bao dung, thương sót những người đau khổ Điều đáng nói là chính chủ nghĩa Mác - Lênin “đã tạo ra một bước ngoặt mới trong tư tưởng nhân ái” Lòng nhân ái ở chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ dừng lại ở yêu thương, thương xót mà phải bằng hành động thiết thực, phải đấu tranh trực tiếp để cải tạo xã hội, xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công giành lại cuộc sống sung sướng, ấm no,

tự do cho con người Chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bị cho Hồ Chí Minh bài học biện chứng thực tiễn cách mạng về lòng nhân ái đó Nó chỉ cho Người thấy được con đường đích thực mà Người phải đi nếu muốn cứu nhân loại, đem lại hạnh phúc cho con người

Rõ ràng, chủ nghĩa Mác - Lênin là cội nguồn có ý nghĩa phương pháp luận để hình thành nên nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

Hồ Chí Minh không nói nhiều, viết nhiều về đạo Phật nhưng những hoạt động, việc làm của Người lại gắn bó mật thiết với đạo Phật Mặt khác, Phật giáo là một tôn giáo có ảnh hưởng nhiều đến dân tộc Việt Nam nên từ khi ở cương vị lãnh đạo đất nước, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến vấn đề tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng Người không chỉ nói, viết về vấn đề tôn giáo mà còn ra các chỉ thị, văn bản hướng dẫn thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo Như vậy, ở Hồ Chí Minh trong những định hướng chung về tôn giáo đó không thể không có tôn giáo Phật giáo Khai thác kho tàng giá trị tư tưởng chung đó cũng như nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, tình cảm của Người qua các hoạt động thực tiễn, lời nói, việc làm, hoạt động cụ thể, chúng tôi bước đầu khái quát một số các nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Phật giáo như sau

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo Phật

Trang 33

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Khi vào nước ta, nó

có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng bản địa nên nhanh chóng khẳng định vai trò của mình Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo đóng vai trò như một bộ phận văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân Đặc biệt, Phật giáo thể hiện và chứng minh vai trò của mình trên lĩnh vực chính trị, gắn bó với dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các triều đại

Từ khi Nhà nước được thành lập, sau sự kiện Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Thiền sư Ngô Chân Lưu thuộc phái Vô Ngôn Thông đã có công lớn trong việc xây dựng triều đình và được ban hiệu Khuông Việt Thái Sư Sau khi vua Đinh Tiên Hoàng mất, thiền sư Khuông Việt cùng thiền sư Đỗ Pháp Thuận một lòng trung thành với Tổ quốc, cùng nhau phò tá nhà Tiền Lê để củng cố quốc gia Tiếp theo đó, lịch sử đã ghi dấu

ấn của thiền sư Vạn Hạnh Ông vốn là người phò tá nhà Tiền Lê nhưng khi nhìn thấy sự thoái hóa của nhà Lê ông đã ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi Dưới triều Lý, Phật giáo là quốc đạo, các nhà sư vừa là nhà giáo, vừa là nhà hoạt động chính trị Nhiều nhà sư có tài, có tâm phục vụ Tổ quốc được nhà vua mời giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình Tiếp tục tinh thần “nhập thế” của Phật giáo thời Lý, thời Trần các bậc thánh hiền, minh quân đã đề cao vai trò của Phật giáo Phật giáo thực sự tham gia vào sự nghiệp chính trị của quốc gia dân tộc, cùng đấu tranh đem lại hòa bình cho đất nước

Từ triều Lê, nhất là dưới triều Nguyễn, Phật giáo đã mất dần chỗ đứng trên trường chính trị ở cung đình Tuy nhiên, vị thế của Phật giáo không vì thế

mà bị xóa bỏ Tạm xa lánh chốn triều chính nhưng Phật giáo thời Lê, Nguyễn vẫn khẳng định vai trò vững chắc, to lớn của mình trong dân gian là một tôn giáo tín ngưỡng truyền thống Đặc biệt, ngay giữa kinh đô Huế, nhân dân vẫn thể hiện thái độ hâm mộ đạo Phật, nhiều chùa chiền đã được xây dựng trên đất cố đô ngay dưới triều Nguyễn

