1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

đề cương môn địa phương học

21 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 37,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự chuyển biến về kinh tế xã hội của Hải Phòng dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đầu thế kỷ XX Hải Phòng Nằm ở Phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ: Bắc và Đông bắc giáp Quảng Ninh;Tây Bắc giáp Hải Dương; Tây Nam giáp Thái Bình; Đông và Đông Nam giáp Vịnh Bắc Bộ (Cực Bắc thôn Phi Liệt Lại XuânThủy Nguyên; cực Nam thôn Quán KháiVĩnh PhongVB; cực Đông thuộc vịnh Lan Hạ, cực Tây thuộc thôn Oai NỗHiệp HòaVB). Với mạng lưới sông ngòi có mật độ dày đặc, đều là hạ lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình sau khi chảy qua địa phận Hải Dương. Đường bờ biển dài 125km, có 5 cửa sông lớn đổ ra biển: Nam Triệu, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình

Trang 1

Câu 1: Sự chuyển biến về kinh tế -xã hội của Hải Phòng dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đầu thế kỷ XX

Hải Phòng Nằm ở Phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ: Bắc và Đông bắcgiáp Quảng Ninh;Tây Bắc giáp Hải Dương; Tây Nam giáp Thái Bình; Đông vàĐông Nam giáp Vịnh Bắc Bộ (Cực Bắc thôn Phi Liệt- Lại Xuân-Thủy Nguyên;cực Nam thôn Quán Khái-Vĩnh Phong-VB; cực Đông thuộc vịnh Lan Hạ, cực Tâythuộc thôn Oai Nỗ-Hiệp Hòa-VB) Với mạng lưới sông ngòi có mật độ dày đặc,đều là hạ lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình sau khi chảy qua địa phận HảiDương Đường bờ biển dài 125km, có 5 cửa sông lớn đổ ra biển: Nam Triệu, CửaCấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình Địa hình:phong phú,đa dạng (trung du-đồng bằng ven biển), (bờ biển dài, nhiều đảo, có nhiều nguồn lợi, tiềm năng: sắt,kẽm, cao lanh, đá vôi, nước khoáng, muối, cát, sa khoáng…)

Vùng đất mang tên Hải Phòng được hình thành từ rất sớm (di chỉ Cái Bèo,cách nay từ 4000-6000 năm; Tràng Kênh, Núi Voi cách nay từ 2000 năm -3000năm) đã có cư dân sinh sống Đầu công nguyên:nữ tướng Lê Chân chiêu dân lập

ấp ( Trang An Biên - làng Vẻn (“ven”,“rìa”)->“Hải tần phòng thủ”

Hải Phòng có vị trí chiến lược trong quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, là

“phên dậu” phía Đông của đất nước, in đậm dấu ấn trong lịch sử chống giặc ngoạixâm:trận Bạch Đằng(938của Ngô Quyền, 981 của Lê Hoàn,1288 của Trần HưngĐạo)

Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Năm 1872 thực dânPháp đánh Hải Phòng Ngày 31 tháng 8 năm 1874, Pháp buộc triều đình nhàNguyễn ký Thương ước, chính thức hoá việc mở cửa biển Hải Phòng Ngày19.7.1888, thành phố Hải Phòng (nằm trong tỉnh Hải Phòng) được thành lập Ngày1.10.1888 vua Đồng Khánh ký Đạo dụ chuyển Hải Phòng thành "nhượng địa" đặtdưới quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp.Quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng đãdiễn ra qua nhiều thời kỳ gắn liền với quá trình đầu tư khai thác thuộc địa của tưbản Pháp Từ đây Hải Phòng đã trở thành một trong những thành phố quan trọngphục vụ cho chính sách bóc lột của thực dân Pháp ở Đông Dương Để phục vụ chochương trình khai thác, thực dân Pháp đã xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộnối Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh Bắc bộ, Bắc trung bộ Cảng Hải Phòng cũng

Trang 2

được mở rộng để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Năm 1923 đã có 6 hệ thống cầu tầubiển, 01 cầu tầu sông, hệ thống cần cẩu và hệ thống đường ray vận chuyển hàng.Kinh tế Hải Phòng có sự phát triển mạnh theo hướng TBCN.

