1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cán bộ

116 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 117,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận văn này có một số công trìnhsau: - Thành Duy: Tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đạo đức và lợi ích công dân, Tạp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ ĐỨC MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Dịu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ 7

1.1 Khái niệm, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ 7

1.1.1 Khái niệm cán bộ 7

1.1.2 Khái niệm về đạo đức cán bộ 10

1.1.3 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ 12

1.1.4 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ 13

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ 26

1.2.1 Kế thừa giá trị tư tưởng đạo đức của dân tộc 26

1.2.2 Tiếp thu tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại 27

1.2.3 Năng lực tư duy và trí tuệ của cá nhân Hồ Chí Minh 29

1.3 Quan hệ giữa đạo đức và pháp luật 31

1.3.1 Đạo đức và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội 31

1.3.2 Đạo đức hỗ trợ, song hành và bổ sung cho luật pháp Cụ thể là 34

1.3.3 Pháp luật góp phần bảo vệ, củng cố các giá trị đạo đức xã hội 41

Tiểu kết chương 1 47

Chương 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 48

2.1 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ 48

2.1.1 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ trong công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam 48

Trang 5

2.1.2 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ trong công

tác cán bộ của Nhà nước 51

2.1.3 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ trong công tác cán bộ của một số tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị 69

2.2 Giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ ở việt nam hiện nay 74

2.2.1 Giải pháp tổng thể 74

2.2.2 Giải pháp cụ thể 76

Tiểu kết chương 2 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN VĂN

Từ trước tới nay, ở Việt Nam và trên thế giới, sự thành công, thất bại của côngviệc, hoặc sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vàođội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, vào hiền tài của quốc gia Cách đây hơn 500năm, vua Lê Thánh Tông giao cho Thân Nhân Trung soạn một bài văn bia ở VănMiếu (Thăng Long) để nói về ý nghĩa của khoa thi hội năm 1442 Trong văn bia có

đoạn: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng

lớn lao, nguyên khí suy thì nước yếu và càng xuống thấp Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào mà không chăm lo, nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài, bồi đắp thêm nguyên khí” (Trong lịch sử nước ta đã có nhiều người hiền tài xuất hiền

như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Giang VănMinh, Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ… ở thời đại chúng tacũng đã có nhiều người hiền tài xuất hiện, điển hình là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại –người đã lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách

nô lệ của thực dân, phong kiến, giành lại chủ quyền độc lập, tự do cho đất nước vàkhẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới Ngoài ra còn có khá nhiều ngườihiền tài khác như: Kĩ sư Trần Đại Nghĩa, người chế tạo ra nhiều thứ vũ khí lợi hại chokháng chiến Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng VănNgữ… đã bỏ ra bao công sức nghiên cứu, tìm tòi và chế tạo ra những thứ thuốc khángsinh quý giá để cứu chữa cho thương binh, bộ đội trên chiến trường Nhà nông họcLương Định Của suốt đời trăn trở, nghiên cứu cải tạo ra những giống lúa mới có khảnăng chống sâu rầy và cho năng suất cao để cải thiện cuộc sống nông dân, tăng nguồnlương thực tiếp tế cho chiến trường miền Nam đánh Mĩ…)

V.I.Lênin, người thầy của giai cấp vô sản đã viết: “Trong lịch sử, chưa hề có

giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [42, tr.437].

Trang 8

Đối với cách mạng nước ta hiện nay, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ có tầmquan trọng vừa mang tính khoa học vừa là yêu cầu của cuộc sống, vừa có tính cấpbách, vừa có tính cơ bản lâu dài Từ Đại hội lần thứ VII (6- 1991) trở đi Đảng ta đãnêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) và trong thực tế, TTHCM đã trở thành mộttài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc ta TTHCM đang soi đường chocuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi Trong hệ thống các nội dungTTHCM, tư tưởng về cán bộ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Đó là một hệ thống cácquan điểm về vị trí, vai trò, yêu cầu, phẩm chất và năng lực của cán bộ, về công táccán bộ với các khâu liên hoàn: Quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, huấnluyện, đánh giá, sử dụng cán bộ, về chính sách đối với cán bộ, Hồ Chí Minh coi:

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [22, tr.269] “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [22, tr.273] “Vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp” [22, tr.274] Hồ Chí Minh khẳng định:

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt,không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ

là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hànhtrong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thựchiện được [25, tr.269]

Hiện nay, cách mạng Việt Nam đang đứng trước thời kỳ mới, thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, phấn đấu để nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Hơn lúc nào hết, chúng ta càngnhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn ý nghĩa, tầm quan trọng và tính chất khó khăn, phứctạp của vấn đề cán bộ và đạo đức cán bộ (ĐĐCB)

Đứng trước tình hình quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, chứađựng cả thuận lợi và thách thức, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi chúng ta phải triểnkhai chiến lược cán bộ đạt hiệu quả cao đáp ứng được đòi hỏi trước mắt, cấp bách vàyêu cầu lâu dài của nhiệm vụ cách mạng Trước yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐHđất nước, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, ngoài những ưu điểm rất cơbản, còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa ngang tầm với yêu cầu đòi hỏi của

Trang 9

thực tiễn Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bị suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống, mắc bệnh độc đoán chuyên quyền, làm việc thiếu khoa học, viphạm nghiêm trọng vấn đề dân chủ….

Vì vậy, để cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH, việc vậndụng TTHCM về ĐĐCB để nâng cao đội ngũ cán bộ trong nước là vấn đề có ý nghĩa

sâu sắc Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ”

để nghiên cứu làm luận văn Thạc sỹ của mình

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ cán

bộ, công chức (CBCC) là đòi hỏi khách quan cấp bách trong giai đoạn hiện nay Đểbảo đảm điều đó trước hết phải tạo ra được cơ sở pháp lý bằng cách hoàn thiện chếđịnh pháp luật CBCC; Đảng và Nhà nước ta đã xác định cơ sở chính trị của tiến trình

đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và TTHCM Vì thế trong những năm gần đây đã có nhiều

đề tài nghiên cứu TTHCM về đạo đức cán bộ và nghiên cứu vấn đề hoàn thiện phápluật CBCC Liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận văn này có một số công trìnhsau:

- Thành Duy: Tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo

đức, đạo đức và lợi ích công dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/1995.

- GS.TS Hoàng Thị Kim Quế có các bài: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về

kết hợp pháp luật và đạo đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002.

- Lương Hồng Quang: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức

trong quản lý xã hội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,

2002

- Trần Nghị: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vận dụng trong hoàn thiện

pháp luật cán bộ, công chức tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học

viện CTQG Hồ Chí Minh, 2003

- Tác phẩm "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do các tác giả

Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên), Nhà xuất bản (Nxb) Chínhtrị quốc gia, Hà Nội, 2001

Trang 10

- Tác phẩm "Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ" của tác giả

Bùi Đình Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002

- Tác phẩm "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức" các tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2005

- Luận án tiến sĩ Luật "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức nhà

nước ở nước ta", tác giả Nguyễn Văn Tâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, 1997

- Luận văn thạc sỹ Luật “Xây dựng đạo đức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” tác giả Nguyễn Văn Quyết,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000

- Luận văn Thạc sĩ Luật "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và vận dụng

trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam", tác giả Trần Nghị, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, 2002

- Luận văn Thạc sĩ Luật "Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính nhà

nước ở Việt Nam hiện nay", tác giả Phạm Minh Triết, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, 2003

3.1 Đối tượng: Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quan điểm của Chủ tịch HồChí Minh về đạo đức cán bộ từ đó luận giải cho việc vận dụng TTHCM về ĐĐCBtrong hoàn thiện pháp luật CBCC ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (2010-2020)

4.1 Mục đích: Phân tích làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong TTHCM vềđạo đức cán bộ, đề xuất quan điểm, giải pháp vận dụng TTHCM về ĐĐCB ở nước tatrong giai đoạn hiện nay

4.2 Nhiệm vụ

+ Luận giải những vấn đề lý luận chung về cán bộ và TTHCM về ĐĐCB;

Trang 11

phân tích, làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành TTHCM và làm rõ nội dung cơ bảncủa TTHCM về ĐĐCB.

