1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn lực con người của tỉnh Đồng Nai trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa

21 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 44,58 KB
File đính kèm 7.rar (50 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong triết học, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn đề con người có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của thế giới, là vấn đề được các nhà triết gia của mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu. Trong các hệ thống tư tưởng đó, vấn đề con người trong triết học Mác – Lê nin được nghiên cứu và trình bày một cách bao quát, đặc sắc và mang tính khoa học nhất. Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà con người còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người ngày càng phát triển và đạt đến trình độ văn minh cao cấp như hiện nay. Cũng như cả nước, tỉnh Đồng Nai chỉ có thể thực hiện thành công CNH HĐH khi phát huy được cao độ nguồn lực con người. Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và các chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực, chính quyền Đồng Nai đã quan tâm cụ thể phải trong điều kiện thực tế ở địa phương mình được thể hiện vào trong việc Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh; kế hoạch trung, dài hạn và hàng năm cỉa nhà nước và cụ thể hóa trong các Chương trình phát triển nguồn nhân lực để thực hiện. Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh Đồng Nai phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đồng Nai có thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay không điều đó còn tùy thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dài đối với sự phát triển của tỉnh.

Trang 1

NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận về vấn đề con người

1 Quan điểm về con người

1.1 Một số quan điểm của triết học ngoài Mác xít về con người

1.1.1 Quan điểm của con người trong triết học phương Đông

Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sửtriết học nhân loại Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất conngười? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giảiphóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinhquan – một nội dung cấu thành thế giới quan triết học

Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hayvấn đề kia Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường pháitriết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhautrong việc lý giải về con người Mặt khác trong khi giải quyết những vấn đề trên,mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thếgiới quan, phương pháp luận khác nhau: Duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặcsiêu hình

Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ

- trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giảiquyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác

độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tínhngười là Thiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia) Các nhà tưtưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đềbản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính tự nhiên của conngười Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bảntính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của cáctrường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị,đạo đức và nhân sinh của họ

Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trườngphái triết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độkhác, giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình(Siêu hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết lụân về bản tính Vôngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sựGiác Ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật

Trang 2

Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trảiqua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học

về con người vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt

Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học

về con người trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với nền triếthọc phương Đông Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duyvật đã lựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con người vàcác vấn đề khác có liên quan

Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm

về bản chất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vậttrong giới tự nhiên không có gì thần bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất Tiêubiểu là quan niệm của Đêmôcrit về bản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thểxác và linh hồn của con người Đây cũng là tiền đề phương pháp luận của quanđiểm nhân sinh theo đường lối Êpiquya Những quan niệm duy vật như vậy đãđược tiếp tục phát triển trong nền triết học thời Phục hưng và Cận đại mà tiêubiểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỷ XVIII; nó cũng là một trongnhững tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc Trong mộtphạm vi nhất định, đó cũng là một trong những tiền đề lý luận của quan niệmduy vật về con người trong triết học Mác

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch

sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người.Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời Cổ đại Hy Lạp,Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thời Cận đại và Hêghen trong nền triết học Cổđiển Đức Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lýgiải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên Với Platôn, đó làbản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, với Đêcáctơ, đó làbản tính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính, còn đối với Hêghen, thì đó chính

là bản chất lý tính tuyệt đối

Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coinhững vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triếthọc mà tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt

Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn cómột hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đềtriết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quanniệm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong

lý giải nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải

Trang 3

phóng con người Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quanniệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin về con người

1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất của nó

Triết học Mác xuất phát từ con người, nhưng Mác đã vượt qua quan niệmtrừu tượng về con người để nhận thức con người hiện thực Theo Mác, conngười có đời sống hiện thực và biến đổi cùng với sự biến đổi đời sống hiện thựccủa nó; trong đó phương thức sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là sự tái sảnxuất ra tồn tại thể xác của cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt độngnhất định của những cá nhân ấy, một phương thức sinh sống nhất định của họ

Chỉ có thể xem xét con người trong đời sống hiện thực mới hiểu đượcđúng bản chất con người của nó không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá thểcon người Mác đã đi tới quyết định: "trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hoà những quan hệ xã hội" Gắn con người với hoạt động thực tiễntức là con người có mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, chinh phục và cải tạo tựnhiên, bắt tự nhiên phục vụ đời sống của con người Cũng chính trong quá trìnhlao động sản xuất, hoạt động thực tiễn mà con người có mối quan hệ với nhau,hình thành các mối quan hệ xã hội và mọi quy luật xã hội, và nhờ đó tạo nên xãhội loài người với con người hiện thực Đây chính là điểm khác nhau căn bảnvới triết học trước Mác Mác đã kết luận: "Với tư cách là con người hiện thực,con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, đồng thời vừa là chủ thể cảitạo tự nhiên và xã hội" Nói cách khác, chủ nghĩa Mác không hề phủ nhận mặt

tự nhiên, gạt bỏ cái sinh vật khi xem xét con người, mà xem xét con người nhưmột thực thể sinh học-xã hội Mác viết: con người là một sinh vật có tính loài vàxem giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người vì con người là một bộ phậncủa giới tự nhiên

Bản chất con người được thể hiện trên những nội dung sau:

1.2.1 Con người là thực thể sinh học xã hội

Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học

và yếu tố xã hội Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tựnhiên Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bảntính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầutiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thânthể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả củaquá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên Tuy nhiên, điềucần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản

Trang 4

chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loàivật là phương diện xã hội của nó Trong lịch sử đã có những quan niệm khácnhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công

cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội", hoặc con người động vật có tưduy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnhnào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốccủa bản chất xã hội ấy Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mácnhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiệnthực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất "Có thểphân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất

cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súcvật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó

là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tưliệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đờisống vật chất của mình" Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đãlàm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còncon người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" Tính xã hội của con ngườibiểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểuhiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thông qua hoạt động lao độngsản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sốngcủa mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội.Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người,đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Là sản phẩmcủa tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luônluôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất vớinhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môitrường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa quy địnhphương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hìnhthành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tìnhcảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ

xã hội giữa người với người Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nênthể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học vàmặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống cácnhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn,mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ vàhưởng thụ các giá trị tinh thần

Trang 5

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loàivật Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh conngười, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhucầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.

1.2.2 Con người là chủ thể của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài củagiới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thểcủa lịch sử - xã hội C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩacho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái họcthuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thânnhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục" Trong tác phẩm Biện chứng của tựnhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sửnguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng tháihiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trongchừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra màchúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con ngườicàng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lạicàng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu" Như vậy,với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tựnhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch

sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Conngười thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phúthêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Conngười là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chínhbản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tạicủa con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội.Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt độngvật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp vớimục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Không có hoạt động của con người thìcũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộlịch sử xã hội loài người Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ

Trang 6

thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất conngười, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biếnđổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người không phải là một hệthống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của conngười Mặc dù là "tổng hoà các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cựctrong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chấtcon người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vậnđộng và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)với sự vận động và biến đổi của bản chất con người Vì vậy, để phát triển bảnchất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càngmang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên

và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới cácgiá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó,con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnhtrên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vicon người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luậtnhận thức hướng con người tới hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mốiquan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xãhội loài người

1.2.3 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con ngườivượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tựnhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mốiquan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữangười với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác vàmọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người Bởi vậy, để nhấnmạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trongtác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cáitrừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hoà những quan hệ xã hội"1 Luận đề trên khẳng định rằng,không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội.Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thểnhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt độngthực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại

và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xãhội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan

hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của

Trang 7

mình Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa

là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tựnhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện nhữngnhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất conngười là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúngđắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người

2 Nguồn lực con người (nguồn nhân lực)

Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người Hiện nay

có nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực Theo thuật ngữ trong lĩnh vựclao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội: "Nguồn nhân lực là tiềm năng

về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thểđược xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lựcquan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội" Theo khái niệm này, nguồn nhânlực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể thamgia vào hoạt động kinh tế - xã hội Theo quan niệm của các nhà khoa học ViệtNam thì nguồn nhân lực được hiểu là:

- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các

tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, mộtđịa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể

Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành cácnguồn lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính,nguồn lực trí tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy độngmột cách tối ưu tạo thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểuđạt như sau:

Xuất phát từ khái niệm trên ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ thống,mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực conngười nằm ở trung tâm hệ thống Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vậtchất, khoa học công nghệ mà không được con người phát hiện khai thác thì nóvẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng mà thôi Chính con người thông qua hoạt độngcủa mình làm phát triển các nguồn lực khác, sử dụng nó để phát triển xã hội Do

đó, nguồn lực con người được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồnlực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực Vì vậy, thực chất chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội là chiến lược phát triển con người và vì conngười

- Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong

nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm

Trang 8

những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tếđang có việc làm và những người thất nghiệp

Qua tiếp cận các khái niệm trên ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thểnhững yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức,

vị thế xã hội v.v… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể

sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Khi chúng ta nói tớinguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt độngsáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội Chúng ta cũng có thểhiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm phát triển nguồn nhânlực Trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực đượchiểu là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn,thể lực làm cho con người trở thành những lao động có những năng lực vàphẩm chất mới ngày càng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quátrình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay Do vậy, phát triển nguồn nhân lực còn baohàm các mặt: giáo dục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nângcao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lựclượng lao động Phát triển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằmtạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cánhân

3 Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong lịch sử thế giới, CNH là quá trình phát triển công nghiệp, làm chocông nghiệp chiếm ưu thế trong cơ cấu nền kinh tế, còn trong sản xuất thì pháttriển sản xuất cơ khí, tạo thành cơ sở vật chất của nền sản xuất Quá trình CNHtruyền thống bắt đầu từ công nghiệp nhẹ và kết thúc ở công nghiệp nặng, khinền sản xuất có thể tự trang bị máy công cụ, máy làm ra máy

CNH – HĐH là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới Đâykhông chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cáchmạng sâu sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội, làm cho xã hội phát triển lênmột trạng thái mới về chất Có thể nói, việc thực hiện và hoàn thành tốt côngcuộc CNH – HĐH có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng hoàn thiện nhiềumặt:

CNH – HĐH làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tăngnăng suất lao động, nhờ đó mà phát triển xã hội về nhiều mặt, góp phần ổn định,ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong cộngđồng xã hội

Trang 9

CNH – HĐH phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các vùngtrong phạm vi mỗi nước và các nước với nhau, nâng cao trình độ quản lý kinh tếcủa Nhà nước nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng sản xuất

CNH – HĐH cổ điển coi trọng nguồn lực thiên nhiên, khai thác triệt đểkhoáng sản, đất đai, rừng biển, trong lúc CNH hiện đại không ngừng nâng caovai trò của nhân tố con người trong nền sản xuất và đặc biệt trong nền sản xuấtvới công nghệ cao Chỉ trên cơ sở thực hiện tốt CNH – HĐH mới có khả năngthực hiện và quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố conngười

CNH – HĐH có vai trò chủ yếu trong việc củng cố và tăng cường tiềmlực quốc phòng, khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng, cung cấp các yếu tốvật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đó

CNH – HĐH còn tạo nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt sự phân công

và hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ văn hoá xã hội v.v Vì vậy, cóthể nói CNH – HĐH là nhu cầu phát triển tất yếu của các quốc gia Tuy nhiên,mỗi nước đều có những mô hình phát triển riêng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử

và các đặc trưng về chính trị, kinh tế -xã hội, văn hóa của mình Đặc biệt ngàynay, nhờ sự giao lưu và hợp tác, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá, con đườngcông nghiệp hoá của nhiều nước khác trước Các nước công nghiệp mới nhưSingapore, Đài Loan, Hàn Quốc đã không hoàn toàn đi theo con đường CNHtrong các thế kỷ XVIII - XIX

Ở nước ta, quá trình CNH – HĐH được tiến hành trong điều kiện côngnghệ sản xuất và dịch vụ đang ở nhiều trình độ khác nhau xen kẻ thủ công với

cơ khí, điện tử, tự động hoá; tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phầnkinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường Mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được xác định là: "Xây dựng Việt Nam trởthành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tếhợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh" (Văn kiện Đại hội VIII) Nhưvậy, nội dung và tính chất của quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam hiện nay khácbiệt cơ bản với quá trình và đặc trưng công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu nhưAnh, Pháp, Đức trong các thế kỷ trước với đặc trưng cơ bản là chú trọng nângcao trình độ phát triển lực lượng sản xuất công nghiệp (chủ yếu là máy móc,thiết bị); tích luỹ tư bản trên cơ sở khi thác giá trị thặng dư do lao động tạo ra,khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên Đồng thời, cũng không hoàn toàn dậpkhuôn theo mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước và lãnh thổ

Trang 10

công nghiệp mới (NIC) như Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan trongnhững thập niên 60 - 80, với những đặc trưng cơ bản là dựa chính vào nguồnđầu tư nước ngoài, phát triển tuần tự từ công nghiệp hoá sang hiện đại hoá, tậptrung phát triển nhân lực lao động kỹ thuật với năng lực thừa hành, chưa chú ýphát triển năng lực nội sinh của nền kinh tế trong nước Quá trình CNH – HĐH

ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởngkinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vững, trong đó nhân tố conngười là trung tâm, kết hợp chặt chẽ giữa CNH – HĐH với những bước đi thíchhợp cho từng ngành kinh tế, từng khu vực sản xuất - dịch vụ xã hội và trongvùng địa lí - kinh tế khác nhau

3.1 Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi CNH, HĐH đất nước

Theo quan điểm duy vật biện chứng về xã hội thì sản xuất vật chất lànhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội, trong quá trình sản xuất ấy thìlực lượng sản xuất là yếu tố quyết định Quá trình sản xuất vật chất của nhânloại đã hình thành mối quan hệ tất yếu khách quan và phổ biến, đó là mối quan

hệ giữa con người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, vớigiới tự nhiên Lực lượng sản xuất chính là biểu hiện quan hệ giữa con người vớigiới tự nhiên Theo Mác lực lượng sản xuất là một thể thống nhất giữa "một bên

là con người và lao động của con người; bên kia là tự nhiên và vật liệu của tựnhiên thế là đủ" Nhưng với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, con ngườikhông thỏa mãn với những gì đã có sẵn trong tự nhiên mà con người kết hợp laođộng của mình với những cái có sẵn tạo ra những cái không có sẵn trong tựnhiên nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình Vậy, lao động là hoạt động cótính mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thầncho xã hội

Theo Mác: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và

tự nhiên, quá trình đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gianđiều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" Nói đến sản xuất ravật chất cho xã hội tồn tại và phát triển là phải nói đến hoạt động lao động củacon người Tức là nói đến người lao động; người lao động với sức khỏe, tri thức,

kỹ năng, kinh nghiệm lao động, tiến hành lao động nhằm thực hiện những nhucầu đáp ứng những lợi ích của mình trong những điều kiện kinh tế-lịch sử nhấtđịnh Mác khẳng định: "Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người

đã thay đổi phương thức sản xuất của mình và do thay đổi phương thức sản xuất,cách làm của mình, loài người đã thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của

Ngày đăng: 23/11/2021, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w