Sự phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số nhanh đã kéo theo sự thay đổihàng ngày của bộ mặt thành phố Cùng với quá trình đô thị hóa, Hải Phòng trởthành điểm hội cư lớn nhất Bắc Kỳ Nông dân, thợ thủ công từ khắp các tỉnh đổ vềkiếm việc làm trở thành thợ, thủy thủ, phu bốc vác, người buôn bán nhỏ

Do tác động của nền kinh tế TBCN đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp sâu sắctrên địa bàn Hải Phòng - Kiến An Xã hội phong kiến Việt Nam vốn có hai giai cấp

cơ bản là nông dân và địa chủ, thời kỳ này xuất hiện thêm giai cấp và tầng lớp mớivới địa vị và quyền lợi kinh tế khác nhau

Cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, với tư cách là “Cảng lớn của Bắckỳ”, đầu mối giao thông quan trọng trên đường hàng hải quốc tế và là một trungtâm công nghiệp, Hải Phòng đã trở thành một trong những cái nôi đánh dấu sự rađời của giai cấp công nhân và phong trào công nhân Việt Nam đấu tranh chống lại

sự áp bức dân tộc và giai cấp của thực dân tư bản Pháp Là một trong những địaphương đầu tiên của cả nước tiếp nhận và thể nghiệm Chủ nghĩa Mác-Lênin dolãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tryền bá vào trong nước, Hải Phòng có vai trò quan trọngtrong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 1925-1930

Câu 2: Quá trình ra đời và ý nghĩa của việc thành lập tổ chức cộng sản đầu tiên tại Hải Phòng

Từ cuối thế kỷ XIX đã có những cuộc đấu tranh tự phát của công nhân Hải Phòngchống bọn cai, ký đánh đập, ăn chặn tiền công Điển hình là cuộc đình công của côngnhân tàu Xanh-Lui (5/1895) và vụ thuỷ thủ đốt cháy xà lan Phê-níc (11/1897)

Đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranh của công nhân Hải Phòng phát triển mạnh.Năm 1902 đấu tranh chống mộ phu đi Tân đảo Năm 1912 đấu tranh của 500 công nhân

xi măng đòi tăng lương và chống đánh đập Sau cách mạng tháng 10 Nga, Nguyễn ÁiQuốc đã thiết lập đường dây liên lạc để đưa tài liệu, sách báo vào Việt Nam do đồng chíBùi Lâm đứng đầu Hải Phòng là một đầu cầu quan trọng của đường dây ấy Thông qua

Trang 3

các báo "Người cùng khổ", "Nhân đạo", "Đời sống thợ thuyền" và nhiều tài liệu cáchmạng khác mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng bước được truyền bá vào giai cấp côngnhân và các tấng lớp lao động ở Hải Phòng Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về QuảngChâu (Trung Quốc) thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) trực tiếptruyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện về tư tưởngchính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Nguyễn Ái Quốc đã cử Hồ Tùng Mậu vềHải Phòng lập đường dây liên lạc đưa đón thanh niên yêu nước sang Quảng Châu dự cáclớp huấn luyện cán bộ Đầu năm 1927, Tỉnh hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã đượcthành lập, trụ sở tại số 7 ngõ Quảng Lạc, phố Cầu Đất, bí thư là đồng chí Nguyễn TườngLoan Từ tháng 5/1927 nhiều cơ sở Việt Nam cách mạng thanh niên được xây dựng ởHàng Kênh, Vĩnh Khê, Đôn Nghĩa, Cam Lộ, An Lạc Thời gian này tác phẩm "Đườngcách mạng"của Nguyễn A'i Quốc và báo "Thanh niên" của Hội Việt Nam cách mạngthanh niên được đưa vào Hải Phòng ngày càng nhiều, đã làm chuyển biến phong tràocông nhân và phong trào yêu nước tại Hải Phòng Năm 1928-1929, các hội viên hội ViệtNam cách mạng thanh niên thực hiện "vô sản hoá" đã góp phần thúc đẩy phong trào cáchmạng Hải Phòng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Yêu cầu thành lập tổchức cộng sản đang được đặt ra hết sức cấp bách.