+ Phân tích thực trạng vận dụng TTHCM về ĐĐCB trong gian đoạn vừa qua

+ Đề xuất quan điểm và giải pháp tiếp tục vận dụng TTHCM về ĐĐCB ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được tiến hành trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩa Lênin và TTHCM về ĐĐCB, về nhà nước và pháp luật cũng như những quan điểm

Mác-về vấn đề này trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp như: phươngpháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic; phương pháp phân tích - tổng hợp, sosánh, tổng kết thực tiễn

Luận văn có những đóng góp mới về khoa học sau đây:

Một là, luận văn trình bày một cách tương đối có hệ thống nguồn gốc ra đời và

quá trình phát triển của TTHCM, những nội dung cơ bản trong TTHCM vềĐĐCB.Thông qua việc phân tích, luận văn góp phần khẳng định cùng với lý luậnMác-Lênin, TTHCM về ĐĐCB đóng vai trò nền tảng trong xây dựng và hoàn thiệnĐĐCB ở nước ta hiện nay

Hai là, luận văn chỉ ra yêu cầu khách quan của việc vận dụng TTHCM về

ĐĐCB ở nước ta hiện nay

Ba là, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp tiếp tục vận dụng TTHCM

trong xây dựng, hoàn thiện ĐĐCB hiện nay

7. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

- Luận văn góp phần cung cấp luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức của nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng

Trang 12

dạy về nhà nước pháp luật, TTHCM, về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

8. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ Chương 2: Thực trạng vận dụng và giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ

Chí Minh về đạo đức cán bộ ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

chủ nghĩa (XHCN) và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khuvực nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị-xã hội (CT-XH) Lần đầutiên Luật CBCC năm 2008 đã làm rõ được tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai là côngchức… từ đó, đã tạo cơ sở và căn cứ để xây dựng những nội dung đổi mới và cải cáchthể hiện trong Luật CBCC, nhằm giải quyết vấn đề mà thực tiễn quản lý đặt ra.Khoản 1 Điều 4 của Luật CBCC quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử,phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của ĐảngCộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chíxác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vàolàm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức CT-XH thông qua bầu cử,phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán

bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ;hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên traocho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc quản lýcán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnhhoặc theo Điều lệ [43] Do đó, căn cứ

Trang 14

vào các tiêu chí do Luật CBCC quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng,

tổ chức CT-XH sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ củaĐảng, của tổ chức CT-XH quy định cụ thể Những ai là cán bộ trong cơ quan nhànước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chínhphủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật tổchức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quyđịnh khác của pháp luật có liên quan

Cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên tiến nhất của giai cấp công nhân TTHCM

về công tác cán bộ và sử dụng cán bộ là di sản vô giá mà Bác Hồ để lại cho Đảng ta Sinh thời, Người luôn quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng cán bộ Với

quan điểm con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng,

Như vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảnglãnh đạo Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thểphân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhândân giao cho

Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuýnhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực

kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viênnhà nước, Người gọi đó là “công bộc”

Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến việc xây

Trang 15

dựng đội ngũ cán bộ để có đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Đảng.TTHCM về đạo đức cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệpcách mạng Việt Nam.

Tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức cách mạng (ĐĐCM).

ĐĐCM, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là cái gì trừu tượng, cao xa mà lànhững điều bình thường, hết sức cụ thể, dễ hiểu, nhưng thực hiện được nó phải có ýchí rèn luyện rất cao

Người cán bộ có ĐĐCM là người có ý thức tự phê bình và phê bình rất cao.Phê bình phải đi liền với tự phê bình Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra cái căn bệnhthường thấy của cán bộ là chỉ biết phê bình người khác mà không muốn người khácphê bình mình, không tự phê bình một cách thật thà, nghiêm chỉnh Người chỉ rõ:

Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyếttâm sửa chữa Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúngphê bình và thật thà tự phê bình Không chịu nghe phê bình và không tựphê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quầnchúng bỏ rơi [25, tr.290] Người còn nói thêm: Dân ta rất tốt, rất yêuthương Đảng, yêu thương cán bộ Khi ta có khuyết điểm mà nói trước dân,chẳng những dân không ghét, không khinh, mà còn thương yêu, quýtrọng, tín nhiệm ta hơn nữa [26, tr.213]

Quán triệt tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Hội nghịTrung ương 4 khóa XI đặc biệt nhấn mạnh tới những khuynh hướng tiêu cực cần phảitránh trong việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là: “vuốt ve ca tụng”, “ngậmmiệng ăn tiền” hoặc lợi dụng phê bình để mạt sát, nhục mạ, xúc phạm nhau,

