1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TIẾP cận và PHÂN TÍCH tác PHẨM TRỮ TÌNH phần 2

6 92 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 20,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam, ý lớn của bài thơ, chỉ có thể gọi là tứ, khi nó "không thể hiện một cách bộc trực trần trụi mà đã biến hóa trong những hình tượng nhiều tìm tòi sáng

Trang 1

TIẾP CẬN VÀ PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TRỮ TÌNH

(Phần 2)

Trần Đăng Suyền

Phân tích thơ, không thể không chú ý đến thể thơ, vì mỗi thể,

có cái ưu thế, đặc điểm riêng của nó, phù hợp với việc diễn tả một nội dung, tình cảm, tâm trạng nhất định

Nghiên cứu, phân tích một tác phẩm thơ, cũng cần tìm ra cái

tứ của bài thơ Tứ thơ, ấy là cái ý lớn bao trùm và chi phối tất cả các

yếu tố trong một bài thơ, là cái ý lớn bao quát toàn bài thơ, làm điểm tựa cho sự vận động của cả bài thơ Phạm Tiến Duật viết: "Có thể định nghĩa, cố gắng nôm na nhưng không nôm na được, cố gắng

giản dị nhưng không giản dị được:Tứ chính là ý được hình thức hoá

[ ] Tứ thơ không chỉ làm vững chãi bài thơ mà còn làm cho bài thơ bay bổng như thể cái dây diều giúp cho diều gặp gió" Có quan niệm cho rằng, bài thơ nào cũng có tứ thơ, chỉ có điều, có những bài thơ

tứ thơ không thật rõ Nhưng lại có quan niệm, một bài thơ, có thể có nhiều ý, thậm chí có ý lớn, nhưng chưa chắc đã có tứ thơ Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam, ý lớn của bài thơ, chỉ có thể gọi là tứ, khi nó "không thể hiện một cách bộc trực trần trụi mà đã biến hóa trong những hình tượng nhiều tìm tòi sáng tạo mới lạ, gợi ra cho người đọc những liên tưởng thú vị, rộng rãi [ ] Một bài thơ có tứ là một bài thơ có tìm tòi, sáng tạo về mặt thể hiện ý toàn bài một cách mới lạ, thú vị" Cái thú vị của việc phân tích văn học là gặp được những bài thơ có tứ thơ sâu sắc và phát hiện được những tứ thơ độc đáo đó Ở những bài thơ như thế, tứ thơ mang đặc điểm của cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, đồng thời là một phát hiện, sáng tạo độc đáo của nhà thơ Khi phân tích những bài thơ có tứ, không nên sa vào những chi tiết quá vụn vặt mà cần phải trên cơ sở của cái tứ đó

mà làm rõ cái sâu sắc, cái hay, cái đẹp của bài thơ Người xưa nói, đọc thơ mà mổ xẻ hết từng câu trong bài là không hiểu gì về thơ Thi

tứ giống như một tiếng động dưới đáy hồ, nó khiến cho mặt hồ nổi sóng

Cấu tứ là cách tổ chức tứ thơ, tạo nên mạch vận động và

những tương quan của tư tưởng, cảm xúc, hình tượng và hình ảnh trong một bài thơ Hà Minh Đức nhận xét: “Sự vận động và triển khai của tứ trong thơ trữ tình thường không có những điểm tựa xác định

và cụ thể về không gian và thời gian như trong tiểu thuyết, kịch Mâu thuẫn và sự khác biệt của những cảm nghĩ là động lực bên

Trang 2

trong đẩy tứ thơ vận động qua những trạng thái đối lập trong không gian cũng như thời gian" Do chủ để của bài thơ, do cá tính sáng tạo

mà việc tạo cái tứ cho bài thơ, ở mỗi tác giả lại có những nét riêng khác nhau Có những tác giả thường tạo tứ cho tác phẩm của mình bằng cách xây dựng một hình tượng bao trùm, xuyên suốt toàn bài

Nhớ rừng của Thế Lữ, Ta đi tới của Tố Hữu, Người đi tìm hình của nước của Chế Lan Viên, Tràng giang, Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận, Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, v.v là những bài thơ như thế Đọc Ta đi tới (Tố

