Tuy nhiên, nhìn lại quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua, chúng ta thấy một sự chênh lệch rất lớn trong cán cân thương mại giữa hai nước: Việt Nam nhập khẩu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN KHẮC HIỂN
HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆC VẬN DỤNG ĐỂ QUẢN LÝ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TỪ TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN KHẮC HIỂN
HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆC VẬN DỤNG ĐỂ QUẢN LÝ HÀNG HÓA NHẬP KHẨUTỪ TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Vinh
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Khắc Hiển
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 8
1.1 Khái quát về hàng rào phi thuế quan và việc sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế 8
1.1.1 Khái niệm,đặc điểm hàng rào phi thuế quan 8
1.1.2 Mục đích và xu hướng sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế hiện nay 17
1.2 Các hàng rào phi thuế quan của một số nước trên thế giới 22
1.2.1 Liên minh châu Âu 22
1.2.2 Nhật Bản 25
1.2.3 Hoa Kỳ 27
1.3 Quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về hàng rào phi thuế quan 29
1.3.1 Hành động chống bán phá giá 29
1.3.2 Các hạn chế về trợ cấp và biện pháp thuế đối kháng 30
1.3.3.Tự vệ khẩn cấp chống hàng nhập khẩu 33
1.3.4 Các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật 34
1.3.5 Giấy phép nhập khẩu 35
1.3.6 Các quy định về định giá hàng hóa của hải quan 36
1.3.7 Các thủ tục giám định hàng hóa trước khi giao hàng 36
1.3.8 Các quy định về xuất xứ 37
1.3.9 Các biện pháp đầu tư 38
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬPKHẨU VIỆT NAM -
TRUNG QUỐCVÀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM 39
TRONG QUẢN LÝ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TỪ TRUNG QUỐC 39
2.1 Thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc 39
2.1.1 Thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 39
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và cán cân thương mại Việt Trung 45
2.2 Thực trạng sử dụng hàng rào phi thuế quan trong quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 48
2.2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật quy định về hàng rào phi thuế quan của Việt Nam 49
2.2.2 Thực tế áp dụng hệ thống hàng rào phi thuế quan trong quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 49
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 57
2.3.1 Những nguyên nhân khách quan 57
2.3.2 Những nguyên nhân chủ quan 58
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁPSỬ DỤNG HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG QUẢN LÝ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TỪ TRUNG QUỐC 61
3.1 Phương hướng sử dụng hàng rào phi thuế quan trong quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 61
3.1.1 Sử dụng hàng rào phi thuế quan để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc phải trên cơ sở luật pháp quốc tế 61
3.1.2 Sử dụng hàng rào phi thuế quan để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc phải trên cơ sở những thỏa thuận song phương của hai bên 62
Trang 63.1.3 Sử dụng hàng rào phi thuế quan để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trên cơ sở toàn diện, linh hoạt, phát huy tối đa lợi thế xuất khẩu
và bảo vệ nền sản xuất trong nước 63
3.2 Một số giải pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả hàng rào phi thuế quan trong quản lýhàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 64
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hàng rào phi thuế quan để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 64
3.2.2 Ưu tiên và tăng cường sử dụng một số biện pháp phi thuế quan cụ thể để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc 69
3.2.3 Nâng cao năng lực cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 88
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
ngạch nhập khẩu
thị trường Trung Quốc năm 2013
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng nhập siêu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, hợp tác kinh tế,thương mại, đầu tư giữa Việt Nam
và Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu mới và có những bước tăng trưởng
vượt bậc.“Kim ngạch thương mại giữa hai nước từ chỗ chỉ đạt hơn 30 triệu USD năm 1991 đã tăng lên hơn 41tỷ USD năm 2012” [45] năm 2014 tổng
kim ngạch thương mại Việt Nam - Trung Quốc đã đạt 58,77 tỷ USD, đây chính là tiền đề để hai nước hoàn thành sớm mục tiêu 60 tỷ USD vào năm
2015 như mong muốn của lãnh đạo hai nước Hiện nay Trung Quốc là đối tác thương mại số một của Việt Nam, trong khi Việt Nam là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Tuy nhiên, nhìn lại quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua, chúng ta thấy một sự chênh lệch rất lớn trong cán cân thương mại giữa hai nước: Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc nhiều, dễ dàng và ngày càng tăng mạnh, trong khi xuất khẩu khó khăn, chậm đã dẫn đến tình trạng nhập siêu từ thị trường Trung Quốc ngày càng gia tăng cả về số lượng, chủng loại và trị giá hàng hóa.Bên cạnh việc nhập khẩu số lượng lớn hàng hóa là nguyên phụ liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp, Việt Nam còn nhập khẩu một lượng lớn các mặt hàng phục vụ tiêu dùng, sinh hoạt, thậm chí nhập cả những mặt hàng là thế mạnh của ta như sản phẩm nông lâm thủy hải sản, giầy da, may mặc…điều này đã ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế Hàng hóa của Trung Quốc hiện nay đang tràn ngập thị trường Việt Nam, đe dọa tới sự tồn tại và phát triển của nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước Đồng thời với xu thế nhập siêu này đã và đang dẫn đến một thực trạng đó là nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế của Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc do tình trạng nhập siêu quá lớn từ nước này Điển hình như ngành dệt may và da
Trang 10giày là hai ngành được coi là “xuất khẩu chủ lực” của nền kinh tế, song cả hai lĩnh vực này cùng phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu chính được nhập
khẩu từ Trung Quốc Theo số liệu thống kê của Bộ Công thương, “Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu da giày và dệt may từ Trung Quốc năm 2014 là 1,54 tỷ USD, chiếm tới 32,53% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này”.[46]
Thực trạng này sẽ đáng báo động và tác động tiêu cực hơn nữa vì từ năm 2015, Việt Nam sẽ phải đưa thuế suất về 0 - 5% đối với 90% dòng hàng
có xuất xứ từ các nước ASEAN theo các cam kết trong khuôn khổ của Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA); Năm 2018, Việt Nam sẽ phải hạ thuế suất về 0% đối với hầu hết các mặt hàng có xuất xứ từ AFTA và các nước đối tác của ASEANtheo các hiệp định thương mại tự do mà ASEAN
đã kí với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… Nguy cơ hàng hoá giá rẻ, công nghệ thế hệ thứ 2, 3 tràn ngập lãnh thổ Việt Nam được cảnh báo khi các biện pháp bảo hộ thị trường và hạn chế hàng nhập khẩu bằng thuế không còn tác dụng
Từ thực trạng trên đòi hỏi phải có một nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống về hoạt động nhập khẩu, về thực trạng hàng rào phi thuế quan trong quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc Trên cơ
sở đó đề xuất xây dựng, sử dụng một hệ thống hàng rào phi thuế quan đủ mạnh, đủ sức ngăn chặn sự xâm lấn ồ ạt của hàng hóa giá rẻ, chất lượng thấp
từ thị trường Trung Quốc; bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tiêu dùng và hạn chế những tác động tiêu cực từ lộ trình cắt, giảm thuế theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập
Với những lý do trên, với mong muốn được nghiên cứu sâu về hoạt động quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam để từ đó có thể đề xuất một số phương hướng và giải pháp, kiến nghị trong xây dựng hệ
Trang 11thống hàng rào phi thuế quan điều tiết hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc,tác
giả lựa chọn đề tài “Hàng rào phi thuế quan theo quy định của pháp luật
quốc tế và việc vận dụng để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về các biện pháp phi thuế quan trong hoạt động thương mại quốc tế nói chung là vấn đề được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm
đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa thương mại hiện nay Trong lĩnh vực này có thể kể tới một số công trình tiêu biểu của các tác giả như:
* Đề tài “Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tới năm 2010” của tác giả Trần Thị Hằng Phương (2003)
Đề tài đã tập trung tìm hiểu một số biện pháp phi thuế quan cơ bản của WTO và các biện pháp phi thuế quan mà Việt Nam đã và đang áp dụng để từ
đó chỉ ra những biện pháp không thích hợp với quy định của WTO Trên cơ
sở đó tác giả đã đưa ra lộ trình cắt giảm, đồng thời đưa ra một số kiến nghị mang tính chất định hướng trong xây dựng hàng rào phi thuế quan trong giai đoạn tiếp theo
* Đề tài“Hàng rào phi thuế quan - Các rào cản đối với thương mại quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương (2000)
Nội dung của đề tài đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận về hàng rào phi thuế quan, cũng như sự tác động của hàng rào này đối với thương mại quốc tế Tác giả cũng phân tích và chỉ ra một số bất cập làm hạn chế hoạt động thương mại của hàng rào phi thuế quan của một số nước lớn
* Sách “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế”của TS.Nguyễn Hữu Khải (2005)
Trang 12Trong cuốn sách này, tác giả đã tổng hợp và hệ hống hóa một số vấn đề mang tính lý luận về các biện pháp phi thuế quan và hàng rào phi thuế quan.Bên cạnh đó tác giả còn phân tích kinh nghiệm sử dụng các biện pháp phi thuế quan của một số nước lớn trên thế giới để từ đó đưa ra một số kiến nghị mang tính chất lý luận để Việt Nam xây dựng hàng rào phi thuế quan trong bảo hộ nền sản xuất non trẻ trong nước
* Bài viết “Thị trường EU với hàng rào phi thuế quan” Tạp chí thương
mại số 27, tác giả Phùng Thị Vân Kiều (2002)
Trong bài viết này tác giả đã phân tích đặc điểm của thị trường EU và
hệ thống hàng rào phi thuế quan mà EU đang áp dụng, đồng thời tác giả cũng
đề xuất một số biện pháp để đối phó với hàng rào này khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này
Ngoài các công trình trên còn có một số giáo trình, sách tham khảo của các trường đại học như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Tài chính, Đại học ngoại thương Hà Nội, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh…cũng đề cập tới vấn đề hàng rào phi thuế quan dưới góc độ lý luận
Như vậy, qua tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài có thể khẳng
định đề tài “Hàng rào phi thuế quan theo quy định của pháp luật quốc tế và việc vận dụng để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam”chưa được tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện, trực tiếp với tư
cách là một đề tài thạc sĩ luật học.Tác giả là người đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích
Thực hiện đề tài này tác giả mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về hàng rào phi thuế quan theo quy định của luật pháp quốc tế làm cơ sở để đánh giá thực trạng xây dựng, sử
Trang 13dụng hàng rào phi thuế quan trong hoạt động quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc; từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp trong xây dựng và việc
sử dụng hàng rào phi thuế quan để quản lý có hiệu quả việc nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc
* Nhiệm vụ
Với mục đích trên đề tài xác định các nhiệm vụ chính sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về vấn đề hàng rào phi thuế quan theo quy định của luật pháp quốc tế, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm, mục đích và
xu thế sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế hiện nay
- Đánh giá thực trạng nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc trong thời gian qua (2010 - 2014), thực trạng hệ thống hàng rào phi thuế quan và việc sử dụng hàng rào phi thuế quan để quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc hiện nay làm cơ sở để đề xuất các giải pháp
- Xác định phương hướng và luận chứng các giải pháp trong xây dựng
hệ thống hàng rào phi thuế quan để quản lý, điều tiết có hiệu quả hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc góp phần bảo vệ người tiêu dùng, bảo hộ nền sản xuất trong nước
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hàng rào phi thuế quan
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về hàng rào phi thuế quan trong hoạt động quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam, thời gian từ năm 2010 đến năm 2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Trang 14Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, trực tiếp là các phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể.Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các khoa học chuyên ngành như phương pháp khoa học thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp của lý thuyết hệ thống Các phương pháp trên được luận văn sử dụng cụ thể như:
- Các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-xít được luận văn sử dụng để nghiên cứu toàn bộ nội dung của luận văn, giải quyết các nhiệm vụ đề ra trong luận văn, trong đó:
+ Trong chương 1, 2 chủ yếu sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
+ Trong chương 3 và chủ yếu sử dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
- Các phương pháp như: phương pháp so sánh, thống kê, điều tra xã hội học được sử dụng chủ yếu ở chương 2 để đánh giá thực trạng
- Phương pháp lý thuyết hệ thống được sử dụng trong luận văn để bảo đảm việc nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề được đặt ra nhằm bảo
đảm tính nhất quán, liên thông trong toàn bộ nội dung của luận văn
6 Những đóng góp về khoa học của đề tài
- Dự báo xu thế sử dụng các hàng rào phi thuế quan trong hoạt động quản lý nhập khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế trong thời gian tới
Trang 15- Đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốctừ năm 2010 đến năm 2014
- Đánh giá hệ thống hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc giai đoạn hiện nay
- Đề xuất phương hướng,luận chứng và các giải pháp có hiệu quả đểxây dựng, sử dụng hệ thống hàng rào phi thuế quantrong hoạt động quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trong giai đoạn tiếp theo khi Việt Nam thực hiện lộ trình cắt giảm thuế theo các cam kết quốc tế
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
*Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp
thêm cơ sở lý luận về vấn đề hàng rào phi thuế quan trong hoạt động ngoại thương
*Ý nghĩa thực tiễn: Qua việc phân tích đánh giá khách quan, toàn diện
thực trạng quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2010 đến năm
2014 và thực trạng hệ thống hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong quản
lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xây dựng, sử dụng hàng rào phi thuế quan đủ mạnh để điều tiết hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc; góp phần bảo vệ tiêu dùng, bảo hộ nền sản xuất trong nước
*Ý nghĩa học thuật: Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định
