Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người, vấn đề phát triển nguồn lực con người của tỉnh Đồng Nai trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Cũng như cả nước, tỉnh Đồng Nai chỉ có thể thực hiện thành công CNH HĐH khi phát huy được cao độ nguồn lực con người. Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và các chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực, chính quyền Đồng Nai đã quan tâm cụ thể phải trong điều kiện thực tế ở địa phương mình được thể hiện vào trong việc Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh; kế hoạch trung, dài hạn và hàng năm cỉa nhà nước và cụ thể hóa trong các Chương trình phát triển nguồn nhân lực để thực hiện.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC
Đề tài:
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
CỦA TỈNH ĐỒNG NAI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
Đồng Nai – Tháng 01 Năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
I Cơ sở lý luận về vấn đề con người……….…………1
1 Quan điểm về con người……….……… …1
1.1 Một số quan điểm của triết học ngoài Mác xít về con người………1
1.1.1 Quan điểm của con người trong triết học phương Đông………1
1.1.2 Quan điểm của con người trong triết học phương Tây……… 2
1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất của nó … …
3 1.2.1 Con người là thực thể sinh học xã hội……… …
3 1.2.2 Con người là chủ thể của lịch sử……….……
… 5
1.2.3 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội……… ……
6 2 Nguồn lực con người (nguồn nhân lực) ……….…
… 7
3 Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ……
… 8
Trang 33.1 Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi CNH, HĐH đấtnước… .10
3.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - động lực thúc đẩy quá trình CNH, hiệnđạo hóa đất nước……….……….11
II Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đồng Nai………13
1 Kết quả phát triển nhân lực đến năm 2015……….………13 1.1 Phát triển nhân lực theo trình độ học vấn và trình độ đào tạo đến năm 2015…
……….13 1.2 Phát triển nhân lực một số ngành, lĩnh vực đặc thù tính đến năm 2015… …14 1.3 Vốn đầu tư cho phát triển nhân lực……….…… …15
2 Nhận định chung về phát triển nhân lực……….15
2.1 Những điểm mạnh……….……….………
….15
2.2 Những điểm yếu……….……….…………162.3 Nguyên nhân và bài học……….………16
3 Mục tiêu và những giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh
2020……… 17
4 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai………
18
Trang 44.1 Phát triển số lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động theongành kinh tế……….……….……… …18
4.2 Bảo vệ và phát triển thể lực nguồn nhân lực……….…………18
4.3 Phát triển trí lực……….……… ……….….…19
4.4 Phát triển nguồn nhân lực trong bộ máy chính trị tỉnh………194.5 Bồi dưỡng và giữ chân nhân tài………21
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong triết học, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn đề con người cóvai trò rất to lớn đối với sự phát triển của thế giới, là vấn đề được các nhà triết giacủa mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu.Trong các hệ thống tư tưởng đó, vấn đề con người trong triết học Mác – Lê ninđược nghiên cứu và trình bày một cách bao quát, đặc sắc và mang tính khoa họcnhất Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạtđộng sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượngsản xuất, mà con người còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội.Đặc biệt khi xã hội loài người ngày càng phát triển và đạt đến trình độ văn minhcao cấp như hiện nay
Đối với một quốc gia bất kỳ, trong các điều kiện và nguồn lực để phát triểnkinh tế - xã hội Nhân tố con người (nguồn nhân lực) luôn giữ một vai trò vô cùngquan trọng trong sự phát triển đó Nguồn nhân lực có dồi dào, có đủ mạnh về trithức để thúc đẩy sự phát triển hay không? Trên thế giới, các quốc gia có nền kinh
tế phát triển mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Tây Âu Đều là những quốcgia có nhân tố con người có trình độ tri thức rất cao để đáp ứng nhu cầu phát triểncông nghiệp và hiện đại hóa đất nước Với các quốc gia chậm phát triển và đangphát triển thì nhân tố con người càng có vai trò quan trong hơn nữa trên tiến trìnhCNH – HĐH đất nước
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang thực hiện mạnh mẽ quátrình CNH và HĐH đất nước Với đà phát triển như vậy thì việc chú trọng nghiêncứu nhân tố con người là một yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Nhà nước
ta phải thực hiện Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩaMác - Lê-nin: Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con ngườicũng luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch
sử xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay luôn chăm lo phát triểnnguồn nhân lực, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996), tại Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
Trang 6độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua, Đảng ta khẳng định: “phát huy nhân tố
con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được Đại hội VIII của Đảng khẳngđịnh với tính chất là chiến lược thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng được chú
trọng Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Nhân lực lại càng là yếu tố số một, là nguồn cội, động lực chính tạo nên lựclượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phươngthức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế Vì thế, muốn đẩynhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách bền vững không thểkhông chăm lo phát triển con người Đảng ta xác định rất rõ rằng, con người vừa làmục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đếnviệc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương
2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể hiện rõ
quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu: “Lấy việc phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”
Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ nhận thức “đáp ứng yêu cầu về con
người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Chăm lo phát triển nguồn lực con người là một định hướng lớn trong chiếnlược phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội X thể hiện
rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ thực
sự là quốc sách hàng đầu Tập trung đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, chấn
hưng giáo dục Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao
Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân lực
từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước ta cơ
Trang 7bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Đại hội XI của Đảng đồng
thời cũng xác định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với
phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Có thể thấy rõ những định hướng
chiến lược của Đảng về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa: Trước hết, gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế - xã hội.