Tháng 3 năm 1929, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Bắc kỳ được thành lập tại số nhà 5DHàm Long, Hà Nội Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh là một trong những người sáng lập chi

bộ cộng sản đầu tiên đã xúc tiến xây dựng tổ chức cộng sản ở Hải Phòng Tháng 4/1929,

tổ chức cộng sản đầu tiên ở Hải Phòng được thành lập gồm 3 người: Hoàng Văn Đoài,Nguyễn Hữu Căn và Nguyễn Đức Cảnh (Nguyễn Đức Cảnh là người phụ trách) Cuốitháng 4 chi bộ kết nạp Lương Khánh Thiện và đầu tháng 5 thêm một người nữa

Tổ chức cộng sản đầu tiên tại Hải Phòng ra đời sớm (4/1929) là kết quả tất yếu củaquá trình vận động của phong trào cách mạng ở thành phố trong những năm 20 thế kỷ

XX, Đánh dấu bước ngoặt lịch sử, mở ra thời kỳ mới của phong trào CM thành phố

Là kết quả của quá trình vận động, trưởng thành của phong trào công nhân,phong trào yêu nước của nhân dân HP dưới ánh sáng của CN Mác-Lênin

Khẳng định sự thành công của Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người khichọn cửa khẩu giao lưu quốc tế , nơi tập trung đông đảo công nhân làm nơi thể

Trang 4

nghiệm sự truyền bá CN Mác-Lênin vào VN;,đáp ứng đúng nguyện vọng của độingũ công nhân và nhân dân lao động HP

Tổ chức cộng sản đầu tiên ở Hải Phòng ra đời đã góp phần tích cực vào sự ra đờicủa ĐCSVN,đáp ứng đúng nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngthành phố, là nhân tố quyết định sự phát triển và thắng lợi của phong trào cách mạng HảiPhòng trong những năm sau

Câu 3: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo cuộc chiến đấu 300 ngày giải phóng Hải Phòng (7/1954- 5/1955) và ý nghĩa lịch sử

Sau cách mạng tháng 8/1945 nhân dân Hải Phòng cũng như cả nước gặp phảinhững khó khăn chồng chất do hậu quả của chế độ thực dân phong kiến để lại và thùtrong giặc ngoài câu kết với nhau chống phá cách mạng Chấp hành chủ trương của Đảngtrong Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" Đảng bộ Hải Phòng - Kiến An đã tập trung lãnhđạo:

Củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, củng cố xây dựng Mặt trận vàcác đoàn thể quần chúng Giải quyết các khó khăn nhất là chống giặc đói, giặc dốt Trấn

áp bọn phản động cách mạng và các phần tử phản động, bọn tay sai cho đế quốc Đẩymạnh công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực côngtác

Tháng 7/1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết Theo quy định của Hiệp định HảiPhòng nằm trong khu vực tập kết 300 ngày Với vị thế quan trọng về giao thông gồm bếncảng và nhiều sân bay, Hải Phòng - Kiến An trở thành cầu nối quan trọng giữa 2 miềnNam - Bắc trong thời kỳ này

Mặc dù bị thất bại hoàn toàn trong chiến tranh nhưng thực dân Pháp được sự hỗ trợcủa đế quốc Mỹ đã thực hiện những thủ đoạn hết sức thâm độc nhằm phá hoại cáchmạng nước ta Chúng tăng cường bắt lính, thành lập các tổ chức phản động tuyên truyềnxuyên tạc nội dung Hiệp định Giơnevơ, cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam, di chuyểnmáy móc, phá hoại tài sản và các cơ sở kinh tế của ta tại Hải Phòng Trước âm mưu vàthủ đoạn thâm độc của kẻ thù đòi hỏi Đảng bộ Hải Phòng- Kiến An phải có sự lãnh đạođúng đắn và thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Từ ngày 18-20/9/1954 Hội nghị Thành

