1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Văn hóa vật chất của phù nam ở nam bộ việt nam và mối quan hệ khu vực

99 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 526,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những dấu tích của lịch sử, văn hoá còn xót lại khẳng định sự hiện diện củavương quốc Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa vật chất của vương quốcPhù Nam

Trang 1

nó mà còn là sự mở đầu và mở đường cho cả vùng Đông Nam Á Sự suyvong của nó không phải là sự kết thúc mà là sự mở ra một thời kỳ phát triểnmới và do đó nó làm nên một bước ngoặt của lịch sử.

Nam Bộ Việt Nam đã từng là một bộ phận lãnh thổ của vương quốcPhù Nam, điều đó có nghĩa Nam Bộ Việt Nam cũng là một bộ phận lịch sử,văn hóa của vương quốc Phù Nam Không những vậy, Nam Bộ Việt Nam -không gian tồn tại chủ yếu của văn hóa Óc Eo, có thể là bộ phận sớm nhất,phát triển nhất, tiêu biểu nhất của văn hóa Phù Nam và vương quốc PhùNam Vì vậy, trên vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện nay khảo cổ học đãphát hiện được nhiều dấu tích vật chất của vương quốc Phù Nam Đó là

Trang 2

những dấu tích của lịch sử, văn hoá còn xót lại khẳng định sự hiện diện củavương quốc Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.

Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa vật chất của vương quốcPhù Nam ở Nam Bộ Việt Nam sẽ cung cấp cho ta những tri thức lịch sử,văn hóa quan trọng Trên cơ sở đó giúp ta phục dựng lại một phần lịch sử,văn hóa của vương quốc Phù Nam, cho chúng ta có cái nhìn khách quan vàtoàn diện hơn về vương quốc này

Thông qua những di sản vật chất mà khảo cổ học đã phát hiện đượccho ta biết những nét cơ bản về đời sống vật chất, những thành tựu vật chất

mà cư dân của Phù Nam đã đạt được trong mấy thế kỷ đầu Công nguyên

Mặt khác việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa vật chất của vươngquốc Phù Nam cũng giúp ta hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử của vùngđất Nam Bộ thời kỳ vương quốc Phù Nam Nhưng trên hết là ý nghĩa chínhtrị trong việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta ở vùng đất Nam

Bộ hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Lịch sử, văn hóa Phù Nam là đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiêncứu Vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa củaPhù Nam đã được công bố Dưới đây tác giả xin điểm qua những tác phẩm,công trình nghiên cứu tiêu biểu có đề cập tới những nội dung có liên quantới vấn đề mà đề tài nghiên cứu

Thư tịch cổ Trung Quốc là tài liệu đầu tiên ghi chép về Phù Nam

trong đó có thể kể tới các tác phẩm như: Tam quốc chí “Ngô thư”, Tấn thư,

Nam Tề thư, Tùy thư, Lương thư, Nam sử, Tống thư, Tân Đường thư…Các

tài liệu này đã có những ghi chép về những sự kiện lịch sử và văn hóa củaPhù Nam Tuy nhiên những ghi chép về Phù Nam còn rất tản mạn, thiếu hệthống nên những tri thức cung cấp cho ta về những sự kiện lịch sử và văn

2

Trang 3

hóa Phù Nam còn rất hạn chế, nhiều chỗ không rõ ràng Nhưng đây lànguồn tài liệu gốc, vô cùng quý giá đối với các nhà nghiên cứu trong việctìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Phù Nam Sau này, tác giả LêHương trên cơ sở dịch và tập hợp trích dẫn từ thư tịch cổ Trung Quốc có

liên quan tới Phù Nam đã cho ra đời cuốn sách “Sử liệu Phù Nam” xuất bản

năm 1974

Các học giả người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu về PhùNam một cách hệ thống trong đó không thể không nói tới G Coedes với

cuốn sách “Lịch sử cổ đại các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông” xuất bản

năm 1944 Dù còn một số hạn chế nhưng đây là tài liệu rất có giá trị nghiêncứu về Đông Nam Á cổ đại nói chung, Phù Nam nói riêng Cuốn sách đãlàm rõ những nét cơ bản của lịch sử Phù Nam Đặc biệt tác giả đã nêu racác quan điểm khoa học về quá trình du nhập của văn hóa Ấn Độ vào ĐôngNam Á, trong đó có Phù Nam Trong tác phẩm, tác giả cũng đã thể hiện rõquan điểm của mình trong việc đánh giá vai trò, ảnh hưởng của văn hóa Ấn

Độ đối với lịch sử và văn hóa Đông Nam Á

L Malleret là một nhà khảo cổ học đồng thời là một nhà nghiên cứutài năng Ông là người trực tiếp tham gia vào việc khai quật di chỉ văn hóa

Óc Eo Dựa trên nguồn tài liệu khảo cổ học từ cuộc khai quật này, L

Malleret đã viết cuốn “Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long” (L’Archeo

logie Du del ta du Mekong) gồm 4 tập xuất bản từ 1959 đến 1963 ở Paris.

Tác phẩm này đã được Giáo sư Lương Ninh giới thiệu trong một số bài viếtcủa mình Đây là một công trình khoa học đồ sộ và rất có giá trị Trong tácphẩm, tác giả đã tập hợp nguồn tài liệu vật chất được phát hiện trong các ditích khảo cổ và sắp xếp lại một cách hệ thống Tập III (Paris - 1962) có

nhan đề “Nền văn hóa Phù Nam” trên cơ sở nguồn tài liệu khảo cổ học, khi

xem xét mối quan hệ giữa văn minh Óc Eo và văn hóa Phù Nam ông khẳng

Trang 4

định văn minh Óc Eo là văn hóa vùng duyên hải của quốc gia cổ Ấn Độ hóa

- Phù Nam Tuy nhiên, bộ sách mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và hệthống hóa nguồn tài liệu hiện vật phát hiện được ở các di chỉ khảo cổ đãđược khai quật, nhiều vấn đề như nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của nhữnghiện vật được tìm thấy chưa được làm rõ Sau này, cũng tại chính các di chỉkhảo cổ học này các nhà khoa học của Việt Nam đã khảo sát lại và pháthiện thêm được nhiều hiện vật và di tích mới, cùng mang nội dung của mộtnền văn hóa đã phát triển rực rỡ - văn hóa Óc Eo

Ở Việt Nam, Giáo sư Lương Ninh là người có nhiều năm nghiên cứu

về Phù Nam Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu về lịch sử,

văn hóa Phù Nam Cuốn “Vương quốc Phù Nam”, nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2009 có thể coi là thành quả nhiều nămnghiên cứu của ông về Phù Nam Cuốn sách cung cấp cho chúng ta các cơ

sở lịch sử và khoa học trong việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa Phù Nam Ở

phần IV mang tên “Văn hóa Phù Nam” tác giả đã tập trung đi sâu vào phân

tích các sản phẩm văn hóa tiêu biểu của Phù Nam là văn bia và tượng PhùNam, do đó tác giả chưa làm nổi bật được tính toàn diện của văn hóa PhùNam nói chung, văn hoá vật chất của Phù Nam nói riêng

Cuốn “Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam” Kỷ yếu Hội thảo

khoa học nhân kỷ niệm 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944 - 2004) củaHội khoa học Lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Thế giới, 2008 là tập hợpnhững bài nghiên cứu chuyên sâu của nhiều nhà nghiên cứu trong nước tìmhiểu về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam Cuốn sách đã cung cấpcho chúng ta cái nhìn nhiều chiều về văn hóa Óc Eo, vương quốc Phù Nam

và mối quan hệ lịch sử, văn hóa giữa chúng Các nhà nghiên cứu đều thốngnhất rằng vương quốc Phù Nam ra đời trên cơ sở vật chất của văn hoá Óc

Eo mà không gian tồn tại chủ yếu của nền văn hoá này là Nam Bộ Việt

4

Trang 5

Nam Trên quan điểm thống nhất các bài nghiên cứu đã cung cấp cho chúng

ta những cơ sở khách quan, khoa học, những quan điểm mới đúng đắn vềvăn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam

Luận án tiến sĩ Lịch sử “Nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng

bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X” của tác giả Lê Thị Liên, Hà Nội,

2003, là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập hợp, giới thiệu, đánh giá vàphân tích kỹ những hiện vật điêu khắc thể hiện nội dung Phật giáo và Hinđugiáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X Trên cơ sở những đặcđiểm của các hiện vật tác giả cũng đã chỉ ra những mối liên hệ giữa chúng.Tuy nhiên tác giả lại chưa làm rõ được chủ nhân của những hiện vật điêukhắc đó mà chỉ trên cơ sở định niên đại, làm rõ đặc điểm và nội dung thểhiện của chúng mà xếp chúng vào các nhóm tượng, sản phẩm điêu khắc thểhiện nội dung Phật giáo và Hinđu giáo

Ngoài ra, còn có rất nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu đã được đăng

trên các tạp chí chuyên khảo như: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Khảo cổ học…cùng nhiều bài giới thiệu,

nghiên cứu trong bộ sách “Những phát hiện mới về Khảo cổ học” cũng đề

cập tới nhiều nội dung có liên quan tới các sản phẩm văn hóa vật chất củavương quốc Phù Nam

Những cuốn sách và bài viết đó là những tài liệu lịch sử quý giá giúptác giả tìm hiểu về nền văn hóa vật chất của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.Tuy nhiên, những tác phẩm và bài viết đó mới chỉ đề cập đến những nộidung khác nhau liên quan đến văn hóa vật chất của vương quốc Phù Nam ởNam Bộ Việt Nam mà chưa trình bày một cách đầy đủ và hệ thống về vấn

đề này Chính điều đó đã gợi mở hướng nghiên cứu cho tác giả khi tiếnhành làm luận văn của mình

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu là những dấu tích văn hóavật chất của vương quốc Phù Nam đã được phát hiện ở Nam Bộ Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: Từ thế kỷ I tới thế kỷ VII, tức thời gian tồn tại của vươngquốc Phù Nam, từ khi Phù Nam được thành lập (thế kỷ I) đến lúc Phù Nam

bị diệt vong (thế kỷ VII)

Không gian: Nam Bộ Việt Nam

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

- Nguồn tài liệu:

Để thực hiện đề tài này, tác giả dựa trên nguồn tài liệu là các cuốnsách đã xuất bản nghiên cứu về văn hóa Phù Nam của các tác giả trong vàngoài nước; các bài viết, bài nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chíchuyên khảo cùng nghiên cứu về nội dung này

- Phương pháp nghiên cứu:

Khi tiến hành làm đề tài tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứuchính đó là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, trong đềtài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương phápmiêu tả, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê toán học

5 Đóng góp của đề tài.

- Hệ thống hoá những tài liệu vật chất mà khảo cổ học đã phát hiệnđược về văn hoá Phù Nam và bước đầu đánh giá những hiện vật đó trongmối quan hệ lịch sử, văn hoá với vương quốc Phù Nam

- Đề tài “Văn hóa vật chất của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam” sẽ

giúp chúng ta hiểu rõ và sâu sắc hơn về vương quốc Phù Nam đặc biệt làtrên lĩnh vực văn hóa vật chất

6

Trang 7

- Đề tài cung cấp cho chúng ta những tri thức về lịch sử và văn hóacủa vùng đất Nam Bộ Việt Nam trong thời kỳ vương quốc Phù Nam vànhững đóng góp của văn hoá Phù Nam trong nền văn hoá chung của cácdân tộc Việt Nam cũng như của khu vực.

- Đề tài hoàn thành sẽ trở thành tài liệu tham khảo phục vụ cho việctìm hiểu về văn hóa vật chất của Phù Nam nói chung, văn hoá vật chất củaPhù Nam ở Nam Bộ Việt Nam nói riêng

6 Cấu trúc của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, tài liệu tham khảo,luận văn gồm 2 chương:

Chương 1 Khái quát lịch sử và văn hóa Phù Nam

Chương 2: Văn hóa vật chất của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam vàmối quan hệ khu vực

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA PHÙ NAM 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Phù Nam.