Đại hội XII của Đảng xác định “…phát triển nguồn nhân lực là một trong
mười ba định hướng phát triển lớn để hiện thực hiện mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Cũng như cả nước, tỉnh Đồng Nai chỉ có thể thực hiện thành công CNH HĐH khi phát huy được cao độ nguồn lực con người Thực hiện đường lối, chủtrương của Đảng và các chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ về phát triển nguồnnhân lực, chính quyền Đồng Nai đã quan tâm cụ thể phải trong điều kiện thực tế ởđịa phương mình được thể hiện vào trong việc Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh; kếhoạch trung, dài hạn và hàng năm cỉa nhà nước và cụ thể hóa trong các Chươngtrình phát triển nguồn nhân lực để thực hiện Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh ĐồngNai phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnkinh tế - xã hội Đồng Nai có thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiệnđại hóa hay không điều đó còn tùy thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiếnlược phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trong côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dàiđối với sự phát triển của tỉnh
-Với ý nghĩa đó, sau khi học xong chương trình triết học dành cho học viên
cao học, tôi chọn vấn đề “Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn lực con người của tỉnh Đồng Nai trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa” làm bài tiểu luận Với những hiểu biết cá nhân,
tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhỏ cho lý luận về vấn đề này
Trong nội dung tiểu luận này, trước hết chúng ta nên tìm hiểu Cơ sở lý luận
về vấn đề con người, sau đó mới nghiên cứu vấn đề con người trong CNH – HĐH
và vận dụng phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đồng Nai; cuối cùng là những địnhhướng, giải pháp phát triển nguồn lực con người đồng thời khắc phục những điểmyếu kém trong việc sử dụng người lao động trong CNH – HĐH hiện nay
Trang 10NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận về vấn đề con người
1 Quan điểm về con người
1.1 Một số quan điểm của triết học ngoài Mác xít về con người
1.1.1 Quan điểm của con người trong triết học phương Đông
Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triếthọc nhân loại Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người?Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóngmình, đạt tới tự do? Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – mộtnội dung cấu thành thế giới quan triết học
Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hayvấn đề kia Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triếthọc, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trongviệc lý giải về con người Mặt khác trong khi giải quyết những vấn đề trên, mỗinhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giớiquan, phương pháp luận khác nhau: Duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêuhình
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyếtvấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạtđộng thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người làThiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia) Các nhà tư tưởng củaĐạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tínhngười từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính tự nhiên của con người Sự khácnhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bản tính con người đã
-là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các trường phái triết họcnày trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinhcủa họ
Trang 11Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trường pháitriết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêuhình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết lụân về bản tính Vô ngã, Vôthường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ làmột trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật.