ủy mở rộng xác định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Hải Phòng là: Chống cưỡng ép di

Trang 5

cư, chống di chuyển và phá hoại tài sản, chống bắt lính và vận động binh sỹ nguỵ trở vềgia đình, quê hương Để làm tốt nhiệm vụ ấy phải gấp rút xây dựng, phát triển cơ sở, kiệntoàn hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể, tăng cường nhiều cán bộ chủchốt nội thành Thực hiện chủ trương của Thành uỷ với phương châm "thuyết phục làchính", cán bộ và bộ đội toả về các làng Thiên Chúa giáo, các trại tập trung di cư tuyêntruyền giải thích cho đồng bào về đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ Các làngCông giáo ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Kiến Thuỵ lập các tổ chức "quyết tâm ở lại"động viên giúp nhau ở lại xây dựng quê hương Với khẩu hiệu "Hoà bình không đi lính",các tổ chức công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ đã tổ chức gần 40 cuộc đấu tranh chống bắtlính làm thất bại âm mưu của kẻ thù.

Song song với cuộc đấu tranh trên, cuộc đấu tranh chống di chuyển, phá hoại máymóc, tài sản được giai cấp công nhân và nhân dân nội thành, nội thị thực hiện có kết quả.Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 28/4/1955 ta tiếp quản huyện An Dương, ngày08/5/1955 tiếp quản Hải An, ngày 10/5/1955 tiếp quản Tỉnh lỵ Kiến An, ngày 13/5/1955tiếp quản thành phố Hải Phòng Ngày 14 và 15/5/1955 tiếp quản Cát Bà vị trí cuối cùngcủa thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam, miền Bắc nước ta đã hoàn toàn giải phóng.Thắng lợi của cuộc đấu tranh 300 ngày là kết quả của sự lãnh đạo của Thành ủy HảiPhòng, tỉnh ủy Kiến An, trực tiếp là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân Hải Phòng

- Kiến An

Câu 4: Đảng bộ Hải Phòng lãnh đạo xây dựng thành phố theo con đường XHCN, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam (1955 - 1975) - kinh nghiệm và ý nghĩa lịch sử?

Sau ngày giải phóng, Hải Phòng-Kiến An gặp rất nhiều khó khăn do chế độ

cũ và chiến tranh để lại Công nghiệp và thương nghiệp bị thu hẹp, thậm chí đìnhđốn, vùng nông thôn Kiến An và ngoại thành Hải Phòng xơ xác, tiêu điều Là đầumối giao thông, song luồng lạch, cảng biển không được nạo vét, đường sá xuốngcấp nghiêm trọng, giao thông ách tắc…Tình hình văn hoá-xã hội khá phức tạp;nhiều tệ nạn do chế độ cũ để lại; hàng vạn công nhân, lao động không có việclàm…Các lực lượng phản động vẫn tiếp tục nuôi âm mưu phá hoại lâu dài cáchmạng Việt Nam, trong đó, Hải Phòng là một trọng điểm

Trang 6

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sức lao động dồi dào, trí thông minh sángtạo, phát huy khả năng thế mạnh của địa phương, Đảng bộ, chính quyền, quân vàdân Hải Phòng-Kiến An đã đoàn kết, nhất trí, từng bước xây dựng thành phố, tạonên những thay đổi cơ bản trên các mặt, văn hoá và đời sống của nhân dân nângcao, đạt được những thành tựu quan trọng.

I KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Về xây dựng và phát triển công nghiệp:

Năm 1955 chỉ có 8 xí nghiệp thì đến năm 1975 thành phố Hải Phòng đã cótrên 100 nhà máy lớn của Trung ương và địa phương, 250 hợp tác xã thủ côngnghiệp, vận tải, đánh cá và xây dựng Những năm chống chiến tranh phá hoại vàphong tỏa bằng không quân và hải quân với mức độ huỷ diệt của đế quốc Mỹ, HảiPhòng vẫn xây dựng thêm 29 nhà máy, xí nghiệp quốc doanh Nhiều cơ sở sản xuấtmới được phục hồi, mở rộng như: mở rộng Cảng, mở rộng Nhà máy Xi măng, xâydựng Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, cơ khí Duyên Hải, thuỷ tinh, nhựa Thiếu niêntiền phong Đội ngũ lao động quốc doanh tăng gấp 33 lần so với năm 1955; trên 21ngàn thợ thủ công Cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế có trình độ đại học trở lên tănggần 300 lần Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1965 tăng 2.158% so với năm

1955 là năm mới tiếp quản thành phố

Giao thông vận tải đặc biệt phát triển với tốc độ nhanh về đường sắt, đườngsông - biển, đường bộ có hàng trăm cây số đường mới, đường nông thôn Cảng HảiPhòng mở rộng, tăng thêm kho hàng, cầu bến và trang thiết bị xếp dỡ Ngay nămđầu tiên sau giải phóng, Cảng Hải Phòng đã nạo vét gần 2 triệu m3 đất, tạo điềukiện cho hoạt động của Cảng trở lại bình thường

Hàng năm bình quân có trên 400 tàu của các nước đến cảng Hải Phòng Sảnlượng xếp dỡ hàng hoá tăng gấp 15 lần so vơi thời kỳ mới giải phóng Tàu ViệtNam trọng tải 5.000 tấn, 10.000 tấn từ cảng Hải Phòng đi nhiều nước trên thế giới

2 Sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp từng bước ổn định và phát triển:

Đã quy hoạch, xây dựng lại hệ thống đồng ruộng, thuỷ lợi; đưa sản xuất từ 1

vụ lên 2 vụ chính, phá thế độc canh, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất câytrồng, vật nuôi Tới năm 1975, Hải Phòng có 92% số hộ vào hợp tác xã; 332 hợptác xã, hầu hết là hợp tác xã bậc cao, trong đó 71 hợp tác xã quy mô toàn xã; 5

Trang 7

nông trường quốc doanh trồng lúa, cói, chăn nuôi; 96% số hợp tác xã được trang bị

cơ khí nhỏ với 3.925 máy các loại; 107 hợp tác xã sử dụng điện phục vụ sản xuất

Đê điều thường xuyên được bồi trúc đã cơ bản đảm bảo tưới tiêu trong nôngnghiệp và phòng chống bão lụt Năng suất lúa từ 1,7 tấn/ha (năm 1955) tăng lêngần 5 tấn/ha (năm 1974) Có nhiều huyện đạt 5 tấn và hàng chục hợp tác xã đạt 6tấn đến 7 tấn/ha Nhiều nhân tố trong nông nghiệp xuất hiện như Phục Lễ (ThuỷNguyên), Cổ Am (Vĩnh Bảo)…; đã tiến bộ đáng kể về trang bị cơ sở vật chất, làm

ăn có hiệu quả Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ngày càng đông, gồm 233 người(67 đại học và 166 trung cấp kỹ thuật)

Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi Điện đã về tới hầu hết các xã phục vụsản xuất và sinh hoạt (trừ các xã ngoài hải đảo) Đường làng được mở rộng, látgạch hoặc rải đá răm Nhiều gia đình đã xây nhà ngói Những chuyển biến tích cựctrên đã phản ánh rõ nét mức cải thiện về đời sống vật chất, tinh thần ở nông thôn

Ngành cá: Năm 1960, Hải Phòng mới có 5 hợp tác xã đánh cá; Năm 1965tăng lên 33 hợp tác xã và năm 1974 là 27 hợp tác xã lớn Đã xây dựng lực lượngđánh cá đông đảo, với lực lượng lao động trên 5.000 người; được trang bị phươngtiện hiện đại Đoàn tàu đánh cá Hạ Long với hàng chục tàu đánh cá cỡ lớn có rađa

dò luồng cá, 47 tàu loại nhỏ, hàng trăm thuyền lắp máy và trên 2.000 thuyền buồm.Đội ngũ cán bộ khoa học Ngành cá không ngừng phát triển Năm 1955 không có

kỹ sư; năm 1973 có 10 cán bộ đại học, 17 cán bộ trung cấp kỹ thuật và 92 côngnhân kỹ thuật Sản lượng đánh bắt tăng hàng năm Năm 1961 đạt 11.886 tấn, năm