Hữu), người đọc thấy mở ra trước mắt liên tiếp những con đường, vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, và khí thế: "Ta đi tới, không thể gì chia cắt – Mục Nam Quan đến bãi Cà Mau", thể hiện ý

chí, quyết tâm thống nhất đất nước của toàn dân tộc Người đi tìm hình của nước (Chế Lan Viên) gây ấn tượng sâu đậm trong lòng

người đọc hình tượng một con người đi trước thời gian, một bậc vĩ nhân đi tìm đường cứu nước, tìm một hình hài, một thể chế mới cho dân tộc: "Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người ", "Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai -Thế đi đứng của toàn dân tộc - Một cách vinh hoa cho hai mươi lăm

triệu con người" Đọc Tràng giang (Huy Cận), ta bắt gặp một dòng

sông vừa dài vừa rộng, "Mang mang thiên cổ sầu", như chảy từ một thời xa xôi nào đó Trong cái cảnh thiên nhiên cao rộng, bát ngát, trong cái mênh mông hoang vắng của buổi chiều tà, dòng tràng giang là trung tâm của bức tranh thiên nhiên, như mang theo một nỗi buồn mênh mang bao trùm cả không gian và thời gian, như thấm

cả vào linh hồn tạo vật Người đọc có thể cảm nhận thấm thía trong thẳm sâu câu chữ là dòng tràng giang của tâm hồn nhà thơ với mênh mang nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn cô đơn, cái tôi bơ vơ của một nhà thơ mới, và đằng sau đó là tình yêu thiết tha đất nước quê

hương Đọc Các vị La Hán chùa Tây Phương (Huy Cận), ta có cảm

tưởng như bắt gặp một công trình nghệ thuật điêu khắc bằng ngôn ngữ thơ ca Các pho tượng La Hán, mỗi pho tượng một cảnh ngộ, là hiện thân của những khổ đau quằn quại, cùng hội tụ về đây, làm nên

"Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã", phô bày những nỗi khổ đau chồng chất cùng cực bế tắc của các thế hệ cha ông trước kia, của những kiếp người nơi trần thế Thế giới của những pho tượng đầy đau khổ

ấy như quay cuồng trong một vũ điệu bi kịch đầy tuyệt vọng: “Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau- Quay theo tám hướng hỏi trời sâu – Một câu hỏi lớn Không lời đáp - Cho đến bây giờ mặt vẫn chau" Đó là hình ảnh của một nhân loại sục sôi tìm lối thoát nhưng càng vật vã lại càng đau đớn, càng bất lực trong một thời kì lịch sử đen tối, chưa tìm ra lối thoát

Trang 3

Có những tác giả lại tạo dựng tứ cho bài thơ của mình bằng cách, từ một cảm xúc chung, một ấn tượng chung, lấy đó là điểm xuất phát để dẫn dắt những dòng suy nghĩ liên tưởng và tưởng tượng Rồi từ những dòng suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng đó, những hình tượng nhỏ, những hình ảnh cứ lần lượt, liên tiếp xuất

hiện Tình sông núi của Trần Mai Ninh, Giữa Tết trồng cây của Chế Lan Viên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Ngọn đèn đứng gác của Chính Hữu, Lửa đèn của Phạm Tiến Duật, Bếp lửa của Bằng Việt, v.v.

là những bài thơ tạo tứ theo cách đó Từ một cảm nhận đầy ấn tượng

về mùa thu nơi chiến khu Việt Bắc, thời hiện tại trong kháng chiến chống thực dân Pháp: "Sáng mát trong như sáng năm xưa - Gió thổi mùa thu hương cốm mới", dòng cảm xúc, liên tưởng về mùa thu

trong Đất nước (Nguyễn Đình Thi): mùa thu năm xưa ở Hà Nội, "mùa

thu nay" giữa núi đồi Việt Bắc, cứ liên tiếp hiện ra, với những hình ảnh cụ thể, đầy gợi cảm về một đất nước "từ máu lửa - Rũ bùn đứng dậy sáng loà" Xuất phát từ một ấn tượng về hiện tượng thắp lửa, thắp đèn rồi lại tắt lửa, tắt đèn trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, ở những miền quê yên ả – Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá", "Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá", Phạm Tiến Duật đã sáng tạo nên tứ thơ độc đáo cho bài thơ Lửa đèn, liên tưởng gợi ra liên tưởng, hình ảnh nối tiếp hình ảnh, trùng trùng điệp điệp Những liên tưởng, những hình ảnh ấy tạo đà cho những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời, ân tình mà sâu lắng:

Trên đất nước đêm đêm Sáng những ngọn đèn Mang lửa từ nghìn năm về trước Lấy từ thuở hoang sơ,

Giữ qua đời này đời khác Vùi trong tro trong trấu nhà ta

Ôi ngọn lửa đèn

Có nữa cuộc đời ta trong ấy!

Với cách tạo dựng tứ thơ xuất phát từ một ấn tượng chung ban đầu này, nhà thơ vừa có thể diễn tả những ấn tượng, những dòng cảm xúc, liên tưởng, vừa có thể bộc lộ những suy nghĩ, tăng cường chất chính luận, triết lí trong thơ Tuy nhiên, việc phân chia thành loại tứ thiên về tạo hình, loại tứ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng cũng chỉ

là tương đối Mỗi thời đại, cách cảm xúc, cách suy nghĩ của con

Trang 4

người cũng có sự đổi thay, vì thế cách tổ chức, cấu tạo các tứ thơ cũng luôn có sự biến đổi

Phân tích thơ, cũng cần chú ý đến nhạc tính của bài thơ Trong thơ, nhạc tính có vai trò rất quan trọng Quan niệm: "Bài thơ - cái sự dùng dằng kéo dài này giữa âm thanh và ý nghĩa" của Valery được nhiều người tán đồng Chế Lan Viên cho rằng, thơ "đi giữa ý và nhạc" Xuân Diệu cũng từng phát biểu: "Tôi muốn sáp nhập thơ ca vào lĩnh vực của âm nhạc" Sóng Hồng cũng quan niệm: "Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm

và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm

và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường"

Những bài thơ hay thường có "nhạc tính bên trong", ngân vang

trong lòng người đọc Nhớ rừng của Thế Lữ là một bài thơ đẩy nhạc

tính, âm điệu thật dồi dào, góp phẩn diễn tả tinh tế và sâu sắc tâm trạng con hổ bị nhốt ở trong vườn bách thú Đoạn thơ thứ hai trong

bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: "Doanh trại bừng lên hội đuốc

hoa Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" cũng có sự hoà hợp tuyệt vời giữa chất thơ và chất nhạc Những câu thơ ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tâm hồn ngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến Xuân Diệu thật tinh tế khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng Chất nhạc cũng góp phần quan trọng tạo nên cái hay của Việt Bắc - một trong những bài thơ hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu Chất nhạc cùng với tình thơ tha thiết, chan chứa tình người đã làm cho bài thơ này trở thành một khúc hát ân tình thuỷ chung, nồng nàn, sôi nổi, đằm thắm bậc nhất; và chính điều đó đã làm nên sức ngân vang sâu thẳm, lâu dài của thi phẩm

Phân tích thơ, lẽ đương nhiên là phải đặc biệt chú ý đến hình ảnh, nhịp điệu, giọng điệu và ngôn ngữ của bài thơ Nhịp điệu làm tăng thêm tính chất trữ tình của thơ, Maiacopxki khẳng định: "Nhịp điệu là năng lượng cơ bản của câu thơ" Phan Ngọc cũng cho rằng:

“Nhịp là xương sống của thơ Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn

về số chữ, bỏ quy luật bằng trắc, nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu [ ], Nhịp một bài thơ cũng như nhịp trong bản nhạc Trước hết phải

có một nhịp cơ bản, rồi trên cái nhịp cơ bản ấy tạo ra những biến thiên khác để đem đến tính đa dạng Nếu chỉ chấp nhận đơn thuần các nhịp cơ bản thì bản nhạc hay bài thơ sẽ nhạt" Phan Ngọc nhận

xét: Nhịp cơ bản trong Truyện Kiều, cũng như mọi bài thơ lục bát là

nhịp đôi, nhịp này thể hiện thành quan hệ 2- 2-2 trong câu bát Nhịp

Trang 5

này dược duy trì trong mọi câu để tạo nên cái nền của thế loại.