1.1.2 Quan điểm của con người trong triết học phương Tây
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trải quagiai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học về conngười vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học vềcon người trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với nền triết họcphương Đông Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đãlựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con người và các vấn đềkhác có liên quan
Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm vềbản chất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật tronggiới tự nhiên không có gì thần bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất Tiêu biểu làquan niệm của Đêmôcrit về bản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linhhồn của con người Đây cũng là tiền đề phương pháp luận của quan điểm nhân sinhtheo đường lối Êpiquya Những quan niệm duy vật như vậy đã được tiếp tục pháttriển trong nền triết học thời Phục hưng và Cận đại mà tiêu biểu là các nhà duy vậtnước Anh và Pháp thế kỷ XVIII; nó cũng là một trong những tiền đề lý luận chochủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc Trong một phạm vi nhất định, đó cũng
là một trong những tiền đề lý luận của quan niệm duy vật về con người trong triếthọc Mác
Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sửtriết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người Tiêubiểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời Cổ đại Hy Lạp, Đêcáctơtrong nền triết học Pháp thời Cận đại và Hêghen trong nền triết học Cổ điển Đức
Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý
Trang 12tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên Với Platôn, đó là bản chất bất tử củalinh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, với Đêcáctơ, đó là bản tính phi kinhnghiệm (apriori) của lý tính, còn đối với Hêghen, thì đó chính là bản chất lý tínhtuyệt đối
Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coinhững vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triết học
mà tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt
Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có mộthạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triếthọc về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệmtrừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giảinhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng conngười Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vậtbiện chứng của triết học Mác-Lênin về con người
1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất của nó
Triết học Mác xuất phát từ con người, nhưng Mác đã vượt qua quan niệmtrừu tượng về con người để nhận thức con người hiện thực Theo Mác, con người
có đời sống hiện thực và biến đổi cùng với sự biến đổi đời sống hiện thực của nó;trong đó phương thức sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là sự tái sản xuất ratồn tại thể xác của cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất địnhcủa những cá nhân ấy, một phương thức sinh sống nhất định của họ
Chỉ có thể xem xét con người trong đời sống hiện thực mới hiểu được đúngbản chất con người của nó không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá thể conngười Mác đã đi tới quyết định: "trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là tổng hoà những quan hệ xã hội" Gắn con người với hoạt động thực tiễn tức làcon người có mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, chinh phục và cải tạo tự nhiên, bắt
tự nhiên phục vụ đời sống của con người Cũng chính trong quá trình lao động sảnxuất, hoạt động thực tiễn mà con người có mối quan hệ với nhau, hình thành cácmối quan hệ xã hội và mọi quy luật xã hội, và nhờ đó tạo nên xã hội loài người vớicon người hiện thực Đây chính là điểm khác nhau căn bản với triết học trước Mác
Trang 13Mác đã kết luận: "Với tư cách là con người hiện thực, con người vừa là sản phẩmcủa tự nhiên và xã hội, đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên và xã hội" Nóicách khác, chủ nghĩa Mác không hề phủ nhận mặt tự nhiên, gạt bỏ cái sinh vật khixem xét con người, mà xem xét con người như một thực thể sinh học-xã hội Mácviết: con người là một sinh vật có tính loài và xem giới tự nhiên là thân thể vô cơcủa con người vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên.
Bản chất con người được thể hiện trên những nội dung sau:
1.2.1 Con người là thực thể sinh học xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học vàyếu tố xã hội Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tựnhiên Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bảntính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầutiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thânthể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả củaquá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên Tuy nhiên, điềucần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chấtcon người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật làphương diện xã hội của nó Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phânbiệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là
"một động vật có tính xã hội", hoặc con người động vật có tư duy Những quanniệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xãhội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy Vớiphương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người mộtcách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết làlao động sản xuất ra của cải vật chất "Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng
ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con ngườibắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của conngười quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người
đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình" Thông qua hoạt độngsản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ
Trang 14sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên".Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt độngsản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thông quahoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần,phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lậpquan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hộicủa con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Làsản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của conngười luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thốngnhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thểvới môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa quyđịnh phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thứchình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tìnhcảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xãhội giữa người với người Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thểthống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt
xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầusinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhucầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giátrị tinh thần
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữamặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trongmỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người,còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầusinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó,nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trênthống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, conngười tự nhiên - xã hội
1.2.2 Con người là chủ thể của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giớihữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch
Trang 15sử - xã hội C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng conngười là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấy quênrằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũngcần phải được giáo dục" Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghencũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng
và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng.Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham
dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và khôngphải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theonghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử củamình một cách có ý thức bấy nhiêu" Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, conngười hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thờithúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào nhữngđiều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễncủa mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ haitheo mục đích của mình Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ralịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo
ra lịch sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điềukiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và
bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông quahoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợpvới mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Không có hoạt động của con ngườithì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộlịch sử xã hội loài người Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thểtrong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất con người,trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũngphải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người không phải là một hệ thống đóngkín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Mặc dù là
"tổng hoà các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sửvới tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chất con người cũng vận độngbiến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽquy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi củabản chất con người Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực,
Trang 16cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đóchính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theokhuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ýnghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh mộtcách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạtđộng thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trítuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vậtchất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳgiai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
1.2.3 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượtlên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan
hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suyđến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người làquan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trongchừng mực liên quan đến con người Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội củacon người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương vềPhoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cánhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà nhữngquan hệ xã hội"1 Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng,thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xácđịnh, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định.Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ranhững giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trítuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc,thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con ngườimới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳngđịnh bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống conngười Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội;ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xãhội Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho
Trang 17chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cáisinh vật ở con người.