1974 đạt 15.500 tấn

3 Về Thương nghiệp, dịch vụ:

Mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã sớm hình thành và pháttriển thành một lực lượng mạnh mẽ chiếm vị trí chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tếquốc dân Ngoại thương phát triển mạnh Hải Phòng có hàng trăm mặt hàng xuấtkhẩu như thảm len, thảm cói, hàng thêu đan, hàng tiêu dùng, mỹ nghệ, các sảnphẩm từ nông nghiệp, hải sản Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ, ngành thương nghiệp tổ chức tốt nhiều cửa hàng, xe lưu động đưa hànghoá xuống cơ sở, phục vụ tích cực và có hiệu quả sản xuất, chiến đấu và đời sốngnhân dân

Trang 8

Các hoạt động tài chính ngân hàng có nhiều tiến bộ, đóng góp quan trọngvào việc thúc đẩy phát triển kinh tế của thành phố.

4 Về xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị:

Thành phố đã xây dựng hàng ngàn công trình trên diện tích rộng lớn, baogồm 72 nhà máy, xí nghiệp, 19 bệnh viện, 405 trường học, 18 công trình văn hoácông cộng Nhiều khu nhà ở tập thể cho cán bộ, công nhân được xây mới như ởCầu Tre, Đồng Quốc Bình, An Đà, Cát Bi Tổng số vốn đầu tư của địa phương lêntới hàng trăm triệu đồng; riêng năm 1974, tăng gấp trên 100 lần so với năm 1955.Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IV khẳng định:

"Công tác xây dựng cơ bản đã chú ý tập trung vào khôi phục và phát triển sản xuất,sửa chữa và xây dựng nhà ở, trường học, bệnh viện, góp phần sớm ổn định sảnxuất và giải quyết được một phần khó khăn về nhà ở của nhân dân"

Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, Hải Phòng là một trọng điểmđánh phá của địch Nhiều nhà máy, công trình, cảng, đường giao thông, cầu phà vàkhu dân cư bị huỷ diệt Sau các cuộc đánh phá ác liệt của địch, nhân dân HảiPhòng lại tập trung lực lượng khôi phục, xây dựng lại những công trình bị phá huỷ,hàng vạn mét vuông nhà ở, đảm bảo giữ vững sản xuất và ổn định đời sống nhândân

II- XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA – XÃ HỘI

1 Giáo dục và đào tạo:

Giáo dục phổ thông phát triển rất nhanh Năm học 1955-1956, Hải Phòng vàKiến An có 1 trường trung học tư thục và hơn 100 trường phổ thông cơ sở; họcsinh phổ thông có 34.071 em Năm học 1974-1975 đã có 405 trường học, học sinhtăng tới 296.092 em

Bên cạnh đó, còn hàng vạn học sinh mẫu giáo, hàng chục trường trung học,công nhân kỹ thuật, trường đại học và các trường bổ túc văn hoá Đội ngũ giáoviên phổ thông từ 616 người (1955-1956) tăng lên 10.126 người (1974-1975)

Phong trào bổ túc văn hoá cũng phát triển nhanh Qua đó, thành phố đãthanh toán nạn mù chữ cho hàng vạn người, tạo cơ sở cho việc nâng cao trình độvăn hoá của nhân dân

Trang 9

2 Lĩnh vực Y tế:

Phong trào vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân phát triển rộng Mạng lưới y

tế khám chữa bệnh - phòng bệnh đã phát triển đến thôn xóm, đường phố và côngtrường xây dựng, kịp thời dập tắt dịch bệnh phát sinh, khắc phục các bệnh do xãhội cũ để lại

Năm 1955 có 5 bệnh viện, 20 trạm y tế, 820 giường bệnh Cả thành phố có 4bác sĩ, 18 y sĩ, 103 y tá, 21 nữ hộ sinh, 3 dược sĩ Năm 1974 số lượng bệnh việntăng gấp 3,2 lần; trạm y tế tăng gấp 9,25 lần; bác sĩ tăng gấp 58 lần; y tá tăng gấp