Trang 34

Phật giáo tạm lắng ảnh hưởng chính trị của mình ở chốn cung đình cho đến cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta Chúng bóc lột nhân dân ta cả bằng vũ lực, cả bằng kinh tế, chúng triệt để sử dụng một tôn giáo mới như một công cụ lợi hại vào nước ta: đạo Thiên chúa giáo Trước tình hình đó, Phật giáo có nguy cơ bị đẩy lùi Cho nên, giới tăng ni, Phật tử đã giác ngộ giáo lý đạo Phật, thức tỉnh nỗi đau mất nước, “mất đạo” cùng dân tộc Việt Nam đứng lên đấu tranh giành độc lập Nhiều tăng ni, Phật

tử trở thành các chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh của dân tộc, các chùa chiền trở thành cơ sở liên lạc, trung tâm hoạt động, hội họp bí mật của các lực lượng yêu nước

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các sư tăng, Phật tử đã cùng dân tộc nêu cao tinh thần yêu nước, gác áo xuống đường đấu tranh đòi

tự do cho dân tộc Dấu ấn sâu sắc nhất mà lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đã ghi nhận là phong trào Phật giáo năm 1963 Tác giả Lê Cung nhận xét:

“Trong phong trào chung của các tôn giáo chống chế độ phát xít tàn bạo của

Mỹ, Diệm và đòi tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, phong trào đấu tranh của các đồng bào Phật giáo vừa qua đã ghi đậm nét trong lịch

sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Miền Nam”[14, 316-317]

Tất cả các thành tựu đó là hiện thân của truyền thống yêu nước nồng nàn bất khuất của đồng bào ta trong đó có các Phật tử như Hồ Chí Minh đã nhận định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi

sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[31, 171]

Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ, những thành quả đấu tranh của phong trào Phật giáo không chỉ phù hợp với truyền thống của dân tộc mà còn đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn cấp bách Khi đất nước có giặc ngoại xâm,

Trang 35

đồng bào Phật giáo cũng không được sống yên ổn, phải chịu nhiều cảnh “đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tăng ni, tàn sát đạo hữu”[43, 197]… Trước tình hình đó, Phật giáo cũng phải ý thức trách nhiệm với chính mình, trách nhiệm với dân, với nước

Với nhãn quan sáng suốt, Hồ Chí Minh không chỉ nâng cao nhận thức trách nhiệm của đạo Phật mà Người còn đánh giá đúng mức vai trò của đạo Phật trong cuộc đấu tranh chung của đất nước Người thể hiện thái độ cảm kích trước những đóng góp của đồng bào tăng ni Phật tử Trong Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam năm 1947, Hồ Chí Minh đã tỏ rõ lòng biết ơn của mình với đồng bào tín đồ Phật giáo: “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều điều, tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi cho đến ngày trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”[43, 197]

Nhận thức đúng vai trò của Phật giáo, cảm động trước những đóng góp của đồng bào tín đồ, tăng ni, Hồ Chí Minh đã dõi theo mỗi bước đi của nhà Phật Nhân các dịp lễ lớn của đồng bào Phật giáo, Người luôn thăm hỏi động viên kịp thời Nhân dịp lễ Đức Phật Thích Ca thành đạo, năm 1957, Hồ Chí Minh đã động viên đồng bào Phật giáo bằng những tình cảm giản dị, thiết thực nhất Người viết : “Tôi có lời ngợi khen các vị tăng, ni và tín đồ đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước, hăng hái làm tròn nghĩa vụ của người công dân và xứng đáng là Phật tử”[ 44, 290 - 291]

Không chỉ ngợi khen bằng những bức thư, Hồ Chí Minh còn quan tâm thiết thực tới mọi việc làm bình thường, giản dị của từng tín đồ, con người cụ thể Năm 1961, Người đọc báo thấy tin một ni cô thật thà ủng hộ Miền Nam Việt Nam 20kg đậu, Người cho đi xác minh và tặng ni cô huy hiệu của Người Tất cả các bản tin trên báo nói về phong trào đấu tranh của Phật giáo

Trang 36

Việt Nam, về những tấm gương tử vì đạo, vì Tổ quốc mà Người đọc được, Người đều cắt, gián và lưu giữ lại, kịp thời động viên

Thể hiện quan tâm đặc biệt của mình trước những cống hiến của đồng bào Phật giáo, Hồ Chí Minh đã nhiều lần có các hoạt động trực tiếp thăm hỏi chùa chiền, đồng bào Phật giáo Mùa xuân năm 1941, Người đã tận tay vẽ ảnh Phật treo trên vách đá để đồng bào quần chúng có chỗ lễ tết Cách mạng vừa thành công, nước nhà vừa dành được độc lập, Người đã đích thân đến thăm chùa Quán Sứ, Chùa Bà Đá Năm 1960, Người đi thăm chùa Hương, trực tiếp chỉ đạo cho chính quyền địa phương phải sửa sang thuyền bè, đắp thêm đường mới để tăng ni, Phật tử cùng du khách đi lại được an toàn Nhiều lần về thăm Nghệ Tĩnh, Người đều ghé thăm chùa Cần Linh và có lần, Người đã làm thơ tặng lại nhà chùa

Bên cạnh đó, với tư cách là một nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh còn tạo điều kiện nhiều hơn để tiếp xúc, trò chuyện với các đại biểu Phật giáo Người nói: “Từ năm nay, tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện với các đại biểu của đoàn thể như Công giáo, Phật giáo, công hội, nông hội”[50, 10] Thực tế, mặc

dù bận rộn nhưng Người đã dành nhiều thời gian tiếp các đại biểu Phật giáo Tiêu biểu năm 1957, người đã hai lần tiếp đoàn đại biểu Phật giáo toàn quốc Năm 1958, Người tiếp đoàn đại biểu theo đạo Phật và các nhà sư họp Đại hội thành lập Hội Phật giáo Việt Nam thống nhất

Tất cả các lời nói, việc làm đó của Hồ Chí Minh thể hiện sự quan tâm đặc biệt, đánh giá đúng mức trước những đóng góp của đồng bào Phật giáo

Nó thể hiện những nhận thức sâu sắc của Người về vai trò của Phật giáo và đồng bào Phật giáo, xứng đáng với đạo Phật - là một tôn giáo giàu tình cảm yêu thương và yêu chuộng hòa bình Với lý tưởng nhân văn, bác ái và do ít tham vọng giữ vị trí độc tôn “thần quyền” trong xã hội nên đạo Phật dễ gắn

Trang 37

bó với quần chúng, gần gũi với quan điểm nhân đạo và có thái độ tích cực trong cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng, giải phóng con người[72, 115]

Đánh giá đúng vai trò của đạo Phật, Hồ Chí Minh chủ trương đưa thành phần Phật giáo yêu nước tham gia vào mặt trận Liên - Việt, sau này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Một số tín đồ Phật tử đã được tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội Người khẳng định: “Việt Nam độc lập đồng minh không phải

là một Đảng mà là một mặt trận toàn dân, bao gồm các Đảng phái (Đảng dân chủ, phái xã hội), các phần tử quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản và các đoàn thể yêu nước không phải Đảng phái như Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc”[45, 117]

Cũng do xuất phát từ sự quan tâm của Bác với Phật giáo, từ việc nhận thức các đóng góp to lớn của đạo Phật, Hồ Chí Minh đã nhiều lần kêu gọi đồng bào Phật giáo đoàn kết, phấn đấu hơn nữa để cùng với toàn dân đánh đuổi kẻ thù, giành lại tự do Trong tư tưởng của Người, đồng bào Phật giáo là một bộ phận không thể tách rời của khối đoàn kết dân tộc cùng đánh đuổi kẻ thù: “Mong rằng anh chị em đồng bào Phật giáo Trung - Nam - Bắc chúng ta kiên quyết nỗ lực hơn nữa, đoàn kết phấn đấu nỗ lực hơn nữa, tận tâm hơn nữa để ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh và đấu tranh quyết liệt giành lại Nam

Bộ cho Tổ quốc” [78, 375]

Bác không chỉ kêu gọi đồng bào Phật giáo mà ẩn sâu trong tiềm thức của Người, niềm tin sứ mệnh dân tộc luôn đồng hành cùng niềm tin chính nghĩa “cứu khổ cứu nạn” của Phật giáo Vậy nên, Người luôn tâm niệm và cầu mong đức Phật nghìn tay, nghìn mắt sẽ cứu độ chúng sinh nước Người, sẽ phù hộ cho kháng chiến thắng lợi Ngày 20/11/1947, Hồ Chí Minh đến thăm đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam tại chùa Trầm ở Chương Mĩ (Hà Đông) Lúc ra về, sư cụ nhà chùa có gửi biếu Người một mâm bánh chưng Người cảm ơn sư cụ và chúc nhà chùa sang năm mới luôn cầu nguyện Đức Phật phù