trong việc nghiên cứu về hàng rào phi thuế quan và hoạt động quản lý hàng hóa nhập khẩu nói chung, quản lý hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc nói riêng
8 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Phần nội dung luận văn được trình bày thành 3 chương, 8 tiết
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái quát về hàng rào phi thuế quan và việc sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm,đặc điểm hàng rào phi thuế quan
1.1.1.1 Khái niệm hàng rào phi thuế quan
Trong thương mạiquốc tế, thuật ngữ hàng rào (rào cản) đối với thương mại được đề cập chính thức trong Hiệp định về hàng rào và kỹ thuật trong thương mại (TBT) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiên, trong Hiệp định TBT, thuật ngữ này cũng chưa được định danh mà mới chỉ được thừa nhận như một thỏa thuận: Không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động vật và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở một mức độ nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng, các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với quy định của Hiệp định này
Như vậy, có thể hiểu hàng rào trong thương mại quốc tế là bất kỳ biện pháp hay hành động nào của các quốc gia nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia mình mà gây cản trở đối với hoạt động thương mại quốc tế
Hiện nay, các nước đang sử dụng rất nhiều công cụ làm rào cản để bảo
vệ lợi ích của quốc gia trong hoạt động ngoại thương, nhưng tựu chung lại có hai nhóm công cụ chính là: Hàng rào thuế quan (Tariff Barriers - TB) và hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers, NTB) Hàng rào thuế quan là loại rào
Trang 17cản phổ biến nhất và mang tính chất truyền thống trong thương mại quốc tế, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu.Do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến trình tự do hóa thương mại, nên loại rào cản này có xu hướng ngày càng hạn chế trong quan hệ thương mại Vì vậy, tại các vòng đàm phán đa phương và song phương, chủ đề được các quốc gia đặt lên hàng đầu và cũng
là tiêu chí để các bên có thể thống nhất với nhau là cắt, giảm dần và loại bỏ các loại hàng rào thuế quan
Hàng rào phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, ví dụ như các biện pháp cấm nhập hoặc xuất khẩu; hạn ngạch về số lượng, giá trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); các biện pháp vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật (SPS); các quy định về sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa, bảo vệ môi trường; các quy định chuyên ngành về điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông và phân phối các sản phẩm…
Trên thực tế hoạt động thương mại quốc tế, hàng rào phi thuế quan rất
đa dạng và phức tạp nên rất khó để đưa ra một định nghĩa cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ Dođó, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về hàng rào phi thuế quan Hiện nay việc định nghĩa cũng như xác định phạm vi của hàng rào phi thuế quan đều dựa trên các quan điểm, mục đích riêng của các nhà nghiên cứu, các quốc gia, và các tổ chức quốc tế
Về mặt lý thuyết, rào cản phi thuế quan là các rào cản ngoài thuế làm ảnh hưởng đến lưu chuyển hàng hoá quốc tế Trong thời gian gần đây, phạm
vi của các hàng rào phi thuế quan mà các quốc gia áp dụng ngày càng được
mở rộng, những hàng rào phi thuế quan điển hình được áp dụng trong bảo hộ sản xuất nội địa là cấm nhập khẩu và hạn chế định lượng; các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật; chống bán phá giá…do đó tiếp cận dưới các phương diện,
Trang 18phạm vi khác nhau, hiện nay các học giả, các tổ chức quốc tế đã đưa ra định nghĩa khác nhau về hàng rào phi thuế quan, điển hình như:
Nghiên cứu của Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC)
mô tả các rào cản phi thuế quan từ giác độ ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế
trong nước “rào cản phi thuế quan là các công cụ phi thuế quan của các quốc gia can thiệp vào thương mại quốc tế, nhằm bảo hộ sản xuất nội địa”[39, tr
155]
Một cách tổng quát hơn, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
năm 1997 đã định nghĩa: "Rào cản phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế được các quốc gia sử dụng nhằm hạn chế nhập khẩu” [39, tr 155] Cách
đề cập này chủ yếu dựa trên phạm vi áp dụng (biên giới) của các biện pháp phi thuế quan
Trên quan điểm lợi ích chung của nền kinh tế thế giới, Baldwin (1970)
đã đưa ra một định nghĩa về hàng rào phi thuế quan là: “Một sự biến dạng phi thuế quan là bất kì một biện pháp (thuộc khu vực nhà nước hay tư nhân) nào khiến các hàng hóa và dịch vụ trong mua bán quốc tế hoặc mọi nguồn lực dành cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đó, sẽ được phân bổ theo cách như thế nào đó nhằm giảm thu nhập tiềm năng thực sự của thế giới”
[39, tr 154]
Tại Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế, pháp luật thường sử dụng khái niệm về rào cản phi thuế quan của Bộ Thương mại như sau: ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan
Mỗi hàng rào phi thuế quan có thể có một hoặc nhiều thuộc tính như
áp dụng tại biên giới hay nội địa, được duy trì một cách chủ động hay bị động, phù hợp hoặc không phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm bảo hộ hay
Trang 19không bảo hộ Trên trang Web của mình,Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam (VCCI) đưa ra khái niệm về hàng rào phi thuế quan như “Là những biện pháp nằm ngoài thuế quan, có liên quan hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến
sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước, với mục tiêu cản trở đối với hàng hóa nhập khẩu mà không dựa trên cơ sở pháp lý khoa học hay bình đẳng” [48] Cũng trên Interrnet, Tạp chí Công nghiệpViệt Nam cho rằng:“Rào cản phi thuế quan là những quy định ngoài thuế quan, hay một chính sách phân biệt nào đó được một quốc gia (hay vùng lãnh thổ) áp dụng với mục đích hạn chế thương mại quốc tế, tiến tới ngăn cản việc hàng hóa nước khác thâm nhập vào thị trường trong nước Các thủ tục này sẽ tạo thuận lợi cho hàng hóa trong nước giống như một hình thức bảo hộ” [47].Những định nghĩa này
đã nhấn mạnh tới mục đích phân biệt đối xử nhằm bảo hộ sản xuất trong nước của các rào cản phi thuế quan
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các định nghĩa về hàng rào phi thuế
quan trên, tác giả quan niệm: “Hàng rào phi thuế quan là rào cản thương mại không dùng thuế quan mà sử dụng các quy định mang tính hành chính và các quy định mang tính kỹ thuật để chống lại sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ người tiêu dùng và nền sản xuất trong nước”
Với góc nhìn như vậy, có thể thấy hàng rào phi thuế quan bao gồm hai
bộ phận cơ bản là: Các rào cản mang tính hành chính (hàng rào hành chính)
và Các rào cản mang tính kỹ thuật (hàng rào kỹ thuật)
Thứ nhất, hàng rào hành chính là các quy định có tính chất mệnh lệnh
hành chính nhà nước nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu Hàng rào hành chính bao gồm các quy định pháp luật về cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, giấy phép, hạn ngạch (Quota), hạn chế xuất khẩu tự nguyện, tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc Cụ thể:
Trang 20- Cấm nhập khẩu hoặc cấm xuất khẩu là những quy định pháp lý mà một quốc gia không cho phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu những hàng hóa nhất định Đối với những hàng hóa có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe con người, an ninh, quốc phòng và môi trường thì cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu là cần thiết Tuy nhiên, đối với những hàng hóa thông thường nếu quy định cấm nhập khẩu hoặc cấm xuất khẩu thì đây chính là biện pháp hành chính tạo ra hàng rào ngăn cản tự do thương mại quốc tế