2 Nguồn lực con người (nguồn nhân lực)
Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người Hiện nay cónhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực Theo thuật ngữ trong lĩnh vực laođộng của Bộ Lao động thương binh và xã hội: "Nguồn nhân lực là tiềm năng về laođộng trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xácđịnh trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọngnhất để phát triển kinh tế xã hội" Theo khái niệm này, nguồn nhân lực được xácđịnh bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạtđộng kinh tế - xã hội Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồnnhân lực được hiểu là:
- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các
tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địaphương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể
Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành cácnguồn lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính,nguồn lực trí tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy động mộtcách tối ưu tạo thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểu đạt nhưsau:
Xuất phát từ khái niệm trên ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ thống, mỗimột nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con ngườinằm ở trung tâm hệ thống Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,khoa học công nghệ mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉtồn tại ở dạng tiềm tàng mà thôi Chính con người thông qua hoạt động của mìnhlàm phát triển các nguồn lực khác, sử dụng nó để phát triển xã hội Do đó, nguồnlực con người được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quantrọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực Vì vậy, thực chất chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội là chiến lược phát triển con người và vì con người
- Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền
kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những
Trang 18người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang cóviệc làm và những người thất nghiệp
Qua tiếp cận các khái niệm trên ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thểnhững yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vịthế xã hội v.v… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sửdụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Khi chúng ta nói tớinguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sángtạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội Chúng ta cũng có thể hiểu đầy
đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm phát triển nguồn nhân lực Trong
sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là gia tănggiá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm chocon người trở thành những lao động có những năng lực và phẩm chất mới ngàycàng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình CNH, HĐH ởnước ta hiện nay Do vậy, phát triển nguồn nhân lực còn bao hàm các mặt: giáodục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng cao đời sống vật chất,tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng lao động Pháttriển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn nhân lực với
số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đấtnước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân
3 Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trong lịch sử thế giới, CNH là quá trình phát triển công nghiệp, làm chocông nghiệp chiếm ưu thế trong cơ cấu nền kinh tế, còn trong sản xuất thì pháttriển sản xuất cơ khí, tạo thành cơ sở vật chất của nền sản xuất Quá trình CNHtruyền thống bắt đầu từ công nghiệp nhẹ và kết thúc ở công nghiệp nặng, khi nềnsản xuất có thể tự trang bị máy công cụ, máy làm ra máy
CNH – HĐH là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới Đây khôngchỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắctrong các lĩnh vực đời sống xã hội, làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới
về chất Có thể nói, việc thực hiện và hoàn thành tốt công cuộc CNH – HĐH có ýnghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng hoàn thiện nhiều mặt:
CNH – HĐH làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tăng năngsuất lao động, nhờ đó mà phát triển xã hội về nhiều mặt, góp phần ổn định, ngày
Trang 19càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong cộng đồng xãhội
