1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tư tưởng hồ chí minh về kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nền văn hóa mới ở việt nam hiện nay

105 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 42,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN__ ***___ NGUYỀN THANH HUYÊN Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾ THỪA, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂI HOÁ DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*** _

NGUYỀN THANH HUYÊN

Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾ THỪA, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂI HOÁ DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ Đ ố l VỚI VIỆC XÂY DựNG

NỀN VĂN HOÁ MỚI ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC s ĩ CAO HỌC TRIẾT HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

£7irìi x in earn (Tỡau đà lị là (Stiff trình nạỉtiêti eú'u của viĨMiạ tồ i I) ixí giúp (Tõ eủa ^DiiOihị <lỳăn nữuụẲMi (Júc sỗ liêu tr(ìnif /ttậti e/m t

x u ấ t x ứ vfi ràng

Tác g iả luận vãn

Nguyễn Thanh Huyên

Trang 3

2.1 Đảng Cộng Sản Việt Nam kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới

2.1.1 Những kết quả và thành tựu của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

2.1.2 Những hạn chế và nguyên nhàn của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

2.2 Những giải pháp nhằm kê thừa và phát huy giá trị truyền thống vãn hoá dân tộc để xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam hiện nay

2.2.1 Tinh hình mới và yêu cầu đặt ra đối với việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư tướng

vô cùng to lớn và sâu sắc Tư tưởng của Người đã trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam Việc nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của nhiều thế hệ và càng cần được đẩy mạnh hơn nữa trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một nội dung mà chúng ta cần đạc biệt quan tám

đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vậy tại sao, chúng ta phải quan tâm đến vấn đề này?

Xàm lược là bản chất của chủ nghĩa đế quốc Các thế lực đế quốc luôn thực hiện việc xâm lược các nước không chỉ bằng quán sự, bàng kinh tế, mà đặc biệt trong thời đại ngày nay, việc xâm lăng bằng văn hóa đang trở thành vấn đề nóng bỏng trên thế giới Các nước lớn lợi dụng sức mạnh về kinh tế, về thông tin họ đang tìm cách làm mất bản sắc văn hóa của các dân tộc, đưa văn hóa của họ vào các dân tộc kém phát triển Từ mất bản sắc văn hóa sẽ dẫn đến mất độc lập tự do.Hiện nay xu hướng hội nhập quốc tê là xu hướng không thể đảo ngược Một quốc gia sẽ không thể phát triển được, nếu như không hội nhập quốc tế Song khi hội nhập quốc tế cũng đứng trước một nguy cơ sẽ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, nếu quốc gia đó không có một chiến lược đứng đắn trong bảo tồn phát huy những giá trị của bản sắc văn hóa dán tộc

Vì vậy, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm

Vấn đề đặt ra là trong quá trình hội nhập quốc tế: làm thế nào vừa tiếp thu được những giá trị văn hóa tiên tiến trên thế giới, vừa tiếp nhận được những thành tựu khoa học hiện đại, lại vừa giữ gìn và phát huy được bản sắc vãn hóa dân tộc nâng nó lên một tầm cao mới Trong thời đại ngày nay, vấn đề này đang được đặt

ra trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hơn nữa, nền văn hoá mới mà chúng ta đans xây dựng hiện nay là nền văn hoá tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đát nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc xây dựng nền văn hoá mới của xã hội là mội

Trang 5

trong những nhiệm vụ quan trọng Điều đó, đòi hỏi phải nhận thức đúng đăn vấn đê

kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tạo tiền đề cho việc xây dựng giá trị văn hoá mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công việc xây dựng nền văn hoá mới của đất nước Khi đề cập đến việc xây dựng nền văn hoá vô sản, Lênin đã từng chi

"Không phải là nghĩ ra một thứ văn hoá vô sản mới là phát triển

những kiểu mẫu ưu tú, những kết quả tốt nhất của nền vãn hoá hiện tồn, xét theo quan điểm thế giới quan của chủ nghĩa Mác và những điều kiện của đời sống và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong thời đại chuyên chính vô sản" [49, 548]

Kế thừa và phát triển là quy luật vận động chung của mọi sự vật hiện tượng trên thế giới trong đó có văn hóa Không thể có sự phát triển từ cái hư vô, mà phải trên cơ sở kế thừa những di sản của quá khứ, từ đó nâng nó lẻn một tầm cao mới đó mới là sự phát triển đúng đắn hợp quy luật Do vậy, chúng ta cần chống lại những tư tưởng muốn xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa của quá khứ, tiếp thu vãn hóa phương Tây một cách không chọn lọc Điều đó sẽ làm chúng ta mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Ngược lại cũng cần phải khắc phục những tư tưởng bảo thủ, muốn bảo tổn giữ lại toàn bộ những cái gì của quá khứ, khước từ không tiếp nhận tất cả những gì

là thành tựu của văn minh nhân loại Điều đó sẽ cản trở sự hội nhập quốc tê của Việt Nam và cũng hạn chế sự phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập Vãn hóa Việt Nam truyền thống được sản sinh trong quá trình dựng nước

và giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn với một nền sản xuất nhỏ lao động thú còng, với một lối sống khép kín Do vậy, hiện nay vãn hóa truyền thống Việt Nam có những điều phù hợp và không phù hợp Điều không phù hợp cần được loại bỏ Đổne thời chúng ta phải biết tiếp thu những cái tinh hoa của vãn hóa các dân tộc khác.Muốn kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc một cách đúng đắn đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này Vì vậy, tôi chọn đề tài luận vãn: " Tư tưởng Hồ Chí Minh về kế thừa, phát huy

Trang 6

bản sắc văn hoá dân tộc và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay"

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI.

Vấn đề tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh đã có nhiều công trình nghiên cứu,

như: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đườtig cách mạng Việt Nam của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên (XB lần thứ ba, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003; Tư

tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hoá và con người do GS Đặng Xuân Kỳ chủ

biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005) Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với

việc giáo dục đội ngũ cán bộ, Đảng viên hiện nay của Hoàng Trang và Phạm Ngọc

Anh chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004); Cơ sở khoa học nền tang vàn

hoá của tư tưởng Hồ Chí Minh của Thành Duy (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội

1998); Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh của Đỗ Huy (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1997); Hồ Chí Minh - Danh nliâìì văn hoá thế qiới của Đào Phan (Nxb Văn hoá thông tin 2000); Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam của Bùi Đình Phong chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996); Hổ Chí Minh -

nhà văn hoá kiệt xuất của Song Thành (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999)

Ngoài ra, còn nhiều bài viết công bố trên báo và tạp chí như: tạp chí Tnết học, Cộng sản, Nghiên cứu lý luận, Tư tưởng văn hoá Vãn hoá nghệ thuật, Dán tộc học của nhiều tác giả như Trần Văn Giàu, Phạm Vãn Đổng,Trịnh Gia Ban Hổ Văn Chiểu Các công trình nghiên cứu trên đã để cập dưới các góc độ khác nhau về

tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh Tuy nhiên nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề phức tạp, khó khăn, cần tiếp tục được nghiên cứu Mặt khác, dưới góc độ triết học, chưa có tác giả nào bàn sáu vé vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, tôi mạnh dạn đi sâu khai thác vấn đề này trong luận văn

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA LUẬN VĂN.

3.1 M ục đích:

Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết những nguyén tắc và nội dung kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, từ thực trạng vận dụng kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở nước ta những năm qua, luận văn đưa ra những giải pháp thiết thực để góp phần xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam tiên tiến, đậm

Trang 7

đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

3.2 N hiệm vụ luận vãn.

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụsau:

- Phân tích, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết, những nguyên tắc

cơ bản, những nội dung kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

- Làm rõ thực trạng kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam trong những năm qua Những ưu, khuyết điểm và những nguyên nhân của thực trạng kế thừa

- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay '

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

4.1 Đ ối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu về sự kế thừa và phát huy bản sắc vãn hoá

dân tộc trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, thông qua những tác phẩm cúa Người và những tác giả khác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dãn tộc và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nền văn hoá Việt nam hiện nay” là một đề tài có tính lý luận sâu sắc, cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và khoa học Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một sô nội dung

tư tưởng Hồ Chí Minh vể kế thừa phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và ý nghĩa của

nó đối với việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam hiện nay

5 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghiã Mác - Lênin

- Luận vãn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: kết hợp lịch sứ với logic, phân tích với tổng hợp, so sánh với hệ thống

Trang 8

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.

- Về lý luận: Làm rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh về kế thừa và phát huy bản

sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Từ đó luận văn cũng làm rõ ý nghĩa của tư tưởng này trong xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Thực tiễn: Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những người

nghiên cứu, giảng dạy các lĩnh vực có liên quan, là tài liệu nghiên cứú cho các cán bộ, các cơ quan quản lý văn hoá hiện nay ở nước ta

7 KẾT CẤU LUẬN VÃN.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương, bốn tiết

Trang 9

CHƯƠNG 1

S ự KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VÃN HÓA DÂN TỘC TRONG T ư TƯỞNG H ổ CHÍ MINH

1.1 T ư TƯỞNG HỚ CHÍ MINH VỂ s ự CẨN THIẾT VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC

KÊ THỪA, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG s ự NGHIỆP CÁCH MẠNG.

1.1.1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải kê thừa,phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Để nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cần làm rõ những khái niệm có liên quan

Trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh Trong giáo trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh có viết như sau:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc

về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của

sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điéu kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”[40,19]

Tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập tới khái niệm văn hóa Quan niệm về văn hóa

đã hình thành từ rất sớm ở các nước Đông Á Văn hóa được hiểu như một hình thức điều hành xã hội bằng “văn trị” để giáo hóa con người, đối lập với những biện pháp tàn bạo Theo tiếng Latinh, từ văn hoá là Cultura có nghĩa là vun xới, trổng trọt, luyện tập Trong cuốn văn hóa nguyên thủy, xuất bản năm 1871, EB Taylor nẻu quan niệm “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng nghệ

Trang 10

thuật phong tục và cả năng lực thói quen mà con người đạt đuợc trong xã hội” [113,65].

c Mác và Ảngghen cho rằng, văn hóa sản phẩm của lịch sử, của điều kiện

tự nhiên, điều kiện xã hội v ề văn hóa, các ông khẳng định: “Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hóa chung của con người" [56,587],

Chủ tịch Hồ Chí Minh là học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ảngghen và Lênin,

có quan niệm về văn hóa rất rộng, gắn liền hoạt động sống của cá nhân và cộng đồng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính truyền thống và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và nhân loại: Theo Người

"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [64,431],

Điểm thống nhất giữa quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của các nhà sáng lập ra học thuyết mác xít ở chỗ, các ông đều xem lao động sáng tạo là cội nguồn của văn hóa

Ngày nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, các nhà nghiên cứu khác nhau thường hiểu văn hóa theo nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận Tại Hội nghị quốc tế ở Mêhico 1982 do UNESCO tổ chức, người ta đã đưa ra 200 định nghĩa

về văn hóa, cuối cùng đã đi đến thống nhất định nghĩa:

"Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một

xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật

và văn chương, những lối sống cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Vãn hoá đem lại cho con nguời khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa làm cho chúng ta trở

Trang 11

thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý, có tình, có óc phê phán

và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa

mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội của bản thân mình" [86,43 - 44],

Qua rất nhiều quan niệm khác nhau, có thể rút ra một số điểm chủ yếu thuộc nội hàm của khái niệm văn hóa

Văn hoá là sự phát triển "Những lực lượng bản chất" của con người Do đó,

nó mang tính nhân văn sâu sắc

Văn hoá là sự sáng tạo "theo quy luật của cái đẹp" với những hệ thống giá trị định hướng cho sự phát triển của con người và xã hội

Văn hoá là trí tuệ, tri thức và là những thành tựu đạt được (về vật chất, tinhthần) trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

Hai đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn Trong tất cảcác lĩnh vực hoạt động xã hội, hai đặc trưng đó được thể hiện thành chuẩn mực, giá trị hướng con người tới chân, thiện, mỹ Những gì ngược lại với các nội dung (đặc trưng) cơ bản trên đều có thể coi là không văn hóa, thiếu văn hóa

Có thể nói, văn hóa đồng nghĩa với cuộc sổng và đồng nghĩa với phát triển Con người ra đời từ văn hóa, trưởng thành từ văn hóa, nắm chắc tương lai bằng văn hóa Và như vậy, "nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội

cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ

Có thể coi đó là ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hoá nhân loại" [74, 8], Cũng như mọi sinh thể khác trong vũ trụ, con người là một bộ phận của tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của tự nhiên Nhưng khác với các sinh vật khác, con người còn có một "khoảng trời riêng", một thiên nhiên thứ hai, thiên nhiên do con người sáng tạo ra bằng lao động và tri thức của mình Thiên nhiên đó chính là văn hóa Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên, cũng

Trang 12

như vậy, con người không thể trở thành con người nếu tách rời môi trường văn hóa Trong lịch sử thế giới, không có dân tộc nào sống và phát triển, mà chỉ nhập vãn hóa từ nước khác Cũng như một cái cây sống và lớn lên từ gốc rễ, nhờ gốc rễ, một dân tộc cũng ra đời và trưởng thành từ cội nguồn của mình, tức là từ mảnh đất địa

lý, lịch sử, lòng yêu nước, yêu tự do, từ sức sống nội sinh, từ lao động và sức sản sinh của mình, từ lối sống, phong tục, tập quán của mình Tính chất dân tộc là điều kiện tồn vong của mọi nền văn hóa Dân tộc ta đã từng trải qua những thời kỳ bị nước ngoài thống trị với mưu toan đồng hoá, nhưng tinh thần, cốt cách của dân tộc vẫn được giữ vững Đó là nhờ tính chất dân tộc của văn hóa, nhờ máu thịt dân tộc của văn hóa, nhờ sự bền vững vô song của các truyền thống dân tộc

Như vậy, bản sắc văn hóa chính là tính đặc thù dân tộc của nền văn hóa Bản sắc dân tộc được thể hiện, lưu giữ trong văn hóa, định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa dân tộc

Bản sắc dân tộc của văn hóa là gì? Đó là những yếu tố độc đáo, yếu tô đặc sắc của một nền văn hóa biểu hiện "đặc tính dân tộc", "cốt cách dân tộc" Chúng tạo nên sức mạnh cố kết, duy trì và phát triển đời sống một cộng đồng với tư cách

là dân tộc, là bộ "gien bảo tồn dân tộc"

Để trả lời bản sắc văn hoá dân tộc là gì? Trước hết chúng ta cần làm rõ bản sắc dân tộc

“ Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh huớng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sáng tạo văn hoá của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhấtquán so với bản thân mình trong quá trình phát triển” [6,125]

Từ bản sắc dân tộc được thể hiện trong văn hoá, chúng ta có thể nêu định nghĩa “ Bản sắc văn hoá dân tộc là tổng hoà các khuynh hướng cơ bản trong sángtạo văn hoá của một dân tộc vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyênvới điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng, trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [114,25 ]

Nói tới bản sắc văn hoá dân tộc trước tiên chúng ta nói đến truyền thống dân tộc, vì “ Truyền thống là một bộ phận của văn hoá Truyền thống của một dân tộc nói lên bản sắc văn hoá của dân tộc ấy” [ 44,70]

Trang 13

Theo tinh thần đó, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam như quan niệm của Hội nghị lần 5 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã nêu lên:

"Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước" Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân

- gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống [22,56]

Bản sắc đó đã chi phối toàn bộ đời sống của dân tộc Việt Nam, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nó được biểu hiện rõ rệt nhất trước những thách thức của lịch sử đối với vận mệnh dân tộc Bản sắc văn hóa Việt Nam đã tạo nên sự tồn tại của dân tộc Việt Nam và giúp cho cộng đồng dân tộc tránh được âm mưu đồng hoá của mọi kẻ thù xâm lược trong lịch sử Hệ giá trị tinh thần cốt lõi này (bản sắc văn hóa dân tộc) chính là "bộ lọc" và hệ quy chiếu để ông cha chúng ta lựa chọn, tiếp thu những giá trị mới qua nhiều cuộc giao lưu, tiếp xúc văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử Điều kỳ lạ là trải qua tất cả các cuộc giao lưu, giao tiếp ấy dù bị áp đặt hay tự nguyện, văn hóa Việt Nam không những vẫn giữ được bản sắc của mình mà còn trở nên phong phú thêm nhờ biết thu nhận nhiều yếu tô' mới từ bên ngoài, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước qua các giai đoạn lịch sử, đồng thời cũng phù hợp với giá trị cội nguồn của văn hóa dân tộc

Cũng như các lĩnh vực của tự nhiên và xã hội, văn hoá luôn vận động phát triển và biến đổi không ngừng Sự phát triển từ thấp đến cao, việc sử dụng các giá trị văn hoá quá khứ, tiếp nhận các giá trị văn hoá ngoại sinh làm biến đổi nền văn hoá dân tộc là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong lịch sử văn hoá cắt nghĩa một cách khoa học các hiện tượng đó chính là chỉ ra quy luật phát triển của vãn hoá Có hai quy luật cơ bản tác động đến sự phát triển của văn hoá nhân loại là: quy luật kế thừa và quy luật giao lưu

Nhìn chung, xã hội loài người và văn hoá của nó sẽ là sự phát triển đi lên

Sự phát triển của văn hoá sẽ không thực hiện được nếu không có sự kế thừa Sự phồn vinh của một quốc gia, một thời đại lịch sử bao giờ cũng dựa trên nền tảng

Trang 14

vững chắc của những giá trị văn hoá mà cộng đồng nhân loại, cộng đồng dân tộc

đã đạt được trước đó Vì vậy, việc phát huy những di sản văn hoá truyền thống và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới là vấn đề đặt ra với mọi quốc gia, mọi dân tộc ở mọi thời kỳ lịch sử

Kế thừa văn hoá là một biểu hiện cụ thể của quá trình phủ định biện chứng diễn ra trên lĩnh vực văn hoá Thuật ngữ "succession" (kế thừa) được dùng để diễn đạt quá trình biến đổi, phát triển của các sự vật, hiện tượng văn hoá, các nền văn hoá diễn ra theo trục thời gian Quá trình ấy trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn sau liên tiếp phủ định biện chứng giai đoạn trước để làm nên sự biến đổi, phát triển của các hiện tượng văn hoá, các nền văn hoá Kế thừa là quy luật của sự phát triển và tiến bộ văn hoá

K ế thừa văn hoá là một quy luật cơ bản của sự phát triển văn hoá Nó biểu hiện mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới, giữa giai đoạn trước và giai đoạn sau của quá trình phát triển văn hoá trong mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc cũng như toàn nhân loại.

Là một quy luật khách quan, trong lịch sử phát triển bình thường của các nền văn hoá, kế thừa văn hoá luôn luôn được thực hiện một cách tự phát hoặc tự giác Nhờ vậy, dù trong thời kỳ trình độ tư duy của loài người còn thấp, chưa nhận thức được quy luật, song trong đời sống vẫn diễn ra tiến bộ văn hoá một cách tự phát Việc nhận thức được quy luật khiến cho con người thực hiện việc kế thừa vãn hoá một cách tự giác và tránh được những sai lầm do ấu trĩ, thiếu hiểu biết gây nên

Bản chất của kế thừa vãn hoá là sự phủ định biện chứng nền văn hoá cũ để tạo ra nền văn hoá mới cao hơn Kế thừa thực hiện sự lọc bỏ, chuyển hoá cái cũ tích cực thành nhân tố của cái mới; nghĩa là phủ định các yếu tố tiêu cực, lạc hậu phát huy yếu tô' tích cực, cải biến chúng cho phù hợp với những yêu cầu của hiện tại, phù hợp với văn hoá dân tộc và thời đại

Khái quát tiến trình lịch sử nhân loại c Mác và Ph Ảngghen đã chỉ ra rằng: các thế thệ sau phải đứng trên vai thế hệ trước mà sáng tạo ra lịch sử Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của lịch sử những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thê hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế hệ trước để lại Do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp thu phương thức hoạt động

Trang 15

được truyền lại những trong hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi và mặt khác lại biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng hoạt động hoàn toàn đổi thay.

Như vậy, kế thừa văn hoá gắn với sự biến đổi về chất, là mắt khâu cơ bản của quá trình phát triển Trong văn hoá, nó khẳng định giữa các giai đoạn phát triển của một nền văn hoá luôn có mối liên hệ với nhau, giai đoạn sau không lặp lại hoàn toàn như giai đoạn trước, song cũng không cắt đứt một cách siêu hình với giai đoạn trước; sự phủ định biện chứng giữa các giai đoạn sẽ diễn ra quá trình giải thể cấu trúc cũ, tái lập cấu trúc mới và những yếu tố còn có ý nghĩa tích cực sẽ được giữ lại, cải biến, tham gia vào cấu trúc mới Nói cách khác, di sản văn hoá luôn tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển văn hoá với tư cách là những yếu tố trong chỉnh thể văn hoá mới Vì vậy, cần phải phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [75, 742 - 743] Phát huy bản sắc là làm cho bản sắc văn hóa được lan tỏa trong nhân dân và tiếp tục được bổ sung phát triển bởi chính thực tiễn cuộc sống của nhân dân Không phải đến hôm nay, mà từ thời cha ông chúng ta những người sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo văn hoá, cũng thường tích luỹ bảo tồn và phát triển văn hoá dàn tộc Bởi không bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc thì cũng không giành được độc lập, tự do, không củng cố được nền độc lập giành được bằng xương máu

Ý thức một cách sâu sắc về truyền thống văn hoá dân tộc, Hồ Chí Minh đã nâng truyền thống của cha ông lên một tầm cao hơn Người đã kết hợp một cách sáng tạo truyền thống của dân tộc với tinh hoa của nhân loại để xây dựng cho dân tộc mình những đuờng lối sáng suốt tạo thành sức mạnh mới trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc Vì thế đã hình thành ở Hồ Chí Minh những quan điểm về sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong

sự nghiệp cách mạng

Thứ nhất: Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu khách

quan của sự nghiệp cách mạng, của quá trình đấu tranh cách mạng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa đế quốc không chỉ dùng sức mạnh quân sự

để xâm lược các dân tộc, họ còn dùng văn hóa để nô dịch các dân tộc lạc hậu, nhằm làm cho các dân tộc đó cam chịu kiếp người nô lệ

Trang 16

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam được che đậy dưới danh nghĩa đưa văn

minh cho dân tộc Việt Nam, họ truyền bá chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Rằng

những người da trắng là những người văn minh, những dân tộc thượng đẳng, cònnhững người da màu là dân tộc hạ đẳng Do vậy, người da trắng cai trị người damầu là đương nhiên Thực dân Pháp còn dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc dân tộc Việt Nam, hòng lôi kéo thanh niên Việt Nam vào con đường ăn chơi hưởng lạc, truyền bá văn hóa Pháp, nhằm làm mất bản sắc văn hóa Việt Nam Khi nói về chính sách thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ:

"Xứ Đông Dương bị chủ nghĩa tư bản Pháp bóc lột, để làm giàu cho một số cá mập Người ta đưa người Đông Dương vào chờ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện Người ta kìm họ trong ngu dốt cứ 10 trường học thì có 1.000 đại lý thuốc phiện chính thức Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho

họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém,trong nhà tù hay đầy đọa biệt xứ” [65,34]

Do vậy, theo Nguyễn Ái Quốc muốn đấu tranh giải phóng dân tộc phải thức tỉnh tinh thần yêu nước, phát huy tinh thần yêu nước, phát huy tinh thần đoàn kết,

ý thức tự cường dân tộc của dân tộc Việt Nam - vốn là những truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam, đã bị chủ nghĩa thực dân dùng cồn, thuốc phiện, dùng biện pháp chia rẽ các dân tộc làm mai một đi truyền thống văn hóa của dân tộc Vì thế Hổ Chí Minh đã khẳng định:

“Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam sử

ta dạy cho ta những truyện vẻ vang của tổ tiên ta Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có người giỏi đánh Bấc dẹp Nam Sử ta dạy cho bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do Trái lại lúc nào ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lược” [64, 216 - 217],

Cần phải vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân để cho nhân dân hiểu được bản chất bóc lột, sự tàn bạo dã man của chúng Nguyễn Ái Quốc đã từng nói: “Dù

Trang 17

màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [62,266],

Muốn giải phóng đuợc các dân tộc khỏi chủ nghĩa thực dân, khỏi tình trạng

bị nô dịch phải đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Người khẳng định, giờ đây học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin là chân chính nhất, nó đặt ra vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa Nguyễn Ái Quốc

đã kêu gọi sự đoàn kết thống nhất phong trào đấu tranh giữa công nhân ở các nước chính quốc với phong trào đấu tranh của nhân dân ở các nước thuộc địa Người nêu mối quan hệ giữa cách mạng ở chính quốc và cách mạng thuộc địa như đôi cánh của con chim, v ề chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu ở chính quốc, một vòi hút máu ở thuộc địa Sự gắn kết giữa cách mạng ở các nước chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một sự tất yếu

“Công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc là một bộ phận khăng khít Do đó

mà trước hết nảy ra khả năng sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung” [68,567],

Tinh thần tự cường dân tộc ở Việt Nam cũng đã được Nguyễn Ái Quốc khơi dậy Một mặt người kêu gọi tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa giai cấp công nhân thế giới, mặt khác người lại kêu gọi tinh thần “tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính” Người chỉ ra “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [67, 522]

Thứ hai\ Kế thừa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu khách quan

của sự phát triển bền vững

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, sự phát triển của lịch sử nhân loại là sự tiếp nối các hình thái kinh tế - xã hội Chủ nghĩa xã hội ra đời từ chủ nghĩa bản nó không vất bỏ tất cả những di sản của quá khứ mà chỉ loại bỏ tất cả những gì không phù hợp những cái gì mang tính chất tư bản chủ nghĩa, còn những gì là phù hợp chúng ta phải tiếp thu Ví dụ như những thành tựu khoa học công nghệ những phương pháp quản lý hiện đại Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” V.I Lênin đã chỉ ra: “Nếu không hiểu rõ rằng chỉ có sự hiểu biết chính xác về văn hóa được sáng tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển của loài người và việc cải tạo nền vãn hóa đó mới có thể xây dựng được nền văn hóa vô sản ” [49,361],

Trang 18

Lênin còn nói rằng:“Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” [76,362] Văn hóa của nhân loại cũng như một dòng chảy truyền từ đời này sang đời khác, không ngừng được bổ sung, phát triển qua thực tiễn lao động sản xuất và cuộc chiến đấu chống thiên tai địch họa của nhân dân.

Do vậy việc kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc là lẽ tự nhiên trong quá trình xây dựng nền vãn hóa mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chủ tịch Hổ Chí Minh đã nhiều lần nói với các nghệ sĩ: "Nghệ thuật của ông cha chúng ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn; làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu" [77,68]

Có kế thừa những giá trị của văn hóa truyền thống chúng ta mới có thể phát triển bền vững văn hóa xã hội chủ nghĩa, mới có thể phát huy nó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Sẽ không có một nên vãn hóa xã hội chủ nghĩa đúng đắn nếu không biết kế thừa văn hóa truyền thống Chỉ trên cơ sở đi sâu nghiên cứu nắm vững bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, biết tiếp thu một cách chọn lọc văn hóa tiên tiến trên thế giới, các nhà văn, các nhạc sĩ, các nghệ sĩ mới có những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao Chỉ có kế thừa được những giá trị văn hóa truyền thống chúng ta mới phát huy được văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta mới khẳng định được bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, chúng ta mới chính là chúng ta, không phải là cái bóng của người khác Chỉ có kế thừa được những giá trị bản sắc văn hóa truyền thông, phát huy nó lên trong điều kiện hiện nay thì mới tạo điều kiện cho chúng ta đứng vững và phát triển trong thế giới đầy biến động hôm nay Nếu không đứng vững trên truyền thống dân tộc chúng ta sẽ tự đánh mất chính bản thân mình

Thứ ba: Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là điều kiện để xây

dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa thành công

Văn hóa là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh điều kiện sống, điều kiện tự nhiên, điều kiện sống của mỗi dân tộc trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Văn hóa do kinh tế quy định, song văn hóa có tác động trớ lại sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, khi nhấn mạnh tác động của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Muôn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”, “Vãn

Trang 19

hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà ở trong

kinh tế và chính trị” [ 67, 368 - 369] Do vậy, “để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức” [70, 60]

Đất nước ta còn nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, do vậy chúng ta phải biết phát huy những truyền thống quý báu trong văn hóa dân tộc Việt Nam, biến nó thành sức mạnh vật chất để vượt qua những khó khăn hạn chê

đó Vì vậy, để kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thì chúng ta phải nhận thức được những nguyên tắc kế thừa và phát huy trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.2 Một số nguyên tắc kế thừa, phát huy bản sác văn hóa dân tộc trong

tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính chất dân tộc của nền văn hoá mới thực chất

là vấn đề kế thừa truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại

Nghiên cứu tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hiểu tính chất dân tộc, hay đặc tính, cốt cách dân tộc của văn hoá Việt Nam, như Người đã nói, là tính chất riêng, là cái tinh tuý bên trong, tạo nên những nét khác biệt của văn hoá Việt Nam so với các nền văn hoá khác; đó cũng là những nét khác biệt của dân tộc Việt Nam so với các dân tộc khác Nó được thể hiện trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, tính cách, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, trong các loại hình văn học nghệ thuật, trong toàn bộ đòi sống tinh thần của dân tộc; và tập trung nhất là trong những truyền thống tốt đẹp của văn hoá Việt Nam, tạo nên những giá trị tinh thần bền vững, có sức sống vượt qua mọi thử thách của thời gian Những giá trị ấy có khi bộc

lộ công khai, có khi tiềm ẩn trong chiều sâu của đời sống con người và xã hội Điều này đã được Hồ Chí Minh nêu rõ khi phản ánh về truyền thống yêu nước, một truyền thống nổi bật nhất của văn hoá Việt Nam: "tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm" [67,172], Chính vì vậy,

dù đất nước ta trong quá khứ đã từng bị nước ngoài đô hộ hàng trăm năm, thậm chí

cả nghìn năm, nhưng nền văn hoá Việt Nam vẫn không bị đồng hoá, ngược lại, nó vẫn tồn tại và phát triển, để trở nên ngày càng phong phú, tạo nên sức sống bất diệt của dân tộc Việt Nam Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới có tính chất dân

Trang 20

tộc khoa học đại chúng, Hồ Chí Minh đã thành công Những thành tựu vãn hoá đó

là do Hồ Chí Minh đã thực hiện một sô nguyên tắc sau trong việc kế thừa và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Nguyên tắc thứ nhất: Kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hoá dân tộc.

Xây dựng nền văn hoá có tính chất dân tộc trước hết phải biết trân trọng, giữ gìn, kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp, những giá trị tinh thần bền vững của vãn hoá dân tộc, bao gồm vãn hoá của các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc thống nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dận các văn nghệ sĩ: "Nghệ thuật của ông cha ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn" ; "Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu" [77,68] Ngày 7-10-

1965, khi nói chuyện với Irêne Phabe, một nhà nghiên cứu văn học của Đức đã dịch

Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Đức, Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm của

mình: "những người cộng sản chúng ta rất quý cổ điển: có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, càng phải

coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông" [77, 421],

Đây chính là quan điểm của Lênin khi phê phán phái "văn hoá vô sản" thời

kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, muốn phủ định sạch trơn tất cả những gì thuộc

về văn hoá quá khứ Khuynh hướng sai lầm ấy hoàn toàn trái ngược với quy luật phát triển của văn hoá, của xã hội loài người Khi đã giành được chính quyền, giai cấp vô sản không thể xây dựng được nền văn hoá mới nếu không xuất phát từ những

gì mà văn hoá quá khứ để lại, cũng như không thể có chủ nghĩa Mác, nếu nó không bắt nguồn từ triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa

xã hội không tưởng Pháp

Hồ Chí Minh còn gọi những truyền thống tốt đẹp của cha ông là những "vốn

củ quỷ báu của dân tộc" Người nhấn mạnh đến những gì là tốt đẹp, là quý báu

trong truyền thống, trong vốn cũ để phân biệt với những gì lạc hậu, lỗi thời mà vốn

cũ còn để lại Chúng ta phải biết trân trọng, giữ gìn, kế thừa và phát huy những cái

gì tốt đẹp, quý báu, đồng thời phải biết loại bỏ những cái lạc hậu, lỗi thời của vốn

cũ, của truyền thống cũ Người đã chỉ ra cho những người làm công tác văn hoá ràng

việc giữ gìn, kế thừa vốn cũ không phải là "phục cổ một cách máy móc" mà "cái gì

tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái xấu thì ta phải bỏ đi" cái gì không xấunhưng phiền phức thì ta phải sửa đổi lại cho hợpiỷ [67, Q4] Dây chính là quan điếm

O A I H O C Q u o r C.IA HA m A i

^ OAI H O C Q U Ố C G I A HA NỘI

Trang 21

phủ định biện chứng đã được vận dụng trong việc xây đựng nền văn hoá mới Điều này Ảngghen cũng đã đặt ra từ lâu: Phải loại bỏ những truyền thống xấu của quá khứ vẫn đè nặng lên những người đang sống.

Như vậy là trong việc xây dựng nền văn hoá mới, có tính chất dân tộc phải

tránh khuynh hướng sai lầm: một là, phủ định sạch trơn tất cả những gì mà văn hoá

quá khứ của dân tộc đã để lại, kể cả những truyền thống tốt đẹp, những vốn cũ quý

giá, những giá trị bền vững của văn hoá dân tộc ; hai là, kế thừa tất cả những gì đã

có của văn hoá quá khứ, kể cả những cái đã lạc hậu, lỗi thời Khuynh hướng trên sẽ dẫn tới chỗ xoá bỏ tính chất dân tộc của văn hoá, còn khuynh hướng dưới lại làm hỏng tính chất dân tộc của nền văn hoá mới mà chúng ta cần xây dựng

Hồ Chí Minh đã nhiều lần phân tích rất kỹ các truyền thống văn hoá tốt đẹp

của dân tộc Đó là truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc Đó là sự hoà hợp giữa các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Đó là tinh thần yêu

nước thương nòi, là ý chí quật cường bất khuất, là khí phách anh hùng, sẵn sàng hy

sinh quên mình vì nước; đó là tinh thần cộng đồng, tinh thần nhân nghĩa, tinh thần

lao động cần cù, dũng cảm; đó là tinh thần cần kiệm trong sinh hoạt, giản dị trong

lối sống, tế nhị trong cư xử, trọng tình nghĩa từ trong gia đình đến ngoài xã hội

Những truyền thống văn hoá tốt đẹp ấy đã được hình thành và phát triển trong lịch

sử lâu dài của cả cộng đồng dân tộc, đã được kết tinh, trở thành những giá trị bền vững thống nhất mà đa dạng không phải chỉ có ý nghĩa đối với các thời kỳ lịch sử đã qua, mà còn có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn cách mạng hiện nay cũng như mãi mãi

về sau này Dù đất nước ta có phát triển đến đâu chăng nữa thì truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc vẫn phải được trân trọng, giữ gìn, bởi lẽ một dân tộc để mất truyền thống, mất bản sắc cũng có nghĩa là để mất chính mình, mất tất cả

Nhưng kế thừa không có nghĩa là giữ nguyên như cũ, mà phải phát triển những truyền thống văn hoá tốt đẹp vốn có của dân tộc cho phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể mới của đất nước và những biến đổi mới của thời đại nhằm giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới hiện nay Kế thừa mà không biết phát triển thì những truyền thống dân tộc dù có tốt đẹp đến mấy cũng không còn sức sống, và như vậy, sự kế thừa ấy cũng đồng nghĩa với việc làm mất hết ý nghĩa của những cái gì đang được kế thừa

Trang 22

Trong văn hoá, có cả hai mặt: phát triển những truyền thống tốt đẹp và loại

bỏ những truyền thống lạc hậu, khắc phục những cái lỗi thòi của quá khứ đều rất khó khăn, phức tạp Bởi lẽ, đó là những vấn đề thuộc về nhận thức tư tưởng, tập quán

và kiến thức của con người, những vấn đề đã đi sâu vào thói quen, tâm lý, lối sống không phải chỉ của một sô' người, mà là của cả cộng đồng xã hội rộng lớn Vì vậy, thường xuyên đẩy mạnh cả hai mặt đó là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới

Trân trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đề cao tính chất dân tộc của văn hoá không có nghĩa là làm cho văn hoá thu mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, "đóng cửa" cự tuyệt tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại,

kỳ thị văn hoá của các dân tộc khác Trong tư tuởng văn hoá Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có sự thống nhất biện chứng giữa tính dân tộc và tính nhân loại, cũng như sự thống nhất biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản - nét đặc trưng nổi bật trong tư tưởng chính trị của Người

Nguyên tắc thứ hai, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

Bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống là gắn liền với phát triển nâng nó lên một trình độ và chất lượng mới, nhằm đáp ứng trình độ văn hoá ngày càng tăng của nhân dân Nói đến bản sắc văn hoá dân tộc là nói đến nét đậm đà, sâu sắc nhất,

và mang tính phát triển Bản sắc văn hoá dân tộc nếu không được bổ sung, phát triển, thì dù có hàm chứa những giá trị cao đẹp đến mấy cũng không thể trở thành sức mạnh lâu bển của dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc không chỉ là giá trị quá khứ vĩnh hằng, mà còn là thực tại và hướng về tương lai Vì thế, kế thừa văn hóa truyền thống dân tộc không phải là tự hạn chế mình trong vốn cũ, thoả mãn với bài học cũ, hoặc cứ rủ nhau đi nguợc về cội nguồn, tìm về quá khứ Vì thế vãn hoá dân tộc cần phải tiếp thu, học tập tinh hoa của văn hoá nhân loại Chính những giá trị tiến bộ của văn hoá nhân loại sẽ làm phong phú thêm, bồi đắp thêm cho văn hoá dân tộc Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc cái giá trị đáng trân trọng của bản sắc vãn hoá mỗi dân tộc Người cho rằng, văn hoá dù là sản phẩm sáng tạo riêng của mỗi dân tộc cũng đều nhằm đạt tới chân, thiện, mỹ Và chân, thiện, mỹ là một điều kiện quan trọng bậc nhất để các nền văn hoá, có thể giao lưu, hội nhập, tiếp thu lẫn nhau Sự giao lưu văn hoá theo quan niệm cách mạng và khoa học của Hồ Chí Minh là nhằm cho các dân tộc xích lại gần nhau, cùng phấn đấu mưu cầu hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ

Trang 23

xã hội cho tất cả các dân tộc tuyệt nhiên không có thôn tính hay đồng hoá lẫn nhau, càng không thể là sự "ủng hộ" của "nền văn minh cao hơn" bằng bạo lực - máu lửa đối với nền văn minh của các dân tộc yếu hơn Hồ Chí Minh từng tâm sự với bạn bè thế giói: "Có điều các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần phải dứt bỏ văn hoá nào đó, dù là văn hoá Pháp đi nữa" [34, 516-517] Một phóng viên trên tờ báo Mỹ

"Diễn đàn" đã khẳng định: "Cụ Hồ không phải là một người dân tộc hẹp hòi mà Cụ

là một người yêu mến văn hoá Pháp trong khi chống thực dân Pháp, một người biết coi trọng những truyền thống cách mạng Mỹ trong khi Mỹ phá hoại đất nước của Cụ [34, 331]

Nền văn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc không phải là kết quả vận động chỉ riêng những yếu tô' nội sinh Văn hóa Việt Nam đã tiếp thu văn hóa Trung Hoa, Ân Độ và nhiều nền văn hóa khác để làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam Nho giáo, Phật giáo vào Việt Nam đã hội nhập vào văn hóa Việt Nam, đóng góp vào văn hóa Việt Nam từ phong tục tập quán tới những quan niệm đạo đức Kế thừa truyền thống của ông cha ta, Hồ Chí Minh cho rằng: Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy đê tạo ra một nền văn hoá Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và vãn

hoá nay, trau dồi cho văn hoá thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh

thần dân chủ

Như vậy, việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, của cả cổ kim Đông Tây là một vấn đề lớn trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh Nhưng đây không phải là sự tiếp thu xô bổ mọi thứ của thiên hạ, mà là chọn lọc những cái hay, cái tốt, cái đẹp để

làm giàu thêm cho văn hoá dân tộc Đây thực sự là sự thâu hoá những tinh hoa vãn

hoá nhân loại, làm cho những tinh hoa ấy trở thành những cái hay, cái tốt, cái đẹp mang "tinh thần thuần tuý Việt Nam" Đây thực sự là "Việt Nam hoá" những cái từ ngoài đến, biến chúng thành những cái bên trong, tự nhiên như những yếu tố nội sinh của văn hoá Việt Nam

Như Hồ Chí Minh quan niệm, trong nền văn hoá Việt Nam có "sự chung đúc lại" những tinh hoa văn hoấ Đông phương và Tây phương Điều đó cũng có nghĩa là nền văn hoá Việt Nam do dân tộc Việt Nam tạo dựng không phải chỉ từ những yếu

tố nội sinh, mà còn kết hợp với sự chiếm lĩnh, thâu hoá những giá trị của nhiều nền văn hoá khác Đứng vững trên cái nền dân tộc để chiếm lĩnh, thâu hoá những giá trị

Trang 24

văn hoá bên ngoài, bản lĩnh đó của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm Bản lĩnh đó càng được phát huy mạnh mẽ hơn trong việc xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đất nước ta mở rộng giao lưu quốc tế, hội nhập khu vực và thế giới.

Là người mở đường cho việc xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, là nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại, Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu nhất của sự kế thừa truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, kết hợp tính dân tộc với tính nhân loại trong văn hoá Chính vì vậy, người không ở tầm cao, xa cách mọi người, mà trái lại rất gần gũi với mọi người Việt Nam; Người không xa cách thế giới mà lại gần gũi với tất cả bạn bè gần xa trên thế giới Người đã đưa dân tộc đến với nhân loại và thời đại - điều chưa từng có trong lịch sử Việt Nam

Đứng vững trên cái nền văn hoá dân tộc, Hồ Chí Minh đã thâu hoá những tinh hoa của văn hoá phương Đông và phương Tây, rút ra những cái hay, cái hợp

lý, cái tích cực của nhiều học thuyết, từ Nho - Phật - Lão đến Giêsu, Tôn Trung Sơn, Gandi V V và đặc biệt là việc tiếp thu chủ nghĩa Mác -Lênin để đưa tư tưởng Việt Nam lên ngang tầm thời đại Hồ Chí Minh luôn tự coi mình là một học trò nhỏ của Khổng Tử, Giê su, Các Mác, Tôn Dật Tiên Người viết:

" Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao

cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy" [111,152]

Phải có tư duy văn hoá rộng mở, phải có tư tưởng văn hoá ở tầm nhân loại

và lịch sử toàn thế giới, mới có thể nêu ra được những nhận định hết sức quan trọng và độc đáo như thế Điều đó chỉ có thể thấy ở nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hoá Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, An Độ và của các dân tộc khác Trong khi chống thực dân Pháp, Người vẫn để cao vẫn hoá Pháp Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người phân biệt nhân dân Mỹ với bọn đế quốc xâm lược Mỹ , cũng như

Trang 25

phân biệt truyền thống văn hoá - cách mạng Mỹ với nền văn hoá của chủ nghĩa tư bản hiện đại Mỹ làm tha hoá con người và nô dịch các dân tộc khác Việc trích dẫn

một số điểm trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân

quyền và dân quyên của Pháp năm 1791 để mở đầu cho bản Tuyên ngôn độc lập

khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945 là một dẫn chứng nổi bật

về vấn đề này

Một điều kiện cần thiết phải có để có thể tiếp thu được tinh hoa văn hoá nhân loại là những người làm văn hoá, văn nghệ phải có kiến thức, phải chịu khó học hỏi, nâng cao trình độ hiểu biết của mình Hồ Chí Minh nói: "phải mở rộng kiến thức của mình về văn hoá thế giới, mà đặc biệt hiện nay là văn hoá Xôviết Phải nghiên cứu toàn diện văn hoá của các dân tộc khác, chỉ trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hoá của chính mình"[60,5]

Việc tiếp thu văn hoá nhân loại như vậy phải thông qua những đại biểu có trình độ, đủ để phân biệt được những gì là tinh hoa với những gì không phải tinh hoa, những gì có thể và cần tiếp thu hoặc ngược lại Sự thiếu hiểu biết đối với các nền văn hoá khác, quan điểm mơ hồ trong vấn đề tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại có thể dẫn đến hai khuynh hướng hoặc "sùng ngoại", hoặc "bài ngoại" Cả hai khuynh hướng này trước kia đều đã có ở nước ta, đến nay vẫn không phải không

có Do bảo thủ nên mọi cái của nước ngoài đều e ngại, đều cho là của chủ nghĩa tư bản, nên không cần nghiên cứu, không thể tiếp nhận Ngược lại, do "sùng ngoại" nên đã đồng nhất hiện đại hoá với "phương Tây hoá", mọi cái mới của nước ngoài đều coi là "tiên tiến, hiện đại ", đều có thể "ăn sống nuốt tươi", không phân biệt hay dở, tốt xấu, tiến bộ hay chỉ làm tha hoá con người Điều này có thể thấy khá rõ trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ, trong lối sống, và trong các lĩnh vực khác nữa

Hồ Chí Minh đã lưu ý chúng ta:

"Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều Nhưng quá nhấn mạnh đến đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại" [68,499]

Trang 26

Nguyên tắc thứ ba: Phổ biến văn hoá Việt Nam ra thế giới, giúp cho thế

giới hiểu biết về văn hoá và con người Việt Nam

Sự giao lưu văn hoá là sự giao lưu hai chiều một mặt tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, nhưng mặt khác, phải góp phần làm phong phú thêm văn hoá nhân loại Văn hoá Việt Nam không thể chỉ biết tiếp thu văn hoá nước ngoài, mà còn phải giới thiệu những nét văn hoá đặc sắc của mình trong quá trình giao lưu để góp vào kho tàng văn hoá chung của thế giới Thái độ của Hồ Chí Minh đối với văn hoá thế giới là vừa tiếp thu có chọn lọc, vừa góp phần làm phong phú, đa dạng văn hoá thế giới Đó là quan niệm trong lĩnh vực văn hoá mà Hồ Chí Minh thường dặn cán bộ: "Mình có thể bắt chước cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu - Mỹ, nhưng điều cốt yếu là phải sáng tác Mình đã hưởng cái hav của người thì c ũng phải có

cái hay cho người ta hưởng Mình đừng chịu vay mà không trả"[4] Trong văn hoá,

nếu chỉ muốn vay mà không trả, chỉ muốn "viện trợ không hoàn lại", thì chính điều đó không chỉ là một thái độ rất không văn hoá mà còn không thể phát huy được bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận” [70, 368] Văn hoá phải tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng, phải giúp cho nhân dân thế giói hiểu nhân dân Việt Nam

Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 Việt Nam không được viết tên trên bản đồ thế giới, những người cộng sản Pháp nhân dân lao động Pháp cũng không hiểu được sự tàn bạo của chế độ thực dán Pháp ở Việt Nam Bằng ngòi bút sắc sảo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, những tội ác của thực dân Pháp được phơi bày qua nhiều bài viết, nhiều tác phẩm từ “Lời phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII, Đảng xã hội Pháp”, tới bài viết về “Đông Dương”, bài “Mấy ý nghĩa về vấn

đề thuộc điạ” và nhiều bài khác

Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng “công nhân ở chính quốc cần phải biết rõ thuộc địa là cài gì, phải biết những gì xảy ra ở thuộc địa, biết rõ nỗi đau khổ - hàng nghìn lần đau khổ hơn công nhân chính quốc [70, 63] Từ đó Người đặt ra vấn đề đoàn kết liên minh chiến đấu giữa công nhân ở các nước chính quốc và các dân tộc thuộc địa chớ để cho giai cấp vô sản ở cả hai tầng đều không hiểu biết lẫn nhau, nên đã xảy ra những thành kiến” [70, 64],

Trang 27

Sau cách mạng Tháng Tám 1945, thực dân Pháp rắp tâm cướp nước ta một lần nữa Ngòi bút của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần làm cho nhân dân tiến bộ Pháp hiểu được âm mưu thâm độc của thực dân Pháp Trong thư “Gửi dân chúng Việt Nam, dân chúng Pháp, dân chúng các nước đồng minh” phần nói với dân chúng Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:

"Chúng tôi yêu chuộng các bạn và muốn hợp tác thành thực với các bạn trong khối liên hợp Pháp vì chúng ta có một lý tưởng chung: tự do, bình đẳng và độc lập Chính bọn thực dân Pháp đã làm ô danh nước Pháp và tìm cách chia rẽ chúng ta bằng cách khiêu chiến Chừng nào nước Pháp hiểu rõ nền độc lập và thống nhất của chúng tôi và gọi trở lại những kẻ thực dân hiếu chiến về thì tình giao hảo và hợp tác giữa hai dân tộc Pháp - Việt sẽ trở lại ngay” [65, 483],

Nhờ chính sách ngoại giao khôn khéo và những bài viết sắc sảo vạch trần tội

ác thực dân Pháp ở Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết chiến đấu của những người Cộng sản và nhân dân tiến bộ Pháp Đó là một trong những yếu tô' tạo nên thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam

Nguyên tắc thứ bốn: Kết hợp hài hoà giữa cái cổ truyền và cái hiện đại.

Hồ Chí Minh không bao giờ có tư tưởng tách rời quá khứ với hiện tại Ngược lại, người cho rằng hiện đại tiên tiến bao giờ cũng bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp, có gốc rễ trong quá khứ

Theo Hồ Chí Minh, càng thấm nhuẩn những yếu tố văn hoá hiện đại càng phải coi trọng những yếu tố văn hoấ truyền thống Đánh giá về Nguyễn Du, Hồ Chí Minh đã cho chúng ta một bài học sâu sắc về tầm nhìn văn hoá: "Nguyễn Du

là một nhà thơ vĩ đại của dân tộc Những người Cộng sản chúng ta rất quý trọng

cổ điển Có nhiều dòng suối tiến chảy từ nguồn cổ điển đó Càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông" [77, 229] Chính vì vậy, những kiến thức uyên bác phương Đông đã hoà hợp với văn hoá phương Tây qua những tác phẩm của Người Người đã khéo chọn lọc kiến thức của cả nền văn hoá để tạo ra sự hài hoà đó, nhất là vãn hoá Pháp và văn hoá Việt Nam Người đã phải nỗ lực rất lớn để học hỏi Người nghiên cứu không chỉ ngôn ngữ mà còn nghiên cứu toàn bộ nền văn hoá Châu Âu, trước hết là văn hoá

Trang 28

Pháp để có khả năng diễn đạt những vấn đề dân tộc, giới thiệu được tinh thần dân tộc và sắc thái văn hoá dân tộc đạt đến một trình độ chân thực, tế nhị mà bạn đọc Pháp có thể tiếp nhận được Đây là một khó khăn mà Người đã vượt qua và đã thành công.

Hồ Chí Minh đã tìm thấy những điểm chung giữa truyền thống lâu đời của dân tộc và của thời đại Trong tác phẩm của Người, cái chân, cái thiện, cái mỹ, hoà hợp, gắn bó sâu thẳm trong chiều sâu quá khứ và hiển hiện trước mắt người đương thời Bởi vì Hồ Chí Minh tôn trọng sự thật và vì sự thật, sự thật lớn nhất của thời đại là phải đấu tranh chống Chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc và người lao động Sự thật ấy cũng phù hợp với khát vọng muôn đời của con người và loài người Vì thế Hồ Chí Minh thực sự đã hiện đại hoá nền văn hoá dân tộc, trước hết

là từ quan niệm và sứ mạng của văn hoá đối với dàn tộc, từ đó mới bàn tới giá trị của văn hoá mới Hồ Chí Minh học tập vận dụng những giá trị cổ truyền chứ không phải lặp lại, bắt chước cái cổ truyền, rơi vào tình trạng nệ cổ, tập cổ Là một nhà thơ lớn, Người không bao giờ mượn lời người khác để bộc lộ tâm hồn mình, tâm trạng của mình Thiên nhiên có thể tự lặp lại mình, nghệ thuật không thể làm như vậy được Nhà nghệ sĩ lớn chẳng những không bắt chước một cách thô vụng

mà còn tìm tòi, sáng tạo để khỏi lặp lại mình, để cống hiến cho đời những giá trị mới Sức mạnh của quan niệm, của ngôn từ Hồ Chí Minh đặt trên một giá đỡ, một

bệ phóng vững chắc, có sức đẩy lớn và mạnh: Đời sống thực tại có cội nguồn sâu

xa trong lịch sử của dân tộc cũng như của toàn nhân loại Khi đi xem viện bảo tàng các dân tộc ở Pháp 1946, Hồ Chí Minh đã rút ra nhận xét: "Tuy phong tục mỗi dân tộc một khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau Điều đó là: Dân nào cũng “Ưa sự lành và ghét sự dữ" [65, 350], “Ưa sự lành và ghét sự dữ" là cái cũ, là cái cổ truyền đã trở thành cái vĩnh hằng của loài người, là cái phổ quát toàn nhân loại, cũng luôn luôn là cái hiện đại Mới hay cũ, cổ truyền hay hiện đại, đối với Hồ Chí Minh, đều phải giúp cho sự phát triển của con người dân tộc và nhân loại, phải tạo nên thành tựu mới, ngày càng tốt đẹp

Là một nhân cách văn hoá toàn diện, một danh nhàn văn hoá với một đời sống phong phú và tri thức uyên bác trên nhiều lĩnh vực, lại là một con người luôn luôn trăn trở hoạt động cho mọi người, vì mọi người nghĩa , nên trong tư tưởng văn

Trang 29

hoá Hồ Chí Minh hai mật cổ truyền và hiện đại, thấm vào nhau, đến không thể nào tách bạch ra được.

Nguyên tắc năm là: Kê thừa văn hóa dân tộc một cách toàn diện.

Mục đích tối cao của văn hoá Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống tiến bộ, hạnh phúc cho nhân dân Vì thế văn chương Hồ Chí Minh hướng tới mục đích thức tỉnh dân tộc và nhân dân Lênin cho rằng: Đối với nghệ

thuật cách mạng: phải thức tỉnh và nâng cao đời sống tinh thần của nhãn dân

Theo tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã kế thừa các hình thức nghệ thuật dân tộc một cách đa dạng và sinh động Hầu như các loại hình nghệ thuật vãn chương dân gian đến văn chương bác học đều được Người vận dụng: Ký, truyện, thơ Đường luật, ca dao, diễn ca lịch sử, thơ tự do, kịch, chưa kể Người còn vẽ tranh, nhiếp ảnh Trong việc vận dụng các loại hình ấy để sáng tạo, có những lĩnh vực nghệ thuật, Người đã rất thành công, như: truyện ký và thơ Đường Tuỳ hoàn cảnh cụ thể, Người viết bằng chữ Việt, chữ Pháp hay chữ Hán

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một khía cạnh đặc biệt mang tính sáng tạo và rất thành công của Hồ Chí Minh trong việc kế thừa giá trị truyền thống văn hoá dân tộc là: việc sử dụng tiếng nói của dân tộc

Văn chương Hồ Chí Minh gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dàn lao động, trong trẻo lại sáng tạo, giàu hình ảnh Người đã góp phần phát triển tiếng Việt về cả hai mặt từ ngữ và ngữ pháp Lúc đầu không phải là không có những nhà trí thức cảm thấy văn chương của người bình dị quá, không bóng bẩy, cao siêu như những sách vở họ quen đọc Tuy nhiên, sau đó ngay cả những người ấy cũng nhận

ra đó là cái bình dị vô cùng vĩ đại, cái bình dị chứa đựng và khơi dậy sức mạnh lay trời chuyển đất

Cách nói và cách viết của Hồ Chí Minh có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thìa đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục trái tim, khối óc của mọi người, hình thức sinh động, giản dị giàu tính dân tộc và đại chúng Người rất ghét lý luận suông, ghét dẫn sách vở khi không cần thiết hoặc cố ý khoe khoang với người nghe, người đọc Người rất ghét văn chuơng sáo rỗng, nhạt nhẽo; ghét nói, viết dài dòng khó hiểu, lủng củng không rõ ràng và kiên quyết phản đối lạm dụng tiếng nước ngoài: "Tiếng ta không dùng mà cứ ham dùng chữ Hán Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu dùng không đúng, mà cũng

Trang 30

ham dùng cái hại lại càng to" [67, 305] Mỗi dân tộc có nếp cảm, nếp nghĩ riêng,

có hình thức diễn đạt đi thẳng vào lòng người, lay động sâu sắc tâm hồn của họ

Người căn dặn những cán bộ làm sách Người tốt việc tốt: "Nhân dân ta có truyền

thống kể chuyện ngắn gọn lại có duyên, các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân" [71, 553]

Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa ngôn ngữ dân tộc, văn chương dân tộc, mà Nguời còn kế thừa cả văn hóa đánh giặc của dân tộc Việt Nam Đó là lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy trí nhân để thay cường bạo Văn hoá ngoại giao cũng được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy Những vấn đề nguyên tắc phải cứng rắn, nhưng sách lược phải mềm dẻo Người luôn luôn dạy cán bộ phải “Dĩ bất biến ứng vạn biến”

Như vậy, Hồ Chí Minh đã nêu lên nguyên tắc toàn diện trong kế thừa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Nguyên tắc thứ sáu: Xây đi đôi với chống trong kế thừa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Hồ Chí Minh nhìn nhận vãn hoá là một hiện tượng lịch sử xã hội đặc thù, có gốc rễ trong kinh tế, chính trị "xã hội nào văn nghệ ấy" Nền văn hoá mới không ra đời từ những con số không, nó có tiền đề từ văn hoá quá khứ, những tinh tuý được chắt lọc qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Một nền văn hoá tiên tiến, phụng

sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì phải giữ lấy bản sắc văn hoá dân tộc Từ chỗ khẳng định nền văn hoá truyền thống của Việt Nam và ảnh hưởng độc hại của văn hoá thực dân sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ: "Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của vãn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng" [67,173]

Nét vượt trội, độc đáo của Hồ Chí Minh là Người đã đứng trên bình diện văn hoá để nhìn nhận truyền thống, ứng xử với các giá trị cũ theo tinh thần văn hoá

và yêu cầu vận dụng, phát huy hiệu ứng xã hội của chúng đúng tầm văn hoá Một khi được kế thừa các giá trị văn hoá truyền thống có sức huy động và lan toả đến mọi ngõ ngách đời sống, trong sinh hoạt hàng ngày, trong công việc, trong sinh hoạt Đảng và kể cả trong lĩnh vực quyền lực, quản lý Nhà nước Bằng cách đó, Hồ

Trang 31

Chí Minh đã xác lập cho các giá trị văn hoá "một ví thế xã hội" trên quy mô rộng

lớn nhất "Đối với xã hội, văn hoá phải làm thế nào cho mỗi người Việt Nam ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên hưởng"

Người coi văn hoá là một mặt trận Trong kháng chiến, Người nêu khẩu hiệu "Kháng chiến hoá văn hoá và văn hoá hoá kháng chiến" Đấu tranh trên lĩnh

vực tư tưởng văn hoá là một bộ phận trong cuộc đấu tranh giai cấp Thực dân Pháp muốn duy trì ách đô hộ ở Việt Nam, vì vậy chúng đã ra sức tuyên truyền văn hoá nô dịch, đồi truỵ nhằm làm mất đi bản sắc văn hoá của dân tộc ta Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Người một mặt kế thừa phát huy những giá trị của văn hoá dân tộc nhu tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính nhân văn của con người Việt Nam, mặt khác Người luôn phê phán những tàn dư của văn hoá phong kiến, những nọc độc của văn hoá thực dân

Hồ Chí Minh đã phê phán lối sống ích kỷ, tư tưởng địa phương chủ nghĩa, đầu óc hẹp hòi của một sô' cán bộ, khẳng định đó là tàn dư của xã hội cũ cần phải

bỏ Người đã lên án thực dân Pháp dùng rượu cồn, thuốc phiện, dùng chính sách ngu dân, dùng lối tuyên truyền vu khống, lừa bịp để hòng duy trì ách đô hộ của họ ở Việt Nam

1.2 M ỘT SỐ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG H ồ CHÍ MINH VỂ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY TRUYỂN THỐNG VÃN HOÁ DÂN TỘC.

Nhà văn hóa Hồ Chí Minh sở dĩ hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang đã đem lại ánh sáng thức tỉnh đồng bào, giải phóng đất nước, nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới ở thời đại mới, là nhờ thực hiện được hai vấn đề quan trọng

Một là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường đúng đắn cho sự nghiệp

cứu nước, giải phóng đồng bào Hai là, biết phát huy sức mạnh của truyền thống

dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam

Nói đến bản sắc văn hóa dân tộc không thể không nói đến những giá trị được kết tinh ở Hồ Chí Minh, bởi Người là tượng trưng cao đẹp nhất của tàm hồn Việt Nam, tính cách Việt Nam, văn hóa Việt Nam, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch

Trong công trình “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc”, Cô' thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một khái quát mới mẻ và sâu sắc: "Hồ Chủ tịch là người Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết", "Hồ Chủ tịch là hình ảnh của dân tộc Việt Nam ngày

Trang 32

nay, trong đó có hình ảnh của dân tộc Việt Nam hôm qua và ngày mai" [30, 425-

443].

1.2.1 Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị mang tính phổ biến ở mọi dân tộc, không một dân tộc nào trên thế giới lại không yêu mến tổ quốc của họ Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, do trình độ phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội khác nhau, mà tư tưởng yêu nước của mỗi dân tộc có những sự khác nhau về nguồn cội, về quá trình hình thành và phát triển, về bản chất cũng như

về những đặc điểm khác

Việt Nam là một quốc gia được hình thành từ rất sớm trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam đã trở thành Tổ quốc thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Nhận định về chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã viết:

"Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quí báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước

Lịch sử dân tộc ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc,

vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng" [67,171 - 172].Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh

thần, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa - chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính; thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử dân tộc.

Chính sức mạnh của truyền thống yêu nước ấy đã thúc đẩy Nguyễn Sinh Cung, sau này là Nguyễn Tất Thành, đi tìm đường cứu nước Đó cũng là động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời mình Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Yêu Nước, để nhắc nhở cổ vũ bản thân và cổ vũ quốc dân đồng bào Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã

Trang 33

dẫn Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu lý luận cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bắt đầu từ lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa Người

đã viết: "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản

đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba" [70,128] Đến tận cuối đời, trước lúc vĩnh biệt chúng ta, trong di chúc Người vẫn nói đến chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với một thái độ hết sức trân trọng thông qua việc biểu dương tinh thần "anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù" của nhân dân lao động

Đứng ở tầm cao thời đại, xuất phát từ nhiệm vụ cấp bách của lịch sử dân tộc,

Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc đánh giá và chọn lựa những giá trị truyền thống văn hoá chủ yếu nhất của dân tộc để kế thừa Trong sự kế thừa các giá trị văn hoá truyền thống, việc đánh giá và chọn lựa là hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của hoạt động sáng tạo Ngược lại chính công việc ấy cũng bị phụ thuộc

và bị chi phối bởi tầm nhìn và điểm xuất phát Hồ Chí Minh thấm sâu chủ nghĩa yêu

nước của dân tộc Việt Nam, từ đó Người tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh nhờ đó có nguồn sinh khí mới, có chất lượng mới Chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào Việt Nam đã có thêm một mảnh đất thực tiễn để thực hiện, và chính trị thực tiễn của cách mạng Việt Nam tính sáng tạo và khoa học của

nó lại được nâng lên và nâng lên tầm cao mới Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, được tái tạo trong anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh, vì vậy nó thật sự

là vũ khí đấu tranh thực tiễn với kẻ thù Nó tìm thấy sức mạnh của mình trong cội nguồn dân tộc và sức mạnh trong nhân loại Chủ nghĩa yêu nước Hổ Chí Minh có những nội dung sau:

Thứ nhất:Đó là tình yêu quê hương, xứ sở

Sự phát triển tới đỉnh cao của tình yêu quê hương xứ sở là ý thức bảo vệ non sông đất nước, giang sơn Tổ quốc, ý thức về lãnh thổ quốc gia, về “cõi bờ sông núi

đã riêng” Thế kỉ XV, Lê Thánh Tông đã ra lệnh” “Một thước núi, một tấc sông cũng không thể vất bỏ Ai dám đem một thước núi, một tấc sông của vua Thái Tổ

để làm mồi cho giặc thì tội phải tru di” Lịch sử dân tộc đã chứng minh một cách hùng hồn rằng chủ nghĩa yêu nước truyền thống từ thế kỷ XVIII về trước đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình Chúng ta có quyền tự hào về di sản tư tưởng của dân tộc ta đã phát huy cao độ, ý thức tự cường dân tộc và chủ nghĩa yêu nước truyền thống, thực hiện được sứ mệnh lịch sử trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Trang 34

Vấn đề đặt ra là vì sao với một truyền thống yêu nước lâu đời và xuất sắc như trên, dân tộc ta đã không giải đáp được đúng đắn các vấn đề mà cuộc đấu tranh cứu nước đặt ra cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Không nhận thức được thời đại và kẻ thù mới - đó chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho phong trào cứu nước "Cần Vương" thất bại Trên thực tế đã xuất hiện những tư tưởng canh tân, nhưng cũng không đáp ứng được những nhiệm vụ của lịch

sử Các nhận thức trong hai cụ Phan rút ra từ Tân thư, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã có một bước tiến về chất so với hệ tư tưởng phong kiến và Nho giáo, song cũng không đủ sức soi sáng cho yêu cầu của thực tiễn cứu nước

Như vậy, nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước là thiếu vắng một

hệ tư tưởng khoa học mang tầm thời đại Trước khi gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc ta chua nhận thức được bản chất của thời đại, bản chất của chủ nghĩa thực dân đế quốc, chưa nhận thức được vị trí, vai trò của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, đặc biệt không nhận thức được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân nên đã không có những kiến thức cần thiết để tiến hành trong thực tiễn một cuộc cách mạng thắng lợi Ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin, không có học thuyết nào cung cấp cho Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam những kiến thức cần thiết để tiến hành một cuộc cách mạng Việt Nam thắng lợi

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết là qua "Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nuớc giải phóng dân tộc ở Việt Nam "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [69,314]

Với sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước truyền thống

đã dựa vững chắc trên lập truờng giai cấp vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời thông qua sự vận dụng đó đã làm cho chủ nghĩa Mác "được củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông" [62,465] Như vậy, không được chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng thì chủ nghĩa yêu nước truyền thống không thể tránh khỏi tình trạng bất cập trước thời đại đế quốc chủ nghĩa Ngược lại, không có được chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam bổ sung thì chủ nghĩa Mác - Lênin còn thiếu cơ sở nhận thức những vấn đề phương Đông Nếu không nhận thức được tình hình đặc thù của Việt Nam thì làm sao soi sáng cho vấn đề dân tộc cụ thể ở Việt Nam, nơi còn yếu về vật chất nhưng lại mạnh về tinh thần

Trang 35

Thứ hai\ Là sự khẳng định lịch sử riêng và bản sắc văn hóa riêng của dân tộc,

khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

Bảo vệ văn hoá dân tộc là bảo vệ ý thức coi độc lập dân tộc là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm Ý thức coi độc lập dân tộc là thiêng liêng Ông cha ta quan niệm

về điều đó và có ý thức đề cao nó ngay từ ngày đầu lập nước Thuở dựng nước, quan niệm về bảo tồn ý thức coi độc lập dân tộc là thiêng liêng được thể hiện qua những sáng tác và sáng tạo truyện thần thoại, truyền tụng văn học dân gian Dẩn dần quan niệm đó được phát triển cùng thực tiễn đất nước Dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập lâu dài, thời kỳ phục hưng của nước Đại Việt đời Lý, Trần, Lê với những chiến công chống quân Tống, quân Mông - Nguyên, chống quân Minh và những thành tựu rực rỡ của nền văn hoá Thăng Long, thể hiện quan niệm của mình trong

việc bảo vệ văn hoá dân tộc là “Nam quốc sơn hà Nam đ ế CIỈ\ khẳng định quyền

độc lập thiêng liêng của nước Việt Nam Trong Bình Ngô đại cáo có đoạn:

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Cõi bờ sông núi đã riêng

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trong quan niệm bảo vệ bản lĩnh, bản sắc dân tộc, gắn với độc lập chủ quyền quốc gia, không mang tính bảo thủ, cố chấp Bảo tổn gắn với phát triển, phát triển dựa trên cơ sở bảo tồn

Xuất phát từ vị trí của người dân thuộc địa mất nước, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc, Người coi nó là sự nghiệp cách mạng của đất nước Yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn

mà những người Cộng sản phải nắm lấy và phát huy, phải làm cho nó hoà quyện vào nhau Từ giác ngộ dân tộc tiến lên giác ngộ giai cấp là bước nhảy vọt cân bản mà

Hồ Chí Minh là người thực hiện đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Do giác ngộ giai cấp, Hồ Chí Minh hiểu được vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Từ đó, Người thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của thực dân đế quốc và lãnh đạo nhân dân lao động thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa

Như vậy, ý thức yêu nước, tinh thần dân tộc gắn liền với hệ tư tưởng vô sản dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, qua trí tuệ sáng tạo của Hồ Chí Minh, của Đảng và của cả dân tộc trở thành chủ nghĩa yêu nước kiểu mới Chủ nghĩa yêu

Trang 36

nước ấy đã mang một ý chí quật cường, một quyết tâm gang thép trong việc giành

và giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và xây dựng xã hội của dân, do dân, vì dân cũng đồng thời mang một nội dung nhân văn sâu sắc "không có gì quý hơn độc lập tự do" [71,107] Tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" - điểm hội tụ, hạt ngọc lung linh toả sáng của tinh thần yêu nước được Hồ Chí Minh nêu lên như một chân lý, một động lực, là ngọn cờ quy tụ cả dân tộc đứng lên chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Hồ Chí Minh từng nói rằng chiến thắng đế quốc, đó là

sự chiến thắng của văn minh chống bạo tàn Văn minh ở đây đồng nghĩa với văn hoá mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh đã nói tới và sử dụng chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn vũ khí ấy ngày càng sắc bén không chỉ trong

sự nghiệp cứu nước, trong việc xây dựng đạo đức cách mạng phàn định thiện - ác, đúng - sai, tốt - xấu, mà cả trong công cuộc xây dựng nước mạnh dân giàu và nền văn hoá mới Việt Nam Tháng 7 năm 1958, khi về thăm Hà Bắc, Người nói: "Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh" [112, 47].Như vậy, tư tưởng độc lập dân tộc, lý tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh và cả dân tộc đã được Hồ Chí Minh khái quát trong chân lý "không có gì quý hơn độc lập

tự do" Chân lý này đã nhập vào con tim, khối óc, và trong hoạt động cách mạng của

cả dân tộc Nó đã trở thành sức mạnh Việt Nam trong thời đại mới Nó để lại một bài học kinh nghiệm quý báu của lịch sử rằng sức mạnh của vũ lực không bao giờ khuất phục được ý chí của một dân tộc mà lý tưởng đã vươn tới tầm thời đại Nó là chất keo để đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước

Thứ ba: Tinh thần cộng đồng dân tộc, thương dân, đoàn kết toàn dân và lấy

và phát triển văn hoá:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Trang 37

Người trong một nước thì thương nhau cùng.

Bầu ơi thương lấy bí cùng,Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn

Nội dung chủ yếu của văn học dân gian, thần thoại thuở dựng nước là truyền tụng thái độ yêu nước, thương dân

Chiến tranh hay hoà bình, điều quan trọng là phải “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, phải “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó

là thượng sách giữ nước” Cành, lá, thân gốc đều quan trọng, nhưng quan trọng bậc nhất là “bền gốc sâu rễ”, vì “cây không gốc thì cây héo” Không chỉ là đoàn kết toàn dân mà còn là “lấy dân làm gốc” Ông cha ta ví dân như nước - nước có thể chở thuyền, có thể lật thyền Nguyễn Trãi nói: chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân

- “lật thuyền mới biết dân như nước”

Quan niệm thương dân, đoàn kết toàn dân, tiếp tục được phát triển đến thời cận - hiện đại Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công Tư tưởng “hiếu với dân”, “lấy dân làm gốc”.v.v của Người là sự phát triển tới đỉnh cao quan niệm bảo tổn giá trị cộng đồng, truyền thống nhân văn của dân tộc

Người từng nói: "Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta được độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn" [64, 217], Như vậy Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao sức mạnh truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, coi đó là một nhàn tố trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của công cuộc chống ngoại xám của nhân dân Việt Nam

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và trên lập trường giai cấp vô sản, yêu nước ở Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm về sự thống nhất lợi ích của nhân dân với lợi ích của Tổ quốc, thống nhất độc lập của Tổ quốc với tự do, hạnh phúc của nhân dân Điều đó được coi là chuẩn mực đạo lý đứng đầu bậc trong thang giá trị đạo đức dân tộc Người nói: "Nếu nước nhà độc lập mà dân không được hướng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" [65, 56]

Ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã được nâng lên trên lập trường của giai cấp vô sản, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã thống nhất với chủ nghĩa nhân văn cao cả và thể hiện quan điểm vì nhân dân Người từng nói:

Trang 38

"Trong bầu trời không có gì bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng nhân dân" [68,276].

Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đòi mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động thế giới vì hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến

bộ xã hội Quan điểm tất cả vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân đã góp phần khẳng định và nâng giá trị nhân văn của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh lên tầm cao thời đại

Theo Hồ Chí Minh, phát triển tinh thần yêu nước và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc là một trong những nguồn nội lực quan trọng của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Trong sự nghiệp to lớn

ấy, Đảng và Chính phủ phải là người dẫn đường tin cậy của nhân dân Người viết

"nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không có ai dẫn đường" [65,56] Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân là mối quan hệ máu thịt, không thể tách rời

Trong lịch sử Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước vốn là sản phẩm tinh thần quí báu được hun đúc bởi những trận giao tranh quyết liệt với địch hoạ và thiên tai, vì độc lập và sự trường tồn của dân tộc Nói như vậy không có nghĩa rằng sản phẩm đó rơi vào tay tất cả mọi người mà nó chỉ roi vào tay những ai đã từng trăn trở với vận nước, với thời cuộc Hổ Chí Minh đã từng trăn trở với vận nước, với thời cuộc, vì thế nét đặc sắc trong chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh là thân dân Và dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã vươn lên tầm cao tu tưởng ở thời hiện đại - thời đại Hồ Chí Minh - thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Kế thừa tinh hoa truyền thống và giá trị thời đại, chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh tràn đầy niềm yêu thương, lòng kính trọng vô hạn đối với nhân dân bị áp bức, tinh thần bình đẳng và tinh thần đoàn kết, tuơng thân, tương ái, tương trợ giữa các dân tộc anh em Nó không dừng lại trong phạm vi dân tộc mà mở rộng đối với nhân dân lao động thế giới Ở đây, chủ nghĩa yêu nước chân chính đã thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng đã trở thành một trong những nội dung của chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh Người đã từng nói rằng: "Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần ái quốc Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế" [67,172] Như vậy, Hồ Chí Minh bổ sung và phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống, làm

Trang 39

cho nó vượt lên trên chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thoát khỏi xu hướng "bế quan toả cảng" ngờ vực các dân tộc khác, hoặc thái độ miệt thị với các dân tộc khác Ở đây, chủ nghĩa yêu nước kiểu mới luôn chứa đựng niềm tin yêu đối với nhân dân và lòng tôn trọng đối với nhân dân các dân tộc khác Nó là sự gắn bó của nhân dân Việt Nam với nhân dân các dân tộc khác trên tinh thần hữu ái vô sản Đó cũng chính là yếu tố quan trọng để phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

1.2.2 Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy truyền thống nhân văn Việt Nam.

Lòng nhân ái là một truyền thống nổi bật, cốt lõi của dân tộc Việt Nam trong lao động và trong chiến đấu để dựng nước và giữ nước Dân tộc Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài hàng nghìn năm lịch sử trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt của vùng nhiệt đới ấm ướt, với mưa nguồn, nước lũ, bão tố phong ba, nắng hạn, sâu keo, dịch bệnh Thiên tai thường xuyên đe doạ cuộc sống của nhân dân ta, những cư dân nông nghiệp lúa nước mà công cuộc dựng nước gắn liền với công cuộc khai hoang mở đất Cuộc đấu tranh trong lao động gian khổ và làu dài đòi hỏi nhân dân ta không những phải có nghị lực phi thường mà còn phải thương yêu, đùm bọc, liên kết với nhau, chung lưng đấu cật, đổng cam cộng khổ Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn chúng ta phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc Người dạy: "Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa Hiểu chủ nghĩa Mác -Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách

mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin cho được" [71, 554] Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam từ những nội dung như sau:

Thứ nhất: Yêu thương con người.

Dân tộc Việt Nam vốn rất yêu quý con người, coi "người là hoa của đất", quan tâm đến việc người hơn là việc của trời Trong quan hệ giữa người với trời thì

"không có người không thành trời" (Lãn ông) và "xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều" (Nguyễn Du) Trong quan hệ giữa người với người thì "người sống hơn đống vàng", "người làm nên của, của không làm nên người" Từ xưa, ở Việt Nam

“thương người như thể thương thân" là câu cửa miệng, thấm sâu vào tiềm thức nhân dân lao động, cố định thành tâm lý quần chúng ở Việt Nam

Trang 40

Truyền thống nhân ái của dân tộc có cơ sở lịch sử và xã hội của nó, đã nảy sinh và được bồi đắp trong hoàn cảnh lịch sử đất nước thường xuyên bị thiên tai tàn phá, mà còn từng bị phương Bắc đô hộ hết sức tàn khốc hàng ngàn năm, sau đó lại

bị xâm lược nhiều lần Lòng từ bi của Phật Giáo, đạo nhân nghĩa của Nho giáo và tinh thần bác ái của Công giáo cũng đã góp phần ít nhiều, vào việc hình thành truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam

Trên mảnh đất Việt Nam, suốt ngàn năm qua, vấn đề con người luôn luôn gắn liền với vấn đề dân tộc Một khi đất nước có chiến tranh, dân tộc mất độc lập, cũng

có nghĩa là người dân rơi vào tình trạng bị áp bức bóc lột, bị nô dịch Do vậy, giải phóng dân tộc trong suốt thời kỳ lịch sử Việt Nam phải gắn với xóa bỏ ách đô hộ đối với nhân dân Từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc những người dân Việt Nam trở thành dân của một nước thuộc địa Cuộc sông của ngưòi dân đã được Hồ Chí Minh khắc hoạ qua mấy câu thơ sau:

Trên đời, ngàn vạn điều cay đắng

Cay đắng chi bằng mất tự do

Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam bước sang thế kỷ XX với nhu cầu tìm

ra một hệ tư tưởng mới, đủ sức giải quyết cả vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Truyền thống nhân ái đứng trước yêu cầu phải được nâng lên một trình độ cao hơn dưới ánh sáng của một hệ tư tưởng - Chủ nghĩa Mác

- Lênin Lòng nhân ái vốn có của Việt Nam trước đây còn có những hạn chế về lợi ích giai cấp và lịch sử Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam trước hết là tiếp nhận hạt nhân cơ bản của chủ nghĩa nhân văn mác xít, Hồ Chí Minh đã đem đến cho dân tộc ta chủ nghĩa nhân văn mới mang đặc trưng riêng của thời đại cách mạng giải phóng dân tộc, gắn với các dân tộc thuộc địa

Chủ nghĩa nhân văn mác xít là chủ nghĩa nhàn văn chân chính, nhằm giải thoát con người khỏi khổ đau, khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột đem lại cho con người cuộc sống làm người thực sự Nó khác về chất so với chủ nghĩa nhân văn đã có từ trước ở chỗ nó tìm hạnh phúc cho con người ở thê giới trần gian mà do chính con người tự cứu lấy mình, tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc, áp bức, bằng con đường đấu tranh cách mạng Nó khác với lòng từ bi hỷ xả trong Phật giáo, vì tình thương của Phật giáo là sự ban ơn, cứu vớt, là trông chờ ở bên ngoài, ở người khác là

Ngày đăng: 09/12/2020, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w