1.1.1 Phù Nam thời sơ kỳ (Thế kỷ I - III).

Về việc lập nước Phù Nam có khá nhiều tài liệu phản ánh trong đóthư tịch cổ Trung Quốc là nguồn tài liệu ghi chép đầy đủ và chi tiết hơn cả

Trong Tấn thư có ghi chép về việc lập nước Phù Nam “…Vua nước đó

(Phù Nam) vốn là người con gái, tên là Diệp Liễu Thời đó có người nước ngoài là Hỗn Hội, thờ tiên thần nằm mộng thấy thần ban cho cây cung, và dạy là phải đi thuyền lớn ra biển.

Sáng ngày, Hỗn Hội đến đền thờ thần, được cây cung rồi theo thuyền lênh đênh trên biển tới ấp ngoài của nước Phù Nam Diệp Liễu đưa nhiều người ra chống lại Hỗn Hội dương cung bắn, Diệp Liễu sợ hãi xin hàng Hỗn Hội bèn lấy làm vợ và chiếm cứ đất nước…” [44, tr 231].

Sau này Nam Tề thư, Lương thư và bia Mỹ Sơn (3) của Champa, niên

điểm 658 C.L… cũng ghi chép về sự kiện này, tuy có khác chút ít nhưngcăn bản giống nhau và cùng nói về sự kiện lập nước Phù Nam

Điều này cho thấy ảnh hưởng ban đầu của văn hóa Ấn Độ đối vớiPhù Nam Tuy nhiên, vai trò của văn hóa Ấn Độ chỉ là tiếp sức vào sự pháttriển tự thân đã đi gần tới việc lập quốc mà thôi Sự ra đời của nhà nước đốivới cư dân vùng ven biển sống trên kênh, rạch chằng chịt đã không biểuhiện bằng sự xuất hiện những thành quách, lâu đài mà bằng sự ra đời củanhững thành thị buôn bán ven biển Đến nay, các nhà khảo cổ đã phát hiệnđược 3 thành thị của vương quốc Phù Nam đó là Ba Thê - Óc Eo (AnGiang), Nền Chùa (Kiên Giang) và Nền Vua (Cà Mau) Các địa điểm này

8

Trang 9

được đánh giá là những trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - tôn giáo lớncủa vương quốc cổ Phù Nam.

Diệp Liễu (Liễu Diệp) kết hôn với Hỗn Hội (Hỗn Điền) sinh 7 contrai, phân cho làm vua 7 ấp, sau đó Hỗn Bàn Huống lập kế ly dán 7 ấp, cửbinh đánh chiếm rồi cho con cháu phân chia cai trị các ấp Bàn Huống sốngrất thọ, hơn 90 tuổi mới chết, lập con thứ hai là Bàn Bàn làm vua, giao chotướng Phạm Man (Phạm Sư Man) phụ giúp việc nước Bàn Bàn làm vuađược 3 năm thì mất, người trong nước đều cử Phạm Man (Phạm Sư Man)làm vua

Như vậy, trong khoảng hơn một thế kỷ từ khi lập nước, Phù Nam cònkhá phân tán và chưa ổn định nên Hỗn Bàn Huống khi truyền ngôi cho con

là Bàn Bàn mới giao cho tướng là Phạm Man (Phạm Sư Man) phò tá conmình trong việc trị quốc

Tác giả cuốn “Vương quốc Phù Nam” cho rằng có hai bộ lạc là

Kurumbanagara và Naravaranagara đã tham gia vào việc lập nước Phù

Nam Theo đó Phù Nam “ gồm 2 nhóm cư dân, nhóm ven biển, trồng lúa

nổi, sản xuất thủ công và buôn bán với nước ngoài, phong tục, ăn mặc sang trọng, và nhóm thu hoạch lâm sản, săn voi, còn duy trì một số nếp sống và phong tục cổ truyền Có lẽ đây là hai bộ lạc đầu tiên kết hợp với nhau, cần phải dựa vào nhau, bổ sung cho nhau, để cùng nhau lập nước Phù Nam,

mà tên cũ - Kurumbanagara và Naravaranagara - tượng trưng cho hai bộ lạc gốc vẫn còn được giữ, thậm chí vẫn còn cơ sở của những nhóm nhỏ, những bộ lạc cũ, nên tài liệu mới nói có 7 ấp và một số “tiểu vương ” [44, tr.35]

Như một quy luật lịch sử, việc lập nước ban đầu thường là sự kết hợpcủa hai hay nhiều bộ lạc sống gần nhau Tất nhiên sự kết hợp đó có thể diễn

ra bằng con đường kết hợp hòa bình hoặc thông qua việc thôn tính, sáp

Trang 10

nhập và việc lập nước Phù Nam cũng không phải là ngoại lệ Vấn đề đặt

ra là những cư dân đầu tiên của Phù Nam là ai ? Khảo cổ học đã tìm thấymột số sọ trong các di tích văn hóa Óc Eo, nhưng rất tiếc số hộp sọ nguyênvẹn để nghiên cứu còn quá ít nên các chuyên gia chưa dám đưa ra kết luậnchắc chắn Nhưng cho tới nay, trên địa bàn phân bố của văn hóa Óc Eo ởNam Bộ, chưa tìm thấy sọ người Khmer và cả yếu tố Vesloid cổ tức tiềnthân của tộc người Khmer ngày nay Nhiều nhà khoa học đã khẳng định chủnhân của văn hóa Óc Eo là cộng đồng cư dân của vương quốc Phù Nam,người Indonesesien hay tộc người thuộc ngữ hệ Malayo - polinésien (MãLai - Đa Đảo hay Nam Đảo) mà trong thời cổ đại cư trú phổ biến trên vùngven biển Nam Trung Hoa, Việt Nam và hải đảo Đông Nam Á Quan điểmđược đa số các nhà nghiên cứu ủng hộ là ngoài bộ phận người Nam Đảocộng đồng cư dân ban đầu của Phù Nam còn có một bộ phận người Môn cổ.Như thế, một bộ lạc của nhóm người Núi (Môn cổ) đã rời núi, tiến xuốnggần biển, gặp người Biển - Nam Đảo, đến cộng cư vào mấy thế kỷ trướcCông nguyên, cùng nhau kết hợp yếu tố Núi và Biển, lập ra quốc gia mới

trong đó “ mỗi bộ lạc phát huy thế mạnh của mình, người Môn cổ về khả

năng chinh chiến và tổ chức xã hội, còn người Nam Đảo về khả năng buôn bán với nước ngoài ” [47, tr 250].

Về địa bàn ban đầu, tác giả cuốn “Vương quốc Phù Nam” khẳng định

“…đó hẳn là có một vùng rừng núi phía Tây, nay là đất Kirivong có nghĩa

là Dòng vua Núi, trên đoạn kéo dài của dãy núi Đậu Khấu, ở kinh độ 105 0

-vĩ độ 11 0 , nối liền với dải đồi rừng trung lưu sông Mê Kông và chủ yếu hẳn

là có vùng đồng bằng ven biển, từ Hà Tiên ở phía Tây đến Cà Mau ở phía Đông, trong đó có cảng thị Óc Eo Hơn nữa, vùng đồng bằng ven biển mới

là địa bàn chủ yếu, bởi nơi đây có điều kiện tụ cư đông đúc, phát triển kinh

tế, cả nông nghiệp, đánh cá và mở cửa giao tiếp với bên ngoài , toàn

10

Trang 11

miền Tây sông Hậu nối với nhau từng ấp, thông ra biển, nối cảng thị với đầu nguồn sông Hậu là sông Châu Đốc, lại nối với núi Angkor Borei Không nghi ngờ gì nữa, toàn bộ miền này với một hệ thống kênh nối liền, mạch lạc, hợp lí và thông với cửa biển chính là lãnh thổ cơ bản, địa bàn ban đầu của vương quốc Phù Nam Những đoạn tả đường sông, vị trí trong vịnh lớn, nhà sàn, cây dừa nước… của thư tịch cổ hoàn toàn phù hợp cảnh quan, vị trí của nước Phù Nam Chính ở đây chứ không thể ở đâu khác: miền Tây sông Hậu và miền Nam Việt Nam’’ [44, tr 37].

Về tên nước, ngay trong thư tịch cổ Trung Quốc cũng có những ghichép không thống nhất, vì vậy đã có không ít những cách dịch và hiểu sai

về tên nước E Aymonier coi Phù Nam là một cách gọi khác của PhnomPênh và cũng chính là Chân Lạp P Pelliot khẳng định Phù Nam và Chânlạp là hai thực thể khác nhau, của hai nhóm cư dân khác nhau, hơn nữa PhùNam có trước, đã từng là nước tôn chủ, cai trị Chân Lạp Còn G Coedescho rằng Ba Nam là nguồn gốc tên gọi của Phù Nam Nhưng thực trên thực

tế tên nước Phù Nam xuất phát từ “một danh từ riêng - tên gọi của tộc

người – trong số các nhóm Môn cổ cư trú rải rác hầu khắp Đông Nam Á lục địa, có một nhóm ở xa về phía Đông - Nam, ở nam Đông Dương, nam Trường Sơn, tự gọi là người Núi - Người Vnam, Banam, là chính họ tự gọi,

do ở gần kề và đối xứng với các nhóm Người Rừng (Orang Glai), Người Biển (Orang Laut).’’ [44, tr 40-41] Như vậy, quốc gia mới được lập theo

thói quen được gọi bằng tên gốc của tộc người bản địa vốn đã có cơ sở từtrước cũng đã có tổ chức ở mức độ nhất định

Theo G Coedes thì Ba Phom là kinh đô của Phù Nam Có một thực

tế tuy là dòng Núi, nhưng người Phù Nam không lập kinh đô trên núi, ở BaPhnom khảo cổ học không tìm thấy bất kỳ một kiến trúc nào Còn P Peliotthì lại đưa ra giả thiết Ăngkor Borei là kinh đô của Phù Nam, tuy nhiên ông

Trang 12

không chứng minh gì Sau này, P Dupont và L Malleret ủng hộ quan điểmnày Những tài liệu khảo cổ học tìm được ở Ăngkor Borei đã xác nhận tínhđúng đắn trong giả thuyết của P Peliot Tại Ăngkor Borei các nhà khoa học

đã tìm thấy những bằng chứng thuyết phục chứng tỏ nơi đây là kinh đô củaPhù Nam Tại đây đã phát hiện những dấu tích của những kiến trúc cổ cóquy mô khá lớn Đặc biệt nhờ không ảnh đã nhận ra được một hệ thống giaothông đường thủy gồm năm con kênh nối từ chân thành Ăngkor Borei vớiChâu Đốc Đồng thời vị trí của địa điểm này hoàn toàn phù hợp với nhữngchỉ dẫn của thư tịch cổ Trung Quốc

1.1.2 Phù Nam thời hưng thịnh (Thế kỷ III - V).

Phải mất khoảng hai thế kỷ kể từ khi lập nước, tình trạng phân tán vàthiếu ổn định của Phù Nam mới được khắc phục Cư dân Phù Nam trên cơ

sở phát huy những lợi thế của điều kiện tự nhiên, vị trí đắc địa của mình,trên cơ sở một nền kinh tế, văn hóa phát triển khá cao, đã từng bước vươnlên, từ một vương quốc trở thành một đế quốc đầu tiên ở Đông Nam Á Giaiđoạn hưng thịnh của Phù Nam bắt đầu bằng việc lên cầm quyền của tướngPhạm Man (Phạm Sư Man), đầu thế kỷ thứ III

Sau khi Hỗn Bàn Bàn mất, Phạm Man được người trong nước tínnhiệm cử làm vua của Phù Nam Phạm Man đã tiến hành nhiều cuộc chiến

tranh, đánh chiếm nhiều nước, bắt họ thần phục và tự xưng là “Phù Nam

đại vương” Phạm Man đánh chiếm các nước lân bang rồi sau đó đóng

thuyền lớn, kéo quân đi đánh khắp vùng biển lớn, chiếm được các nước như

Đô Côn, Cửu Trĩ, Điển Tôn, cả thảy hơn 10 nước, chiếm đất đai tới năm,

sáu nghìn lí Phạm Man được đánh giá là nhà quân sự “dũng mãnh và có

mưu lược” Lúc này, Phù Nam không còn là một vương quốc mà đã phát

triển thành một đế quốc Những hiện vật khảo cổ phát hiện ở Óc Eo có niênđại thế kỷ II, III chứng tỏ vào thời gian này nền kinh tế của Phù Nam đã khá