CNH – HĐH phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các vùng trongphạm vi mỗi nước và các nước với nhau, nâng cao trình độ quản lý kinh tế của Nhànước nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng sản xuất
CNH – HĐH cổ điển coi trọng nguồn lực thiên nhiên, khai thác triệt đểkhoáng sản, đất đai, rừng biển, trong lúc CNH hiện đại không ngừng nâng cao vaitrò của nhân tố con người trong nền sản xuất và đặc biệt trong nền sản xuất vớicông nghệ cao Chỉ trên cơ sở thực hiện tốt CNH – HĐH mới có khả năng thựchiện và quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố con người
CNH – HĐH có vai trò chủ yếu trong việc củng cố và tăng cường tiềm lựcquốc phòng, khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng, cung cấp các yếu tố vậtchất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đó
CNH – HĐH còn tạo nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt sự phân công vàhợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ văn hoá xã hội v.v Vì vậy, có thểnói CNH – HĐH là nhu cầu phát triển tất yếu của các quốc gia Tuy nhiên, mỗinước đều có những mô hình phát triển riêng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và cácđặc trưng về chính trị, kinh tế -xã hội, văn hóa của mình Đặc biệt ngày nay, nhờ
sự giao lưu và hợp tác, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá, con đường công nghiệphoá của nhiều nước khác trước Các nước công nghiệp mới như Singapore, ĐàiLoan, Hàn Quốc đã không hoàn toàn đi theo con đường CNH trong các thế kỷXVIII - XIX
Ở nước ta, quá trình CNH – HĐH được tiến hành trong điều kiện công nghệsản xuất và dịch vụ đang ở nhiều trình độ khác nhau xen kẻ thủ công với cơ khí,điện tử, tự động hoá; tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vậnhành theo cơ chế thị trường Mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá ở Việt Namtrong giai đoạn hiện nay được xác định là: "Xây dựng Việt Nam trở thành mộtnước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đờisống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng và văn minh" (Văn kiện Đại hội VIII) Như vậy, nội dung
Trang 20và tính chất của quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam hiện nay khác biệt cơ bản vớiquá trình và đặc trưng công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Đứctrong các thế kỷ trước với đặc trưng cơ bản là chú trọng nâng cao trình độ pháttriển lực lượng sản xuất công nghiệp (chủ yếu là máy móc, thiết bị); tích luỹ tư bảntrên cơ sở khi thác giá trị thặng dư do lao động tạo ra, khai thác bừa bãi tài nguyênthiên nhiên Đồng thời, cũng không hoàn toàn dập khuôn theo mô hình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước và lãnh thổ công nghiệp mới (NIC) như HànQuốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan trong những thập niên 60 - 80, với nhữngđặc trưng cơ bản là dựa chính vào nguồn đầu tư nước ngoài, phát triển tuần tự từcông nghiệp hoá sang hiện đại hoá, tập trung phát triển nhân lực lao động kỹ thuậtvới năng lực thừa hành, chưa chú ý phát triển năng lực nội sinh của nền kinh tếtrong nước Quá trình CNH – HĐH ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đảm bảo
sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triểnbền vững, trong đó nhân tố con người là trung tâm, kết hợp chặt chẽ giữa CNH –HĐH với những bước đi thích hợp cho từng ngành kinh tế, từng khu vực sản xuất -dịch vụ xã hội và trong vùng địa lí - kinh tế khác nhau
3.1 Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi CNH, HĐH đất nước
Theo quan điểm duy vật biện chứng về xã hội thì sản xuất vật chất là nhân
tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội, trong quá trình sản xuất ấy thì lựclượng sản xuất là yếu tố quyết định Quá trình sản xuất vật chất của nhân loại đãhình thành mối quan hệ tất yếu khách quan và phổ biến, đó là mối quan hệ giữacon người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với giới tự nhiên.Lực lượng sản xuất chính là biểu hiện quan hệ giữa con người với giới tự nhiên.Theo Mác lực lượng sản xuất là một thể thống nhất giữa "một bên là con người vàlao động của con người; bên kia là tự nhiên và vật liệu của tự nhiên thế là đủ".Nhưng với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, con người không thỏa mãnvới những gì đã có sẵn trong tự nhiên mà con người kết hợp lao động của mình vớinhững cái có sẵn tạo ra những cái không có sẵn trong tự nhiên nhằm đáp ứng nhucầu đời sống của mình Vậy, lao động là hoạt động có tính mục đích của con ngườinhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội