Phân tích các công cụ quản lý hàng hóa nhập khẩu,liên hệ với thực tiễn của Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế. nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế củamỗi quốc gia người ta sử dụng nhiều công cụ và nhiều biện pháp khác nhau: Các công cụ và biện pháp mang tính chất kinh tế , các công cụ và biện pháp mang tính chất hành chính, các công cụ và biện pháp mang tính chất kỹ thuật. Dưới đây sẽ đề cập đến nội dung và hình thức của một số công cụ được áp dụng phổ biến trong thực tế. công cụ thuế quan công cụ phi thuế quan Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 6 đầu năm 2015 đạt 28,79 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% so với tháng trước. Trong đó xuất khẩu là 14,33 tỷ USD tăng 4,6% so với tháng trước và nhập khẩu là 14,47 tỷ USD, giảm 3,2% và kết quả là trong tháng 6, cán cân thương mại hàng hóathâm hụt 140 triệu USD. Như vậy, trong nửa đầu của năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 158,6 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 77,77 tỷ USD, tăng 9,3% và nhập khẩu đạt 80,84 tỷ USD, tăng 16,7% dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2015 ở mức 3,07 tỷ USD.
Trang 1B GIAO THÔNG Ộ V N T I Ậ Ả
NAM
KHOA: KINH TẾ
BÀI THU HOẠCH
MÔN: QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài: “ Phân tích các công cụ quản lý hàng hóa nhập khẩu,
liên hệ với thực tiễn của Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế.”
Giáo viên hướng dẫn: Dương Văn Bạo
Sinh viên:
Lớp: QLKT
Năm học:2018
MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan của xãhội, xuất phát từ bản thân quá trình phát triển của thế giới với những yếu tố tácđộng cơ bản là sự phát triển của lực lượng sản xuất , của khoa học công nghệ vàkinh tế thị trường Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã thực hiện chínhsách mở cửa nền kinh tế với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trongquan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực.Một trong những hoạt động thương mại giúp chúng ta mở rộng quan hệ với cácnước, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển là hoạt động xuấtnhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu tăng từng năm đã nâng cao mức sốngcho toàn dân, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, nâng vị thế của đấtnước lên tầm cao mới.Xuất khẩu, nhập khẩu luôn tồn tại song song với nhau và
có vai trò quan trọng như nhau đối với nền kinh tế đất nước Trong đó, lĩnh vựcnhập khẩu thể hiện mức độ phát triển của đất nước, phản ánh mức sống củangười dân, một đất nước có đời sống và mức thu nhập của người dân càng cao sẽcàng có nhiều hoạt động nhập khẩu hàng hoá Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề
này, em xin chọn chuyên đề: “ Phân tích các công cụ quản lý hàng hóa nhập
khẩu, liên hệ với thực tiễn của Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế.” để
làm bài tập lớn môn kinh tế quốc tế
Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,… của Nhà nước đối với vấn
đề nhập khẩu hàng hóa Đề tài chủ yếu tập trung vào việc quản lý hàng nhậpkhẩu, từ đó tìm hiểu xem bằng các công cụ quản lý Nhà nước tác động như thếnào đối với tình hình nhập khẩu của đất nước
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ QUẢN LÝ HÀNG HÓA
NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm nhập khẩu
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với sự phát triển của nền sảnxuất.Sản xuất cũng phát triển thì mối quan hệ kinh tế giữa người sản xuất vớingười sản xuất, người sản xuất với người tiêu dung và giữa những người tiêudung với nhau ngày càng phát triển và diễn ra ngày càng phức tạp Khi sản xuất
xã hội phát triển đến trình độ nhất định, các mối quan hệ kinh tế phát triển khôngchỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn vươn ra bên ngoài, tạo nên các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế Hoạt động nhập khẩu là một hoạt độngquan trọng của thương mại quốc tế, tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sốngtrong nước
Xu thế toàn cầu hóa xuất hiện và phát triển như một tất yếu khách quan do
sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ,công cụ sản xuất và năng suất lao độngngày càng cao hơn Sự phát triển đó đã phá vỡ khuôn khổ chật hẹp của nền sảnxuất khép kín, làm cho tiêu dùng và sản xuất của các nước mang tính chất quốc
tế Hàng nhập khẩu cạnh tranh trên thị trường sẽ kích thích các nhà sản xuấttrong nước cải tiến kỹ thuật và công nghệ để tạo chỗ đứng vững chắc trên thịtrường Hoạt động nhập khẩu cũng tạo điều kiện thúc đẩy nhanh cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Theo lý luận thương mại quốc tế, nhập khẩu là việc quốc gia này mua
hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước
1.2.Các công cụ quản lý hàng hóa nhập khẩu
Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế củamỗi quốcgia người ta sử dụng nhiều công cụ và nhiều biện pháp khác nhau: Các công cụ
và biện pháp mang tính chất kinh tế , các công cụ và biện pháp mang tính chấthành chính, các công cụ và biện pháp mang tính chất kỹ thuật Dưới đây sẽ đề
Trang 5cập đến nội dung và hình thức của một số công cụ được áp dụng phổ biến trongthực tế.
1.2.1.Công cụ thuế quan
Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu haynhập khẩu của mỗi quốc gia Thuế quan bao gồm thuế quan xuất khẩu và thuếquan nhập khẩu
Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu,theo đó người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu mộtkhoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc nhận được
Theo đó, Thuế nhập khẩu làm cho giá cả của hàng hóa nhập khảu sẽ cao hơnmức giá cả quốc tế của hàng hóa đó, hay là làm cho giá cả của các mặt hàngtương tự sản xuất trong nước thấp hơn một cách tương đối
Thuế quan có thể được tính với nhiều hình thức khác nhau: Tính theo mộtđơn vị vật chất của hàng hoá, hoặc là tính theo giá trị hàng hoá… Thuế quan hỗnhợp là thuế quan vừa tính theo một tỷ lệ phần trăm so với giá trị hàng hoá vừacộng với một mức thuế tính theo một đơn vị vật chất của hàng hoá
Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc tế
và là một phương tiện truyền thống để làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhànước.Không những thế, thuế quan còn có vai trò quan trọng trong việc bảo hộcác ngành công nghiệp non trẻ mới được hình thành chưa có khả năng cạnh tranhtrên thị trường thế giới
1.2.2.Công cụ phi thuế
A.Hạn ngạch xuất, nhập khẩu (Quota)
Hạn ngạch :Là một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan Nó đượchiểu là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay haymột nhóm hàng được phép xuấy hoặc nhập khẩu từ một thị trường trong một thờigian nhất định, thông qua hình thức cấp giấy phép ( Quota xuất, nhập khẩu)Quota nhập khẩu là hình thức phổ biến hơn, còn quota xuất khẩu ít sử dụng và nócũng tương đương với biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Trang 6Hạn ngạch nhập khẩu đưa tới sự hạn chế số lượng nhập khẩu , đồng thờigây ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hoá về điều này tác động của nó tươngđối giống thuế quan nhập khẩu Hạn ngạch nhập khẩu có tác dộng khác thuếquan nhập khẩu ở hai điểm:
Một là nó đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tác dụng hỗ trợ chocác loại thuế khác Song hạn ngạch có thể đưa lại lợi nhuận rất lớn cho nhữngngười xin được giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch (dẫn tới hiện tượng tiêu cựckhi xin hạn ngạch nhập khẩu)
Hai là, nó có thể biến một doanh nghiệp trong nước thành một nhà độcquyền Đó cũng là lý do cho rằng hạn ngạch có tác hại nhiều hơn thuế quan.Song điều này có thể giải quyết bằng cách thực hiện bán đấu giá giấy phép nhậpkhẩu theo hạn ngạch
Tóm lại, hạn ngạch nhập khẩu mang tính chắc chắn hơn là thuế nhập khẩunên một số nhà sản xuất nội địa ưa thích nó hơn, những người tiêu dùng lại bịthiệt thòi nhiều hơn, còn người được hưởng lợi nhiều nhất là nhà nhập khẩu chứkhông phải là Nhà nước Thông thường, người ta chỉ quy định hạn ngạch nhậpkhẩu cho một số loại mặt hàng đặc biệt hay cho mặt hàng với thị trường đặc biệt.Hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và theo khoảngthời gian nhất định
Hiện nay, công cụ này không còn được sử dụng nhưng khi nghiên cứu, nóvẫn được xem xét như một trong những công cụ hữu hiệu để quản lý hàng nhậpkhẩu
B Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Biện pháp này cũng là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan.Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo đómột quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàngxuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện nếu không họ sẽ áp dụng biệnpháp trả đũa kiên quyết
Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó cũng có tác động kinh tế nhưmột hạn ngạch xuất khẩu tương đương.Tuy nhiên hạn ngạch xuất khẩu mang tính
Trang 7chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước hoặc nguồn tàinguyên trong nước, còn hạn chế xuất khẩu tự nguyên thực ra lại mang tính miễncưỡng và gắn với những điều kiện nhất định.Hình thức này thường áp dụng chocác quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó.
C Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Đây là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường an toàn lao động ,bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòngdịch đối với động và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinhthái đối với các máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ…
Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội vàphản ánh trìnhđộ phát triển đạt được của nền văn minh nhân loại.Tuy nhiên trênthựctế người ta thường khéo léo sử dụng các quy định này một cách thiên lệchgiữa các công ty trong nước và các công ty nước ngoài và biến chúng thành công
cụ cạnh tranh có lợi cho nước chủ nhà trong quan hệ thương mại quốc tế.Về mặtkinh tếnhững quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước, hạnchế và làm méo mó dòng vận động của hàng hoá trên thị trường thế giới
D.Biện pháp khác
Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp quản lý hàng hóa nhập khẩukhác như Cấp giấy phép nhập khẩu, tức là việc nhập khẩu hàng hóa phải được cơquan nhà nước có thẩm quyền quản lý bằng cách cấp phép cho các nhà kinhdoanh giấy phép nhập khẩu Thông qua giấy phép, Nhà nước có thể can thiệptrực tiếp vào khối lượng hàng nhập khẩu cũng như thị trường, lãnh thổ có lợihoặc bất lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động ngoại thương Chế độ giấyphép nhập khẩu thường được áp dụng kết hợp với định mức số lượng hàng nhậpkhẩu và quản lý ngoại hối
Trang 8CHƯƠNG 2:LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM TRONG XU
HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 2.1.Tình hình nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn từ 2009-2015
2.1.1 Đánh giá chung
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 6 đầu năm 2015 đạt 28,79 tỷ USD, tăngnhẹ 0,5% so với tháng trước Trong đó xuất khẩu là 14,33 tỷ USD tăng 4,6% sovới tháng trước và nhập khẩu là 14,47 tỷ USD, giảm 3,2% và kết quả là trongtháng 6, cán cân thương mại hàng hóathâm hụt 140 triệu USD
Như vậy, trong nửa đầu của năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hànghóa của Việt Nam đạt hơn 158,6 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, xuất khẩu đạt 77,77 tỷ USD, tăng 9,3% và nhập khẩu đạt 80,84 tỷUSD, tăng 16,7% dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa trong 6 thángđầu năm 2015 ở mức 3,07 tỷ USD
2.1.2 Nhập khẩu theo loại hình doanh nghiệp
Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tổngkim ngạch xuất nhập khẩu trong 6 tháng năm 2015 là 100,7 tỷ USD, tăng 22% sovới cùng kỳ năm trước và chiếm 63,5% trong tổng trị giá xuất nhập khẩu hànghóa của cả nước Trong khi đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của khối cácdoanh nghiệp trong nước chỉ đạt gần 57,9 tỷ USD, tương đương mức xuất nhậpkhẩu thực hiện được trong cùng kỳ năm 2014
Nhập khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 6 tháng/2015 là48,17 tỷ USD, tăng 23,8%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của khối doanhnghiệp trong nước Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm hàng sau: máy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện (tăng 2,75 tỷ USD); máy móc thiết bị, dụng cụ và phụtùng (tăng 3,08 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện (tăng 1,22 tỷ USD).Trị giá nhập khẩu hàng hóa của khối các doanh nghiệp trong nước trong 6tháng năm 2015 là 32,67 tỷ USD, tăng 7,7% Trong đó, tăng ở một số nhóm hàng
Trang 9sau: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 686 triệu USD; sắt thép các loạităng 571 triệu USD; vải các loại tăng 113 triệu USD… Bên cạnh đó, nhập khẩuxăng dầu các loại của khối doanh nghiệp này giảm tới 1,39 tỷ USD (do đơn giánhập khẩu bình quân giảm mạnh 64% trong khi lượng tăng 10,9%).
2.1.3 Thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
Trong 2 quý đầu của năm 2015, tổng trị giá trao đổi hàng hóa của Việt Namvới đối tác thương mại châu Á là gần 105 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳnăm 2014 và tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (66,2%) trong tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu cả nước Tiếp theo là xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nướcchâu Mỹ đạt kim ngạch 26,22 tỷ USD, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước; vớichâu Âu đạt 21,86 tỷ USD, tăng 7,9%; châu Đại Dương đạt gần 2,95 tỷ USD,giảm 9,4%; châu Phi đạt 2,14 tỷ USD, tăng 21,8%
Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng hóa của nước ta trong 6tháng đầu năm 2015 với 38,12 tỷ USD; tiếp theo là châu Mỹ với 19,72 tỷ USD;châu Âu là 16,53 tỷ USD; châu Đại Dương là 1,74 tỷ USD và châu Phi là 1,67 tỷUSD Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu hàng hóa từ các nước Châu Á đạt mức66,53 tỷ USD chiếm gần 83% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước;với châu Mỹ, châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi lần lượt là 6,5 tỷ USD; 5,3
tỷ USD; 1,21 tỷ USD và 0,94 tỷ USD
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất cung cấp hàng hóa vào ViệtNam trong 4 tháng đầu năm 2015 với trị giá là 24,22 tỷ USD, tăng 23,2% so vớicùng kỳ năm 2014 Nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc cũng đạt mức khá cao với17,73 tỷ USD, tăng 31%, tiếp theo là ASEAN với 11,91 tỷ USD tăng 5,3%…
Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam Nhập khẩu năm
2009 là 1879,9 triệu USD, năm 2004 là 3698 triệu USD Đồng thời, Việt Namluôn luôn ở vị thế nhập siêu ngày một lớn với Hàn Quốc: năm 2009 là 1.123,3triệu USD, đến năm 2014 là 2792,1 triệu USD, lớn nhất trong các nước và vùnglãnh thổ
Trang 10Đài Loan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam.Năm 2009 là2.694,3 triệu USD, năm 2014 là 3.618,5 triệu USD
Thái Lan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam với kim ngạchnăm 2014 lên đến 1858 triệu USD và nhập siêu từ đây cũng đã lên đến 1.367,1triệu USD, lớn thứ 5 trong các nước và vùng lãnh thổ
Singapore là thị trường nhập khẩu lớn thứ 5, hiện đã vượt mức 1,2 tỷ USD.Nhập siêu từ đây cũng lớn thứ 5, lên tới 613,6 triệu USD
Mỹ là thị trường nhập khẩu đứng thứ 6 với kim ngạch 1127,4 triệu USD.Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam luôn luôn ở vị thế xuất siêu, với mứcxuất siêu lớn và liên tục tăng lên (năm 2009 là 369,4 triệu USD, năm 2015 là3364,9 triệu USD)
Hồng Kông là thị trường nhập khẩu lớn thứ 7 của Việt Nam, hiện đã đạt1074,7 triệu USD Trong quan hệ buôn bán với Hồng Kông, Việt Nam luôn luôn
ở vị thế nhập siêu, hiện đã ở mức 695 triệu USD, lớn thứ 6 trong các nước vàvùng lãnh thổ
Ngoài 7nước trên, còn có một số nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam nhậpkhẩu vượt 500 triệu USD như Đức, Liên bang Nga, Inđônêxia, Thụy Sỹ, Pháp.Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuấtkhẩu sang châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á
2.1.4 Một số mặt hàng nhập khẩu chính
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trị giá nhập khẩu nhóm hàngnày trong tháng là 2,55 tỷ USD, tăng 2,9% so với tháng trước, nâng trị giá nhậpkhẩu trong 6 tháng/2015 lên gần 13,96 tỷ USD, tăng cao 36,4% so với 6tháng/2014; trong đó khối các doanh nghiệp FDI nhập khẩu 9,04 tỷ USD,tăng 50,6% và khối các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 4,92 tỷ USD,tăng 16,2%
Trang 11Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho ViệtNam trong 6 tháng qua với trị giá là 4,54 tỷ USD, tăng 30,1%; tiếp theo là các thịtrường: Hàn Quốc: 2,69 tỷ USD, tăng mạnh 82%; Nhật Bản: 2,52 tỷ USD,tăng47,6%; Đài Loan: 742 triệu USD, tăng 34%…
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá nhập khẩu trong tháng
là gần 1,8 tỷ USD, giảm 11,8% so với tháng trước Tính đến hết tháng 6/2015, cảnước nhập khẩu 11,19 tỷ USD nhóm hàng này, tăng 35% so với cùng kỳ nămtrước; trong đó nhập khẩu của khu vực FDI là 10,33 tỷ USD, tăng 36,2% và nhậpkhẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước là 864 triệu USD, tăng 22,1/span>%.Hàn Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam vớitrị giá nhập khẩu là 3,3 tỷ USD, tăng 32,9%; tiếp theo là các thị trường: TrungQuốc: 2,37 tỷ USD, tăng 16,8%; Nhật Bản: 1,1 tỷ USD, tăng 60,5% Singapo:1,07 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2014
Điện thoại các loại và linh kiện: kim ngạch nhập khẩu trong thángđạt gần 861 triệu USD, đưa kim ngạch nhập khẩu mặt hàng nàytrong 6 tháng/2015 lên 5,22 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kì năm 2014
Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng đầu năm chủ yếu từ cácthị trường: Trung Quốc đạt 3,35 tỷ USD, tăng 18,2% và chiếm 64,18% kimngạch nhập khẩu của cả nước; Hàn Quốc đạt gần 1,48 tỷ USD, tăng 57,6%…sovớicùng kì năm 2014
Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu trong tháng là 1,64 triệu tấn, trị giá đạtgần 854 triệu USD, tăng nhẹ 26,6% về lượng và 27,1% về trị giá so với thángtrước Tính trong 6 tháng/2015, lượng sắt thép cả nước nhập về là 6,9 triệu tấn,trị giá là 3,82 tỷ USD, tăng 38,6% về lượng và tăng 14,1% về trị giá so với cùng
kỳ năm 2014
Sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 6 tháng qua từ Trung Quốc
là 4,1 triệu tấn, tăng mạnh 77,3%; Nhật Bản: 1,2 triệu tấn, tăng 8,7 %; Hàn