- Giấy phép nhập khẩu là một trong những cách thức tạo ra rào cản đối với tự do hóa thương mại bằng cách yêu cầu nhà nhập khẩu phải đệ đơn để được cấp giấy phép nhập khẩu cho những loại hàng hóa nhất định Trong thực tiễn, các thủ tục hành chính này đã tạo ra những rào cản không nhỏ đối với hàng hóa nhập khẩu
- Hạn ngạch (Quota) là quy định lượng tối đa theo giá trị hoặc theo khối lượng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một thời kỳ nhất định Hạn ngạch có thể quy định cho từng nhà nhập khẩu/xuất khẩu hoặc quy định cho từng quốc gia có hàng hóa xuất khẩu sau đó quốc gia này lại phân bổ hạn ngạch cho các nhà xuất khẩu của quốc gia đó
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là thỏa thuận giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu về giới hạn tối đa theo giá trị hoặc theo khối lượng của một mặt hàng nào đó xuất khẩu từ một nước vào nước kia Cách thức này gần giống như hạn ngạch nhưng khác ở chỗ, trong khi hạn ngạch là quy định đơn phương của một quốc gia thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện là sản phẩm của một hiệp định song phương
- Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc là một cách thức ngăn cản hàng hóa nhập khẩu, theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một tỷ lệ nội địa hóa mới được tiêu thụ tại quốc gia đó
Trang 21Thứ hai, hàng rào kỹ thuật: Hàng rào này chủ yếu là các tiêu chuẩn
kỹ thuật như nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, quy định đối với nguyên vật liệu, quy trình sản xuất, vận chuyển, tiêu chuẩn xã hội … Đây chính là các tiêu chuẩn kỹ thuật mà một quốc gia đặt ra đối với hàng hóa tiêu thụ trong nội địa Tuy nhiên, trên thực tế nó lại được sử dụng chủ yếu như là một cách thức để cản trở hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa.Bởi vậy, những quy chuẩn kỹ thuật này được gọi là rào cản kỹ thuật
Một điểm cần lưu ý là không phải bất cứ một tiêu chuẩn kỹ thuật nào cũng là rào cản kỹ thuật.Mặt khác các tiêu chuẩn này có thể được áp dụng đối với cả hàng hoá nhập khẩu cũng như hàng sản xuất trong nước Giữa rào cản hành chính và rào cản kỹ thuật không có một ranh giới thực sự rõ ràng Các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, vì vậy chúng cũng có tính pháp lý hành chính Các biện pháp hành chính cũng có thể mang nội dung kỹ thuật Ví dụ như khi nước nhập khẩu yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về tính năng kỹ thuật, thành phần hay quy trình sản xuất của sản phẩm thì rất khó có thể phân biệt rạch ròi đây là rào cản pháp
lý hay kỹ thuật Do vậy, sự phân loại trên đây cũng chỉ mang tính chất tương đối
Hiện nay, trong các rào cản phi thuế quan, thì hàng rào kỹ thuật được các nước sử dụng nhiều nhất Có rất nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác
nhau về thuật ngữ “rào cản” hay “hàng rào” kỹ thuật thương mại Trước đây
người ta cho rằng rào cản kỹ thuật thương mại là những biện pháp, những chính sách kiểm dịch hàng hóa, thực phẩm và những biện pháp cấm hoặc ngăn chặn hàng hóa từ nước khác nhập khẩu vào một nước
Trong nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học Thornsbusy, Robert và
DeRemer đã đưa ra định nghĩa sau về rào cản kỹ thuật thương mại: “Rào cản kỹ thuật thương mại là tất cả các quy định kỹ thuật (technical regulations), các tiêu
Trang 22chuẩn (standards) khác nhau trên thế giới quy định cho sản phẩm liên quan đến tất cả các quá trình từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng một sản phẩm nhằm mục đích ngăn chặn hàng hóa từ nước khác xâm nhập thị trường trong nước” [39, tr 154]
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD năm 1997 cũng đưa ra định nghĩa riêng về rào cản thương mại kỹ thuật, đó là: Các quy định mang tính chất xã hội, là các quy định do một nhà nước đưa ra nhằm đạt được các mục tiêu về sức khỏe, an toàn, chất lượng và đảm bảo môi trường; căn cứ vào rào cản kỹ thuật thương mại, người ta có thể nhận thấy các mục tiêu này thông qua việc một nước ngăn cản hàng hóa không đảm bảo chất lượng nhập khẩu vào nước mình.Hiện tại, rào cản kỹ thuật thương mại là một trong ba biện pháp hạn chế thương mại được áp dụng rất hiệu quả tại các nước trên thế giới Mặc dù còn có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về rào cản kỹ thuật thương mại, song theo tác giả có thể hiểu một cách đơn giản về rào cản
kỹ thuật thương mại “là một hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn hết sức khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu, các tiêu chuẩn này có thể liên quan đến tất cả các quá trình của sản phẩm, từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng vàhàng hóa nếu không đạt được các tiêu chuẩn trên sẽ không được phép nhập khẩu vào lãnh thổ của nước nhập khẩu”
Ngoài hai nhóm hàng rào phi thuế quan có tính chất chính thống nêu trên, còn có những rào cản phi thuế quan không chính thống khác như sự nhũng nhiễu của công chức hải quan, sự không rõ ràng của các quy định về xuất xứ hàng hóa, sự chậm trễ trong thực hiện các thủ tục thông quan
1.1.1.2 Đặc điểm của hàng rào phi thuế quan
* Một hàng rào phi thuế quan có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với hiệu quả cao
Trang 23Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thương mại của mình Các mục tiêu đó có thể là: Bảo hộ sản xuất trong nước; khuyến khích phát triển một số ngành nghề; bảo đảm an toàn sức khỏe con người, động thực vật, môi trường; hạn chế tiêu dùng; đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,…Các hàng rào phi thuế quan có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau nêu trên, trong khi việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng Đây là đặc điểm quan trọng và rất điển hình của hàng rào phi thuế quan trong hệ thống các rào cản thương mại, do đó hiện nay hàng rào phi thuế quan đang được các quốc gia sử dụng triệt để nhằm thực hiện các mục
tiêu đa dạng trong bảo vệ lợi ích kinh tế - xã hội của quốc gia mình
* Các hàng rào phi thuế quan phong phú về hình thức
Trên thực tế, hàng rào phi thuế quan có thể là các quy định mang tính hành chính nhà nước như: cấm nhập khẩu, cấp hạn ngạch… hoặc là các quy định mang tính kỹ thuật như: các quy định kiểm soát về chất lượng hàng hóa nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật… Chính nhờ đặc điểm này mà hàng rào phi thuế quan có thể tác động với khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng rất đa dạng Do đó, nếu sử dụng hàng rào phi thuế quan để phục vụ một mục tiêu cụ thể thì sẽ có nhiều sự lựa chọn, mà không bị bó hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất như thuế quan Ví dụ để hạn chế nhập khẩu sắt thép, quốc gia có thể đồng thời áp dụng các hạn ngạch nhập khẩu, quy định về cấp giấy phép nhập khẩu, đầu mối nhập khẩu, tiêu chuẩn chất lượng
* Hình thức thể hiện của các hàng rào phi thuế quan rất phong phú nên nhiều hàng rào phi thuế quan chưa chịu sự điều chỉnh hết của các qui tắc thương mại
Các hàng rào phi thuế quan thường mang tính “mập mờ” mức độ ảnh hưởng không rõ ràng như những thay đổi mang tính định lượng của thuế quan
Trang 24nên dù tác động của chúng có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hoặc cách khác Hiện nay các Hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số hàng rào phi thuế quan nhất định.Theo đó, tất cả các hàng rào phi thuế quan hạn chế định lượng đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ
Một số hàng rào phi thuế quan khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quyết định cụ thể, rõ ràng, khách quan Chẳng hạn như các tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự
vệ, thuế chống bán phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, một
số hình thức hỗ trợ nông nghiệp Thậm chí với những hàng rào phi thuế quan chưa xác định được là phù hợp hay không với các quyết định của WTO, các nước vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay loại bỏ Những hàng rào phi thuế quan này có thể do WTO chưa có quyết định điều chỉnh hoặc có quyết định điều chỉnh nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó có thể xác định được tính phù hợp hay không phù hợp với quyết định đó, hoặc chúng vẫn là một thực tế được thừa nhận chung Chẳng hạn như yêu cầu đặt cọc, trả thuế nhập khẩu trước…
* Có thể gây tác động tiêu cực dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế
Tác động của việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nước mà thường chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất định được bảo hộ hoặc được hưởng ưu đãi đặc quyền như được phân bổ hạn ngạch, được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu Điều này còn dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế
Trang 251.1.2 Mục đích và xu hướng sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế hiện nay
Đối với những nền kinh tế phát triển, đối tượng bảo hộ là các ngành có năng lực cạnh tranh và năng xuất lao động tương đối thấp so với các ngành khác Mặc dù không tạo ra sức cạnh tranh chủ yếu cho nến kinh tế, nhưng lực lượng lao động trong những ngành này lại có sức mạnh chính trị đáng kể, buộc các chính đảng được họ hậu thuẫn phải quan tâm đặc biệt đến lợi ích của
họ Có thể nêu ví dụ điển hình như ngành nông nghiệp ở EU hay ngành thép ở Hoa Kỳ
Trong khi đó, đối tượng bảo hộ của những nước có trình độ phát triển kinh tế trung bình và thấp lại bảo hộ chủ yếu các ngành sản xuất quan trọng
và có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong tương lai của họ Chẳng hạn như các ngành sản xuất ôtô ở Malaysia; ngành điện tử, cơ khí, đường ở Thái Lan hay các ngành ôtô, thép, thuốc lá ở Trung Quốc
Trong những năm 1980, việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan dường như gia tăng Nhưng trong những năm 2000 cho đến nay, với các nỗ lực song phương, khu vực và quốc tế đã có thể làm giảm ít nhất sự thịnh hành của các rào phi thuế quan.Tuy nhiên, các hàng rào phi thuế quan vẫn là hiện
Trang 26tượng chung và tương đối phổ biến trong các chế độ chính sách thương mại của cả các quốc gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển
Các lập luận kinh tế cho bảo hộ thương mại chỉ ra rằng sử dụng thuế chứ không phải các hàng rào phi thuế quan nhằm đạt được các mục tiêu bảo
hộ Các hàng rào phi thuế quan là những công cụ chính sách “thứ yếu” và không hiệu quả cho bảo hộ, song trong phạm vi các cam kết cắt giảm thuế quan quốc tế, các công cụ này có thể được xem xét một cách chính xác như thế nào Đối với các nước cam kết tạo bảo hộ cho những nhóm liên quan trong nước nhất định, thì việc duy trì các thuế suất cao không phải là một phương án lựa chọn
Sự phân bổ lợi nhuận siêu ngạch từ các hàng rào phi thuế quan đến các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp được đầu tư nước ngoài tương đối hiện hữu và các nhà chính trị có thể nắm bắt được Với sự phân bổ lợi nhuận như vậy đã làm gia tăng khả năng cho phép quá trình chính trị, làm nảy sinh một khối lượng lớn các hàng rào phi thuế quan tương đương thuế,đồng thời tính phản tác dụng của các hàng rào phi thuế quan nói chung kém rõ ràng đối với người tiêu dùng và đối với thương mại hơn là ảnh hưởng của thuế quan Do đó có thể thấy hàng rào phi thuế quan hiện nay được dựng lên để thay thế dần hàng rào thuế quan truyền thống
Ngoài ra, việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan như các biện pháp bảo hộ còn rất cần thiết để tránh cho các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu khỏi bị phá sản nhanh chóng Tương tự như những nhóm người lao động tại các ngành đang suy thoái hoặc có năng suất thấp (ví dụ như dệt may, nông nghiệp) ở các nước phát triển, các doanh nghiệp nhà nước có sức mạnh chính trị to lớn tại những nước đang chuyển đổi Nét nổi bật này của các nền kinh tế chuyển đổi làm cho việc bảo hộ sản xuất trong nước có ý nghĩa quan trọng đặc biệt
Trang 27Với nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp, lại trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam cũng có nhu cầu lớn phải bảo hộ sản xuất trong nước
do các yếu tố của kinh tế thị trường còn chưa được tạo lập đồng bộ và còn nhiều khiếm khuyết, môi trường pháp lý bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế chưa được hoàn chỉnh Các chính sách pháp lý tài chính, tiền tệ, xuất nhập khẩu cũng đang trong tình trạng tương tự, năng lực cạnh tranh yếu kém của nhiều ngành sản xuất.Vì vậy Việt Nam trong giai đoạn hiện nay các hàng rào phi thuế quan vẫn cần được xây dựng và duy trì
để bảo vệ lợi ích quốc gia và sự phát triển của nền kinh tế trong nước Ví dụ:Hiện nay chúng ta đang sử dụng biện pháp quản lý giá cả của các sản phẩm được nhập khẩu nhằm mục đích:Giữ vững giá trong nước của các sản phẩm nhất định khi giá nhập khẩu thấp hơn giá được duy trì; thiết lập giá trong nước của các sản phẩm nhất định vì sự giao động giá cả trong thị trường nội địa hoặc sự không ổn định giá cả trên thị trường nước ngoài; chống lại sự thiệt hại do việc áp dụng các hoạt động không công bằng của thương mại nước ngoài
Đứng trước xu hướng tất yếu của tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nếu không có chiến lược bảo hộ đúng đắn thì nhiều ngành sản xuất trong nước sẽ không thể đứng vững trước sức ép cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu.Tuy nhiên, việc bảo hộ phải có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn và phải giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập và bảo hộ về mặt thời gian và trình độ phát triển của nền kinh tế một cách chủ động
Những ngành cần được bảo hộ chủ yếu là những ngành có hàm lượng vốn lớn, có khả năng cạnh tranh và phát triển dựa trên công nghệ hiện đại Mặt khác đây lại là những ngành công nghiệp giữ vị trí quan trọng, tạo nên xương sống cho nền kinh tế như luyện kim, hoá dầu, xi măng, Nếu được
Trang 28hưởng những hỗ trợ nhất định và được bảo hộ bằng những chính sách thích hợp trong một thời gian cần thiết, các ngành này dù gặp rất nhiều khó khăn trước mắt trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu, nhưng trong tương lai có sức cạnh tranh cao
Các hàng rào phi thuế quan được sử dụng để bảo hộ rất đa dạng Tuy nhiên theoquy định của WTO có thể thấy rõ là tới nay hầu như các nước không còn cơ hội để áp dụng những biện pháp hạn chế định lượng nhằm mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước được nữa Những biện pháp hạn chế định lượng như cấm nhập khẩu hoặc hạn ngạch nhập khẩu chỉ còn được áp dụng trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo và duy trì an ninh quốc gia, giữ gìn đạo đức văn hoá, môi trường hay một vài trường hợp đặc biệt
Các nước phát triển thường áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng chống trợ cấp để bảo hộ các ngành công nghiệp, đồng thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ trong nước ở mức cao để bảo hộ nông nghiệp.Trong khi đó, các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi vẫn áp dụng các biện pháp cấp giấy phép không tự động để bảo hộ cả công nghiệp và nông nghiệp