29 lần; dược sĩ cao cấp tăng gấp 71,5 lần Đặc biệt trong chống chiến tranh pháhoại của đế quốc Mỹ, ngành y tế đạt những thành tích xuất sắc, đảm bảo tốt việcphòng bệnh, chữa bệnh, nhất là cấp cứu phòng không nhân dân

3 Văn hoá - nghệ thuật - thể dục thể thao:

Các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao có bước phát triển khá,bám sát và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần nâng cao đời sống tinh thần vàvật chất cho nhân dân, xây dựng con người mới, xây dựng nếp sống văn minh, luônluôn nhiệt tình với nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc và học tập vì sự nghiệp xâydựng thành phố, xây dựng đất nước XHCN

III ANH DŨNG CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN TO LỚN VÀO SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Hải Phòng là thành phố Cảng lớn nhất miền Bắc, tiếp nhận phần lớn hàngviện trợ quốc tế và là căn cứ xuất phát của "đường Hồ Chí Minh trên biển" Vì vậy,trong các cuộc leo tháng đánh phá miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tập trung đánh phá ácliệt Hải Phòng, tiến hành phong toả Cảng, nhằm huỷ diệt đầu mối giao thông vậntải, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, của quốc tế với ViệtNam

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ ChíMinh, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng đã dũng cảm chiến đấu, phát huy sứcmạnh của chiến tranh nhân dân, đánh thắng chiến tranh phá hoại, phong toả Cảngcủa không quân và hải quân Mỹ, giữ vững mạch máu giao thông, tiếp nhận, vậnchuyển hàng chục triệu tấn trang thiết bị quân sự, hàng hoá phục vụ chiến trường

Trang 10

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hải Phòng đã tập trungcao độ chi viện cho tiền tuyến, luôn luôn dành cho đồng bào miền Nam tình cảmsâu sắc và hành động thiết thực nhất với tinh thần “Vì đồng bào miền Nam ruộtthịt”, “Vì Đà Nẵng-Gò Công kết nghĩa” Đảng bộ, nhân dân Hải Phòng đã độngviên, tiễn đưa hàng chục vạn thanh niên xung phong ra chiến trường đánh giặc.Trong đó, hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giảiphóng và bảo vệ Tổ quốc.

Để ghi nhận, biểu dương những thành tích xuất sắc của Đảng bộ, quân vàdân Hải Phòng, Bác Hồ đã 3 lần gửi thư khen và tặng cờ luân lưu "Quyết tâm đánhthắng giặc Mỹ xâm lược" Đảng và Nhà nước trao tặng thành phố Huân chươngĐộc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến cônghạng nhất và đặc biệt, năm 1985, thành phố được vinh dự đón nhận Huân chươngSao vàng Lực lượng vũ trang thành phố, 66 tập thể và 17 cá nhân được Đảng vàNhà nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Năm

1994, Nhà nước phong tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho 407 bà mẹ.Hai mươi năm (1955-1975) là thời kỳ lịch sử sôi động, hào hùng những cũngnhiều khó khăn thử thách Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng,Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng đã nỗ lực phấnđấu, giành được nhiều thắng lợi to lớn trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiếnlược, đặc biệt là trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, phong toả của đếquốc Mỹ, giữ vững sản xuất, ổn định đời sống, tích cực đóng góp sức người, sứccủa cho tiền tuyến, làm tròn trách nhiệm của thành phố Cảng, hoàn thành nhiệm vụđối với đất nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miềnBắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…

Từ ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

mà Hải Phòng là một trọng điểm đánh phá, nhân dân Hải Phòng cùng nhân dân cảnước thực hiện chuyển hướng xây dựng kinh tế vừa tiếp tục xây dựng CNXH vừatrực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và chi viện cho nhân dân miền Nam

Mỹ đưa quân viễn chinh, quân chư hầu, vũ khí và phương tiện chiến tranh vàomiền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ Chúng liều lĩnh dùng không quân và hảiquân đánh phá miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam,

Ngày đăng: 24/11/2020, 20:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w