Trang 38

hộ cho kháng chiến thành công Cũng trong năm 1947, nhân ngày lễ Phật, Hồ Chí Minh đã viết thư kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào, cám ơn và khuyên đồng bào Phật giáo cố gắng cho kháng chiến thắng lợi: “Nhân dịp lễ Phật rằm tháng bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo

hộ Tổ quốc và đồng bào ta và tôi gửi lời chào thân ái tới các vị trong hội Phật tử” [43, 197]

Đáp lại lòng mong mỏi nhiệt thành của Hồ Chí Minh, đồng bào Phật giáo đã tỏ rõ quyết tâm đoàn kết cùng chung sức hoàn thiện sứ mệnh giải phóng dân tộc Trong buổi lễ thuyết pháp của khóa lễ Thượng nguyên cầu hòa bình nhân dịp đầu năm mới, pháp sư Thích Trí Độ nhấn mạnh: “Muốn đạt được ý nguyện của Đức Phật, của Chính phủ, Hồ Chủ tịch, các đạo hữu phải thật sự đoàn kết thương yêu nhau, tích cực thực hiện đúng lời kêu gọi của Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện đúng chính sách của Chính phủ, tích cực tham gia đẩy mạnh công tác sửa sai và hoàn thành tốt để góp phần vào công việc đấu tranh chung cùng toàn dân cho mau chóng thống nhất nước nhà” [78, 434]

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, bằng nhận thức, tình cảm của một con người đất Việt, bằng trí tuệ anh minh, sáng suốt của một vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy vai trò to lớn của Phật giáo không chỉ trong lịch sử mà ngay cả trong thời điểm khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang lên cao Những công lao đóng góp của tăng ni, Phật tử, đồng bào Phật giáo được Người ghi nhận, động viên, khuyến khích kịp thời Đó là nguồn động viên đồng bào ngày càng phát huy hơn nữa, cống hiến hơn nữa cho Tổ quốc nhanh chóng giành thắng lợi, giành hạnh phúc cho nhân dân và tự do tín ngưỡng cho tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, tự do tín ngưỡng của đạo Phật

Trang 39

Lịch sử tư tưởng nhân loại là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật

và chủ nghĩa duy tâm, giữa thần học, tôn giáo và chủ nghĩa vô thần Do đó, về mặt hình thức, tôn giáo dường như đối lập với thế giới quan duy vật Mác - xít Đây có thể coi là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn không thể dung hoà Tuy nhiên, các nhà triết học Mác - xít đã dựa trên các căn cứ hiện thực khi xem xét vấn đề tôn giáo Các ông khẳng định: tôn giáo không phải là sản phẩm thuần tuý tư biện, nó không phải là sản phẩm của các thế lực siêu nhiên mà nó ra đời trên chính mảnh đất của hiện thực Do đó, muốn xoá bỏ tôn giáo phải đấu tranh xoá bỏ chính hiện thực đã sản sinh ra tôn giáo đó Dựa trên cơ sở có tính chất nguyên tắc này mà các nhà triết học Mác - xít đã không đối lập một cách tuyệt đối với tôn giáo, không xoá bỏ, triệt tiêu tôn giáo Ngược lại, các ông thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng của các tôn giáo Bởi lẽ, theo các ông đây

là một trong các quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng: “Từ những khái niệm nhân quyền tuyệt nhiên không toát ra tính chất không thể tương dung giữa tôn giáo với những quyền của con người, - ngược lại, trong những quyền đó có trực tiếp chỉ ra quyền được mộ đạo, được mộ đạo theo bất cứ kiểu nào, được hành đạo theo tôn giáo riêng của mình Đặc biệt, quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người”[62, 549]

Là học trò trung thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã thừa nhận tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền cơ bản của mỗi con người cũng như nhiều quyền khác Do đó, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo là một tư tưởng nhất quán, xuyên suốt các tác phẩm của Người Trong tất cả các di sản Người

để lại không một tác phẩm, một câu chữ nào có hàm ý phủ nhận tự do tín ngưỡng tôn giáo hay bài xích tôn giáo Ngược lại, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của đất nước, Người luôn nêu cao và quán triệt chủ trương đúng đắn của Đảng

và Nhà nước Việt Nam: Tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng không tôn giáo của nhân dân

