Lý do chọn đề tài Ngôi chùa Khmer ở Nam bộ được đồng bào xem là điểm sinh hoạt tôngiáo, văn hóa cộng đồng và đại diện cho bộ mặt cuộc sống của người dân địaphương Đồng bào Khmer luôn đặt
Trang 1Huỳnh Thanh Trang
MỸ THUẬT CHÙA KHMER
Ở NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2020
Trang 2Huỳnh Thanh Trang
MỸ THUẬT CHÙA KHMER
Ở NAM BỘ
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học
GS TS Nguyễn Xuân Tiên
TS Đinh Văn Hạnh
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Mỹ thuật chùa Khmer ở Nam Bộ là
công trình nghiên cứu của riêng tôi; các tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận án làtrung thực; kết quả nghiên cứu của luận án chƣa đƣợc công bố trong bất kìcông trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Nghiên cứu sinh
Huỳnh Thanh Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1 1 T ng quan t nh h nh nghiên cứu 13
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về các nh vực có iên quan đến ch a Khmer 13
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về mỹ thuật ch a hmer 18
1 2 Cơ sở lý luận 21
1.2.1 Các khái niệm 21
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu 25
1.3 Khái quát về đối tượng nghiên cứu 32
1.3.1 Lịch sử hình thành và vai trò của ngôi ch a trong đời sống tinh thần của người Khmer ở Nam bộ 32
1.3.2 Một số ngôi chùa Khmer tiêu biểu ở Nam Bộ 44
Tiểu kết 54
Chương 2 C C THÀNH T M THUẬT CH A KHMER Ở NAM BỘ 56
2 1 Kiến tr c ch a Khmer 56
2.1.1 Bố cục tổng thể 56
2.1.2 iến tr c nhà tăng à 57
2.1.3 iến tr c ch nh điện r ihear 58
2.1.4 iến tr c các h ng mục phụ tr 62
iến tr c cổng ch a và tường rào: 62
iến tr c cột cờ: 66
2 2 Trang tr ch a Khmer 69
2.2.1 rang tr ngo i thất 70
2.2.2 rang tr nội thất 79
2 3 Nghệ thuật điêu khắc ch a Khmer 84
2.3.1 Các chất iệu sử dụng trong điêu h c ch a hmer Nam bộ 84
Trang 52.3.2 Các thể o i trong điêu h c ch a hmer Nam bộ 85
Tiểu kết 103
Chương 3 ĐẶC TRƯNG VÀ GITRỊ M THUẬT CH A KHMER Ở NAM BỘ 104 3 1 Đặc trưng mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ 104
3.1.1 Những đặc trưng chung 104
3.1.2 Đặc trưng qua mối quan hệ giữa kiến tr c - trang tr nội, ngo i thất và điêu kh c 111
3.2 Giá trị mỹ thuật ch a Khmer ở Nam Bộ 116
3.2.1 Chùa à quần thể kiến tr c đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao 117
3.2.2 Mỹ thuật chùa Khmer Nam bộ ảnh hưởng tới sáng t o của nghệ s và góp phần đa d ng hóa nền mỹ thuật hiện đ i Việt Nam 119
3.2.3 ảo t n và phát huy giá trị mỹ thuật t o hình chùa Khmer ở Nam bộ 123
Tiểu kết 136
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG B 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 162
Trang 6Văn hóa Nghệ thuật
Văn hóa Thông tin
Trang 7MỞĐ U
1 Lý do chọn đề tài
Ngôi chùa Khmer ở Nam bộ được đồng bào xem là điểm sinh hoạt tôngiáo, văn hóa cộng đồng và đại diện cho bộ mặt cuộc sống của người dân địaphương Đồng bào Khmer luôn đặt niềm tin vào Đức Phật, người che chở vàban phước lành cho người dân…, v thế trong các phum, sóc, họ tự nguyệnđóng góp tiền của để xây dựng ngôi ch a riêng cho địa phương m nh Ở khuvực Nam bộ có hơn 1 triệu người dân Khmer sinh sống, nhưng có khoảng
600 ngôi chùa lớn nhỏ được xây dựng, trong đó có những ngôi chùa c vớiphong cách kiến tr c, điêu khắc độc đáo đã được công nhận là di tích kiến trúcnghệ thuật cấp quốc gia như: ch a Kh’leang tỉnh Sóc Trăng, ch a Ăngko-Reach Bô-Rfiy (Âng) tỉnh Trà Vinh, ch a Xà Tón tỉnh An Giang, ch aKomphisako Prekchru (Xiêm Cán) tỉnh Bạc Liêu…
Hiện nay, tại Nam bộ c ng như trong phạm vi cả nước, đã có không tcác công tr nh nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước vềlịch sử văn hóa nghệ thuật của người Khmer ở Nam bộ Trong đó có
nhiều công tr nh nghiên cứu có liên quan đến v ng đất mới Nam bộ nói chung
t đ u thế k XVII đến giữa thế k XX Tuy nhiên những công
tr nh này chủ yếu chỉ nghiên cứu những vấn đề về h nh thành cộng đồng người Khmer Nam bộ, t chức xã hội, hôn nhân và gia đ nh của người Khmer dưới các gốc độ lịch sử, dân tộc học Bên cạnh đó c ng có những công tr nh nghiên cứu về về văn hóa, nghệ thuật như sân khấu, âm nhạc… Trong đó có
đề cập đến lịch sử h nh thành các ngôi ch a Khmer Nhưng nh n chung, cho đến nay, chưa có công tr nh nghiên cứu chuyên biệt nào về mỹ thuật ch a Khmer Nam bộ trong khi đó ngôi ch a chiếm một vị tr đặc biệt trong đời sống tinh th n, t n ngư ng của dân tộc Khmer v ng Nam bộ Ch a Khmer ngoài chức năng đáp ứng nhu c u sinh hoạt tôn
Trang 8giáo, c n là trung tâm sinh hoạt văn hoá - xã hội của t ng cộng đồng phum, sóc
Khmer, là nơi lưu giữ nhiều kiểu thức hoa văn trang tr độc đáo thể hiện đậm
đà bản sắc dân tộc Khmer
Khu vực Nam bộ có nhiều dân tộc khác nhau c ng sinh sống, trong đó
người Kinh - Khmer - Hoa chiếm số lượng đông Người Khmer là một trong
những bộ phận cư dân sinh sống lâu đời nhất ở nơi đây Sau đó người Việt và
người Hoa mới đến đây định cư, ba tộc người này đã c ng chung sống để tạo
nên v ng đất Đồng b ng sông Cửu Long đa dân tộc, đa t n ngư ng như ngày
nay Trong quá tr nh cộng cư như thế, sự đan xen
giao lưu văn hóa là tất yếu hiển nhiên Điều này làm cho Văn hóa Khmer nơi
đây mang một bản sắc riêng khác với các địa phương trong khu vực, có một
quá tr nh phát triển lâu dài và rực r trong đó mỹ thuật được thể
hiện qua các ngôi ch a, thông qua nghệ thuật kiến tr c, điêu khắc, trang tr nội
ngoại thất
Do đó, nghiên cứu về những giá trị văn hóa th m mĩ của tộc người
Khmer là hết sức c n thiết đặc biệt là mối quan hệ giữa văn hóa - tôn giáo và
mỹ thuật bởi l nghiên cứu mối quan hệ này c ng là nghiên cứu một
trong những n t đặc trưng nhất về đời sống vật chất, đời sống tinh th n và đời
sống th m mĩ của tộc người Khmer, là cơ sở cho các hoạch định ch nh
sách kinh tế - văn hóa - xã hội của nơi đây
để có thức giữ g n và phát huy đ ng hướng những giá trị văn hóa vànghệ thuật đặc th
Xuất phát t
đã chọn đề tài Mỹ thuật ch a hmer ở Nam bộ làm Luận án Tiến sĩ của m nh
bởi đây là việc làm c n thiết để b sung cho những đánh giá toàn diện và đ y đủ
về kho tàng văn hóa nghệ thuật phong ph đa dạng của cộng đồng các dân
Trang 9tộc Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đứng t góc độ mỹ thuật, đề tài nghiên cứu Mỹ thuật ch a hmer ở Nam
bộ, để nhận diện r yếu tố cấu thành nên mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ, qua
đó, nêu bật những đặc trưng và giá trị nghệ thuật của ch a Khmer vùng Nam
bộ nh m gi p cho ch nh quyền c ng như người dân nơi đây nâng
cao thức giữ g n và phát huy đ ng hướng những giá trị nghệ thuật đặc th của dân tộc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
T mục đ nh nghiên cứu t ng thể trên, luận án s thực hiện nghiên cứu
t ng nhiệm vụ cụ thể sau:
- Đưa ra một số khái niệm, l luận, l thuyết, nghiên cứu về v ng đất vàlịch sử h nh thành ch a Khmer ở vùng Nam bộ làm cơ sở nền tảng cho việcnghiên cứu các các vấn đề của đề tài luận án
- Nghiên cứu các thành tố mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ, phân t ch vềthực trạng, đặc trưng của mỹ thuật ch a Khmer v ng Nam bộ, thông qua
các ngôn ngữ kiến tr c, trang tr , điêu khắc…
- Phân t ch, đánh giá đặc trưng và giá trị mỹ thuật ch a Khmer ở Nambộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộTrên nền tảng kiến tr c ngôi ch nh điện v đây là công tr nh tập trung đ y đủ cáctinh hoa mỹ thuật của người Khmer, luận án đi sâu nghiên cứu nghệ thuậtkiến tr c, trang tr nội ngoại thất, điêu khắc thông qua khảo sát một số ngôi ch aKhmer tiêu biểu của Nam bộ được công nhận là di t ch kiến tr c, nghệ
Trang 10thuật cấp quốc gia và cấp tỉnh.
3.2 h m vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: luận án nghiên cứu t thế k 18 khi mà đạo Phật NamTông trở thành ch dựa tinh th n chủ yếu của cộng đồng người Khmer và xãhội của người Khmer Nam bộ được t chức theo quy mô của đạo Phật
Nam Tông cho đến nay Thế k 18 c ng là thời gian muộn nhất h u hết các ngôi
ch a Khmer được xây dựng n định, tồn tại cho đến ngày nay Sau thời điểmnày, rất t ngôi ch a Khmer được xây dựng thêm
- Phạm vi không gian: Mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ s được nghiêncứu toàn diện, trong đó NCS tập trung nghiên cứu khảo sát d ng dẫn liệu minhhọa chủ yếu t bốn ngôi ch a Khmer tiêu biểu đã được nhà nước công nhận là
di t ch kiến tr c nghệ thuật cấp quốc gia và cấp tỉnh tại bốn tỉnh có đông đồngbào Khmer cư tr là ch a Kh’leang tỉnh Sóc Trăng, ch a Ăngko-Reach Bô-Rfiy(Âng) tỉnh Trà Vinh, ch a Xà Tón tỉnh An Giang, ch a Komphisako Prekchru(Xiêm Cán) tỉnh Bạc Liêu
- Phạm vi nội dung: nghệ thuật kiến tr c, điêu khắc, trang tr ở 4 ngôichùa nêu trên
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Bốn ngôi ch a Khmer là một mô h nh t ng hợp của nhiều ngôi ch a tiêubiểu trong khu vực t đó phác họa, đánh giá những yếu tố trong mỹ thuật ch aKhmer Nam bộ như: kiến tr c, trang tr , điêu khắc…, nh m nêu lên mối quan
hệ và giá trị của của các yếu tố này trong ngôi ch a
4.1 Câu hỏi nghiên cứu:
Các câu hỏi NCS đưa ra để dẫn dắt, h nh thành giả thuyết nghiên cứu là:
Những thành tố mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ là g ?
Ch a Khmer ở Nam bộ có những đặc trưng và giá trị mỹ thuật g ?
C n làm g để phát huy những đặc trưng và giá trị mỹ thuật ch a
Trang 11Khmer ở Nam bộ?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết 1: Trả lời cho câu hỏi nghiên cứu những thành tố mỹ thuật
ch a Khmer ở Nam bộ thể hiện như thế nào? T việc tìm hiểu hiện tượng: mỹthuật ch a Khmer Nam bộ thể hiện theo phong cách nào Luận án c ng xác địnhmức độ, dạng h nh trong t ng kh a cạnh kiến tr c, trang tr , điêu khắc T đó xácđịnh, chỉ ra những yếu tố của mỹ thuật ch a Khmer Nam
bộ là quan trọng nhất Kết quả nghiên cứu là cơ sở để tạo dựng nên những kếthợp t sự tương tác của những khái niệm như ch ng vốn có Ở đó, ch ng tươngtác và xây dựng làm nên những đặc trưng riêng biệt của mỹ thuật ch a KhmerNam bộ
Giả thuyết 2: Trả lời cho câu hỏi ch a Khmer Nam bộ có những đặctrưng và giá trị mỹ thuật gì? T việc nghiên cứu cụ thể về nghệ thuật kiến tr c,nghệ thuật trang tr , nghệ thuât điêu khắc…, ở một số ch a Khmer tiêu biểucủa Nam bộ, NCS không chỉ t m ra n t đặc trưng riêng về mặt nghệ thuật tạo h
nh mà c n có cơ sở khoa học, học thuật khẳng định được những đặc trưng vàgiá trị mỹ thuật của nó trong bối cảnh tương tác với các nền văn hóa khác củangười Việt, người Hoa c ng chung sống trên mảnh đất Nam bộ
Giả thuyết 3: Trả lời cho câu hỏi thực trạng mỹ thuật ch a Khmer hiệnnay Trên cơ sở phân t ch thực trạng, những nguy cơ làm mất đặc trưng, giá trịvăn hóa, nghệ thuật, luận án đề ra những giải pháp và kiến nghị nh m phát huygiá trị mỹ thuật ch a Khmer ở v ng Nam bộ
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
C ch tiếp cận: Việc chọn l thuyết và phương pháp nghiên cứu ph
hợp gi p ch cho việc tiếp cận và giải quyết các giả thuyết của vấn đề nghiêncứu một cách khoa học NCS sử dụng cách tiếp cận liên ngành trong đó lấy mỹthuật học là ch nh
Trang 125.1.1 Tiếp cận nghiên cứu theo hướng Xã hội học
Xã hội học là khoa học về các quy luật và t nh quy luật xã hội chung, vàđặc th của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịch
sử Ch nh bối cảnh và sự vận động xã hội hẹp của một v ng miền trong khoảngthời gian nhất định đã sinh ra những phong cách trang tr , kiến tr c mang t nhđặc trưng riêng của thời đại Giai đoạn lịch sử 300 năm h nh thành và pháttriển của mảnh đất Tây Nam Bộ đã cho ra đời những ngôi ch a Nam Tông cóđặc điểm riêng mà trước và sau thời kỳ này không có Đó c ng ch nh là l do đểnghiên cứu và bảo tồn những giá trị của nó
5.1.2 Tiếp cận nghiên cứu theo hướng Mỹ thuật học
Là hệ thống lý luận và kiến thức về các lĩnh vực mỹ thuật, Mỹ thuật học
s là hướng tiếp cận nghiên cứu, phân tích những yếu tố và nguyên lý sángtạo trong t ng lĩnh vực kiến tr c, trang tr , điêu khắc của các ngôi chùa KhmerNam bộ Người nghệ nhân đã lựa chọn các phương pháp tạo hình, trang trí rất
đa dạng dẫn tới những kết quả phong ph Đây là cơ hội để vận dụng và chứngminh những lý luận thông qua thực tiễn
5.1.3 Tiếp cận nghiên cứu theo hướng Nhân học nghệ thuật
Nhân học nghệ thuật nghiên cứu quá trình sáng tạo và thưởng thức,mục đ ch hiểu biết tính dân tộc, những cộng đồng đã sản sinh, nuôi dư ng, làmôi trường hoạt động của các nền nghệ thuật, đã nhấn mạnh “trong nhân họcnghệ thuật, nghiên cứu nghệ thuật là phương tiện đối với mục đ ch nghiêncứu nhân học”
Các tộc người khác nhau là người Việt - Hoa - Khmer đã c ng cộng cưtrong quá trình lâu dài dẫn đến sự giao thoa điều này đã làm cho các tác ph mnghệ thuật Phật giáo Khmer v a mang đặc điểm và nhân sinh quan của cả batộc người v a đem đến những cái chung trong sự hài hòa thống nhất đó ch nh
là những ngôi ch a Khmer nơi đây
Trang 13hư ng ph p nghiên cứu
5.2.1 hương pháp tiếp cận iên ngành
“Nghiên cứu liên ngành là nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp cácmôn học, các ngành học với nhau” Đó là sự t ng hợp tri thức của nhiều lĩnhvực và nhiều ngành học, là quá tr nh liên kết, thiết lập các mối quan hệ qualại, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa những phương pháp và quy tr nhcủa nhiều chuyên gia khác nhau Bởi vậy, nghiên cứu liên ngành khác với tiếpcận chuyên ngành là sử dụng các phương pháp và quy tr nh của nhiều chuyênngành một cách riêng biệt, độc lập
T góc độ tâm l học, PGS TS Nguyễn Hữu Thụ th định nghĩa tiếp cậnliên ngành trong khoa học là cách thức t chức, tiến hành nghiên cứu có sửdụng quan điểm, tri thức và phương pháp nghiên cứu của một nhóm chuyêngia thuộc các chuyên ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàndiện, khách quan và hiệu quả nhất
Trong luận án NCS sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành: lịch sửhọc, tôn giáo học, mỹ thuật học, xã hội học, nhân học nghệ thuật…, để phân t
ch các loại h nh mỹ thuật: kiến tr c, trang tr , điêu khắc trong một số ngôi ch acủa người Khmer ở Nam bộ nh m làm r đặc trưng và giá trị của nó về mặttâm linh, văn hóa, mỹ thuật
5.2.2 hương pháp so sánh khi so sánh các yếu tố tạo h nh của ch a
Khmer tại bốn tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu và An Giang để t đó r t ranhững n t tương đồng và khác biệt trong phong cách tạo h nh của t ng v ng c
ng như làm n i r giá trị văn hóa nghệ thuật của các yếu tố này trong ch aKhmer ở Nam bộ
- Phương pháp phân t ch t ng hợp tài liệu thứ cấp, phân t ch, so sánhđối chiếu, điền dã thực địa, phỏng vấn chuyên gia phỏng vấn trực tiếp các nhà
sư, người dân bản địa, nghiên cứu thực tế tại các ngôi ch a, v k họa ghi ch pvốn c , vector hóa vốn c , đo đạc, chụp ảnh, in dập, trên các công tr nh
Trang 14kiến tr c NCS đã đến các ch a là ch a Kh’leang tỉnh Sóc Trăng, ch a Reach Bô-Rfiy (Âng) tỉnh Trà Vinh, ch a Xà Tón tỉnh An Giang, ch aKomphisako Prekchru (Xiêm Cán) tỉnh Bạc Liêu trong thời gian 2 tháng để bsung và làm sáng tỏ vấn đề
Ăngko-6. Kết quả và đóng góp của luận án
Thông qua việc nghiên cứu các kiểu thức trang tr kiến tr c, trang tr ,điêu khắc trong ch a Khmer v ng Nam bộ, luận án khi hoàn thành s đóng gópmột ph n nhỏ vào việc nghiên cứu các công tr nh văn hoá vật thể và phi vậtthể ở nước ta nói chung, ở v ng Nam bộ nói riêng
Chương 1: Cơ sở l luận và thực tiễn (45 trang)
Chương 2: Các thành tố mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ (46 trang)Chương 3: Đặc trưng và giá trị mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ (38trang)
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Con người, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, t n ngư ngngười Khmer v ng Nam bộ là đề tài được quan tâm nghiên cứu t nhiều nămnay Những năm g n đây, nghệ thuật Khmer nói chung mới bắt đ u được quantâm nghiên cứu Tuy nhiên mỹ thuật ch a Khmer ở Nam bộ vẫn chưa đượcnghiên cứu nhiều, sâu
Nam bộ là một tiểu v ng văn hóa Giao lưu và tiếp biến văn hóa giữacác tộc người sống trên vùng châu th này là một trong những đặc trưng vănhóa n i bật Nghiên cứu văn hóa Nam bộ s được chọn lý thuyết nghiên cứuquy luật chung của văn hóa vào một trường hợp cụ thể nh m làm sáng tỏ quá
tr nh định cư, sinh sống tách biệt lâu dài với người Khmer vùng Biển Hồ đãtạo nên những đặc điểm về cư tr , sản xuất kinh tế, tập quán xã hội, hìnhthành đặc trưng văn hóa riêng của người Khmer vùng Nam bộ mà mỹ thuật làmột dẫn liệu minh chứng cho đặc trưng đó
1.1 T ng quan t nh h nh nghiên cứu
Nhóm c c c ng tr nh nghiên cứu về c c l nh vực có liên quan
Nói chung những công tr nh nghiên cứu về đặc trưng, giá trị và các lĩnhvực khác có liên quan đến đề tài được công bố khá nhiều Dưới đây NCS chỉxin giới thiệu một số công tr nh, bài viết tiêu biểu Những tác ph m này s lànguồn tư liệu gi p ch cho việc xây dựng các luận cứ về cội nguồn đặc trưngvăn hóa, xã hội của chủ nhân mỹ thuật ch a Khmer trên v ng đất Nam bộ…
Năm 1980, Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Ch Minh đã cho
xuất bản cuốn Người hmer ở Nam ộ (Nxb Tp Hồ Ch Minh), giới thiệu quá
trình tộc người, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Khmer Nhữngđặc điểm văn hóa của tộc người, trong đó có Phật giáo của người
Trang 16Khmer c ng được tr nh bày Năm 2014, lịch sử v ng đất Nam bộ, trong đólịch sử người Khmer trên Nam bộ được các tác giả V Minh Giang, Nguyễn
Quang Ngọc, Lê Trung D ng tr nh bày tương đối đ y đủ trong Lư c sử v ng đất Nam ộ iệt Nam (Nxb Ch nh trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014) Đây
là tài liệu quan trọng xác định quá tr nh định cư và phát triển c ng như nguồngốc đặc điểm văn hóa xã hội người Khmer Nam bộ…
Nguyễn Khắc Cảnh (2000), “Sự h nh thành cộng đồng người Khmer
vùng ĐBSCL”, trong ăn hóa Nam ộ trong hông gian xã hội Đông Nam Á,
Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Ch Minh đã cho biết quá tr nh h nhthành cộng đồng dân tộc Khmer trên Nam bộ như thế nào C ng có nhữngnghiên cứu tương tự, các công tr nh, bài viết của: Phan An (1980), “Vài kh a
cạnh dân tộc về người Khmer ở Việt Nam và Campuchia”, trong Hội nghị Quan hệ Việt Nam - Campuchia trong lịch sử (tại Thành phố Hồ Chí Minh);
Nguyễn Khắc Cảnh (1995), “Đặc điểm, các hình thái qu n cư và các loại hình
phum sóc người Khmer ĐBSCL”, Tập san Khoa học A, Trường Đại học T ng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2-1995; Nguyễn Khắc Cảnh (2000), “Quá tr nh
h nh thành tộc người của người Khmer t thế k VI đến thế k XIII”, trong ăn hóa Nam ộ trong hông gian xã hội Đông Nam Á, Nxb Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Ch Minh…, cho thấy quá tr nh người Khmer đã đếnđịnh cư và làm ăn sinh sống trên v ng đất Tây Nam bộ sau khi vương quốcPhù Nam suy tàn
Để có cái nh n đ y đủ, sâu sắc về đặc điểm tôn giáo, t n ngư ng và nghệthuật tạo h nh của ngôi ch a Khmer rất c n quan tâm t m hiểu các mối quan hệ,ảnh hưởng của văn hóa trong v ng đối văn hóa Khmer nói chung và nghệ
thuật nói riêng Nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh (1997), iến tr c Đông Nam Á (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội); “Ch a Vàng ở Myanmar”(1998), T p chí Nghiên cứu Phật học, số 5, 1998; “Phật giáo ở Thái Lan thời kỳ đ u”,
Trang 17T p chí Nghiên cứu Phật học, số 6, 2000; “Vat Phara (Ch a Phật Ngọc) ở Thái Lan”, T p chí Nghiên cứu Phật học, số 3, 1999; Nghệ thuật Đông Nam Á (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000); Grant Evans với Bức khảm ăn hoá Châu Á (Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001)…, cung cấp những nguồn tư
liệu qu giá để Nghiên cứu sinh tham khảo
Vấn đề về ch a Khmer Nam bộ, t trước đến nay đã có khá nhiềunhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau nhưng chủ yếu đi sâuvào vấn đề tôn giáo, phong tục t n ngư ng, lịch sử như:
Trước năm 1975 có Người iệt gốc Miên của tác giả Lê Hương xuất bản
tại Sài G n năm 1969 là một công tr nh được người trong nước viết khá sớm
và tương đối đ y đủ và công phu về người Khmer Nam bộ Ở đó ông đề
cập khá nhiều về phong tục, tập quán, t n ngư ng, lễ hội, tôn giáo Nhưng về
mỹ thuật th h u như không thấy tác giả nhắc đến
- ìm hiểu về vốn văn hoá dân tộc hmer Nam ộ (1988) của Nxb Hậu
Giang với nội dung đi sâu vào những giá trị tinh th n truyền thống của ngườidân Khmer ở Nam bộ đã sáng tạo, xây dựng và đang được các ngành khoahọc khai thác đánh giá trong thời kỳ “đ i mới” về văn hoá hiện nay
- Công trình ăn hóa người Khmer Đ CL, 1993 của Viện Văn hóa
(Trường Lưu chủ biên) c ng khẳng định: “Với người Khmer ở Nam bộ vàngười Khmer ở Campuchia, tuy có chung nhau một cội nguồn văn hóa,nhưng khi thành những cộng đồng riêng biệt, đã phát triển khác nhau theomôi trường địa l , theo hoàn cảnh kinh tế - xã hội, theo thể chế ch nh trị của m
i cộng đồng khác nhau” [106, tr 14] Về người Khmer ở Nam bộ và ngườiKhmer ở Campuchia, có kiến cho r ng: đó là hai tộc người có chung một nền văn hóa cơ bản và chung sống với nhau trong cộng đồng vương quốc Ph Nam(đ u công nguyên đến thế k VI), rồi vương quốc Chân Lạp (Challa)
Trang 18cho đến đ u thế k XVIII Nhưng đa số kiến lại cho r ng, người Khmer ở ViệtNam và ở Campuchia, vốn có chung một nguồn gốc lâu đời, rồi do biến thiênlịch sử mà tách ra thành hai cộng đồng khác nhau Đó là việc b nh thườngtrong quá tr nh h nh thành lịch sử của nhân loại: một quốc gia có nhiều dântộc và một dân tộc sống ở nhiều quốc gia, h a m nh vào các cộng đồng các dântộc ở quốc gia ấy”
- Ch a hmer Nam ộ với văn hóa đương đ i (2004) của Hà L , Nxb Văn
hoá dân tộc Tác giả giới thiệu t ng quan về dân tộc Khmer, nhận diện đặc thcủa dân tộc, cách nh n nhận về ch a và những đặc điểm
c n quan tâm của nhà ch a Khmer Nam bộ, nh m góp ph n trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay
- “Phật giáo trong đời sống của người Khmer Nam Bộ” (2003) của
Phan An Bài viết phân t ch rất nhiều về ngôi ch a của người Khmer vốn làtrung tâm của văn hoá, tôn giáo, giáo dục của các cộng đồng người Khmer ởNam Bộ hiện nay
- “Đạo Phật Tiểu th a Khmer ở v ng nông thôn ĐBSCL - Chức năng xãhội truyền thống và động thái xã hội” (2003) của Nguyễn Xuân Nghĩa vớinhiều tư liệu điền dã phong ph , tác giả cung cấp một nghiên cứu xã hội học
về Phật giáo tiểu th a ở v ng đồng bào dân tộc Khmer ở Nam bộ
- “Vài n t về văn hoá, t n ngư ng, tôn giáo của đồng bào Khme r
Nam Bộ” (2003) của Đặng Thanh An Bài viết cung cấp một bức tranh chung
về văn hoá, t n ngư ng, tôn giáo của người Khmer ở Nam bộ Sau những cứliệu và phân t ch, tác giả đi đến nhận định đáng ch : Lễ hội dân tộc, t n ngư
ng, tôn giáo và ch a Phật giáo Nam Tông Khmer đã làm giàu bản sắc văn hoácủa đồng bào Khmer Nam bộ
- “Ảnh hưởng của Phật giáo Theravada trong tang ma của người
Trang 19Khmer” (2003) của Nguyễn Mạnh Cường: trong quan niệm của ngườiKhmer, cái chết không có nghĩa là một sự kết th c; sau cái chết, linh hồn tiếptục tồn tại trong một cuộc sống mới bên kia thế giới Các nghi lễ tang ma gắnvới quan niệm về cuộc sống và cái chết của ngôi ch a Các nghi lễ tang ma củangười Khmer ở Nam bộ được t chức trang trọng với nhiều chi tiết và chủ yếutheo tập quán bắt nguồn t Bàlamôn giáo Bài viết mô tả chi tiết toàn bộ mộtnghi lễ tang ma của người Khmer ở Nam bộ
Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hóa Khmer của tác giả Phan Anh
T đăng trên http://www vanhoahoc vn cho biết một số truyền thuyết liênquan đến nguồn gốc tộc người của đồng bào Khmer và các truyền thuyết vềNaga/Neak/Rồng của người Khmer có liên quan đến lịch sử của đức Phật Th
ch Ca t sơ sinh đến khi nhập Niết Bàn
- Nhóm tác giả trong quá tr nh nghiên cứu có nhắc đến ngôi ch anhưng chủ yếu đi sâu vào các vấn đề tôn giáo, phong tục, t n ngư ng, lịch sử:
Hà L [108], Phan An [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], Nguyễn Xuân Nghĩa[121], [122], [123], [124], Đặng Thanh An [9,10], Nguyễn Mạnh Cường [35],[36], [37], Phan Thị Yến Tuyết [186], [187], [188], [189], Nguyễn Đại Đồng[56], Phạm Anh Hoan [68], Hứa Sa Ni [130], [131], Phạm Lan Oanh [134], Tr
n Văn nh [11]… Mục đ ch ch nh của các công tr nh này chủ yếu đi sâu về lĩnhvực văn hóa, không phải là giá trị nghệ thuật của ngôi ch a
Ngoài ra c n có các tài liệu, các công tr nh nghiên cứu tuy không trựctiếp liên quan đến nghệ thuật tạo h nh ch a Khmer Nam bộ nhưng là tài liệutham khảo vô c ng tốt cho NCS trong lĩnh vực chuyên ngành mỹ thuật, cungcấp kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật, chất liệu…, gi p làm sáng tỏ hơn trongvấn đề th m định các tác ph m điêu khắc, trang tr trong ngôi ch a Khmer Nam
bộ, c ng như đưa ra được phương pháp bảo tồn tr ng tu các công tr nh kiến tr
c nghệ thuật độc đáo này, đây là những tài liệu tham khảo rất quan
Trang 20trọng để NCS hoàn thành chương 3 của luận án
Tài liệu Mỹ thuật học [163] xuất bản năm 2017 của GS TS Nguyễn
Xuân Tiên đã cung cấp những kiến thức cơ bản về mỹ thuật và vai tr của nótrong đời sống; một số loại h nh của mỹ thuật như: Điêu khắc, hội họa, kiến tr
c và mỹ thuật ứng dụng Về nguyên tắc trang tr trong mỹ thuật ứng dụng phảibảo đảm:
H nh dáng của vật chất chế tác phải được trọn vẹn, trang tr khônglàm thay đ i hoặc phá hủy h nh dáng, ảnh hướng tới công năng sửdụng của sản ph m, ngược lại, s làm đẹp hơn, sáng tỏ hơn, nhấnmạnh hơn h nh dáng… Mỹ nghệ c n phải mang những n t truyềnthống dân gian độc đáo, có t nh dân tộc và hiện đại r n t, những
t nh đó hoặc n m trong h nh dáng, chất liệu, hoặc trong kỹ thuật chếtác, trong đề tài, trong lối trang tr (như hoa văn, đường n t, màusắc…) [163]
Nh n chung, những g các học giả nước ngoài viết về người Khmer chủyếu là các công tr nh giới thiệu khái lược, trong đó không đề cập cụ thể đếnnghệ thuật tạo h nh ch a Khmer Nam bộ
Những tác giả nghiên cứu về những kh a cạnh của nghệ trang tr haykiến tr c của ngôi ch a Khmer trên các tạp ch chuyên ngành như: Lê Bá Thanh[153,154], Lê Du Mục [114], Châu Thành Thơ [167]… Trong cuốn “T m hiểuvốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ” [125] có bài viết “Văn hóa Khmer trongquá tr nh giao lưu và phát triển ở Nam Bộ” của Đinh Văn Liên và “T m hiểunghệ thuật tạo h nh ch a Khmer ở Nam Bộ” của Lê Tất Thắng có những g nvới hướng nghiên cứu của luận án nhưng chỉ mang t nh khái quát, chưanghiên cứu sâu Tác giả Nguyễn Thị Tâm Anh (năm 2008), trong luận văn thạc
sỹ khoa học của m nh, với đề tài “H nh tượng Ch n (Yeak)
Trang 21frong văn hóa Khmer Nam Bộ” [4] t nhiều đã có những đóng góp quan trọngtrong việc nghiên cứu về nghệ thuật trang tr ch a Khmer nói chung, hoa vănnói riêng Đặc biệt, với tác ph m “Nghệ thuật Phật giáo & Hindu giáo ở đồngbàng sông Cửu Long trước thế k X”
Trong ơ ư c về hình tư ng r ng của người hmer Hứa Sa Ny dẫn lời GS.TS Michel Tranet (2009) trong tác ph m ăn hóa văn minh Khmer - Tôn giáo t n ngưỡng của người hmer thời tiền sử và Cội ngu n văn hóa hmer
[113] cho biết thời điểm h nh tượng con rồng xuất hiện đ u tiên trong nghệthuật Khmer vào khoảng thế k thứ VII (theo phong cách Som-bô-pry-kut) tạimột “bức rèm” ph a trên khung cửa của ngôi đền tại tỉnh Kom-pong-thom,Campuchia T đó trở đi t n suất xuất hiện rồng trong các công tr nh kiến tr ccàng nhiều hơn và k o dài đến thế k XIV với những sự biến dạng khác nhau,tạo nên sự phong ph trong nghệ thuật trang tr
Tác giả Ngô Văn Doanh c n tr nh bày c ng với các nghệ thuật trong khuvực trong số bài viết về “Nghệ thuật Đông Nam ” [44], đồng thời c ng được
Tr n Thị L giới thiệu trên Tạp ch Nghệ thuật Đông Nam Á với bài viết về
“Điêu khắc tượng tr n Đông Nam Á” Trong bài dịch của hai tác giả HuỳnhNgọc Trảng và Phạm Hiếu Thương “Mỹ thuật châu ” (1997) [180] nói vềphương pháp tạo h nh và phong cách mỹ thuật Châu Á, tác giả đã nói về kiến
tr c tháp (Stupa), nghệ thuật trang tr các Vi Hản và nghệ thuật làm tượng củaLào
- Trong bài viết “Ch a Khmer Nam Bộ - một công tr nh nghệ thuật kiến
tr c độc đáo” (1997) [26] tác giả Nguyễn Khắc Cảnh đã tr nh bày kết
quả nghiên cứu văn hoá truyền thống người Khmer t góc nh n về ngôi ch aNội dung bài mô tả chi tiết về nghệ thuật kiến tr c và điêu khắc của ch a ngườiKhmer như một di sản văn hoá vật chất qu giá c n được bảo tồn và lưu giữ,nội dung bài c n tr nh bày về vai tr của ch a Khmer như một trung
Trang 22tâm giáo dục cộng đồng, sinh hoạt xã hội và đời sống tâm linh trong cộngđồng của người Khmer ở Nam bộ
Chan Vitharin and Preap Chanmara, “Kbach a study of Khmerornament” (2005) [207], tài liệu nghiên cứu này sắp xếp các hoa văn trang trtruyền thống của kiến tr c Campuchia thành hệ thống cơ bản là KbachAngkor, kbach phñi tes, kbach phñi voa và kbach ph i phleung và dễ hiểu c ngvới minh họa các bước sáng tạo hoa văn và vị tr của ch ng trong
công tr nh kiến tr c, nêu lên nghĩa tượng trưng c ng như chức năng của cáchoa văn này Có thể nhận thấy t nh hệ thống và sự tiến triển logic của họa tiết,
sự chặt ch qui tắc thể hiện nhưng vẫn có n t hoa mỹ mà duyên dáng phóngkhoáng T di sản Angkor, người Campuchia hiện nay đã t m cách đưa đượctruyền thông trang tr dân tộc vào không gian kiến tr c
đương đại, v dụ sử dụng những trang tr cách điệu t h nh lá cây romdoul, hayđơn giản hơn là tr ch đoạn các mô-t p chạm khắc ở các đền Angkor Tuy nhiên,người Khmer ở Nam bộ và người Khmer ở Campuchia, tuy có chung nhaumột cội nguồn văn hóa, nhưng khi thành những cộng đồng riêng biệt, đã pháttriển khác nhau theo môi trường địa l , theo hoàn cảnh kinh tế - văn hóa - xãhội nên văn hóa bản địa cơ bản đã d n bị mai một v thế các hoa văn trang trcủa người Khmer ở Nam bộ có nhiều điểm khác biệt so với những g mà tàiliệu này mô tả
G n đây nhất Huỳnh Thanh B nh trong cuốn ranh tường hmer đã nêu
lên được sự kế th a thành tựu nghệ thuật tạo h nh truyền thống mà trực tiếp lànghệ thuật trang tr nội ngoại thất tự viện, tranh cuộn trên vải/ preah bot, tranh
v trên giấy b a “kờrăng” Giả c n nói lên được tranh tường Khmer, độc đáokhông chỉ về mặt đề tài mà cả về đặc trưng h nh họa, màu sắc và phong cáchtạo h nh nghệ thuật Ch nh v vậy, tranh tường Khmer c n được t m hiểu mộtcách nghiêm t c cả về nội dung và kỹ thuật để có sự hiểu biết
Trang 23đ y đủ Bên cạnh đó, thông qua những bức tranh tường Khmer cho thấy thịhiếu th m mỹ và cái nh n mỹ thuật không chỉ của người nghệ nhân tạo tác mà
đó c n là của cả cộng đồng người Khmer v ng đồng b ng sông Cửu Longnày
Tiếp nhận thành quả nghiên cứu về tộc người Khmer của một số họcgiả trong và ngoài nước qua các bài viết, các bài nghiên cứu tuy không hoàntoàn đề cập trực tiếp đến đề tài luận án hay chỉ đề cập đến kh a cạnh t ng quátcủa đề tài nhưng đó là những tư liệu qu và có giá trị khoa học để gợi mở chotác giả hệ thống, đ c kết thành cơ sở l luận về mỹ thuật ch a Khmer Nam Bộ
1.2 Cơ sở lý luận
hmer, người hmer
“Khmer” là t được viết theo phiên âm tiếng Anh, thường thấy trong t
điển tiếng Anh
tác giả người Việt Nam sử dụng rộng rãi và ph biến
Người
Hạ, Khmer Dưới, Cao Miên, Cul, Cur, Người Việt gốc Miên Theo Chỉ thị
số 117-CT/TƯ ngày 29-9-1981 của Ban b thư trung ương Đảng cộng sảnViệt Nam và Chỉ thị số 122-CT ngày 12-5-1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng Việt Nam về Công tác đối với đồng bào Khmer quy định thống nhất d
ng tên gọi dân tộc Khmer
“Mỹ thuật” (Anh :Fine arts; Pháp : Beaux arts) T d ng chỉ những ngành
nghệ thuật “cấp cao” bất vụ lợi, trái với những nghệ thuật trang tr hay ứngdụng (APPLIED ARTS, DECORATIVE ARTS) Trong cách d ng thôngthường, t này bao hàm hội họa, điêu khắc và kiến tr c (cho d r ràng là mộtnghệ thuật “có ch lợi”), nhưng nó thường được d ng theo nghĩa rộng để chỉ
Trang 24cả thi ca và âm nhạc T này chưa được d ng trước thế kỉ 18, v tới năm 1746 thmới xuất hiện tác ph m chủ chốt của Charles Batteux (1713-80) nhan đề LesBeaux Arts r duits à un même principe (những ngành mỹ thuật quy về mộtnguyên l chung) Batteaux chia các nghệ thuật ra nghệ thuật có ch, nghệ thuật
có t nh đẹp (điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thi ca), và những nghệ thuật phốihợp cái đẹp và sự ch dụng (kiến tr c, thuật h ng biện) Sau đó t lâu,
trong Bách khoa toàn thư của Diderot, nhà triết học D’Alembert (1717-83)liệt kê các ngành mỹ thuật: hội họa, điêu khắc, kiến tr c, thi ca và âm nhạc.Bảng kê n y được xác lập và ở Anh t “five arts” (năm nghệ thuật) đôi khiđược d ng như đồng nghĩa với mỹ thuật Xem thêm LIBERAL ARTTS [105,tr.395]
“Ngôn ngữ nghệ thuật tạo h nh” (A language of fine arts; P langagesplastiques) Ngôn ngữ là một hệ thống t n hiệu đặc biệt gồm những dấu hiệu và
k hiệu được sử dụng với mục đ ch trao đ i hoặc truyền đạt thông tin
Trong nghệ thuật, m i chuyên ngành đều có ngôn ngữ riêng để biểu đạt loại h
nh nghệ thuật của m nh Đối với nghệ thuật tạo h nh, tất cả những g tạo nên tác
ph m và biểu đạt nên vẻ đẹp hay xấu trong tác ph m hội họa, điêu khắc, đồhọa, trang tr … được gọi là ngôn ngữ nghệ thuật tạo h nh; v dụ như chủ đềtác ph m, luật bố cục, những điểm ch nh về t chức không gian, đường n t, h nhkhối, màu sắc… Muốn nhận biết đ ng về nghệ thuật tạo h nh, c n phải hiểunhững ngôn ngữ đặc th của nghệ thuật tạo h nh C ng với thời gian, ngôn ngữtạo h nh luôn luôn phát triển, v vậy, không có g đáng ngạc nhiên khi ta thấycác ngôn ngữ mới xuất hiện trong nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo h nhnói riêng [120, tr 116]
“Điêu khắc” tiếng Anh gọi là Sculpture, t này có nguồn gốc t tiếngLatinh là sculpere nh m chỉ việc chạm tr , chạm khắc, đục đ o Tuy nhiên vềmặt phương pháp kỹ thuật để làm ra tác ph m, điêu khắc c ng có thể liệt vào
Trang 25ngành vốn có t lâu đời là nặn, đắp, gh p Thể hiện đồ b ng vật liệu có thể thựchiện t bề mặt bên ngoài vào sâu bên trong hoặc t chiều sâu ra bề mặt, là haiphương pháp biểu đạt tư tưởng của nghệ thuật điêu khắc”
Điêu khắc có hai h nh thức thể hiện khác nhau là tượng tr n và ph điêu Tượng tr n là nghệ thuật tạo h nh d ng phương pháp phối họp
và liên kết các mảng trong không gian ba chiều, có h nh khối toàn vẹn, cho ta thấy được mọi chiều hướng trước sau, nghiêng của tượng; khi thưởng thức phải đi quanh bốn mặt và mặt nào c ng thểhiện được một phương diện của cái đẹp t ng thể Ph điêu (hay c n gọi là chạm n i) là khối của h nh ảnh được thu lại và dàn sắp trên một mặt phẳng Điêu khắc có thể gắn liền với kiến tr c hoặc tồn tại độc lập
Điêu khắc gắn bó mật thiết với kiến tr c Hai loại h nh này tôn vinhnhau, đôi khi sử dụng ngôn ngữ của nhau [163, tr.14] Sự khác nhau giữa hộihọa và điêu khắc là hội họa d ng đậm nhạt để diễn tả khối, c n điêu khắc d ngkhối để diễn tả đậm nhạt [163, tr.24]
C ng thông qua thị giác, các nhà điêu khắc đã tạo khối để tạo nênnhững độ đậm nhạt khác nhau Nhờ vào đậm nhạt mà tác ph m điêu khắc uyểnchuyển, làm mê hoặc l ng người [163, tr.27]
Điêu khắc có hai h nh thức thể hiện khác nhau là tượng tr n và chạm n i(hay c n gọi là ph điêu) Tượng tr n: “là danh t để chỉ tác ph m điêu khắc, có h
nh khối toàn vẹn n m trong không gian ba chiều, cho ta thấy được mọi chiềuhướng trước, sau, nghiêng của tượng Tác ph m điêu khắc tượng tr n, khi thểhiện đều phải t nh đến việc làm thế nào cho người xem d đứng
ở hướng nào, t ph a nào c ng có thể hiểu được thấu đáo, toàn diện nội dung
và h nh thức của tượng” [163, tr 142]
Ph điêu (A relief; P relief) Ph điêu, chạm khắc, chạm n i có nhiều
Trang 26n t giống nhau V vậy, đôi l c người ta d ng lẫn lộn ba thuật ngữ này với c ngmột nghĩa nh m chỉ các h nh khối, đường n t, ch m n i trên một mặt phẳngTrong ngành điêu khắc, t ph điêu được d ng để chỉ những h nh khối, đường n
t đắp lên trên một mặt phẳng sẵn có; c n chạm khắc và chạm
n i th ngược lại: trên một mặt phẳng, người ta khắc và đục sâu xuống để tạo
ra những mảng, khối, đường n t, ch m n i, nông sâu khác nhau Khi xem ph điêu, chạm khắc, chạm n i nên đặt đ ng đường t m mắt như xem tranh (khácvới xem tượng tr n) [120, tr 120]
Hội họa (A painting; P peinture) Nghệ thuật v d ng màu sắc, h nh mảng,đường n t để diễn đạt cảm x c của người v trước vẻ đẹp của con
người, thiên nhiên, xã hội Hội họa là một ngành của nghệ thuật tạo h nh [120,tr.88]
Họa tiết trang trí: M i tác ph m trang trí ( ví dụ: một tấm thảm Ba Tư,một h nh vương trang tr ở Đôn Hoàng – Trung Quốc, một hình trang trí trên
qu n áo váy của người Dao – Việt Nam) là một bố cục phong phú kết hợp rấtnhiều lớp họa tiết to – nhỏ, đơn giản – phức tạp, có nội dung, vị trí khác nhaulàm nên vẻ đẹp riêng trong hình thể…, c n mang cả phong cách nghệ thuậttrang trí riêng dễ nhận thấy của t ng dân tộc Họa tiết trang trí phải có hình thể
r (đường nét cụ thể, dứt khoát, có thể hình thể độc đáo) được sáng tạo theo lối
v đặc trung của trang trí: v đơn giản hóa, v cách điệu hóa, được lặp lại theophương phác v đối xứng qua đ ng trục, xen k nhắc lại theo phương pháp vtrang tr đường diềm [120, tr.87]
Trang trí (A.decoration; P.décoration) Nghệ thuật làm đẹp, phục vụ chođời sống vật chất và tinh th n của con người Nhờ những yếu tố trang trí, cácvật dụng v a có gi trị th m mỹ v a nâng cao được giá trị sử dụng, vì vậy, trangtrí n m trong nghệ thuật ứng dụng (arts appliqu s) Đời sống con người baogồm nhiều lĩnh vực: ăn mặc, ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi, giải tr …
Trang 27nên nghệ thuật trang trí có nhiều chuyên ngành khác nhau để đáp ứng các nhu
c u ấy Trang trí nội thật: làm đẹp mọi thứ đồ vật trong nhà, nơi ăn ở, cơ quanlàm việc, nơi tiếp khách, ch giải tr , nơi hội họp, làm cho nội thất v a đẹp v atiện sử dụng; Trang trí ngoại thất: làm đẹp tất cả không gian bên ngoài
nhà như vườn cây, thảm cỏ, đường đi, hàng rào, hồ nước, ánh sáng…; Trangtrí phục trang: chăm lo việc mặc, làm đẹp vải vóc, sáng tạo các kiểu qu n áo mnón, giày d p ph hợp và đẹp cho mọi lứa tu i dùng trong mọi điều kiện làmviệc, nghỉ ngơi; Trang tr mĩ nghệ: làm đẹp mọi mặt hàng mĩ nghệ gốm, sứ,mây, tre, cói, thủy tinh, đồ trang sức, đồ vàng bạc…; Trang tr ấn loát: nghệthuật trình bày, in ấn sách báo và các ấn ph m khác; Trang trí sân khấu điệnảnh: phục vụ các yêu c u về mặt mĩ thuật của sân khấu, đạo cụ, phông màn,trang phục, hóa trang ; Trang trí công nghiệp: v thiết kế trang trí cho
tất cả các sản ph m công nghiệp như máy bay, ô tô, máy móc… Giống như
mĩ thuật nói chung, nghệ thuật trang trí gắn bó chặt ch với đời sống nhân dân
t ng dân tộc nên nó c ng phải mang đ y đủ những đặc điểm văn hóa có t nhdân tộc và phù hợp với thời đại [120, tr.134,136]
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Lý thuyết giao ưu và tiếp biến văn hóa
Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu văn hóaNam bộ là nghiên cứu quy luật chung của văn hóa vào một trường hợp cụ thể.Luận án vận dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa để làm sáng tỏ một
số vấn đề: Quá tr nh định cư, sinh sống tách biệt lâu dài với người Khmervùng Biển Hồ (Khmer vùng Lục Chân Lạp trước đây) đã tạo nên những đặcđiểm về cư tr , quản lý xã hội, sản xuất kinh tế và đặc trưng văn hóa củangười Khmer vùng Nam bộ T cuối thế k XVII, đ u thế k XVIII cùng với quátrình cộng cư với người Việt, người Hoa và người Chăm diễn ra liên tụccàng làm tăng sự khác biệt giữa cộng đồng người Khmer Nam bộ và người
Trang 28Khmer ở Campuchia Do đó sự sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật ch a Khmernói riêng và các lĩnh vực nghệ thuật khác có nhiều điểm tương đồng và khácbiệt
Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là một quan điểm về tương táchai chiều giữa các cá thể văn hóa trong một hoàn cảnh nhất định Giao lưu vàtiếp biến văn hóa được chỉ cho một quá trình vận động và biến đ i của nềnvăn hóa các dân tộc, trong đó yếu tố văn hóa ngoại lai được tiếp nhận bởi dântộc chủ thể, tạo nên sự thay đ i về văn hóa ở một hay cả hai bên Quá trìnhgiao lưu văn hóa đã đem lại những kết quả về việc dung hợp văn hóa giữa cáccộng đồng, đó là sự t ng hợp và chọn lọc để tạo nên một nền văn hóa phong
ph , đa dạng và có sự phát triển theo hướng tích cực, đây là thành quả củaviệc m i dân tộc phải tự tìm cách quản lý một cách khéo léo mối quan hệ biệnchứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh Có hai hình thức để hình thành quá
tr nh giao lưu và tiếp biến văn hóa, đó là h nh thức tự nguyện thông quathương mại, trao đ i hàng hóa, du lịch, hôn nhân và hình thức cư ng bứcthường xảy ra bởi các cuộc bảo hộ, đô hộ, chiến tranh xâm lược Tuy nhiên,hai hình thức này thực tế c ng có sự giao thoa khi tự nguyện nhưng mang yếu
tố áp đặt, bắt buộc, c n quá tr nh cư ng bức văn hóa vẫn mang yếu tố tiếp nhận
tự nguyện
Quá tr nh giao lưu và tiếp biến văn hóa của người Khmer tại Nam bộđược diễn ra t bu i sơ khai thành lập cho đến nay, sức sống tiềm tàng trongvăn hóa bản địa kết hợp những yếu tố mới vẫn t ng ngày biến đ i, cộng sinh và
tr i dậy mạnh m , th c đ y nền văn hóa phát triển, tăng thêm những sự phong
ph , đa dạng tri thức hiểu biết Sự đa dạng các chủng tộc người Chăm, Khmer,Hoa hình thành những t n ngư ng và lối sống đặc trưng, kết hợp một cách hàihòa với văn hóa bản địa tạo nên n t đặc trưng trong lối sống người dân
Trang 291.2.2.2 Lý thuyết v ng văn hóa
Trên thế giới, việc nghiên cứu v ng văn hóa được chú trọng phát triển
t cuối thế k XIX và đ u thế k XX, với ba trường phái đỉnh cao: Thứ nhất là thuyết “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu vào cuối thế k XIX - đ u thế k
XX với trường phái văn hóa - lịch sử ở Đức và o (đại diện là F Ratzel, IFrobenius, F Grabner, W Schmidt) và trường phái truyền bá văn hóa ở Anh(đại diện là W.Rivers, G.Elliot Smith) Thứ hai là thuyết “v ng văn hóa” trongnhân loại học Mỹ vào nửa đ u thế k XX với đại diện là F Boas, O T Mason,
C Wissler, A L Kroeber Thứ ba là thuyết “loại hình kinh tế - văn hóa” và
“khu vực văn hóa - lịch sử” của dân tộc học Xô Viết vào giữa thế k
AX với đại diện là N N Cheboksarov cùng với M G Levin S A Tokarev vàmột số người khác
V ng văn hóa hay c n gọi là Văn hóa khuyên Văn hóa khuyên chỉ mộtkhông gian được giới hạn bởi một hình thức văn hóa nhất định, trong đó, h nhthái văn hóa được quy định bởi những mối quan hệ về nguôn gốc và lịch sử,hoàn cảnh tự nhiên, là kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng
c ng địa vực có c ng hoàn cảnh phát triển kinh tế xã hội tạo nên sự hội nhậpkhu vực, h nh thành những đặc trưng chung về văn hóa vật thể và phi vật thể,
có thể phân biệt với các v ng văn hóa khác W Schmidt khẳng định v ng vănhóa không bị giới hạn bởi không gian về địa lý, ở một số không gian tại cácđịa điểm khác nhau có thể cùng thuộc về một v ng văn hóa nhất định như v ngvăn hóa chữ Hán đã t ng có ảnh hưởng tại Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên,Việt Nam
Nam bộ thuộc v ng văn hóa Nam bộ, với việc hình thành trên vùngchâu th của hai hệ thống sông chính là sông Cửu Long ở hướng Tây và sôngĐồng Nai ở hướng Đông c ng với sự giao lưu và tiếp biến văn hóa của ngườiChăm, Khmer, Hoa vào văn hóa Việt trong v ng, đã h nh thành nên đặc trưng
Trang 30đồng b ng sông nước r n t và đa dạng, phong ph trong đời sống sinh hoạtngành nghề, cách ăn mặc ở, giao thông, sinh hoạt t n ngư ng, phong tục, lễhội, cách t chức xã hội, và đặc biệt là trong văn học nghệ thuật Trong giaiđoạn cận đại, v ng đất này còn chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa đến t Pháp vàsau đó là Hoa Kỳ, tạo nên v ng văn hóa đặc biệt kết hợp giữa nền văn hóatruyền thống của nhiều tộc người (Kinh, Chăm, Khmer, Hoa) với những điềukiện lịch sử tiếp thu nền văn hóa mới t Pháp, Mỹ Những điều kiện t tự nhiên,lịch sử đã tạo cho v ng văn hóa Nam bộ những tính cách riêng của
m nh, đặc biệt trong nghệ thuật
1.2.2.3 Lý thuyết Hình thái học của nghệ thuật của M Cagan
Công trình nghiên cứu lý luận chuyên khảo của M Cagan, một mặt
t ng kết các quan điểm mỹ học của những công tr nh đi trước, mặt khác l n
đ u tiên biện luận về “H nh thái học của nghệ thuật” dựa trên quan điểm chỉnhthể Mác-xít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật khắc phục các tồn tại củacác triết gia đi trước
M Cagan đã đưa ra một cách nhìn t ng quan về lịch sử và lý luận về cơcấu bên trong của thế giới nghệ thuật với tư cách là một hệ thống những lớp,những nhóm, những loại hình (bao gồm: loại hình lớn, loại h nh con) và cácthể của nó Theo Cagan, sự phân loại nghệ thuật phải dựa vào hai tiêu chu n:tiêu chu n bản thể học và tiêu chu n ký hiệu học T hai tiêu chu n này, tác giảgắn với vô số cách phân chia loại hình, loại thể nghệ thuật theo nhóm Một là,nhóm các nghệ thuật thời gian: các nghệ thuật âm thanh; Hai là, nhóm cácnghệ thuật không gian: các nghệ thuật tạo hình; Ba là, nhóm các nghệ thuậtthời gian và không gian: các nghệ thuật biểu hiện tình cảm T đây các loạinghệ thuật tĩnh, nghệ thuật động, nghệ thuật biểu hiện, nghệ thuật không biểuhiện , được phân tích cụ thể với cấu trúc vật chất th m mỹ
M Cagan cho r ng nhóm nghệ thuật không gian thuộc kiểu không miêu
Trang 31tả là những nghệ thuật kiến tr c t nh Tên gọi của nó lại vượt qua hình thứcnghệ thuật như “t nh kiến tr c mà lại không phải đặc quyền của kiến trúc Yếu
tố chủ đạo về mặt cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật của chúng là giá trị mỹhọc của mối tương quan những yếu tố tạo hình t đó h nh tượng nghệ thuậtđược tạo nên, đó là phương tiện biểu hiện của các nghệ thuật ứng dụng
NCS đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu về những sức mạnh hội nhậpcủa quá tr nh lịch sử nghệ thuật của M Cagan, khi ông cho r ng: “T ch
giữa các nghệ thuật có sự tồn tại độc lập bắt đ u hình thành những liên hệ vànhững ảnh hưởng qua lại dẫn tới những cấu trúc nghệ thuật mới và phức tạp,những cấu trúc t ng hợp” [21, tr 325] M Cagan thật xác đáng trong biện
luận khi cho r ng: “Sự đan ch o vào nhau của hai hay vài nghệ thuật làm nảysinh một cấu trúc nghệ thuật một cách độc đáo và toàn vẹn, trong đó các thành
tố tạo thành của nó bị h a tan đến n i chỉ có sự phân tích khoa học mới có thểtách ch ng ra t cái thể thống nhất về cấu tr c này” [21, tr 327]
M Cagan cho r ng:
Những biện pháp gi p đ của các nghệ thuật khác t kiến tr c đến
v có nhiệm vụ làm cho nghĩa, tư tưởng thành cụ thể hơn và tácdụng cảm xúc của ch ng thành có hiệu lực hơn đều chỉ để tăngcường hiệu lực nghệ thuật này mà thôi (c ng như thực chất kiếntrúc và các nghệ thuật ứng dụng sự t ng hợp với các nghệ thuật tạo h
nh để đạt mục đ ch ấy [21, tr 356]
Xuất phát t công trình của Hegen là l n đ u tiên có sự phân tích cấu trúc
về thế giới nghệ thuật là sự dung hợp và sự dung hợp hữu cơ với sự phân tíchlịch sử Quan điểm của Heghen là “hệ thống các nghệ thuật cá biệt” khôngphải là một cấu tr c tĩnh mà là một tương quan sinh động biến đ i và chuyểnđộng theo những quy luật của những hình thức sáng tạo nghệ thuật Nghiêncứu của Heghen đã khởi nguồn cho M Cagan biện luận và chứng
Trang 32minh được quy luật phát triển không đều của các loại hình nghệ thuật, mộtquy luật trước kia chưa được nghĩ đến và là một trong các quy luật phát triểnnghệ thuật của nhân loại.
Công trình Hình thái học của nghệ thuật có nghĩa to lớn về lý luận và
thực tiễn đối với NCS trong quá trình nghiên cứu luận án Công trình này chothấy những quy luật chung của toàn bộ thế giới các nghệ thuật, là mâu chốt đểthấu hiểu mối liên hệ giữa mỹ học với lý luận của t ng nghệ thuật trong mốiliên hệ đan xen nhau Đây là công tr nh nền tảng cho biện luận khoa học lịch
sử - lý luận trong việc nghiên cứu t ng nghệ thuật riêng biệt bởi nó cung cấpmột “cơ sở lý luận vững chắc và cho phép khắc phục tính tách rời, tính cô lậpkhi nghiên cứu sự phát triển cùa t ng thể loại nghệ thuật” [21, tr 27] Trong lờigiới thiệu, GS.TS Mỹ học Đ Huy nhận định: “R ràng logic của cuốn sách nàysau khi tr nh bày lịch sử lý luận đã mở ra cách phân tích các loại hình, loại thể
và loại nghệ thuật rất nhiều chiều” [21, tr 24]
Nhiều công trình lý luận mỹ học trong nước chỉ rõ mối quan hệ biệnchứng giữa triết học và văn hoá nghệ thuật, đưa ra các mô thức phát triển vănhoá nghệ thuật Việt Nam, xây dựng nền văn hoá nghệ thuật trong thời kỳ đ imới và phát triển, khẳng định quan điểm triết học Mác-xít là hình thức tư duy
lý luận đ ng đắn để tiếp cận tính toàn vẹn về con người và thế giới con người.Trên nền tảng cơ sở lý luận, “H nh thái học cùa nghệ thuật” của M Cagan làđiểm tựa vững chắc cho NCS tiếp tục nghiên cứu mỹ thuật ch a Khmer v ngNam bộ trong thời đại phát triển hết sức mạnh m của khoa học kỹ thuật vàcông nghệ thông tin, yếu tố này đã và đang tác động đến nền nghệ thuật nàytrong xã hội hiện đại Đây là một trong những khoảng trống thú vị nhưng
c ng đ y thử thách, NCS muốn theo đu i để chứng minh mỹ thuật ch a Khmer
v ng Nam bộ mang t nh đương đại, chưa được đề cập trên phương
diện nghiên cứu lý luận
Trang 33Đến đây, có thể khẳng định công trình mỹ học Hình thái học nghệ thuậtcùa M Cagan là nền tảng vững chắc cho vấn đề nhận thức luận khi nghiêncứu về mỹ thuật ch a Khmer v ng Nam bộ.
Nghệ thuật tạo h nh ch a Khmer Nam bộ mang đặc trưng riêng củangười Khmer v ng Nam bộ đồng thời c ng thể hiện sự giao lưu văn hóa củacác tộc người Việt - Hoa - Khmer chung sống trên c ng một địa bàn
Người Khmer là một trong những bộ phận cư dân sinh sống lâu đời nhất ở nơi đây Sau đó những lưu dân người Viêt và người Hoa mới đến
đây định cư, ba tộc người này đã c ng chung sống để tạo nên v ng Nam bộ đadân tộc, đa t n ngư ng như ngày nay Trong quá tr nh cộng cư như thế, sự đanxen giao lưu văn hóa là tất yếu hiển nhiên
Sự đặc trưng riêng của vùng miền, của t ng tỉnh trong khu vực Nam Bộ
có đông người Khmer sinh sống và tính t ng hợp giao thoa với tộc người Việt
- Hoa, và kiến thức phương Đông - phương Tây s là cơ sở lý luận để luận án
đi sâu vào nghiên cứu
Kiểu văn hóa bản địa ở tiểu v ng văn hóa Đông Nam bộ và Tây Nam bộtuy r ng đều của cư dân nhóm Môn - Khmer Nhưng ở Đông Nam bộ, việctiếp x c với các nền văn hóa khác chắc r ng sớm hơn và nhiều hơn (nhiều nềnvăn hóa dân tộc) nên văn hóa bản địa cơ bản đã d n bị mai một Với ngườiKhmer ở Tây Nam bộ th tuy việc tiếp x c có chậm hơn, t hơn nên việc ảnhhưởng của sự “hiện đại hóa” c ng t hơn và v thế họ vẫn c n giữ cho m nhnhững bản sắc riêng có, chưa bị lãng quên Đó c ng ch nh là l do khi đề cậpđến người Khmer Nam bộ th nhiều nhà nghiên cứu thường đồng nhất về vị trđịa l cơ sở là Tây Nam bộ hay v ng Nam bộ
Theo công trình ăn hóa người hmer v ng đ ng bằng sông Cửu Long: Về người Khmer ở Nam bộ và người Khmer ở Campuchia, có kiến cho r ng: đó
là hai tộc người có chung một nền văn hóa cơ bản và chung sống
Trang 34với nhau trong cộng đồng vương quốc Ph Nam (đ u công nguyên đến thế k VI), rồi vương quốc Chân Lạp (Challa) cho đến đ u thế k XVIII Nhưng đa sốkiến lại cho r ng, người Khmer ở Việt Nam và ở Campuchia, vốn có
chung một nguồn gốc lâu đời, rồi do biến thiên lịch sử mà tách ra thành haicộng đồng khác nhau Đó là việc b nh thường trong quá tr nh h nh thành lịch
sử của nhân loại: một quốc gia có nhiều dân tộc và một dân tộc sống ở nhiềuquốc gia, h a m nh vào các cộng đồng các dân tộc ở quốc gia ấy” [107, tr.9]
Ch nh v l đó mà trong công trình ăn hóa người Khmer đ ng bằng sông Cửu Long c ng khẳng định: “Với người Khmer ở Nam bộ và người Khmer ở
Campuchia, tuy có chung nhau một cội nguồn văn hóa, nhưng khi thànhnhững cộng đồng riêng biệt, đã phát triển khác nhau theo môi trường địa l ,theo hoàn cảnh kinh tế - xã hội, theo thể chế ch nh trị của m i cộng đồng khácnhau” [56, tr 14]
Dân tộc Khmer là một dân tộc có mặt rất sớm ở v ng đất Nam bộ Nhiềungôi ch a của đồng bào Khmer trên v ng đất này đã chứng minh được điều đó
Có nhiều ngôi ch a đã ghi dấu lịch sử khai hoang mở đất v ng Nam bộ sớmhơn rất nhiều so với tên gọi Gia Định, một tên gọi ch nh thức đặt dấu ấn choviệc mở c i và cai trị của Ch a Nguyễn ở v ng đất này Song song với việc ghidấu ấn cho việc định cư của m nh, người dân Khmer c ng kế th a nền văn hóaĂng-co, nền văn minh l a nước cộng với tập tục sinh hoạt của những nhómlưu dân của người Kinh, người Hoa, người Chăm tạo nên một bản sắc, mộtnền văn hóa riêng của m nh Nền văn hóa đó có một giá trị tiêu biểu, không lẫnlộn, pha tạp, nhưng vẫn đảm bảo yếu tố hài h a trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam
1.3 Khái quát về đối tượng nghiên cứu
3 Lịch sử h nh thành và vai trò của ng i ch a trong đời s ng tinh thần của người hmer ở Nam bộ
Trang 35T tiên của người Khmer vốn sinh sống chủ yếu ở v ng Đông Bắc Biển
Hồ và lưu vực sông Sê-mun chảy qua C -rạt (Thái Lan ngày nay) Bởi vậy,
hiện nay trên thế giới, ph n lớn người Khmer sống tập trung ở Campuchia ỞViệt Nam người Khmer sống chủ yếu ở Nam bộ, với dân số khoảng 1.260.600người, nhiều nhất ở các tỉnh: Sóc Trăng (397 014 người, chiếm 30,7% dân sốtoàn tỉnh và 31,5% t ng số người Khmer tại Việt Nam), Trà Vinh (317.203người, chiếm 31,6% dân số toàn tỉnh và 25,2% t ng số người Khmer tại ViệtNam), Kiên Giang (210 899 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 %
t ng số người Khmer tại Việt Nam), An Giang (90 271 người), Bạc Liêu (70
667 người), Cà Mau (29 845 người), Thành phố Hồ Ch Minh (24.268
người), Vĩnh Long (21 820 người), C n Thơ (21 414 người), Hậu Giang (21
169 người), Bình Phước (15 578 người), B nh Dương (15 435 người), ĐồngTháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre…
Người Khmer di cư sinh sống v ng Nam bộ t những biến động lịch sửtrong quá khứ
Nhiều tài liệu cho biết tộc người Khmer h nh thành vào những thế ktrước và đ u Công nguyên Cư dân Khmer đã chịu tác động sâu sắc của hai
l n “Ấn Độ hóa” về văn hóa và con người Đây c ng là quá tr nh h nh thành nhà nước Chân Lạp c đại mà thời kỳ đ u là thuộc quốc của Ph Nam (chủ thể
là người Mã Lai đa đảo) Về sau Chân Lạp mạnh lên, trở lại thống trị Ph Nam,sáp nhập Ph Nam vào lãnh th của m nh Việc chinh phục Ph Nam đối với ChânLạp đã mở đường cho cuộc Đông tiến của người Khmer xuống ph n lãnh th Nam bộ Việt Nam
Khoảng đ u thế k VIII, Chân Lạp bị chia thành hai miền cát cứ: “Nửa
ph a Bắc v ng n i đồi và thung l ng gọi là Lục Chân Lạp Nửa ph a Nam cóbiển bao vây và đ m l y gọi là Thủy Chân Lạp Thủy Chân Lạp về đại thểtương ứng với v ng đất thấp của Ph Nam c (tức ph n lãnh th của Ph
Trang 36Nam trên v ng đất Nam bộ) c n Lục Chân Lạp là v ng đất gốc của Chân
Lạp” [61, tr 23] Chân Lạp rộng lớn, việc cai quản lãnh th gặp nhiều khó khăn
và có sự khác nhau giữa Lục Chân lạp và Thủy Chân Lạp Người Khmer vốnquen khai thác v ng đất cao, không có khả năng khai thác đất ph sa mới bồiđắp, ngập nước, s nh l y Mặt khác, h nh thái sinh cư và t chức tự quản
cộng đồng v ng đất mới Thủy Chân Lạp dân cư thưa thớt đã bỏ qua sự ch của ch nh quyền trung ương
T nửa sau thế k VIII, Chân Lạp bị Java xâm chiếm và lệ thuộc vào ch
nh quyền Srivijaya cho đến đ u thế k IX T cuối thế k IX đến thế k
XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh với nền văn minh Angkorrực r Đây c ng là thời kỳ người Khmer tập trung khai thác v ng Biển Hồ(Tonle Sap) và bành trướng sang ph a Tây Suốt thời kỳ hưng thịnh mấy thế
k , văn minh Angkor hoàn toàn không vươn tới v ng đất thấp Nam bộ
Chân Lạp phong th k của Châu Đạt Quan cho biết thế k XII, XIII
v ng Nam bộ là v ng đất hoang vu “Bắt đ u vào Chân Bồ (v ng biển V ng Tàungày nay) g n hết cả v ng đều là bụi rậm c ng r ng thấp, những cửa rộng củanhững con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm… Khắp nơi vang tiếng
chim hót và tiếng th kêu Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh đồnghoang không có một gốc cây Xa nữa t m mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đ y rẫy”[139] Một số nơi có dân cư nhưng rất thưa thớt và chủ yếu là những người
bị t đày tới cư ngụ [139], [162]
Những ngôi ch a c nhất của người Khmer c ng có niên đại t thế k XV, XVI về sau Có l người Khmer đến định cư ở Nam bộ nhiều hơn sau khi đế chế Angkor tan rã Những người thua trận và những người muốn được an toàn đã di cư về ph a Đông Cơ chế duy tr tồn tại xã hội trên cơ sở huyết thốngcông xã và tôn giáo của phum, sóc cho thấy ch nh quyền trung ương đã khôngthể vươn tới và bản thân cộng đồng không c n sự có mặt của ch nh quyền
Trang 37T thế k XIV về sau, Chân Lạp phải luôn đối phó với sự xâm lược củacác vương triều Xiêm La t phái Tây, nhất là t khi vương triều Ayuthaya h nhthành Suốt g n một trăm năm, Chân Lạp phải liên tục đối phó những cuộc tấncông của người Thái Kinh thành Angkor bị quân Ayuthaya chiếm đóng Tưliệu lịch sử cho biết nhiều nhóm dân cư, sư sãi và có cả tr thức Khmer đãxuôi theo M kong về v ng đất Nam bộ sinh sống c ng với những lớp ngườiKhmer đã định cư trước đó Sự can thiệp của Xiêm và phải thường xuyên đốiphó với sự đe dọa t Xiêm La đã làm cho triều đ nh Chân Lạp chia
r sâu sắc, nội bộ bất h a, đất nước suy yếu… V ng đất Nam bộ g n nhưkhông được quan tâm và không có sự kiểm soát của ch nh quyền phong kiếnChân Lạp “Cho đến thế k XVII, người Khmer ở đồng b ng sông Cửu Longvẫn sống khu biệt và không có mối quan hệ hành ch nh với bất cứ quốc gianào thời đó” [29, tr 225]
Quá tr nh định cư, sinh sống tách biệt lâu dài với người Khmer v ngBiển Hồ (Khmer v ng Lục Chân Lạp trước đây) đã tạo nên những đặc điểm
về cư tr , quản l xã hội, sản xuất kinh tế và đặc trưng văn hóa của ngườiKhmer v ng Nam bộ Cách thức cư tr , lễ nghi, tiếng nói…, người KhmerNam Bộ cho r ng m nh hoàn toàn khác với người Khmer Campuchia vàngười Khmer Campuchia c ng tự cho r ng họ khác với người Khmer Nam bộ[27, tr 30-31]
T cuối thế k XVII, đ u thế k XVIII c ng với quá tr nh cộng cư với ngườiViệt, người Hoa và người Chăm diễn ra liên tục càng làm tăng sự khác biệt giữacộng đồng người Khmer Nam bộ và người Khmer ở Campuchia
Năm 1698, ch a Nguyễn xác lập chủ quyền, thực hiện ch nh sách quản l
v ng đất Nam bộ, người Khmer v ng Nam bộ đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Cuối thế k XV đ u thế k XVI, người Khmer ở Nam bộ đã định h nh
Trang 38ba v ng dân cư tập trung Đó là v ng dân cư Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau;vùng An Giang - Kiên Giang và vùng Trà Vinh - Vĩnh Long
Một số công tr nh nghiên cứu cho biết Sóc Trăng, C n Thơ, Bạc Liêu làđịa bàn cư tr c xưa nhất của người Khmer [29, tr 221] Thời nhà Nguyễn, dân
số Khmer khoảng 146 718 người [37, tr 153] Theo nghiên cứu của ngườiPháp th vào khoảng năm 1886, người Khmer ở Trà Vinh chiếm khoảng 30%dân số, ở Sóc Trăng chiếm 27%, Rạch Giá 26%, Châu Đốc 18%, Bạc Liêu18%, C n Thơ 8% [204, tr 20] Như vậy người Khmer c ng chiếm một tỉ lệkhá cao trong số dân Nam bộ bấy giờ và họ c ng được coi là một sắc dân có
đủ quyền lợi như người Việt [82, tr 28]
Bản đồ phân vùng cư trú của các dân tộc tại Nam Bộ và Campuchia
Trang 39khá tập trung trong 23 huyện thuộc 8 tỉnh Nam bộ là: An Giang, Bạc Liêu, CàMau, C n Thơ, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, tập trung thành
ba v ng ch nh: Trà Vinh và một ph n Vĩnh Long; v ng ven biển Sóc Trăng;
v ng biên giới Châu Đốc k o dài đến Rạch Giá Người Khmer ở miền Đông Nam bộ có khoảng 16 000 người, c ng cộng cư với người Việt, Hoa, Chăm
Địa bàn cư tr của người Khmer v ng Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mauchủ yếu là ở thành phố Sóc Trăng, huyện Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi Kết quả điềutra dân số 1999, Sóc Trăng có khoảng 327 177 người Khmer, chiếm 12,2%dân số toàn tỉnh Người Khmer cư tr rải rác h u khắp các huyện trong tỉnh,nhưng tập trung nhất ở bảy huyện ven biển và thành phố Sóc Trăng trong số
12 huyện, thị, thành phố của tỉnh Vĩnh Châu là huyện có người Khmer đôngnhất với 53 407 người, chiếm t lệ 48,1% dân số của huyện Kế đó là huyện
Mỹ Xuyên có 50 000 người Khmer, t lệ 32,75% Tiếp theo là huyện Mỹ T ,Long Ph , Thạnh Trị, Kế Sách và thành phố Sóc Trăng
Các huyện ven biển tỉnh Bạc Liêu, người Khmer đến cư tr khá muộn,
v đây là v ng đất được khai phá muộn Có khoảng 50 000 người Khmer cưngụ tại v ng đất này, trong đó nhiều nhất là huyện Vĩnh Lợi, khoảng 21 000người, Giá Rai khỏang 5 376 người
Mật độ dân cư Khmer sống ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu thấp do đấtdại thấp, k m màu m , không ph hợp thói quen canh tác Nghề đánh cá biển thiệu quả, k m phát triển So với các v ng khác, ở đây sự cư tr xen k giữacác tộc người Khmer, Việt, Hoa nên đã đã diễn ra quá tr nh tiếp biến văn hóasâu sắc, tạo nên đặc điểm chung của địa bàn…
Người Khmer cư tr v ng An Giang - Kiên Giang chủ yếu là ở VọngThê, Tri Tôn, Nhà Bàng, ph a Tây Bắc Hà Tiên Đây là v ng đất biên giới TâyNam Người Khmer ở đây xây dựng phum sóc trên đồi hay trên các giồng(phno) ven kênh trong những v ng đất thấp hoặc ven chân n i quanh dãy Bảy
Trang 40N i Người Khmer ở đây c n cư tr ven các thị trấn, thị xã như Tri Tôn, HàTiên, Rạch Giá C ng c n lưu là d người Khmer sinh sống ven các v ng đôthị th họ vẫn cư tr theo t ng phum, sóc, làm nhà trên các giồng đất cao và làmruộng nước
Theo điều tra dân số năm 1999, An Giang có 71 723 người Khmer, chiếm4,04% dân số của tỉnh, tập trung chủ yếu ở các huyện Tri Tôn 66 790 người(85%), Tịnh Biên có 4 330 người, Huệ Đức 2 190 người, Châu Thành có 1 128người… Tỉnh Kiên Giang theo thống kê năm 1989 có 145 496 người Khmerchiếm 12% dân số và phân bố rải rác khắp các huyện trong tỉnh, trong
đó nhiều nhất là huyện Châu Thành có 32 000 người, G Quao có 21 610người, An Biên có 8 210 người và thành phố Rạch Giá có 8 032 người
Người Khmer v ng Trà Vinh - Vĩnh Long sinh sống chủ yếu trên các giồng đất cao chạy dọc hai bờ sông Tiền, sông Hậu và song song với bờ biển Đây là v ng nội địa, có địa h nh thấp, khá b ng phẳng, hệ thống sông ng i,kênh rạch dày đặc, th như ng màu m nên t sớm đã thu h t người Khmer làm
ăn, sinh sống Những ngôi ch a c nhất của người Khmer, được xây dựng trên
400 năm vẫn c n tồn tại ngày nay là minh chứng cho nhận định đó
Do chỉ sống trên giồng cao một địa bàn nhất định nên mật độ dân sốngười Khmer tăng khá nhanh và không đều