Nhưng trong Truyện Kiều, số câu chia làm hai vế cân đối 33 hay 4

-4 chiếm tỷ lệ khá lớn

Nhịp là sự lặp lại một cách đều đặn một đơn vị thời gian, một

số âm tiết hoặc tiếng trong dòng thơ, câu thơ hoặc bài thơ Thanh điệu (bằng, trắc), vần điệu (sự lập lại âm nào đó) cũng là những yếu

tố tạo nhịp, nhưng yếu tố tạo nhịp quan trọng nhất của bài thơ là dòng thơ Tiết tấu trong từng dòng thơ, từng câu thơ cũng có tác dụng tạo nhịp; nhưng nhịp cơ bản trong bài thơ là do dòng thơ tạo nên Thường thì, cuối mỗi dòng thơ là một chỗ nghỉ hơi kéo dài, đánh dấu một nhịp: đồng thời cũng bắt đầu một nhịp mới, và cứ thế cho đến hết bài thơ Sự trở đi trở lại đều đặn, cũng như từng làn, từng đợt sóng, tác động đến người đọc một cách nhịp nhàng, liên tục, khiến cho họ như bị cuốn đi, rơi vào trang thái đê mê Người ta nói đến tính chất "ru người", tạo chất "say" của nhịp thơ là vì vậy

Những nhà thơ tài năng thường có ý thức tạo nhịp sao cho vừa linh hoạt, vừa phù hợp với nội dung cảm xúc của bài thơ Đây là

cách tạo nhịp thật độc đáo của Chế Lan Viên trong bài thơ Tập qua hàng:

Chỉ một ngày nữa thôi Em sẽ trở về Nắng sáng cũng mong Cây cũng nhớ Ngõ cũng chờ Và bướm cũng thêm màu trên cánh đang bay.

Nhịp điệu của bài thơ quả là có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chức năng truyền cảm, diễn tả nội dung, tác động đến tình cảm

và lí trí của người đọc Cách ngắt nhịp trong mấy câu thơ sau của Thế Lữ cũng có tác dụng không nhỏ trong việc gợi lên bước chân, tư thế oai phong của con hổ vào cái thời oanh liệt:

Ta bước chân lên,/ dõng dạc,/ đường hoàng Lượm tấm thân/ như sóng cuộn/ nhịp nhàng.

(Nhớ rừng)

Đôi khi, cách trình bày, sáp xếp hình thể câu thơ, cũng có một ý nghĩa nào đó, đem đến khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc Cách bố trí những dòng thơ theo hình thế bậc thang trong những câu thơ sau cũng ít nhiều gợi lên một ấn tượng nào đó trong lòng người đọc:

Trang 6

Từ trời xanh

rơi

vài giọt tháp Chàm

(Văn Cao - Quy Nhơn 3)

Rơi Như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn Riêng những câu thơ

còn xanh Riêng những bài hát

còn xanh

Và đôi mắt em như hai giếng ngọc.

(Văn Cao - Thời gian)

Hình thế câu thơ được sắp xếp theo kiểu bậc thang là một yếu

tổ quan trọng, cũng nói lên một điều gì đó Câu thơ đầu nói về sự rơi, nên dòng thơ được ngắt rời ra, gợi lên một ấn tượng về thị giác Cùng với câu thứ nhất, câu thứ hai và ba, cách xuống dòng như thế, kết hợp với ý nghĩa của từ ngữ, vừa gợi âm thanh của vật rơi, vừa khơi gợi ở người đọc ấn tượng và liên tưởng đến động hình rơi của những viên sỏi đang rơi, viên sau nối viên trước Cách bố trí các dòng thơ như thế cũng quy định cách đọc tương ứng phải ngắt hơi ở chỗ xuống dòng, tạo nên một khoảng lặng, một chỗ ngừng nghỉ với nhiều cảm xúc

(Còn tiếp)

Ngày đăng: 29/11/2020, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w