Tuy nhiên, nếu các nước sử dụng hàng rào phi thuế quan một cách bừa bãi, quá nghiêm ngặt có thể bóp chết sản xuất trong nước, không thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, gây ỷ lại, giảm sức cạnh tranh trong thương mại
Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối với mọi quốc gia Do mỗi công cụ có điểm mạnh, điểm yếu đặc thù nên các biện pháp thuế quan và phi thuế quan thường được sử dụng kết hợp, bổ sung lẫn nhau nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ sản xuất trong nước Mặc dù về lý thuyết, WTO và các định chế thương mại khu vực thường chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhưng thực tế
đã chứng minh rằng các nước không ngừng sử dụng các hàng rào phi thuế quan mới, vừa đáp ứng mục tiêu bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc tế
Trang 29Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc vào tính linh hoạt có chọn lọc, có định hướng của Chính phủ các nước trong việc áp dụng các hàng rào phi thuế quan bổ trợ cho các biện pháp thuế quan Nếu biết kết hợp hài hoà hai công cụ này, sản xuất trong nước sẽ được bảo hộ, hỗ trợ có thời hạn để nâng cao sức cạnh tranh nhằm từng bước thích nghi với các định chế và nguyên tắc chung của môi trường thương mại quốc
tế
Tóm lại, hàng rào phi thuế quan là một công cụ hữu hiệu trong thương mại quốc tế, nơi các nước vừa có thể tận dụng những lợi thế do tự do hóa thương mại mang lại, vừa có thể bảo hộ được sản xuất trong nước một cách hợp pháp
1.1.2.2 Xu hướng sử dụng các hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế hiện nay
Hiện nay, sự liên kết sâu rộng giữa các quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu đã dẫn đến hàng rào thuế quan ngày càng bị cắt giảm, thay vào đó là các hàng rào phi thuế quan Hơn nữa, do tính chất không rõ ràng, các rào cản phi thuế quan có tác dụng hạn chế nhập khẩu nhiều hơn Chính vì thế, các rào cản phi thuế quan đang dần dần thay thế các rào cản thuế quan, trở thành công cụ chủ yếu để hạn chế nhập khẩu Mức thuế quan đối với hàng sản xuất đã giảm đáng kể sau 8 vòng đàm phán liên tiếp của WTO và thiết chế tiền nhiệm của
nó là GATT
Tại thời điểm năm 2010, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, “Mức thuế quan bình quân ở vào khoảng dưới 3% ở các nước có thu nhập cao và khoảng 11% ở các nước đang phát triển, trong khi đó vào năm1990, mức thuế quan đều cao gấp ít nhất 3 lần ở cả hai nhóm này” [41].Trợ cấp xuất khẩu
cũng hầu như đã biến mất, chỉ trừ một số ít thị trường nông sản Hình thức hạn ngạch cũng trở nên kém quan trọng, bởi chúng đã được chuyển sang
Trang 30thành hình thức thuế quan 2 bậc mà có nhà nghiên cứu gọi là hạn ngạch theo mức thuế quan
“Khi mà mức thuế quan buộc phải hạ thấp, nhu cầu bảo hộ đã khiến cho nhiều hình thức hàng rào phi thuế quan mới ra đời, đặc biệt là các hàng rào kỹ thuật (TBT) ước tính việc sử dụng NTB thông qua các hình thức Cơ quan Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)kiểm soát số lượng và giá cả và các biện pháp tài chính đãgiảmđáng kể, từ khoảng 45% các dòng thuế năm 1994 xuống còn 15% năm 2004 Tuy nhiên, việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan ngoài các hình thức trên lại tăng từ 55% năm 1994 lên thành 85% năm 2004 Cũng trong thời gian này, các TBT đã tăng gần gấp đôi với số dòng thuế bị ảnh hưởng, từ 32% lên 59% Việc sử dụng kết hợp các biện pháp kiểm soát số lượng với TBT cũng gia tăng từ 21% lên 24% Kee, Nicita và Olarreaga (2006) tính mức hàng rào phi thuế quan tương đương khoảng 9% thuế quan, trong đó bao gồm cả các biện pháp tài chính hoặc kiểm soát số lượng và giá cả và TBT bình quân trên tất cả các loại hàng hoá Mức tương đương với thuế quan này cho thấy 40% đối với các hàng hoá bị ảnh
hưởng bởi các hàng rào phi thuế quan” [41]
1.2 Các hàng rào phi thuế quan của một số nước trên thế giới
1.2.1 Liên minh châu Âu
Mặc dù thuế quan của Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn so với các cường quốc kinh tế khác và có xu hướng giảm, nhưng EU vẫn là một thị trường bảo hộ chặt chẽ với các biện pháp phi thuế quan nghiêm ngặt Hàng rào phi thuế quan của EU bao gồm: các biện pháp hạn chế định lượng, rào cản
kỹ thuật trong thương mại, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấp, giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật… Hai mặt hàng được EU áp dụng rào cản phi thuế quan nhiều nhất là dệt may và nông sản
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật:
Trang 31Đây là hệ thống bảo hộ bằng rào cản kỹ thuật hiệu quả nhất thế giới hiện nay và phù hợp với xu thế chung của thương mại thế giới, nên ngày càng
có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, trong đó có EU Tại EU, đây là biện pháp bảo hộ phi thuế quan chủ yếu và phổ biến nhất cho các hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác Hệ thống này được cụ thể hóa qua 5 tiêu chuẩn của sản phẩm bao gồm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn
về lao động Với nhiều nước xuất khẩu là nước đang phát triển, các tiêu chuẩn
về bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động là những tiêu chuẩn rất khó vượt qua được
- Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật:
Quy định về kiểm dịch thực vật được áp dụng chủ yếu cho các mặt hàng nông sản.Giấy chứng nhận kiểm dịch phải được cung cấp bởi nước có sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm xuất khẩu phải được giám định bởi cơ quan chức năng có thẩm quyền của nước xuất khẩu, đảm bảo rằng sản phẩm xuất khẩu không bị nhiễm khuẩn hay dư lượng kháng sinh.Đây là rào cản tương đối khó khăn cho các nước xuất khẩu là nước đang phát triển, khi quy trình bảo quản hàng hóa còn chưa được chuẩn hóa và việc lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến
- Quy tắc xuất xứ:
Tiêu chuẩn xuất xứ chỉ ra cách xác định nước xuất xứ của sản phẩm
Có 2 tiêu chuẩn xuất xứ được EU áp dụng, đó là: tiêu chuẩn “xuất xứ toàn bộ”
và tiêu chuẩn “xuất xứ có thành phần nhập khẩu” Đối với các sản phẩm được sản xuất toàn bộ tại quốc gia được hưởng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), sản phẩm này được xem là có xuất xứ và sẽ được hưởng GSP
Tuy nhiên, đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu, quy định của EU chặt chẽ hơn EU quy định hàm lượng sáng tạo trong sản phẩm tại
Trang 32nước hưởng GSP phải đạt ít nhất 60% giá trị của hàng hóa Tuy nhiên, với một số nhóm hàng hóa, quy định này được nới lỏng hơn
Ví dụ: Với các mặt hàng điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, hàm lượng sáng tạo tại nước hưởng GSP không được ít hơn 40%, đồ trang trí làm từ kim loại không ít hơn 30% Đặc biệt, mặt hàng giày dép sẽ chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận như mũi, đế… ở dạng rời được sản xuất ở nước hưởng GSP hoặc nhập khẩu từ những nước này
- Hạn ngạch:
Áp dụng phổ biến nhất cho mặt hàng dệt may ở EU là hạn ngạch số lượng Mỗi nước xuất khẩu dệt may lớn sang EU sẽ bị quy định một số lượng
cụ thể mà họ có thể xuất sang thị trường EU Tuy nhiên, loại hạn ngạch này
đã giảm theo Hiệp định đa sợi (MFA) và đã được bãi bỏ hoàn toàn vào năm
2005 theo Hiệp định đối với hàng dệt may (ATC)/WTO Đối với nông sản, mặt hàng được áp dụng hạn ngạch chủ yếu là gạo.Ngoài ra, EU có áp dụng một số hạn ngạch ưu đãi cho một số nước nhất định trong những thời điểm nhất định
- Các biện pháp thương mại tạm thời:
Các biện pháp này chủ yếu gồm trợ cấp và chống bán phá giá.Các hàng hóa nhập khẩu vào EU mà được hưởng trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu thì EU sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt nếu việc trợ cấp này ảnh hưởng đến thị trường nội địa của EU.Tuy nhiên, EU lại trợ cấp rất mạnh mẽ cho các doanh nghiệp nội địa Thông thường, trong trợ cấp của Chính phủ cho các doanh nghiệp EU, trợ cấp trực tiếp của Chính phủ chiếm tới 61%, giảm thuế chỉ chiếm 22%, còn lại là nhiều hình thức khác Tương tự, khi một hàng hóa nhập khẩu được bán giá thấp hơn nhiều so với một hàng hóa sản xuất tại EU,
để đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế, EU sẽ thực hiện các biện
Trang 33pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả bằng việc
áp dụng thuế “chống xuất khẩu bán phá giá” Không những thế, hiện nay, các biện pháp chống hàng giả của EU còn cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu các hàng hóa đánh cắp bản quyền
1.2.2 Nhật Bản
- Các biện pháp hạn chế định lượng:
Không giống như EU, quy định về hạn ngạch nhập khẩu của Nhật Bản
rất cụ thể, chi tiết và áp dụng cho nhiều mặt hàng Nhật Bản cấm nhập khẩu các hàng hóa như: Thực phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc
bị nghi vấn chứa các thành phần độc tố; các loại thực phẩm đã bị hỏng; các loại thực phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình chế biến; các loại thực phẩm sử dụng phụ gia quá mức cho phép; các loại thực phẩm không chứng minh được nguồn gốc Về hạn ngạch nhập khẩu, Nhật Bản quy định áp dụng cho ba nhóm hàng sau: (i) các mặt hàng thương mại thuộc kiểm soát của Nhà nước, bao gồm vũ khí, rượu, chất nổ, vật liệu hạt nhân, gạo; (ii) các mặt hàng hạn chế nhập khẩu như: cá trích, cá mòi,
sò và các loại hản sản khác; (iii) các loại động thực vật có tên trong Công ước Thương mại quốc tế về các loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng
- Chế độ hạn ngạch thuế quan:
Chế độ hạn ngạch thuế quan được sử dụng ở Nhật Bản nhằm đảm bảo hài hòa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất trong nước Chính vì vậy, Chính phủ Nhật Bản thường xuyên nghiên cứu kỹ việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước để đề ra quy định hợp lý
Ngoài ra, Nhật Bản cũng sử dụng giấy phép nhập khẩu như một hàng rào phi thuế quan Khi kinh doanh hàng nhập khẩu cần có giấy phép nhập khẩu, các nhà nhập khẩu được toàn quyền lựa chọn các nhà xuất khẩu để ký
Trang 34hợp đồng, nhưng việc ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào việc cho phép hay xác nhận của các bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Với những hàng hóa này, việc nhập khẩu chỉ có thể được tiến hành sau khi có thông báo phân
bổ hạn ngạch của Bộ Công nghiệp và Ngoại thương Nhật Bản (MITI).Việc thanh toán hàng nhập khẩu chỉ có thể tiến hành sau khi có giấy phép
- Các biện pháp mang tính hành chính kỹ thuật:
Tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hóa tại thị trường Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu thông thường và tiêu chuẩn quốc
tế Người tiêu dùng nước này có thói quen đưa ra quyết định mua hàng dựa vào dấu chất lượng trên bao bì, vì họ coi đó là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hóa Các dấu đó bao gồm: Dấu chứng nhận tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS); dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp (JAS); dấu tiêu chuẩn môi trường (Ecomark); các dấu chứng nhận chất lượng khác như dấu Q (đo chất lượng và độ đồng nhất của sản phẩm), dấu SIF và dấu Len (cho các hàng may mặc có chất lượng tốt) Do đó, các nhà nhập khẩu muốn bán hàng được trên thị trường Nhật Bản thì trước tiên, hàng hóa nhập khẩu của họ phải được đóng các dấu kể trên
- Luật vệ sinh thực phẩm:
Luật này áp dụng cho tất cả các hàng hóa liên quan đến thực phẩm, gia
vị, dụng cụ chứa thực phẩm, đóng gói, máy móc để chế biến thực phẩm và đồ chơi trẻ em Luật này bao gồm một số quy định cụ thể về thực phẩm nhập khẩu, dán nhãn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm… Hàng sản xuất trong nước và nhập khẩu đều phải tuân thủ quy định như nhau Bộ Y tế và Phúc lợi là đơn vị chịu trách nhiệm thực thi và quản lý vệ sinh thực phẩm
Ngoài ra, ở nước này còn có nhiều luật khác nhằm tạo ra hàng rào phi thuế quan cho hàng nhập khẩu như: Luật trách nhiệm sản phẩm, Luật chống
Trang 35các bệnh truyền nhiễm, Luật kiểm dịch thực vật, Luật độc quyền muối, độc quyền rượu, Luật kiểm soát lương thực, kiểm soát chất kích thích…
1.2.3 Hoa Kỳ
Dù là một nước chủ trương tự do hóa thương mại, nhưng Chính phủ Hoa Kỳ cũng đưa ra rất nhiều những chính sách nhằm quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước và bảo vệ người tiêu dùng Hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ bao gồm các vấn đề sau:
- Quy định về hải quan:
Hải quan Hoa Kỳ là cơ quan thực thi và áp dụng các quy định để quản
lý hàng hóa nhập khẩu, chống các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu Bên cạnh những quy định khắt khe về điều kiện các doanh nghiệp được phép xuất khẩu, nhập khẩu thì việc quản lý về tiêu chuẩn kỹ thuật, xuất xứ, vệ sinh an toàn thực phẩm… đối với các linh kiện, nguyên liệu được dùng để sản xuất hàng hóa cũng rất được chú trọng
- Về nhãn hiệu thương mại:
Đạo luật 1946 quy định hàng hóa mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép sẽ
bị cấm nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, bị tịch thu và không hoàn trả Các
cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ có quyền bắt giữ, xử lý rất nặng đối với những lô hàng nhập khẩu vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng giả và những lô hàng ghi nhãn hiệu, thành phần… không đúng với thực tế kiểm tra của hải quan
- Bản quyền:
Điều 602 (a) của Luật sửa đổi về bản quyền nhãn hiệu năm 1976 quy
định: “sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu vi phạm bản quyền khi vào thị trường Hoa Kỳ sẽ bị bắt giữ và tịch thu, các bản sao chép sẽ bị tiêu hủy” [39,
tr 181]
- Quy định về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ:
Trang 36Hàng nhập khẩu ở những nước đang phát triển hoặc ở những nước đã
ký hiệp định thương mại với Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế suất thấp.Nhưng Hoa Kỳ yêu cầu sản phẩm của các nước đang phát triển muốn được hưởng thuế suất ưu đãi thì phải chứng minh được hàng hóa đó đã được sản xuất và hoàn thiện tại nước được hưởng ưu đãi [39, tr181]
Quyền hạn chế nhập khẩu theo một số luật về môi trường:
Hoa Kỳ sử dụng các đạo luật nhằm bảo vệ môi trường như Luật bảo vệ các loài động vật biển có vú năm 1973, Luật cấm đánh bắt cá bằng lưới quét vùng biển xa bờ, Luật bảo vệ các loài chim tự nhiên… [39, tr181]
- Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm (Standard Code):
Trong luật về các hiệp định thương mại năm 1979 Hoa Kỳ đã đưa ra những quy định, các tiêu chuẩn, các thủ tục xin giấy chứng nhận cho hàng xuất khẩu của các nước vào thị trường Hoa Kỳ [39, tr181]
- Hạn chế nhập khẩu có liên quan đến an ninh quốc gia, chống khủng
bố sinh học và bảo vệ sức khỏe cộng đồng:
Đạo luật về quyền lực kinh tế trong trường hợp khẩn cấp năm 1977 cho phép Tổng thống Hoa Kỳ sử dụng các biện pháp cần thiết như phong tỏa tài sản, cấm vận… của người nước ngoài tại lãnh thổ Hoa Kỳ để đảm bảo an ninh quốc gia Hải quan Hoa Kỳ sẽ không cho phép các lô hàng nhập khẩu có linh kiện hay sử dụng nguyên liệu từ các nước bị lệnh cấm vận và trừng phạt của
Mỹ [39, tr181, 182]
Ngày 12/6/2003 Chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật chống khủng bố sinh học nhằm đối phó với khủng bố sinh học, đảm bảo an ninh, y tế cộng đồng.Lấy lý do bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo tồn động thực vật, an ninh…Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã đã đưa ra những đạo luật quy định về vệ sinh dịch tễ hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia khác [39, tr182]