Trang 40

Là người đứng đầu Nhà nước, ra các chủ trương, chính sách lớn, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tư tưởng tôn trọng tự do tín ngưỡng và nhu cầu tôn giáo của nhân dân Người đã nhiều lần ký các chính sách, sắc lệnh để thực thi

tư tưởng đó Ngay khi nước nhà mới thành lập Hồ Chí Minh đã nêu cao sáu nhiệm vụ cấp bách, cần thiết trong điều kiện chính quyền đất nước còn non trẻ Trong đó có nhiệm vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đoàn kết các dân tộc, đoàn kết lương giáo: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”[38, 8 – 9] Cũng trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của cả nước, năm 1955, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 234 SL của Chính phủ về vấn đề tôn giáo Ngay trong điều 1, chương 1 sắc lệnh chỉ rõ: “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng

và quyền tự do thờ cúng của nhân dân, không ai được xâm phạm quyền tự do

ấy Mỗi người Việt Nam đều có quyền theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào” Tại điều 4 có quy định “các tổ chức tôn giáo được phép sử dụng sách báo tôn giáo” Điều 5: “các tổ chức được mở trường đào tạo đội ngũ cán

bộ chuyên trách”… [66, 154] Bên cạnh các văn bản có tính chất đặc biệt quan trọng này, Hồ Chí Minh còn trực tiếp biên soạn, ký kết nhiều văn bản pháp luật khác Đó là các cở sở xác nhận, đảm bảo về mặt pháp lý thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, ngoài việc ban hành các luật hay các đạo luật, Hồ Chí Minh còn thực hiện nhiều biện pháp để thực thi các quyền tự do đó Đặc biệt là động viên, tạo tâm lý, tin tưởng trong quần chúng Người trực tiếp viết thư để cổ vũ, động viên và hướng dẫn đồng bào tôn giáo để họ hiểu về chính sách của Đảng và Nhà nước để họ vừa làm tốt việc đời, vừa làm đẹp việc đạo Trong mỗi bức thư hay lời kêu gọi, chỉ dẫn đó đều toát lên tư tưởng trước sau như một là bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Theo Người, đây chính là sự ưu việt của chế độ mới, là

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo xứ Huế
Tác giả: Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2006
2. Việt Ba (2007), Ông Thích Quảng Độ và hoạt động gây rối an ninh trật tự xã hội, Báo An ninh thế giới, số 684 ngày 29-8-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông Thích Quảng Độ và hoạt động gây rối an ninh trật tự xã hộ
Tác giả: Việt Ba
Năm: 2007
3. Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương (2003), "Tài liệu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
5. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
6. Ban tôn giáo Chính phủ (2006), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt nam, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt nam
Tác giả: Ban tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
Năm: 2006
7. Hoàng Chí Bảo (2005), Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2005
8. Trần Thái Bình (2005), Hồ Chí Minh sự hình thành một nhân cách, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh sự hình thành một nhân cách
Tác giả: Trần Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2005
9. Minh Chi, Con đường tiếp cận đạo Phật của con người Việt Nam hiện đại, trang www.buddhismtoday Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tiếp cận đạo Phật của con người Việt Nam hiện đại
10. Minh Chi (2003), Truyền thống văn hoá và Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hoá và Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
Năm: 2003
11. Minh Chi (2002), Nguyễn Sinh Sắc, đạo và đời, Tạp chí Xưa và Nay, số 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Sinh Sắc, đạo và đời
Tác giả: Minh Chi
Năm: 2002
12. Cao Chí (2007), Phật giáo tương thích với các yêu cầu của khoa học hiện đại, Tạp chí Phật học, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo tương thích với các yêu cầu của khoa học hiện đại
Tác giả: Cao Chí
Năm: 2007
13. Lê Cung (1996), Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc, Thành hội Phật giáo thành phồ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc
Tác giả: Lê Cung
Năm: 1996
14. Lê Cung (2005), Phong trào Phật giáo miền nam Việt Nam năm 1963, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Cung (2005), "Phong trào Phật giáo miền nam Việt Nam năm 1963
Tác giả: Lê Cung
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
Năm: 2005
15. Trương Hải Cường, Nguyễn Hữu Vui (2001), Tập bài giảng tôn giáo học đại cương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Hải Cường, Nguyễn Hữu Vui (2001)
Tác giả: Trương Hải Cường, Nguyễn Hữu Vui
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới: Đại hội VI, VII, VIII, IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới: Đại hội VI, VII, VIII, IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
19. Nguyễn Thế Doanh, (2006), Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng tôn giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Thế Doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
Năm: 2006
20. Nguyễn Hồng Dương (2007), Quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w