1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đe NV thi vào chuyên 10- Lê Quý Đôn

6 524 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề thi tuyển vào lớp 10 chuyên Lê Quý Đôn
Chuyên ngành Văn
Thể loại Đề thi
Năm xuất bản 2004-2005
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 3: 2,0 điểm Bàn về Truyện Kiều có ý kiến cho rằng: "Cái hậu thực sự của Truyện Kiều không phải ở màn đoàn viên mà nằm ngay trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán".. Cách hiểu này phù hợ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN

QUẢNG TRỊ THPT LÊ QUÝ ĐÔN - NĂM HỌC 2004 - 2005

MÔN THI: VĂN (DÀNH CHO HS CHUYÊN)

Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)

-Câu 1: (1,5 điểm)

"Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng"

(Hồ Chí Minh - Tức cảnh Pác Bó)

Từ "sẵn sàng" trong câu thơ trên có thể hiểu theo

những nghĩa nào ? Theo em cách hiểu nào hợp lí ?

Vì sao ?

Câu 2: (1,5 điểm)

Hãy chỉ ra các nhân vật trong Truyện Kiều vừa

là nhân vật chính diện vừa là nhân vật chính trong số các nhân vật dưới đây:

Mã Giám Sinh, Thúy Kiều, Từ Hải, Tú Bà, Bạc Bà, Kim Trọng, Thúc Sinh, Vương Quan, Thúy Vân, Hồ Tôn Hiến, vãi Giác Duyên.

Em hiểu thế nào là nhân vật chính diện ?

Câu 3: (2,0 điểm)

Bàn về Truyện Kiều có ý kiến cho rằng: "Cái

hậu thực sự của Truyện Kiều không phải ở màn đoàn viên mà nằm ngay trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán".

Em có đồng ý với ý kiến trên không ? Hãy viết vài đoạn văn ngắn để lý giải.

Câu 4: (5,0 điểm)

Cảm nhận của em về bài ca dao:

"Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hôût, đắng cay muôn phần".

ĐỀ CHÍNH

THỨC

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN

QUẢNG TRỊ THPT LÊ QUÝ ĐÔN - NĂM HỌC 2004 - 2005

MÔN THI: VĂN (DÀNH CHO HS CHUYÊN)

Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)

-Câu 1: (1,5 điểm)

Phân tích tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du trong

Truyện Kiều.

Em hãy lập đề cương khái quát (nêu các luận điểm chính ở phần thân bài) cho đề văn trên.

Câu 2: (1,5 điểm)

Bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến đều

kết thúc bằng ba chữ "ta với ta", nhưng ý nghĩa không

giống nhau Em hãy chỉ ra ý nghĩa khác nhau của chúng.

Câu 3: (7,0 điểm)

Bàn về Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, có

ý kiến cho rằng sức mạnh của bài hịch thể hiện ở lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng yêu nước cao độ Hãy phân tích đoạn trích sau đây để làm sáng tỏ ý kiến trên.

" Ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn

gặp buổi gian nan Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm

ĐỀ DỰ BỊ

Trang 3

thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng".

(Trích Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn - Văn

học 9 - Tập I)

KỲ THI TUYỂN VÀO LỚP 10 CHUYÊN THPT

LÊ QUÝ ĐÔN

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ CHÍNH THỨC MÔN VĂN

(DÀNH CHO HS CHUYÊN)

Khóa thi ngày 09 tháng 7 năm 2004

-Câu 1: (1,5 đ)

Để hiểu đúng ý nghĩa các từ ngữ, ý thơ trong câu thơ, ta phải đặt nó trong chỉnh thể cấu trúc ý tứ của bài thơ, không nên suy diễn, áp đặt

Câu này, học sinh cần trả lời được:

- Từ "sẵn sàng" trong câu thơ: "Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn

sàng" có thể hiểu theo hai cách:

+ Dù chỉ có "cháo bẹ, rau măng" nhưng Bác vẫn sẵn

sàng tinh thần cách mạng Cách hiểu ấy không sai về mặt ngữ pháp, nhưng không thích hợp lắm với giọng điệu vui đùa thoải mái của cả bài thơ và không phù hợp với cấu trúc ý tứ của bài thơ (0,75đ)

+ "Cháo bẹ, rau măng" (thức ăn) vẫn luôn sẵn có Cách

hiểu này phù hợp với mạch thơ, với kết cấu chặt chẽ về ý tứ của bài thơ: câu thứ nhất là nói về ở, câu thứ hai nói về

ăn, câu thứ ba nói về làm việc, cả ba câu đều thuật tả sinh hoạt vật chất, chỉ đến câu kết mới phát biểu cảm xúc, ý

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa (1,5đ) nếu bài làm đáp ứng được các ý cơ bản của hướng dẫn chấm (HDC) và văn viết diễn đạt lưu loát, ít sai lỗi chính tả, ngữ pháp

Câu 2: (1,5 điểm) Học sinh cần trả lời được:

- Trong số các nhân vật trên của "Truyện Kiều" thì những

nhân vật vừa là nhân vật chính diện vừa là nhân vật chính là: Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng (0,75đ)

(Chỉ ra đúng 1 nhân vật cho 0,25 điểm)

- Nhân vật chính diện: (còn gọi là nhân vật tích cực) là

nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan

Trang 4

điểm tư tưởng, một lí tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định.

(0,75đ)

Câu 3: (2,0 điểm) Học sinh cần trả lời được:

Ý kiến nhận định trên là hoàn tòan xác đáng

Lí giải: Học sinh cần nêu được những ý cơ bản sau:

1/ Màn đoàn viên không phải là cái hậu thực sự đúng với ý

nghiîa đích thực của nó Tuy rằng đây là phần cuối cùng của tác phẩm và xét trong toàn bộ Truyện Kiều thì đây cũng là cái hậu.

a) Màn đoàn viên cũng là cái hậu vì ở đây:

- Kiều được đoàn tụ với gia đình, được gặp lại người yêu sau 15 năm lưu lạc

- Kiều không còn bị dày vò về thể xác nữa và được

Kim Trọng "chiêu tuyết"

b) Màn đoàn viên không phải là cái hậu thực sự, vì: đến đây bi kịch Thúy Kiều vẫn tiếp tục, chí ít vẫn còn dư âm của

bi kịch đó:

- Kiều tuy có được giải phóng nhưng chưa được đền bù Viö những gì quý báu của cuộc đời Kiều đã bị tước đoạt không thể nào lấy lại được

- Kiều phải từ bỏ tài, tình mà đối với Kiều một con người đa tình, tuyệt tài, tuyệt sắc, sống như thế không thể có hạnh phúc

2/ Đoạn báo ân, báo oán thực sự là cái hậu của Truyện Kiều, tuy chưa phải là phần cuối của tác phẩm và chưa phải là cái hậu duy nhất đầy đủ.

a) Đoạn báo ân, báo óan thực sự là cái hậu của Truyện Kiều, vì ở đây:

- Người tốt được đền bù:

+ Kiều được đổi đời, từ thân phận một cô gái lầu xanh, một nô tì, nàng đã trở thành một phu nhân, ngồi ghế chánh án xét xử những người đã đày đọa mình Kiều được sống đầy đủ tài tình với người tri kỷ (Từ Hải)

+ Giác Duyên, Quản gia, Thúc Sinh, những người tốt, những ân nhân của Kiều được đền bù một cách xứng đáng

- Bọn "bạc ác tinh ma" đã bị trừng phạt.

+ Bọn Ưng Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Bạc Bà, Bạc

Hạnh, Mã Giám Sinh đều bị "xương rơi thịt nát tan tành".

+ Hoạn Thư tuy được tha bổng nhưng uy thế của thị đã bị hạ xuống đất đen

b) Nhưng đây chưa phải là cái hậu duy nhất hoàn toàn Vì đây chưa phải là phần sau cùng của câu chuyện, vì sau đó Kiều lại bị rơi xuống vực thẳm đau khổ, phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử Chính vì vậy nên phải có màn đoàn viên

Biểu điểm câu 3:

Trang 5

- Ý (1): 1,0 điểm, trong đó: + Ý (a): 0,5 điểm; + Ý (b): 0,5 điểm

- Ý (2): 1,0 điểm, trong đó: + Ý (a): 0,75 điểm + Ý (b): 0,25 điểm

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa (2,0 điểm) nếu bài làm diễn đạt lưu loát, lập luận chặt chẽ

Câu 4: (5,0 điểm)

I/ Yêu cầu chung: Học sinh phải làm một bài văn hoàn chỉnh,

có: mở bài, thân bài và kết bài Nội dung bài làm nêu được những cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài cao dao

II/ Yêu cầu cụ thể: Học sinh cần caøm nhận được những ý cơ bản sau:

1/ Về nội dung:

a) Bài ca dao nói lên một cách thấm thía nỗi vất vã, gian truân của nghề làm ruộng, của công việc lao động làm ra sản phẩm phục vụ cuộc sống con người

b) Từ đó kêu gọi một thái độ cảm thông và biết ơn những người làm ra của cải vật chất, sự trân trọng đối với thành quả lao động

2/ Về nghệ thuật:

a) Ấn tượng sâu sắc về sự vất vã là do cách lựa chọn đối tượng miêu tả:

- Đó là công việc làm đất nặng nhọc

- Thời điểm làm việc khắc nghiệt, nóng nức, "buổi ban trưa"

b) Việc sử dụng lối nói ngoa dụ trong so sánh: mồ hôi như mưa

c) Sử dụng triệt để biện pháp đối lập, tương phản: giữa làm và ăn (rộng ra là cống hiến và hưởng thụ); giữa

bát cơm đầy và một hột, giữa "dẻo thơm một hột" và

"đắng cay muôn phần".

d) Cách dùng đảo ngữ, đại từ phiếm chỉ làm cho lời thơ uyển chuyển, lời nhắc nhở nhẹ nhàng, không nhằm vào người nào cụ thể mà thấm thía cho tất cả

Lưu ý: Học sinh có thể nêu lên cảm nhận về nội dung và

nghệ thuật riêng biệt, nhưng tốt hơn là phân tích nội dung kết hợp với nghệ thuật

Biểu điểm câu 4:

- Điểm 4,5 đến 5,0:

Bài làm hoàn chỉnh, có mở bài và kết bài tốt Phần thân bài: đáp ứng được hầu hết các ý của HDC Văn viết có cảm xúc, diễn đạt lưu loát; dùng từ chính xác, chọn lọc; phân tích dẫn chứng sâu sắc; bố cục hợp lí; sai ít lỗi chính tả, ngữ pháp

Trang 6

- Điểm 3,5 đến 4,0:

Bài làm có mở bài và kết bài khá Phần nội dung: đáp ứng được 2/3 số ý của HDC Văn viết mạch lạc, dùng từ chính xác; phân tích được dẫn chứng; bố cục hợp lí Sai không quá 5 lỗi chính tả, ngữ pháp

- Điểm 2,5 đến 3,0:

Bài làm đáp ứng được khỏang 1/2 số ý của HDC Văn viết diễn đạt rõ ý, dùng từ chưa chọn lọc; phân tích dẫn chứng còn hời hợt Sai không quá 7 lỗi chính tả, ngữ pháp

- Điểm 1,5 đến 2,0:

Bài làm chưa hoàn chỉnh Nội dung nghèo nàn, đáp ứng 1/4 số ý của HDC; văn viết còn lủng củng Sai trên 7 lỗi chính tả, ngữ pháp

- Điểm 0,5 đến 1,0:

Những trường hợp còn lại

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w