Trang 37- Các tiêu chuẩn về an toàn lao động:
Để cản trở sản phẩm của các quốc gia vào thị trường Hoa Kỳ, Chính phủ Mỹ đã áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn lao động Cơ quan hải quan sẽ không chấp nhận các lô hàng nhập khẩu mà sản phẩm là do các phạm nhân, trẻ em dưới tuổi vị thành niên tại các trại lao động cải tạo làm ra [39, tr182]
1.3 Quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về hàng rào phi thuế quan
1.3.1 Hành động chống bán phá giá
Điều VI của GATT- 1994 đã cho phép các thành viên áp dụng chống bán phá giá, các biện pháp này có thể được áp dụng với việc nhập khẩu một hàng hóa có giá xuất khẩu thấp hơn so với giá bình thường (thông thường so sánh với giá hàng của sản phẩm tại thị trường nước xuất khẩu), nếu hàng nhập khẩu phá giá đó gây thiệt hại cho công nghiệp nội địa trên lãnh thổ của các nước thành viên nhập khẩu Các quy định chi tiết điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp như vậy hoặc có thể ở dạng thuế, hoặc cam kết về giá của người xuất khẩu được đàm phán tại Vòng đàm phán Tokyo và sau này Hiệp định đó được sử dụng trong Vòng Uruguay
Hiệp định của WTO cung cấp sự rõ ràng hơn và các nguyên tắc chi tiết hơn liên quan đến phương pháp để xác định hàng đó có bị bán phá giá hay không, bao gồm cách tính giá thông thường nếu không có khả năng so sánh trực tiếp với giá nội địa Một loạt tiêu chuẩn cũng được nêu ra để xem xét cách xác định rằng hàng nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước và các thủ tục phải tuân thủ trong tổ chức và thực hiện các cuộc điều tra về phá giá.Các quy định về thực thi và thời hạn của các biện pháp chống bán phá giá cũng là một phần của Hiệp định Ngoài ra Hiệp định cũng làm rõ vai trò của Uỷ ban giải quyết tranh chấp trong các vụ tranh chấp
Trang 38liên quan đến các hoạt động chống phá giá do các thành viên của WTO tiến hành
Hiệp định yêu cầu các nước nhập khẩu thiết lập mối quan hệ nhân quả
rõ ràng giữa hàng hóa phá giá nhập khẩu và tổn thất đối với công nghiệp trong nước Việc kiểm tra hàng hóa nhập khẩu phá giá đối với ngành công nghiệp liên quan phải bao gồm việc đánh giá tất cả các chỉ số kinh tế thích hợp gây ra cho ngành công nghiệp được xem xét
Cần đề ra các thủ tục rõ ràng về việc xác định vụ việc, như phá giá xảy
ra như thế nào, các cuộc điều tra như vậy đã được tiến hành ra sao với những điều kiện cần đảm bảo rằng tất cả các bên quan tâm đều có cơ hội trình bày các chứng cứ Các biện pháp chống bán phá giá phải kết thúc trong vòng năm năm kể từ ngày đánh thuế, trừ phi có sự đánh giá rằng sự phá giá và thiệt hại gây ra vẫn tiếp diễn nếu chấm dứt các biện pháp đó
Các cuộc điều tra phá giá sẽ kết thúc ngay sau khi nhà chức trách xác định được mức độ phá giá tối thiểu là dưới 2%, theo tỷ lệ phần trăm của giá xuất khẩu sản phẩm hay khối lượng hàng nhập khẩu phá giá được coi là không đáng kể (thông thường hàng nhập khẩu phá giá từ nước đơn lẻ chiếm tới 3% tổng số lượng hàng nhập khẩu đang xem xét vào nước nhập khẩu hoặc tuỳ thuộc vào các chỉ tiêu khác) Hiệp định kêu gọi thông báo chi tiết và nhanh chóng tất cả các hành động chống phá giá ban đầu và cuối cùng cho Uỷ ban thực hiện chống phá giá Hiệp định tạo cơ hội cho các nước thành viên tham khảo về bất cứ vấn đề nào liên quan đến hiệp định hoặc các mục tiêu tiếp theo và yêu cầu thành lập nhóm giải quyết tranh chấp
1.3.2 Các hạn chế về trợ cấp và biện pháp thuế đối kháng
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp bù trừ được xây dựng trên cơ sở Hiệp định về diễn giải và áp dụng các điều 6, 16, 23 của GATT đã được thảo luận tại Vòng Tokyo Không giống Hiệp định tiền nhiệm, Hiệp định mới chứa
Trang 39đựng định nghĩa trợ cấp và đề ra khái niệm “ trợ cấp đặc biệt” trợ cấp có thể chỉ dành cho xí nghiệp hoặc một ngành hoặc một nhóm các xí nghiệp hay các ngành công nghiệp nằm trong phạm vi quyền hạn của tổ chức cấp trợ cấp Chỉ các trợ cấp đặc biệt mới phụ thuộc vào các nguyên tắc được quy định trong Hiệp định
Hiệp định áp dụng đối với các sản phẩm phi nông nghiệp, bao gồm ba loại trợ cấp: Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể hành động được và trợ cấp không thể hành động khác được.Trong các điều kiện chung, trợ cấp bị cấm là các loại hình dành cho hoạt động xuất khẩu hay cho việc sử dụng hàng trong nước thay thế hàng nhập khẩu Các trợ cấp bị cấm tùy thuộc các thủ tục giải quyết tranh chấp mà bao gồm một thời gian biểu hành động do Uỷ ban giải quyết tranh chấp đề ra Nếu Uỷ ban giải quyết tranh chấp phát hiện trợ cấp là loại bị cấm, thì trợ cấp này phải lập tức bị loại bỏ trợ cấp hoặc các ảnh hưởng trên
Trợ cấp có thể hành động được là những trợ cấp mang tính đặc trưng, không phổ biến,đối tượng nhận những trợ cấp này chỉ giới hạn trong một hoặc một số doanh nghiệp, hoặc một số ngành sản xuất hoặc một khu vực địa lý nhất định Trợ cấp có thể hành động được chỉ được phép áp nếu như chúng chỉ dừng ở mức không gây tác động tiêu cực đến quyền lợi của các nước khác, nếu gây tác động tiêu cực đến quyền lợi của các nước khác thì nước sử dụng trợ cấp có thể hành động được có thể bị các nước liên quan áp dụng các biện pháp khắc phục như đánh thuế bổ sung đối với số hàng nhập khẩu được trợ cấp (gọi là thuế đối kháng) hoặc kiện ra Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO
Các trợ cấp không thể hành động khác được có thể là loại đặc biệt hoặc
là loại liên quan sự giúp đỡ cho công việc nghiên cứu và các hoạt đông triển khai trước cạnh tranh, sự giúp đỡ cho các vùng không có lợi thế hoặc các loại trợ cấp cụ thể để làm phù hợp các phương tiện hiện có với các yêu cầu về bảo
Trang 40vệ môi trường áp đặt theo luật hoặc quy định Khi một thành viên tin tưởng rằng trợ cấp không thể hành động khác được đó sẽ gây ra ảnh hưởng xấu nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước, thành viên này có thể xác định
và xin ý kiến về vấn đề đó
Hiệp định còn có các điều khoản về việc sử dụng “các biện pháp bù trừ” các loại thuế của nước nhập khẩu nhằm bù đắp trợ cấp hàng hóa đang nói tới Do vậy, có hàng loạt nguyên tắc về việc khởi xướng các trường hợp bù trừ, các cuộc điều tra của các nhà chức trách quốc gia và các quy định về bằng chứng và lập luận Các nguyên tắc tính toán trị giá trợ cấp được đề ra như một
cơ sở cho việc xác định thiệt hại của công nghiệp trong nước.Hiệp định đòi hỏi các yếu tố kinh tế liên quan phải được tính đến khi đánh giá tình trạng của ngành công nghiệp và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu có trợ cấp
và ngành công nghiệp bị hại phải được xác định Tất cả thuế bù trừ sẽ được kết thúc trong vòng 5 năm sau khi áp dụng, trừ phi các nhà chức trách quốc gia xác định có cơ sở thời hạn kết thúc của thuế sẽ dẫn tới việc tái diễn trợ cấp
và thiệt hại
Các trợ cấp có thể giữ vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển và trong quá trình chuyển đổi các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường Các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển với mức thu nhập thấp hơn 1.000USD / đầu người được miễn trừ các nguyên tắc về các trợ cấp xuất khẩu bị cấm và có một miễn trừ về thời hạn đối với các loại trợ cấp bị cấm khác Đối với các nước phát triển, cấm trợ cấp xuất khẩu
có hiệu lực vào năm 2003, trong khi các miễn trừ của loại trợ cấp bị cấm sẽ được rút ngắn nhanh hơn so với ở các nước nghèo hơn Các cuộc điều tra bù trừ của các hàng hóa có xuất xứ từ các nước thành viên đang phát triển sẽ kết thúc nếu mức tổng thể của trợ cấp không vượt quá 2% (đối với một vài nước đang phát triển là 3%) trị giá của hàng hóa đó hay nếu khối lượng hàng nhập