12

Trang 13

phát triển, cảng thị Óc Eo đã trở thành một đầu mối thương mại Đông Tây, sản vật Đông - Tây đã có mặt, cả những mặt hàng quý hiếm, chỉ dànhcho những người quyền quý hoặc rất giàu có… Trên cơ sở tiềm lực đó lại

-có nhu cầu kiểm soát, mở rộng quyền lực, kiểm soát con đường thương mạiqua Đông Nam Á lúc bấy giờ nên Phạm Man đã tiến hành các cuộc chiếnquy mô mà thư tịch cổ Trung Quốc đã ghi chép lại

Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng lãnh thổ Phù Nam ở thời kỳ hưngthịnh bao gồm các nước Campuchia ngày nay, đồng bằng sông Mê Nam, vàsông Cửu Long L Finot và G Coedes còn cho rằng cương giới của nướcPhù Nam còn tới tận vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, nơi tìm thấy bia VõCạnh ở Nha Trang Nhưng trong thời kỳ Phù Nam phát triển hướng mà nó

muốn vươn tới chinh phục chính là “vùng trung lưu sông Mê Kông, liền với

lưu vực sông Sê Mun trên bình nguyên Khorat Đây là nơi cư trú của các

bộ lạc Môn cổ có quan hệ tộc người họ hàng, gần gũi với người Phù Nam Chinh phục vùng này có khó khăn do đất rộng, người thưa, Phù Nam chắc không có đủ sức để cai quản, nhưng có thuận lợi là tiện đường ngược sông

Mê Kông, vốn đã quen thuộc, có quan hệ, có ảnh hưởng” [44, tr 49-50] Vìvậy, Phù Nam đã tiến đánh và chinh phục được một bộ lạc người Môn cổsinh sống ở ngã ba hạ lưu sông Sê Mun và trung lưu Mê Kông, bộ lạc này

về sau lập quốc, gọi theo tên vua là Bhavapura, mà người Trung Hoa gọi làChenla (Chân Lạp)

Tuy nhiên, Phù Nam quan tâm hơn tới vùng ven biển phương Nam,nơi đây án ngữ con đường thương mại qua Đông Nam Á lúc bấy giờ Theothư tịch cổ Trung Quốc thì Đốn Tốn, Khuất Đô Côn, Cửu Trĩ, Điển Tôn,

Xích Thổ, Chân Lạp đều là “thuộc quốc”, “ki mi”, “chi nhánh”… của đế

quốc Phù Nam Cũng thư tịch cổ đã nói tới việc Phù Nam chinh phục nướcKim Lân nay thuộc nam Myanmar nhưng những chứng cứ khảo cổ đã

Trang 14

chứng tỏ không có dấu hiệu chắc chắn có sự cai quản của Phù Nam ở đây.

Ba nước Khuất Đô Côn, Cửu Trĩ và Điển Tôn do không có chỉ dẫn thêmnên các học giả đoán định: Cửu Trĩ tức Câu Lợi (hay Đầu Câu Lợi) làTakkola (Sa nhân) nay là Ta Kua Pa, một cảng ở Tây - Bắc bán đảo Mã Lai;Điển Tôn chắc cũng là Đốn Tốn còn Khuất Đô Côn chưa xác định được

Theo Lương thư thì Đốn Tốn cách Phù Nam hơn 3000 dặm về phía

Nam, trên một bờ biển cao, đất rộng không quá 1000 dặm…[60, tr 273].Chắc rằng Đốn Tốn nằm trên hạ lưu Chao Praya và phần phía Bắc bán đảo

Mã Lai, đại để từ Chanthaburi vòng qua Pra Pathom và Pong Tuyk xuốngphía Nam, đến Chumpon và eo Kra Đây là nơi chắn ngang đường biển từ

Ấn Độ tới biển Đông, nơi họp chợ thế giới, như mô tả của thư tịch cổ, nơiquan trọng như thế nên Phù Nam đã sớm nắm lấy quyền chi phối, cai quản

Và “ vùng hạ lưu Mê Nam và Bắc bán đảo Malaya trước đây là nhóm 5

nước do Đốn Tốn đứng đầu, chế ngự tất cả, rồi tất cả thần phục Phù Nam, trừ Bàn Bàn ở phía Nam, vẫn có thể đứng riêng do vị trí trung chuyển quốc

tế của nó, mà Kiều Trần Như đến đây trước khi tới Phù Nam Vùng này là địa bàn cư trú của người Môn cổ, của một bộ lạc Môn cổ mà “tiếng nói hơi giống Phù Nam” Phụ thuộc Phù Nam, nhưng cùng với Phù Nam nằm trong quỹ đạo của con đường giao lưu kinh tế và văn hóa thế giới, vùng này cũng phát triển phồn thịnh” [44, tr 53].

Trong thư tịch cổ Trung Quốc có chép nước Xích Thổ là một chinhánh của Phù Nam trong vùng biển Nam Hải Do đất ở kinh đô màu đỏ mà

nước gọi là Xích Thổ; vị trí được xác định là giáp Ba La Thích ở phía

Đông, Bà La Sa ở phía Tây, Kha La Đán ở phía Nam và biển lớn ở phíaBắc, đất rộng vài nghìn dặm Trong bút ký đi đường của Thường Tuấn cóghi lại một hành trình gian khổ trước khi họ vào tới kinh đô của Xích Thổ

Họ đã phải giong buồm đi trong hai tuần thả neo (nghỉ) ở đảo đối diện với

14

Trang 15

Lâm Ấp, rồi đi tiếp về phương nam, đến gần núi sư tử thì thấy những hònnúi (đứng) thành chuỗi dài Hai ba ngày sau, do bắt đầu nhìn thấy dãy núi ởnước Lang Nha Tu, họ men theo phía Nam đến đảo Kê Lung (Lồng Gà)thuộc nước Xích Thổ Hơn một tháng sau thì vào kinh đô [60, tr 291-294].

Theo tác giả cuốn “Vương quốc Phù Nam” thì Thường Tuấn xuống

thuyền ở bến cảng quận Nam Hải vào tháng 10 âm lịch, đi ven bờ biểnĐông, nghỉ ở cù lao Chàm (?) vòng qua phía Nam Việt Nam, đi tiếp về phíaTây; men theo dãy đảo nhỏ từ Cà Mau tới Chanthaburi - Thái Lan, đi tiếpđến Chumphon, đi ít ngày nữa thì tới bờ phía đông của bán đảo Mã Lai, từSurat Thani đến Pattani, vừa có đảo phía Đông, vừa có biển phía Bắc Dựavào tài liệu dân gian thu được ở Bắc Pattani, ông khẳng định rằng nước Đất

Đỏ là có thật, nằm trên eo đất hẹp nhất của bán đảo Nhưng không phải chỉ

có một nước mà là có 5 nước đều quy phục Xích Thổ và tất cả cùng quyphục Phù Nam [44, tr 64-65]

Như vậy, những nước ở phía Tây mà Phù Nam đã chinh phục hầunhư chỉ nằm gọn trên bán đảo Mã Lai Tuy nhiên, hai nước Bàn Bàn vàLang Nha Tu, tuy nhỏ nhưng có vị trí quan trọng trở thành “trạm trungchuyển quốc tế” mà vẫn đứng riêng Nhưng như thế cũng là đủ đối với PhùNam bởi nó đã kiểm soát được con đường huyết mạch của nền mậu dịchhàng hải giữa Ấn Độ Dương với biển Đông

Tất cả các nước là thuộc quốc của Phù Nam chắc đã phải nộp cống,đây là một nguồn thu quan trọng của Phù Nam Nhưng quan trọng hơn cả làPhù Nam đã kiểm soát được con đường mậu dịch hàng hải và chắc hẳnđược ưu tiên mua bán, vận chuyển hàng hóa Và để đảm bảo quyền tôn chủcủa mình Phù Nam đã kiểm soát chặt chẽ các thuộc quốc, không cho quyền

tự do kinh doanh và quyền độc lập trong quan hệ ngoại giao Cho nên triềuđình Trung Hoa chỉ biết có Phù Nam và nhóm nước phụ thuộc gồm hơn 10

Trang 16

nước, chỉ đến khi Phù Nam suy vong mới thấy xuất hiện một số quốc gianhư: Chân Lạp, Xích Thổ, Đọa La Bát Để (Dvaravati) thay thế cho ĐốnTốn

Quan hệ giữa nước tôn chủ Phù Nam với các nước thần phục nókhông chỉ là mối quan hệ một chiều: cống nạp và bị kiểm soát về ngoại giao

mà giữa các nước này với Phù Nam còn có mối quan hệ về kinh tế và vănhóa Phù Nam với địa thế đắc địa, nền kinh tế phát triển cao đã trở thành

“trung tâm liên kết vùng”, đồng thời là một “trung tâm liên thế giới” Với vịthế như vậy thì nguồn hàng mà Phù Nam cần có để trao đổi với các thươngđoàn của Trung Quốc, các nước Tây Á, Địa Trung Hải và đặc biệt là vớithương nhân Ấn Độ là không nhỏ Nếu chỉ tập trung sản xuất thủ côngnghiệp, khai thác lâm sản quý hiếm trên phạm vi lãnh thổ Phù Nam cũ thìkhông đủ, do đó Phù Nam cần lấy thêm nguồn hàng từ các nước phụ thuộcmình Những phát hiện khảo cổ ở lưu vực hạ lưu sông Mê Nam và bán đảo

Mã Lai cho biết khu vực này vào thời gian đó nền kinh tế cũng đã tương đốiphát triển, nhu cầu trao đổi buôn bán với bên ngoài là khá lớn Các nhàkhoa học cũng đã tìm thấy những bằng chứng vật chất chứng minh rằng ởkhu vực có nhóm nước thần phục Phù Nam đã có sự trao đổi hàng hóa vớiPhù Nam và với bên ngoài

Như thế, đối với khu vực Đông Nam Á lục địa và bán đảo mà địa bàn chủyếu là các nước thần phục Phù Nam đã hình thành các tuyến buôn bán giữa cácthành thị, đô thị với nhau trong đó Óc Eo - Ba Thê đã trở thành trung tâm quantrọng nhất, nơi gom hàng hóa để trao đổi buôn bán với bên ngoài

Tóm lại, đầu thế kỷ III, từ thời Phạm Man sau những cuộc chinhchiến mở rộng bá quyền ở Đông Nam Á, vương quốc Phù Nam bước vàothời kỳ hưng thịnh Các đời vua sau của Phù Nam như Phạm Chiên, PhạmTràng, Phạm Tầm, (Thiên) Trúc Chiên Đàn, Kiều Trần Như, Trì Lê Đà Bạt

16

Trang 17

Ma… tuy không làm được những việc “kinh thiên động địa” như PhạmMan nhưng đã từng bước phát triển kinh tế và đặc biệt là vẫn giữ đượcquyền chi phối đối với con đường mậu dịch hàng hải qua Đông Nam Á nên

vị thế của đế quốc Phù Nam vẫn được giữ vững Ta có thể thấy rõ vị thế của

đế quốc số một, đầu tiên ở Đông Nam Á - đế quốc Phù Nam qua một số nét

cơ bản:

- Đế quốc cổ đại Phù Nam có một lãnh thổ rộng lớn lên tới 5 - 6nghìn lí gồm hạ và trung lưu sông Mê Kông, hạ lưu sông Mê Nam kéoxuống bán đảo Mã Lai

- Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thương nghiệp, thủ côngnghiệp…đưa Phù Nam trở thành “trung tâm liên kết vùng” đồng thời là một

“trung tâm liên thế giới” đầu tiên của khu vực Đông Nam Á

1.1.3 Sự khủng hoảng và suy vong của Phù Nam (Thế kỷ V - VII).

Sau mấy thế kỷ huy hoàng Phù Nam dần suy yếu và lâm vào khủnghoảng Nước Chân Lạp có nguồn gốc từ một bộ lạc Môn cổ ở hạ lưu sông

Sê Mun, cùng với một số nước khác đã phải thần phục Phù Nam từ thế kỷIII (thời Phạm Man) nay đã có điều kiện để xóa bỏ xiềng xích của sự cốngnạp Chân Lạp trước kia đã phải thần phục Phù Nam đồng thời có quan hệnhiều mặt với nước tôn chủ, trong đó có điều kiện tiếp xúc và đã tiếp thuvăn hóa Phù Nam, văn hóa Ấn Độ qua Phù Nam Chính nhờ thế mà bộ lạcnày đã tiến vượt lên so với các bộ lạc khác ở Khorat Cuối thế kỷ V họ đã

có bia viết bằng chữ sanskrit và có lẽ đây cũng là thời gian họ bắt đầu lậpnước Nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã đem quân chinh phục lạiPhù Nam và dần thay thế vị trí của Phù Nam ở hạ lưu sông Mê Kông

Về sự kiện Chân Lạp tấn công Phù Nam, các bộ sử lớn của triều Tùy,Đường cho biết: Nước Chân Lạp nằm ở phía Tây Nam của Lâm Ấp, nguyên

là một nước chư hầu của Phù Nam Họ vua là Sát Lợi (Ksatrya), tên là

Trang 18

Chất Đa Tư Na (Chitrasena) tổ tiên của ông đã dần phát triển quyền lực của

xứ sở Chất Đa Tư Na đánh chiếm Phù Nam và khuất phục nước đó Tân

Đường thư chép tỉ mỉ hơn cho biết vua Phù Nam đóng đô ở thành Đặc Mục

(Vyadhapura) - thành phố của những người đi săn, đột nhiên thành bị quânChân Lạp đánh phá, nhà vua phải chạy về phía nam đến thành Na Phất Na[60, tr 286]

Văn khắc Robang Romeas viết năm 598 ca ngợi chiến công của các

vị vua đầu tiên gồm:

1 Bhavavarman (vua sáng lập)

2 Mahendravarman cũng tức là Chitrasena, được coi là người thứnhất trị vì Chân Lạp

3 Isanavarman, là con Chitrasena [44, tr.155]

Bia Ang Chumik niên điểm 667 cho biết đầy đủ thế thứ các vương

triều đầu của Chân Lạp gồm có:

18

Trang 19

Khi Chất Đa Tư Na (Chitrasena) chết, khoảng năm 624, Y Sa NaTiên (Isanavarman) thế tập, đóng đô ở Y Sa Na Isanavarman không chỉ làngười xây dựng kinh đô, cho khắc một số bia mà còn là người kế tục sựnghiệp của cha ông tiếp tục chinh phục Phù Nam và sau khi thắng các vuaNúi, ông lại chiếm hầu như mọi vùng đất cũ của Phù Nam, tiến đánh vuaNúi đến tận đỉnh núi Như vậy, Isanavarman đã hoàn thành công cuộc chinhphục Phù Nam.

Thư tịch cổ Trung Quốc các đời sau không ghi chép rõ Phù Nam còn

tồn tại tới bao giờ Tân Đường thư đã ghi lại các đoàn sứ bộ của Phù Nam

được cử sang triều Đường dưới các triều vua Đường Cao Tổ niên hiệu VũĐức (618 - 627) và vua Đường Thái Tông niên hiệu Trịnh Quán (627 - 649)[60, tr 286] Căn cứ vào sự kiện Phù Nam đến tiến cống nhà Đường, tác giả

Lê Hương trong tác phẩm “Sử liệu Phù Nam” xác định năm 627 là năm

vương triều cuối cùng của Phù Nam sụp đổ Giáo sư Hà Văn Tấn dẫn sự

kiện nhà sư Nghĩa Tĩnh (635 - 713) đời Đường biên soạn các sách “Đại

Đường cầu pháp cao tăng truyện”, “Nam hải ký quy nộ pháp truyện” hoàn

thành năm 691 gửi về Trường An thời Vũ Hậu, đã nhắc tới một nước có tên

là Bạt Man, mà nhà sư chưa rõ “trước gọi là Phù Nam” là năm diệt vongcủa Phù Nam Còn theo Giáo sư Lương Ninh, sau khi Chân Lạp chiếm đượckinh đô, vua Phù Nam phải chạy về phía Nam tới thành Na Phất Na và còntồn tại được hơn 30 năm, tới năm 649 Phù Nam mới bị diệt vong

Như vậy, niên đại tuyệt đối nước Phù Nam bị diệt vong chưa rõ ràngnhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất Phù Nam bị diệt vongtrong thế kỷ VII

Về nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng và suy vong của Phù Nam

có rất nhiều ý kiến được nêu ra Tựu chung lại, các nhà nghiên cứu thốngnhất có mấy nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Trang 20

Thứ nhất, về điều kiện tự nhiên, có ghi nhận vấn đề biển lấn Trongkhoảng 250 năm từ năm 1650 đến năm 1400 trước Công nguyên mực nướcbiển đã hạ thấp: từ độ cao + 2m đã hạ thấp đến dưới mực nước biển hiệnnay là - 0,8m (tức hạ thấp tới 2,8m) Từ đây mở ra một thời kỳ mới tronglịch sử hình thành châu thổ sông Cửu Long Khoảng năm 550 đến khoảngnăm 1350 sau Công nguyên mực nước biển dâng cao trung bình + 0,8m.Qúa trình biển tiến đã có những tác động nhất định tới đời sống và hoạtđộng kinh tế của những cư dân Phù Nam sống ven biển, cạnh các kênh, rạch[11, tr 19-21] Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của vấn đề biển tiến tới đâu làvấn đề cần bàn thêm, bởi đó là một quá trình biển tiến từ từ, diễn ra trongmột thời gian dài.

Thứ hai, sự thay đổi của con đường giao thương qua vùng Đông Nam

Á làm mất đi một lợi thế thương mại rất lớn của đế quốc Phù Nam Từ thế

kỷ VI, VII do yêu cầu phát triển của thương mại đường biển Châu Á và donhững tiến bộ về kỹ thuật hàng hải, công việc trung chuyển thuyền buôn vàhàng hóa qua eo biển Kra trở nên khó khăn nên con đường thương mại dịchchuyển xuống phía nam bán đảo Mã Lai Eo biển Kra dần mất đi vai tròquan trọng trước kia của mình và do đó Phù Nam cũng mất đi một lợi thếthương mại, mất đi một nguồn thu quan trọng, ảnh hưởng tới sự tồn vongcủa đế quốc thương mại này

Thứ ba, một số nhà nghiên cứu nói tới yếu tố chiến tranh Rõ ràngcuộc chiến tranh giữa nước tôn chủ Phù Nam với nước Chân Lạp là có thật.Cuộc chiến tranh này diễn ra trong một thời gian khá dài và cuối cùng PhùNam sau khi phải rút về phía nam, rồi thất bại hoàn toàn Nhưng ở đây cũng

có một vấn đề đặt ra đó là tại sao một nước phụ thuộc lại có thể đánh bạinước tôn chủ hùng mạnh, chắc hẳn phải có nguyên nhân sâu xa nào đó xuấtphát từ phía Phù Nam

20

Trang 21

Phù Nam là một đế chế gồm nhiều nước nhỏ phụ thuộc Đối với cácnước chư hầu, Phù Nam thi hành chính sách bóc lột qua hình thức “triềucống” lại bị quản chế về ngoại giao Do đó, các nước chư hầu luôn mangtâm lý bất mãn, bất phục tùng và chỉ chờ cơ hội là sẽ vùng dậy xóa bỏ xiềngxích của tôn chủ Càng về sau các ông vua Phù Nam chỉ lo buôn bán, tu sửapháp độ, tổ chức quân đội không được chăm lo đúng mức, Phù Nam dầnsuy yếu Đây là cơ hội để các nước chư hầu nổi dậy chống lại và việc ChânLạp vùng lên và thôn tính Phù Nam là một minh chứng Tuy nhiên, ở đâycũng nảy sinh một vấn đề là tại sao trong số hơn mười nước phải thần phụcPhù Nam trước kia thì chỉ thấy có Chân Lạp là đem quân tấn công khi PhùNam suy yếu Vậy những nước còn lại đã thoát khỏi xiềng xích của PhùNam bằng cách nào ? Phù Nam chắc không để cho các nước phụ thuộc tách

ra khỏi sự quản chế mình một cách tự nhiên, hòa bình ? Đây là vấn đề cầnđược tiếp tục nghiên cứu

Tất cả những nhân tố trên đã tác động tới đế quốc Phù Nam, làm cho

nó từng bước suy yếu Những thách thức mà Phù Nam phải đương đầu ngàycàng to lớn hơn, nó càng lún sâu vào khủng hoảng và cuối cùng đã bị diệtvong trong thế kỷ VII

1.2 Khái quát về văn hóa Phù Nam.

1.2.1 Bi ký, văn tự.

Có thể nói, bi ký là một sản phẩm văn hóa đặc biệt của Phù Nam.Văn bia hoàn toàn không có ý nghĩa gì trong việc khẳng định vị thế của đếquốc Phù Nam, nhưng xét về phương diện văn hóa thì văn bia lại có ý nghĩađặc biệt quan trọng Bên cạnh việc ghi chép, phản ánh về các nhân vật, sựkiện cụ thể, văn bia còn cho ta biết phần nào về đời sống vật chất và tinhthần của cư dân Do đó, văn bia cũng cung cấp cho chúng ta những thôngtin quan trọng để ta hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Phù Nam Đến nay,

Trang 22

có 4 tấm bia viết bằng chữ Phạn dạng cổ đã được phát hiện, có niên đại thế

kỷ V, được xác định là của Phù Nam Hai bia bia được tìm thấy ở gần kinh

đô của Phù Nam - Ăngkor Borei, hai bia còn lại được phát hiện ở Đồng Tháp

và An Giang Những tấm văn khắc này do sự tác động của lịch sử, địa lýcùng tác nhân của con người nên bị hư hại khá nhiều Trong số 4 tấm bia chỉ

có 3 bia còn đọc được dù không thật nguyên vẹn Những văn khắc Phù Namchủ yếu ghi chép về những nhân vật, sự kiện khác nhau nhưng đều phản ánhnhững khía cạnh khác nhau về cuộc sống và tư tưởng của xã hội Phù Nam

Về chữ viết, người Phù Nam đã tiếp thu chữ viết của người Ấn Độ.Các tài liệu cho biết người Phù Nam biết đọc sách và có văn khố Văn tựcủa Phù Nam giống văn tự của dân tộc Hồ, một dân tộc ở Trung Á dùng Ấn

tự Qua văn bia và các chữ khắc trên bùa đeo, nhẫn, vòng…chúng ta biếtđược chữ viết của Phù Nam là loại chữ Brahmi, văn tự này được dùng ở Ấn

Độ trong các thế kỷ từ thế kỷ II đến thế kỷ V Mẫu tự muộn hơn là văn tựBắc Ấn (Sanskrit) Thư tịch cổ Trung Quốc cũng cho biết Phù Nam đã từngdâng tặng thiên triều Trung Hoa cùng thời nhiều bộ sách - kinh Phật NgườiPhù Nam đã dùng chữ mà mình học được từ người Ấn Độ để khắc lời chúlên bùa đeo, nhẫn, mặt dây chuyền…và khắc bia Có một số nhà nghiên cứucòn cho rằng Phù Nam có rất nhiều sách cổ khác mà ngày nay chúng takhông còn tìm thấy

1.2.2 Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc.

Vào thời đại Óc Eo, ở miền châu thổ sông Mê Kông đã hình thành vàphát triển nhiều khu đô thị rộng lớn Số lượng và mật độ của những di tíchkiến trúc xen lẫn di tích cư trú rất lớn, phản ánh một nền văn minh đô thịvới những biểu hiện xã hội, tư tưởng và tinh thần của nó

Thư tịch cổ Trung Quốc và tài liệu khảo cổ học đã cung cấp chochúng ta nhiều hiểu biết về nền kiến trúc của Phù Nam Tiếc rằng trải qua

22

Trang 23

hơn mười thế kỷ với những biến đổi to lớn về lịch sử, lại đứng trong mộtmôi trường mà khí hậu có sự biến động lớn về nhiệt, độ ẩm nên khôngcòn bất kỳ một kiến trúc nào của Phù Nam còn tồn tại Theo thư tịch cổTrung Quốc, các thị trấn của Phù Nam thường được xây dựng trên mặt hồ,bên cạnh các con kênh, các công trình công cộng như đền, tháp được xây

dựng bằng các vật liệu nặng như gạch, đá, gỗ Lương thư cũng cho biết ở

Phù Nam có tới 7 thành phố mà con cháu của Hỗn Hội và Diệp Liễu đượcphân chia cai quản [60, tr 274] Hiện nay, khảo cổ học đã phát hiện được 3thành thị ở miền Tây sông Hậu Một là Óc Eo - Ba Thê ở An Giang, có thể

đó là Na Phất Na Hai là Nền Chùa ở Kiên Giang - là tiền cảng của Óc Eo

Ba là Nền Vua hay còn gọi là Trăm Phố Trên đồng bằng và ở cả nhữnggiồng đất, người ta cũng đã phát hiện được nhiều nền móng của các kiếntrúc cổ Những kiến trúc đó bao gồm kiến trúc nhà ở, kiến trúc đô thị vàkiến trúc tôn giáo, chỗ thì nằm riêng biệt, nơi thì nằm xen kẽ với nhau Đếnnay, chúng ta chưa biết được chính xác bình đồ và quy mô của những kiếntrúc đó Ở vùng Ăngkor Borei khảo cổ học cũng phát hiện được nhiều ditích kiến trúc cổ Diện tích của khu kiến trúc này cũng rất lớn, tương xứngvới vị thế là kinh đô của một quốc gia hùng mạnh Địa bàn của nó rộng tới300ha, có tường thành cao, chu vi 2 - 4 km [44, tr 44]

Điêu khắc là một trong những thành tựu quan trọng của người PhùNam còn để lại tới ngày nay mà chúng ta biết được qua khảo cổ học Trên

cơ sở tiếp thu những yếu tố từ nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ người Phù Nam

đã tạo nên một nền nghệ thuật điêu khắc có trình độ cao, đạt tới sự điêuluyện Phù Nam là một trong những trung tâm của Phật giáo và Hinđu giáolớn của Đông Nam Á nên thật dễ hiểu khi nghệ thuật điêu khắc của PhùNam mang âm hưởng và dấu ấn đậm nét của hai tôn giáo này

Đến nay, khảo cổ học đã phát hiện được khoảng 50 pho tượng Phậtđược xác định là của Phù Nam trong đó có 17 pho bằng đá, 26 pho bằng gỗ, 7

Trang 24

pho bằng đồng, với 32 pho tượng Phật đứng (Buddhapad) [47, tr 251] Cácpho tượng này đều có niên đại khớp với niên đại của Phù Nam Các pho tượngPhật đứng được tạc theo nguyên mẫu phù điêu trên bàn thờ ở chùa hangAdjanta số 19 thời Hậu Gupta (Thế kỷ IV - VI) ở Ấn Độ, trong đó pho tượngNền Chùa được tìm thấy ở Kiên Giang là pho tượng đẹp nhất.

Ngoài những pho tượng Phật giáo, ở Nam Bộ Việt Nam và ĂngkorBorei (Camphuchia) cũng tìm thấy một số lượng khá lớn tượng Hinđu giáotrong đó có thể kể ra như: Vishnu Óc Eo, Vishnu Gò Tháp, Vishnu Ba Thê,Vishnu Trung Điền, Surya Tiên Thuận, Vishnu Takuapa, Sri Maha Pot,Vieng Sra [48, tr 284-285] Tượng Vishnu Phnom Da được coi là tácphẩm đẹp nhất, tiêu biểu cho dòng điêu khắc Hinđu giáo của Phù Nam.Lương Ninh đã đặt các pho tượng Hinđu giáo của Phù Nam vào một trường

phái riêng - “trường phái Phù Nam”, hoàn toàn khác với các tác phẩm điêu

khắc khác ở khu vực Đông Nam Á Với một số lượng lớn tượng Hinđu giáo

đã được phát hiện, có thể coi Phù Nam là trung điểm, đỉnh cao của điêukhắc Hinđu giáo ở Đông Nam Á thời cổ - trung đại

Ngoài ra, khi nói tới điêu khắc của Phù Nam thì không thể không kểtới hàng ngàn mảnh vàng nhỏ, mỏng được các cá nhân hay tập thể tín chủthành kính đặt vào đáy trụ giới (simas) của mỗi ngôi đền - được coi là giớihạn lãnh địa của thần thánh với mong muốn góp công đức và cầu xin đượcthần linh phù hộ Chủ nhân của những mảnh vàng này chắc đã dùng vậtnhọn khắc, vạch lên trên lá vàng những hình tượng mong muốn của mìnhnhư hình hoa sen, hình rắn, cá, voi và các hình tượng biểu trưng cho thầnthánh mà họ tôn thờ

Như vậy, những biểu hiện nghệ thuật của văn hóa Phù Nam tuy có mang

một số yếu tố của Ấn Độ nhưng nó vẫn xác định được những nét đặc trưng của

sắc thái bản địa, có thể phân biệt được không chỉ với Ấn Độ mà cả với nhữngnghệ thuật khác trong cùng một môi trường địa lý như Chân Lạp, Lâm Ấp

24

Trang 25

1.2.3 Tín ngưỡng, tôn giáo.

Vào thời tiền sử, sơ sử và cổ đại, tục thờ người chết là biểu hiện rõnhất về tín ngưỡng của cư dân mà khảo cổ học đã ghi nhận được Ở Nam

Bộ Việt Nam, một số di cốt được tìm thấy ở Cạnh Đền, Óc Eo, Gò Tháp nhưng không quan sát được tầng văn hóa chính xác, nên chưa xác địnhđược tục lệ mai táng Những mộ táng còn lại đều là những khu hỏa táng, vớidạng phổ biến gồm một phần trung tâm hình khối dựng bằng gạch, đá, gỗ

và những vật tùy táng thường là những lá vàng có khắc hình, những viên đáquý…Trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, người Phù Nam theotín ngưỡng bái vật giáo với truyền thống thờ đá mà nhiều nhà nghiên cứu

cho là sự tồn tại của một “truyền thống cự thạch” Theo Lương thư, tục

chôn người chết ở Phù Nam có bốn cách: Thủy táng (thả thi hài xuốngsông), mai táng (chôn thi hài), điểu táng (để thi hài ngoài trời cho chim ăn),hỏa táng (thiêu xác), thân nhân chịu tang phải cạo sạch râu, tóc [60, tr 276].Như vậy, ở Phù Nam đã từng tồn tại nhiều tập tục trong nghi thức chônngười chết Đằng sau những tập tục ấy là những hình trang trí cho thấy cưdân ở đây quan niệm cái chết như một chuyến đi, đi đến một thế giới khác.Thế giới đó có thể là thế giới của thần linh và cái chết chính là một cách để

đi tới thế giới thần linh, ở nơi đó cuộc sống sẽ vĩnh hằng Sự vĩnh hằng đócũng có thể là sự hòa nhập với thiên nhiên, chim trời, cá nước (điểu táng vàthủy táng), thăng hoa hòa nhập với thế giới bên kia bằng lửa (hỏa táng) haytrở về với đất (mai táng)

Vào khoảng đầu Công nguyên, văn hóa Ấn Độ được truyền sangĐông Nam Á, Phù Nam là một trong những quốc gia có điều kiện tiếp xúc

và tiếp nhận văn hóa Ấn Độ sớm nhất Một nội dung quan trọng mà cư dânPhù Nam đã tiếp nhận từ văn hóa Ấn Độ đó là tôn giáo, gồm cả Phật giáo

và Hinđu giáo Qua các hiện vật phát hiện được như tượng thần Brahma

Trang 26

(đấng sáng tạo), Vishnu (đấng bảo tồn), Silva (đấng hủy diệt), Hari Hara

-sự kết hợp giữa thần Silva ở nửa bên phải và Vishnu ở nửa bên trái, Surya(thần mặt trời), Dvarapati (thần hộ pháp) cùng với các ngẫu tượng Linga,Linga - Yoni, Yoni, các vật linh như bò thần Nandin, chim thần Garuda,Naga - rắn thần cho thấy Hinđu giáo rất phát triển ở Phù Nam trong đó chi

nhánh Vishnu giáo được tôn thờ nhiều hơn, sùng kính hơn Theo Lương thư

chép theo tài liệu của Khang Thái và Chu Ứng đi sứ Phù Nam, có mô tảmột vị thần hai mặt, bốn tay, thần bốn mặt, tám tay, mỗi tay cầm một vật gì

đó, khi là đứa trẻ con, khi là một con chim, hay con thú, hoặc Mặt Trăng,Mặt Trời [60, tr 276] Đây là một vị thần kết hợp, rất có thể là thần Hari -Hara ở một dạng sớm mà đến nay chưa tìm thấy tiêu bản hiện vật

Hình tượng kết hợp những yếu tố của Silva (nanđin, đinh ba, vầngtrăng khuyết…) với yếu tố Vishnu (con ốc, bánh xe, quả cầu…) khắc trênnhững mảnh vàng được tìm thấy khá nhiều ở Đá Nổi – An Giang NgườiPhù Nam có lẽ đã chấp nhận cả hai vị thần: Vishnu để bảo vệ tài sản và sinhmạng cho họ còn Silva để trừng phạt những kẻ ác trong xã hội Nhưng ởPhù Nam, Vishnu được tôn thờ nhiều hơn, có thể vì Silva là biểu tượng củavương quyền, quý tộc còn Vishnu là vị thần của dân gian, mà người PhùNam chủ yếu là nông dân, thợ thủ công và thương nhân

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đạo Phật có mặt ở Phù Nam từđầu Công nguyên, khoảng thế kỷ I, II Đạo Phật ở Phù Nam có khác vớicác nơi khác đó là tượng Phật được đặt chung với các tượng thần Hinđugiáo và ở Phù Nam cả Phật giáo Đại Thừa và Tiểu thừa đều có mặt.Theo ghi chép của nhà sư Nghĩa Tĩnh đến Phù Nam khoảng năm 671 -

695 có chép “Người xứ ấy thờ nhiều thiên thần, nhưng Phật pháp cũng

thịnh hành” [47, tr 251].

26

Trang 27

Trong khoảng thời gian từ năm 479 đến 482, ở Quảng Đông đã đượcbiết có tu viện Vaisali, ở đây có một pho tượng lớn bằng đá được chở từPhù Nam đến Năm 484 nhà sư Ấn Độ có tên là Na Già Tiên (Nagasena)được vua Phù Nam phái tới đi sứ Trung Quốc mang nhiều tặng phẩm, trong

đó có một pho tượng Phật ngồi trên đài rắn thần bằng vàng và một photượng gỗ đàn hương trắng Đến năm 503, nhà sư Madala lại được quốcvương Phù Nam cử đi sứ, mang cống vua Trung Quốc một pho tượng Phậtbằng san hô Những năm 503 - 506, có nhà sư gốc Phù Nam tên làSanghapala và Mandrasena đã sang Trung Quốc để dịch kinh Phật Năm

519, vua Phù Nam là Rudravarman lại cử sứ bộ sang cống vua Trung Quốcmột pho tượng Phật bằng gỗ đàn hương Ấn Độ Khoảng những năm 535 -

545 một phái bộ của Trung Quốc được cử đi yết kiến vua Phù Nam, xinđược sưu tập kinh Phật, đón theo về Trung Quốc các cao tăng và xin đượcmột thánh tích là sợi tóc Phật dài hơn một mét Sau đó, nhà sư Ấn Độ làParamatha đã tập hợp mang sang Trung Quốc 240 pho kinh [1, tr 365-366]

Đến nay có khoảng 50 pho tượng Phật đã được phát hiện, được tạctheo phong cách tượng ở Ấn Độ, có niên đại khớp với niên đại của PhùNam Rõ ràng vị trí của Phật giáo ở Phù Nam không thể sánh với Ấn Độ,

Srilanka và Kushana nhưng có thể coi Phù Nam là “một trung tâm Phật

giáo quan trọng của cả phương Đông, cả phương Tây Thái Bình Dương”

[44, tr 131]

Như vậy, trên cơ sở một nền kinh tế, văn hóa phát triển, sau được tiếpxúc và “cộng hưởng” với văn hóa Ấn Độ, cư dân Phù Nam đã xây dựng chomình một nền văn hóa riêng, độc đáo vừa mang cốt cách bản địa đồng thờinền văn hóa này luôn sẵn sàng hội nhập và tiếp thu những thành tố văn hóaphù hợp của các nền văn hóa khác Trên cơ sở đó cư dân Phù Nam sáng tạo

ra những sản phẩm văn hóa có nhiều đặc điểm riêng, đặc trưng

Trang 29

Chương 2 VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA PHÙ NAM Ở NAM BỘ VIỆT NAM

VÀ MỐI QUAN HỆ KHU VỰC

2.1 Nam Bộ Việt Nam trong vương quốc Phù Nam.

Phù Nam là một quốc gia có một phạm vi lãnh thổ khá rộng lớn.Theo văn bia thì tấm bia Phù Nam xa nhất về phía Đông - Bắc là bia VõCạnh, gần Nha Trang ngày nay, về phía Tây - Bắc là bia được tìm thấy trên

bờ sông Mê Kông phía nam Viêng Chăn và về phía Nam là bia tìm thấy ở

eo đất trên bán đảo Mã Lai Từ đó, một số nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng,vào thời cực thịnh lãnh thổ Phù Nam có thể bao gồm toàn bộ Nam Bộ vàNam Trung Bộ Việt Nam, Nam Lào, Nam Thái Lan và Bắc bán đảo MãLai Tuy nhiên, lãnh thổ Phù Nam cũng như lịch sử của chính nó cũng cónhững biến động, thay đổi mà hiện nay ta chưa biết được đầy đủ Rõ ràng,không có một nước Phù Nam với tính chất và phạm vi lãnh thổ không thayđổi trong quá trình tồn tại và phát triển kéo dài khoảng bảy thế kỷ Khi mớihình thành nhà nước sơ khai với truyền thuyết về cuộc hôn nhân giữa LiễuDiệp - Hỗn Điền thì Phù Nam là một cộng đồng gồm cư dân ven biển vànhóm cư dân miền núi Trong thời kỳ hưng thịnh, phạm vi lãnh thổ của PhùNam đã được mở rộng ở vùng Đông Nan Á lục địa và bán đảo mà theo thưtịch cổ Trung Quốc là 5 - 6 nghìn lí Đến nay, các nhà nghiên cứu chưathống nhất được phạm vi lãnh thổ của Phù Nam một cách chính xác nhưngđều cho rằng vương quốc Phù Nam đã từng có một lãnh thổ rộng lớn và vịthế của một đế quốc trong lịch sử Đông Nam Á thời cổ - trung đại

Nam Bộ Việt Nam đã từng là một bộ phận của lịch sử - văn hoá PhùNam Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều hiện vật của văn hoá Óc Eo trênvùng đất này Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng Nam Bộ Việt Nam là

Trang 30

không gian tồn tại chủ yếu của văn hoá Óc Eo Trên cơ sở nguồn tài liệukhảo cổ học khi xem xét mối quan hệ giữa văn hóa Óc Eo với vương quốcPhù Nam, đa số các nhà nghiên cứu khẳng định văn hóa Óc Eo chính là cơ

sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của vương quốc Phù Nam L Malleretsau khi khai quật Óc Eo, trong công trình nghiên cứu của mình đã khẳngđịnh văn minh Óc Eo là văn hóa miền duyên hải của quốc gia cổ Ấn Độ hóa

- Phù Nam Như vậy, có thể ngay từ buổi đầu của lịch sử Phù Nam, Nam

Bộ Việt Nam đã trở thành một bộ phận của lịch sử văn hoá Phù Nam Một

số nhà nghiên cứu còn cho rằng vùng đất Nam Bộ Việt Nam còn là bộ phậnsớm nhất của Phù Nam

Ăngkor Borei và Nam Bộ Việt Nam là những trung tâm quan trọngcủa đế quốc Phù Nam Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều hiện vật củavăn hoá Phù Nam tại hai khu vực này Ở Ăngkor Borei cũng đã phát hiệnđược một hệ thống giao thông gồm 5 con kênh dài hàng trăm km nối nơiđây với Châu Đốc (An Giang) Chắc chắn rằng giữa hai trung tâm này củaPhù Nam đã có những mối liên hệ mật thiết Mối liên hệ đó có thể bao gồm

cả về kinh tế - chính trị - văn hoá

Nam Bộ Việt Nam cũng đã có quan hệ kinh tế với các khu vực khác

ở Đông Nam Á vốn là đất phụ thuộc của Phù Nam, trong đó Óc Eo đã trởthành đầu mối quan trọng nhất trong hệ thống buôn bán liên vùng Nhữnghiện vật mà khảo cổ học tìm được đã chứng minh rằng Óc Eo đã sớm cóquan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa với các đô thị cổ như U Thong,Chansen, hay Pong Tuyk Trong sự so sánh với các đô thị khác ở ĐôngNam Á có mối liên hệ với Phù Nam thì tầm vóc và vị thế của Óc Eo lớnhơn nhiều Có thể coi Óc Eo là đô thị có quy mô và tầm vóc lớn nhất thờibấy giờ ở Đông Nam Á Kinh tế thủ công nghiệp cùng sự lớn mạnh củathương nghiệp hàng hải đã đưa Óc Eo ở Nam Bộ Việt Nam trở thành một

30

Trang 31

trung tâm kinh tế trọng yếu của Phù Nam Là một cảng thị lớn nhất ĐôngNam Á đồng thời là thương cảng quốc tế, Óc Eo có đủ điều kiện để trởthành một trung tâm kinh tế, văn hóa lớn với cả một hệ thống bao gồmnhững điểm quần cư và đô thị, những trung tâm chính trị - tôn giáo và vănhóa, hải cảng cùng với những điểm sản xuất thủ công - buôn bán Óc Eođược biết đến nay là một trung tâm quan trọng nhất của hệ thống miền Tâysông Hậu và cũng có thể nói là lớn nhất khu vực Đông Nam Á [38, tr 24].Ngoài Óc Eo, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nền Chùa và Nền Vua cũng lànhững đô thị, trung tâm kinh tế lớn của vương quốc Phù Nam.

Sự xuất hiện của các loại nguyên liệu thô trong các di chỉ khảo cổhọc là những bằng chứng tin cậy về sự phát triển của thủ công nghiệp bảnđịa Nhiều hiện vật phát hiện ở Óc Eo được chế tác với kỹ thuật tinh xảo,kết hợp nhiều thao tác kỹ thuật, nhiều hình trang trí, được làm bằng nhiềuchất liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, thiếc, thạch anh…Trong số cácnghề thủ công thì nghề làm đồ trang sức Óc Eo đã đạt tới trình độ điêu luyện,giàu giá trị nghệ thuật, tính sáng tạo; nghề làm đồ gốm với kỹ thuật bằng bànxoay, hoa văn tinh tế giàu tính thẩm mỹ nhưng cũng rất hữu dụng trong sinhhoạt hàng ngày của cư dân Chắc rằng để phát triển các nghề thủ công nghiệp,

Óc Eo đã nhập nhiều loại hàng hóa của thương nhân Đông Nam Á như vàng,đồng, thiếc từ bán đảo Mã Lai Nguyên liệu mà Óc Eo nhập là từ các vùng

có quan hệ kinh tế với nó và các vùng này nằm trong tầm ảnh hưởng của PhùNam Tại Óc Eo người ta cũng đã tìm thấy một kho hạt thủy tinh nhiều màu sắc

và cả loại thủy tinh trong suốt hết sức quý giá Chắc thời bấy giờ, người Óc Eocòn nhập đá quý từ Ấn Độ, Thái Lan và nguyên liệu thủy tinh thì nhập từ Ấn

Độ hoặc khu vực Trung Cận Đông Trong các mối quan hệ kinh tế, Ấn Độchính là đối tác kinh tế lớn nhất của Phù Nam cũng như của Óc Eo

Trang 32

Sau mấy thế kỷ hưng thịnh, do nhiều nguyên nhân khác nhau, PhùNam dần suy yếu Lợi dụng tình trạng khủng hoảng của Phù Nam, mộtnước chư hầu trước kia của Phù Nam là Chân Lạp đã đem quân chinh phụclại tôn chủ cũ Sau khi bị đánh bại ở kinh đô Đặc Mục vua Phù Nam đã phảichạy về phía nam tới thành Na Phất Na Địa điểm này được nhiều nhànghiên cứu cho là cảng thị Óc Eo (?) Địa điểm mà vua Phù Nam chạy tớichắc chắn phải có được những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của vươngtriều mình Hơn nữa nó phải có một thực lực nhất định để không chỉ giúpvương triều này tồn tại mà còn có thể cung cấp cho vương triều Phù Namnhững điều kiện vật chất cần thiết để có thể giành lại vị thế cũ của mình NaPhất Na (Óc Eo ?) chắc phải có một cơ sở kinh tế khá tốt mới có thể giúpnhững vương triều cuối cùng của Phù Nam trụ lại được hơn 30 năm trước sựtấn công của nước Chân Lạp Như vậy, Na Phất Na (Óc Eo ?) là phần lãnh thổcuối cùng của Phù Nam trước khi bị Chân Lạp đánh bại hoàn toàn.

Việc mở rộng và phát triển thế lực chính trị của Phù Nam đưa tới một

hệ quả tất yếu đó là không gian văn hóa Phù Nam cũng được mở rộng Sứcmạnh kinh tế và địa vị chính trị của Phù Nam đã tạo ra môi trường thuận lợinhất định cho việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Óc Eo - PhùNam Với vị thế của một trung tâm kinh tế lớn ở Đông Nam Á, văn hóa Óc

Eo đã lan tỏa sức sáng tạo của nó ra các vùng xung quanh Từ miền Tâysông Hậu, văn hóa Óc Eo đã từng bước hội nhập với các nền văn hóa kháctrong khu vực ở Đông Nam Á Trải qua bảy thế kỷ phát triển, thật khó cóthể tìm thấy một thời đại văn hóa Óc Eo có sự đồng nhất cao về niên đại vàđặc tính văn hóa trên bình diện khu vực Nhưng chỉ với những sản phẩm vậtchất còn lại sau mười lăm thế kỷ cũng đủ làm cho chúng ta hiểu được phầnnào về sự hưng thịnh của văn hóa Óc Eo Trong số các sản phẩm văn hóacủa Phù Nam tìm được ở Nam Bộ Việt Nam thì hệ thống tượng Phật giáo,Hinđu giáo với số lượng lớn có thể coi là sản phẩm văn hóa tiêu biểu, đủ

32

Trang 33

sức đại diện cho thấy rõ vị thế trung tâm văn hóa của Nam Bộ Việt Namtrong vương quốc Phù Nam.

Có một số nhà nghiên cứu đã đồng nhất văn hoá Óc Eo với văn hoáPhù Nam, không dựa vào lịch sử của Phù Nam nên cho rằng văn hoá Óc Eo

là văn hoá của Phù Nam nói chung Theo kết quả giám định bằng C14 thìnhững di tích văn hoá Óc Eo có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ IX mà PhùNam lại tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ VII Vậy nênkhái niệm văn hoá Óc Eo cần được hiểu đó là văn hóa của vương quốc hayquốc gia Phù Nam, không phải là văn hoá của Phù Nam khi Phù Nam đã trởthành đế quốc Do tổ chức quyền lực, các thuộc quốc của Phù Nam cũngtiếp nhận ảnh hưởng và du nhập một số thành tố của văn hoá Óc Eo Nhiềuhiện vật của văn hoá Óc Eo hay chịu ảnh hưởng của Óc Eo tìm được ở PongTuk, U Thong là những minh chứng cụ thể

Tóm lại, trong suốt chiều dài lịch sử Phù Nam, Nam Bộ Việt Namluôn là một bộ phận của lịch sử - văn hóa Phù Nam Xét trên mọi phươngdiện, Nam Bộ Việt Nam - không gian tồn tại chủ yếu của văn hóa Óc Eo đãluôn đứng trong vị thế trung tâm và có thể coi nó là bộ phận tiên tiến, pháttriển nhất của văn hóa và vương quốc Phù Nam

2.2 Văn hoá vật chất của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.

2.2.1 Di tích cư trú của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.

Di tích cư trú là loại hình di tích phổ biến nhất trong văn hóa PhùNam ở Nam Bộ Việt Nam Địa bàn cư trú của cư dân Phù Nam trải dài trênmột diện tích rộng lớn, các di tích cư trú có mật độ khá dày, đặc biệt trong

số các di tích cư trú có một số địa điểm cư trú có quy mô lớn như Óc Eo

-Ba Thê, Cạnh Đền, Nền Chùa, Gò Thành…Đó là những điểm tụ cư lớn của

cư dân thời bấy giờ

Trang 34

L Malleret, người đã trực tiếp khai quật di tích Óc Eo, sau này trongcông trình nghiên cứu của mình ông đã khẳng định sự lâu dài của địa điểm

cư trú là một trong những tính chất nổi bật của văn hóa Óc Eo Điều này thểhiện ở lớp phế thải của đồ dùng và thức ăn rất dày, ở tầng nền kiến trúcbằng gạch, được gia công chắc chắn…và sự đa dạng rất lớn của tính chấtcác hiện vật, của nguồn gốc, người sử dụng và cả thời đại của nó Ở đây, có

cả dụng cụ của cả 3 thời: đá, đồng và sắt

Việc cư dân Phù Nam cư trú lâu dài như một quá trình diễn tiến hầunhư liên tục chứng tỏ vùng đất Nam Bộ có điều kiện thuận lợi cho cuộcsống của con người Chắc rằng, những cư dân đầu tiên đã sống trên thế đấtcao nổi trên mực nước lũ như ở Gò Cây Đa, Gò A3, Gò Cây Thị, Gò Óc Eo,

Gò Cây Trôm, Giồng Cát, Giồng Xoài và trên sườn núi Ba Thê Ở di tích

Gò Cây Đa có tầng văn hóa dày 3,3m Lớp sâu nhất từ 2,8m đến 3,3m cóchứa cọc gỗ, xương, răng trâu, bò, từ 1,8m đến 2,8m chứa nhiều mảnh gốm

và hạt cườm, hiện vật nhỏ bằng kim loại xám chì hình lục giác (đường kính2,5cm) mảnh gốm thô, gốm mịn và gạch vỡ, từ 0,3m đến 1,8m (nằm dướilớp đất canh tác dày 0,3m) chứa nhiều mảnh gốm lớn, gạch vỡ, nhiều viênchì vỡ đôi, vỡ ba, dây thiếc, hạt chuỗi Di tích này có diễn tiến niên đại từ

170 ± 40 trước Công nguyên đến 200 ± 50 và 430 ± 40 sau Công nguyên[25, tr 43]

Từ thế kỷ I đến thế kỷ III - IV số nhân khẩu ngày càng tăng, phạm vi

cư trú của cư dân Phù Nam mở rộng từ chân núi Ba Thê và các gò đất xungquanh ra toàn cánh đồng Óc Eo Mật độ các di tích cư trú cho thấy vùng đấtnày đã mang tính chất một thị trấn với một số ngành nghề chính đặc biệt lànghề làm gốm, nghề luyện kim (sắt, chì, thiếc), nghề làm hạt chuỗi vàng,

mã não và thủy tinh Gốm chuyển biến từ loại gốm xám mỏng tiền sử quacác loại hình gốm Óc Eo sớm, gồm các đồ đựng, đồ nấu, cà ràng (bếp) bằng

34

Trang 35

gốm thô và loại hình gốm mịn có vòi, ly gốm…mà sau này đã trở thành loạigốm điển hình của văn hóa Óc Eo

Trong di tích cư trú có cả những địa điểm cư trú ở trên cao ở các gòđất, giồng đất và những địa điểm cư trú ở vùng đồng bằng thấp, trong đó địađiểm cư trú ở vùng đồng bằng thấp có số lượng, diện tích lớn hơn Điều nàycho thấy vào thời Phù Nam phát triển, dân số tăng nhanh thì những địa điểm

cư trú ở trên các vùng đất cao trở nên chật hẹp, nên cư dân đã phải chuyểnxuống sống ở vùng đất thấp, đồng bằng thấp Tất nhiên sự chuyển cư nàykhông chỉ do sức ép của sự gia tăng dân số mà có lẽ chủ yếu vì sức hút,quyền lợi kinh tế Và rất có thể những ngôi nhà đầu tiên ở vùng thấp là docác thương nhân, thủy thủ người Ấn Độ lập ra để lấy chỗ nghỉ ngơi, làmkho chứa hàng Địa điểm này hoàn toàn thuận lợi cho việc đi lại, tập kếthàng hóa Sau đó những cư dân bản địa cũng đã dần chuyển cư xuống vùngnày Rõ ràng việc chuyển xuống vùng đồng bằng thấp, cuộc sống của cưdân sẽ thuận lợi hơn rất nhiều bởi sống gần sông, kênh, rạch họ sẽ dễ dàngbán những sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp do mình làm ra và mua

về những đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của mình Và để thíchnghi với cuộc sống ở vùng đồng bằng thấp, ven kênh, rạch nơi sẽ bị ngậpnước mấy tháng trong năm, cư dân đã dựng lên những ngôi nhà truyềnthống của mình - nhà sàn bên cạnh những tòa nhà nhiều tầng của nhữngngười giàu có, có quyền lực, địa vị cao trong xã hội

Những tài liệu khảo cổ học cho thấy loại hình cư trú trên nhà sàn làloại hình cư trú được tìm thấy phổ biến trong các di tích ở Óc Eo, Gò Tháp,Cạnh Đền, Nền Chùa Những chiếc cọc gỗ được tìm thấy trong các di tích

cư trú được các nhà khoa học khẳng định đó là cột của những ngôi nhà sàncủa cư dân Óc Eo - Phù Nam Tuy nhiên, phần mái của những ngôi nhà đã

bị phá hủy qua thời gian Việc phát hiện những cấu kiện bằng gỗ ở Giồng

Trang 36

Xoài năm 2000 cho ta thấy có những kiến trúc lớn với phần đầu cột rời cóchạm trổ, kích thước rộng 87,5cm, cao 23cm, dày 31cm với ngoàm ngắn32,5cm x 12cm và một đoạn cọc gỗ dài 2,45m đường kính khoảng 0,4mbằng gỗ dầu đã được khai quật vào đầu năm 2001 tại gò Óc Eo cũng giúp

ta có thể hình dung được phần nào về kích thước của những ngôi nhà gỗ[25, tr 52]

Qua các di vật tìm được tại các di tích cư trú ta thấy đời sống của cưdân Phù Nam đã khá phong túc Họ đã có những công cụ lao động bằng đồkim khí, các nghề thủ công không chỉ cung cấp những tư liệu sinh hoạt cho

cư dân mà còn trở thành nguồn hàng để trao đổi hàng hóa với bên ngoài.Nguồn thức ăn của họ cũng đã khá phong phú với các sản phẩm của mộtnền nông nghiệp truyền thống phát triển khá cao và nguồn thịt từ các hoạtđộng chăn nuôi, săn bắn, đánh bắt cá ở sông, hồ, kênh, rạch

2.2.2 Di tích mộ táng của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.

Sau cuộc khai quật của L Malleret ở Óc Eo năm 1944, mãi tới năm

1975 việc tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Nam Bộ mới được trởlại và đẩy mạnh Nhưng phải tới năm 1982 lần đầu tiên mộ táng trong vănhóa Óc Eo mới được phát hiện ở Nền Chùa (Kiên Giang) Từ đó hàng loạt

mộ táng đã lần lượt được tìm thấy ở các tỉnh Kiên Giang , An Giang , ĐồngTháp, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang và nhiều vết tích mộ táng còn đượctìm thấy ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh

Những mộ cổ ở Nam Bộ vào thời Phù Nam là những kiến trúc lớnnhỏ khác nhau được xây dựng bằng những vật liệu giống như trong kiếntrúc đền, tháp bằng gạch, đá, gỗ, cát, sét kết dính Chịu ảnh hưởng bởi điềukiện lịch sử, địa lý khiến cho nhiều mộ táng không xác định được tục lệ maitáng do tầng văn hóa bị xáo trộn Trong số các mộ táng còn khá nguyên vẹntìm thấy ở Nền Chùa, Gò Tháp, Óc Eo, Đá Nổi…thì chủ yếu là các khu hỏa

36

Trang 37

táng Đặc biệt ở ngôi mộ NC82 - BCX6 (Nền Chùa) “phần trung tâm được

xếp thành hình một giếng vuông nhỏ, cạnh đáy rộng 0,7m, cao 0,34m Bên trong hộc, trên lớp cát trắng, có đặt một hòn cuội lớn, rộng 0,2m, cao 0,25m, đáy hộc có trôn theo 3 mảnh vàng chạm khắc hình người, hình bò

và 3 viên đá quý Ngay trên đầu phía đông hộc có dựng một cái bia có một phiến đá hoa cương phẳng, được đặt nằm trên hai hòn cuội cứng, có dạng của một mộ cự thạch (dolmen) thu nhỏ Phần trung tâm này được đặt trong một huyệt mộ lớn dài theo dạng bậc thềm gồm 2 phần: phần trên rộng hình chữ nhật (5,5 x 3,4m), phần dưới hình vuông (2,14 x 2,14m), toàn bộ huyệt sâu 3,66m Để bảo vệ phần trung tâm, toàn bộ huyệt mộ được tấn bằng những khối đá hoa cương, gạch vỡ và vữa, ước tính khoảng 20 tấn vật liệu nặng Ngôi mộ này bao gồm trong cấu trúc của nó nhiều truyền thống của tục chôn người người chết: huyệt chữ nhật tượng trưng cho tục mai táng, huyệt vuông là hộc gạch trung tâm là theo tục hỏa táng, hình giếng tượng trưng cho tục thủy táng, cái bia là theo tục dựng kút như ở mộ người Chăm,

mô hình dolmen và hòn cuội ở giữa hộc gạch là tồn tại của truyền thống mộ

cự thạch” [25, tr 61-62].

Các tác giả “Văn hoá Óc Eo - những khám phá mới” sau khi đã

phân tích các di tích được coi là mộ táng đã đưa ra những đánh giá bước

đầu về loại hình di tích này Theo đó mộ táng có 2 loại là “mộ gò” và “gò

mộ” Loại “mộ gò” có dạng tròn hoặc khum mai rùa, loại “gò mộ” thì có

hình dạng không ổn định, có phạm vi phân bố rộng lớn hơn nhiều so với

“mộ gò” Huyệt mộ cũng có nhiều hình dạng khác nhau như hình vuông

hoặc gần vuông; mộ hình vuông có bình diện phía trên rộng, bình diện đáyhẹp, tạo mặt cắt có dạng hình thang; mộ có phần phía trên hình chữ nhật,phía dưới hình vuông; mộ huyệt hình phễu Vách mộ gồm các loại vách đất

và vách kè bằng đá hoặc được xây bằng gạch trong đó huyệt mộ vách đất là

Trang 38

loại phổ biến nhất Ở phần trung tâm đều có xây một kiến trúc, thường đó lànhững hình khối vuông được xây bằng gạch hoặc xếp bằng đá Đáy hìnhkhối trụ vuông hoặc trong ô vuông có hiện vật chôn theo gồm vàng, đá quý,chuỗi hạt, mảnh kim loại, mảnh gốm, than tro và được đổ đầy cát màu trắngmịn hoặc màu xám Trong lòng mộ - xung quanh bên ngoài kiến trúc trungtâm được xây bằng đá - cát, gạch - cát hoặc gạch với đất sét Việc pháthiện trong phạm vi phân bố của các di chỉ mộ táng một số vết tích củanhững khối đá lớn có vết đục đẽo những tượng thờ, linh vật thờ như Linga ở

gò Nền Chùa, gò Ông Côn, tượng đá ở gò Phật Nổi cùng với những kiếntrúc có bình đồ hình chữ nhật hoặc hình vuông khiến ta có thể nghĩ rằng cómột bộ phận những di chỉ mộ táng này là dấu vết của những kiến trúc mangtính chất thờ vọng hay mộ thờ [12, tr 267-270]

Những cư dân của Phù Nam chắc đã có một đời sống vật chất tươngđối sung túc thì họ mới có thể xây dựng được những khu hỏa táng có quy

mô, khá kiên cố, chắc chắn và cung cấp cho những người chết, cho họ mang

đi những đồ tùy táng có giá trị đó là những lá vàng dát mỏng, những hạt đáquý Qua các mộ táng được phát hiện, có một thực tế là có sự chênh lệchkhá lớn về đồ táng, có mộ táng chỉ có vài đồ táng nhưng cũng có một số mộtáng có nhiều đồ táng trong đó có nhiều hiện vật rất có giá trị, về cơ bản các

mộ táng đều có một số đồ táng giống nhau Điều này cho thấy sự phân chiathành các lớp người trong xã hội Phù Nam đã khá sâu sắc

Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn thống nhất trong việcxác định di tích nào là kiến trúc mộ táng, di tích nào là kiến trúc tôn giáo.Chức năng và tính chất của các di tích này chưa được phân định rõ ràng vìtình trạng hư hại nặng nề và thiếu những yếu tố mang tính chất chỉ định.Trong hoàn cảnh đó thật khó để xác định được một cách chính xác loại hình

di tích Trong số trụ xây hay đắp được coi là mộ các nhà nghiên cứu đã tìm

38

Trang 39

thấy nhiều mảnh lá vàng có khắc những hình có biểu tượng tôn giáo nhưhình hoa sen, con ốc, con bò Điều này cho phép chúng ta khẳng định rằngngoài những hình thức tín ngưỡng cổ truyền trong thế giới tâm linh củanhững cư dân Phù Nam đã có sự hiện diện của tôn giáo ngoại nhập đó làPhật giáo và Hinđu giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ.

2.2.3 Di tích kiến trúc của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam.

Trong khoảng bảy thế kỷ đầu Công nguyên, Phù Nam là quốc gia cótrình độ phát triển cao nhất ở Đông Nam Á trong đó Nam Bộ Việt Nam làmột trong những khu vực phát triển nhất Với vị thế đó thì sự xuất hiện củanhững khu đô thị trù mật có quy mô ở Nam Bộ Việt Nam là điều hoàn toàn

dễ hiểu Ta có thể chia kiến trúc của Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam làm 2loại:

- Kiến trúc đô thị

- Kiến trúc tôn giáo

Trong số các kiến trúc ở các di tích thuộc văn hóa Óc Eo - Phù Namthì những kiến trúc đô thị là loại hình kiến trúc có số lượng lớn trong đó cóthể kể ra các kiến trúc tiêu biểu như: Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo - BaThê (An Giang), Linh Miếu Bà, Gò Tháp Mười (Đồng Tháp), Suối Cả, CâyGáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh) Những kiến trúc này đều được xâydựng bằng gạch, đá, gỗ Có lẽ gạch mới chỉ được dùng vào khoảng đầuCông nguyên với sự du nhập của văn hóa Ấn Độ Còn đá là loại vật liệu có

độ cứng và bền cao nhưng khó chế tác, ở vùng đồng bằng thấp ít núi ở namĐông Dương rất hiếm nên đá chủ yếu chỉ được dùng để làm phần móng chovững chắc Đối với gỗ, đây là loại vật liệu vốn đã rất quen thuộc với cư dân

Óc Eo - Phù Nam, nhiều, dễ chế tác nên được sử dụng rất nhiều trong cáccông trình kiến trúc đặc biệt là ở những chi tiết kiến trúc phức tạp

Trang 40

Nam Bộ Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung tâm trong vương quốcPhù Nam nhưng điều đó không có nghĩa là toàn bộ vùng đất Nam Bộ ViệtNam đều có được trình độ phát triển cao và đứng trong vị trí trung tâm mà ởđây đã hình thành những trung tâm kinh tế, văn hóa lớn có ý nghĩa đối với

cả vùng và quốc gia Phù Nam Ở khu vực Tây Nam Bộ hình thành các trungtâm lớn, quan trọng như: Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa, Cạnh Đền Óc Eo - BaThê được coi là trung tâm của văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ Việt Nam gồm ditích Óc Eo nằm trên cánh đồng Óc Eo tiếp giáp về phía đông và đông namnúi Ba Thê và di tích Ba Thê nằm trên sườn - chân núi phía bắc, phía đôngnam núi Ba Thê, tiếp giáp với cánh đồng Óc Eo Năm 1944, sau khi khaiquật di chỉ Óc Eo, L Malleret cho biết: Đây là một quần thể đô thị rộng lớngồm các khu nhà sàn bị cắt ngang dọc bởi một hệ thống thủy nông trải dàitrên 200km [1, tr 375] Các thành phố được nối với nhau và nối với biểnbằng những con kênh đủ rộng để tiếp nhận các tàu đi biển Tại đây đã pháthiện vết tích của các dinh thự và nhà cửa được xây dựng theo 2 cách: ởnhững nơi đất cao thì xây bằng gạch, đá, ở những vùng trũng thì làm nhà

sàn bằng gỗ Ở chính Óc Eo, L Malleret đã phát hiện “những nền móng

kiến trúc gạch, rất dày, xây dựng thành những ô chữ nhật nhỏ Không ảnh còn cung cấp dấu vết tường thành có chu vi tương đối lớn, có tường, hào nước bao quanh Các cuộc khai quật và khảo sát gần đây đã xác nhận những nền móng gạch, nhưng lại chưa xác định được tường thành, hào, đường, nước ” [39, tr 643] Những phát hiện của khảo cổ học đã cho thấy

Óc Eo - Ba Thê không chỉ là một hải cảng lớn mà còn là một trung tâm kinh

tế - chính trị - văn hóa - tôn giáo lớn bởi nơi đây tập trung nhiều kiến trúcnhất, có quy mô nhất với nhiều loại hình di tích Ở di tích Đá Nổi (Kiên

Giang) cũng đã tìm thấy “một nền móng kiến trúc (?) không phải xây gạch

mà chèn đá hòn, đá tảng dày 3 - 4m, hình chữ nhật 20 x 30m, lại có chỗ xếp

40

Ngày đăng: 19/04/2015, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Coedes. G (1977), Lịch sử cổ đại các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông , Nd: Chiêm Tế, Hđ: Đặng Đức An, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cổ đại các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông
Tác giả: Coedes. G
Năm: 1977
3. Hoàng Xuân Chinh (1997), “Về loại hình mộ táng trong văn hóa Óc Eo”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996, Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội, tr. 657-658 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về loại hình mộ táng trong văn hóa Óc Eo”,"Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1997
4. Hoàng Xuân Chinh (1999), “Thánh địa Cát Tiên sau bốn mùa khai quật”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1998, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 661-663 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh địa Cát Tiên sau bốn mùa khai quật”,"Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1998
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1999
5. Đào Linh Côn (1982), “Khai quật khu di tích mộ táng thuộc văn minh Óc Eo, Nền Chùa, Tân Hội (Kiên Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1982, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 212-215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật khu di tích mộ táng thuộc văn minh ÓcEo, Nền Chùa, Tân Hội (Kiên Giang)”, "Những phát hiện mới vềKhảo cổ học năm 1982
Tác giả: Đào Linh Côn
Năm: 1982
6. Đào Linh Côn (1985), “Phát hiện mộ táng văn hoá Óc Eo (Đồng Tháp)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 238-240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện mộ táng văn hoá Óc Eo (Đồng Tháp)”,"Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984
Tác giả: Đào Linh Côn
Năm: 1985
7. Đào Linh Côn (1990), “Khai quật di tích Gò Thành (Tiền Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1989, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 95-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật di tích Gò Thành (Tiền Giang)”",Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1989
Tác giả: Đào Linh Côn
Năm: 1990
8. Nguyễn Mạnh Cường, Hà Văn Cẩn (1996), “Di chỉ khỏa cổ học Cạnh Đền (Kiên Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 241-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ khỏa cổ học CạnhĐền (Kiên Giang)”," Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm1995
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Hà Văn Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Nguyễn Mạnh Cường, Dương Trung Mạnh, Lê Thị Như Xuyến (1997),“Những mảnh vụn của con tàu đắm thời Óc Eo”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mảnh vụn của con tàu đắm thời Óc Eo”, "Những phát hiệnmới về Khảo cổ học năm 1996
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Dương Trung Mạnh, Lê Thị Như Xuyến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
10. Lê Xuân Diệm (1983), “Khai quật khu di tích Ba Thê - Óc Eo (An Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1983, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 192-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật khu di tích Ba Thê - Óc Eo (AnGiang)”, "Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1983
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Năm: 1983
11. Lê Xuân Diệm (2008), “Qúa trình hình thành châu thổ sông Cửu Long (Tiếp cận từ Địa - Sử học và thư tịch cổ)”, Văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù Nam: Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60 năm phát hiện văn hoá Óc Eo, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qúa trình hình thành châu thổ sông Cửu Long(Tiếp cận từ Địa - Sử học và thư tịch cổ)”, "Văn hoá Óc Eo và vươngquốc Phù Nam: Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60 năm pháthiện văn hoá Óc Eo
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
12. Lê Xuân Diệm, Võ Sỹ Khải, Đào Linh Côn (1995), Văn hóa Óc Eo - Những khám phá mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Óc Eo -Những khám phá mới
Tác giả: Lê Xuân Diệm, Võ Sỹ Khải, Đào Linh Côn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
13. Ngô Văn Doanh (2009), “Vương quốc Phù Nam: khái quát những giai đoạn lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vương quốc Phù Nam: khái quát những giaiđoạn lịch sử”," Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Năm: 2009
14. Vũ Minh Giang (Chủ biên) (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Giang (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
15. Hall.E.G.D (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Bùi Thanh Sơn (dịch), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: Hall.E.G.D
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Phạm Như Hồ, Lê Thị Liên (1996), “Khai quật khu di tích Đá Nổi huyện Tân Hiệp (Kiên Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 238-241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật khu di tích Đá Nổihuyện Tân Hiệp (Kiên Giang)”," Những phát hiện mới về Khảo cổ họcnăm 1995
Tác giả: Phạm Như Hồ, Lê Thị Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
18. Karashima. N (1995), “Hoạt động thương mại của Ấn Độ ở Đông Nam Á thời cổ - trung đại”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, tr. 67-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thương mại của Ấn Độ ở Đông NamÁ thời cổ - trung đại”," Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Karashima. N
Năm: 1995
19. Võ Sỹ Khải (1981), “Tượng Phật bằng đồng ở Óc Eo (An Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1980, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 187- 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng Phật bằng đồng ở Óc Eo (An Giang)”,"Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1980
Tác giả: Võ Sỹ Khải
Năm: 1981
20. Võ Sỹ Khải (1985), “Khu di tích khảo cổ học Gò Tháp (Đồng Tháp)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 236-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tích khảo cổ học Gò Tháp (Đồng Tháp)”",Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984
Tác giả: Võ Sỹ Khải
Năm: 1985
21. Võ Sỹ Khải (1985), “Nghiên cứu văn hóa khảo cổ Óc Eo: Mười năm nhìn lại”, Tạp chí Khảo cổ học, số 4, tr. 13-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa khảo cổ Óc Eo: Mười nămnhìn lại”," Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Võ Sỹ Khải
Năm: 1985
22. Võ Sỹ Khải (1989), “Khu di tích Cạnh Đền (Kiên Giang)”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1988, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr.185-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tích Cạnh Đền (Kiên Giang)”, "Những pháthiện mới về Khảo cổ học năm 1988
Tác giả: Võ Sỹ Khải
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w