Theo Người, người cán bộ có đạo đức nhưng lại phải có tài Cán bộ chỉ có đức

mà thiếu tài thì cũng chẳng khác nào “những ông bụt ngồi ở trong chùa” “Tài”, theoTTHCM, bao gồm cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn Muốn có đượcnhững năng lực đó, người cán bộ phải chịu khó học tập, rèn luyện, trước hết là họctập lý luận Mác-Lênin, sau đó phải chịu khó lăn lộn trong

Trang 16

thực tiễn Bởi vì theo Người, lý luận luôn được bổ sung bằng những kết luận mới rút

ra từ trong thực tiễn sinh động

1.1.2 Khái niệm về đạo đức cán bộ

*Khái niệm “đạo đức”: Là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ

hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người Đạo đức là tập hợp nhữngquan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xă hội, của một tập hợp người nhất định

về thế giới, về cách sống Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phùhợp với lợi ích của cộng đồng xã hội Trong tâm lý học, đạo đức có thể được địnhnghĩa theo các khía cạnh sau:

Nghĩa hẹp: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội (YTXH), là tổng hợp các

qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vicủa mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hộitrong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội

Nghĩa rộng hơn: Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều

chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội (QHXH)

và quan hệ với tự nhiên

Nghĩa rộng: Đạo đức là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác

trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên

và với cả bản thân mình

Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc

về vấn đề tốt - xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm

vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn đượcgọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hóa, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học vànhững luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này

Đạo đức thuộc hình thái YTXH, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằmđiều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xãhội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thựchiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [28]

Trang 17

Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của cácQHXH Có đạo đức của xã hội nguyên thủy, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đứcphong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì

và củng cố những QHXH đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tùy theo nhận thức vềtính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quanniệm đạo đức riêng của mình Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp.Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định Các hình thái kinh tế - xã hội(KT-XH) thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những

hình thức cộng đồng chung Tính kế thừa của đạo đức phản ánh "những luật lệ đơn

giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào" (Lênin) Đó là những yêu cầu đạo

đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người Mọithời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội

và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn "không ainghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cảcác ngành tri thức khác của nhân loại" (Enghen)

Đạo đức nói chung, đạo đức cán bộ nói riêng có ảnh hưởng lớn tới đạo đức củacác đối tượng trong xã hội, tới mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội, cơ quan, tổ chức Đạođức cán bộ là tấm gương phản chiếu đời sống nhà nước, chế độ công vụ của một quốc giatrong những thời đại nhất định thể hiện trình độ văn minh, văn hóa của hoạt động công

vụ Bộ mặt của nhà nước, sự tín nhiệm từ nhân dân được đánh giá từ thái độ, cách ứng xửcủa cán bộ trong hoạt động công vụ và trong lề lối sinh hoạt của họ Vì tất cả mọi hoạtđộng của Nhà nước đều do cán bộ nói chung, CBCC nói riêng thực hiện Từ quan điểmtrên ta hiểu đạo đức cán bộ công chức ở hai khía cạnh sau:

Có thể hiểu đạo đức cán bộ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi,quy tắc sử sự điều chỉnh ý thức, thái độ, hành vi, cách xử sự của cán bộ trong công vụ

Trang 18

hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở quan niệm về lẽ phải, sự công bằng, về điều thiện, cái ác, cái đúng, cái sai trong đời sống xã hội, đời sống Nhà nước để điều khiển ý thức, hành vi, cách xử sự của cán bộ trong hoạt động công vụ, nhiệm vụ cũng như thái độ của cán bộ trong công vụ.

1.1.3 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ

Theo Hồ Chủ Tịch, ĐĐCM là yêu cầu cơ bản, là cái gốc của người cán bộ Người

nói: “…cũng như sông phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc,

không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có ĐĐCM, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [20, tr.252-253] Hồ Chí Minh quan

niệm ĐĐCM là đạo đức của người cách mạng xuất hiện trong quá trình đấu tranh giảiphóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam Theo Hồ Chí Minh,ĐĐCM là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổquốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nàocũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọngcon người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng… Và ĐĐCM là cái gốccủa nhân cách, là nền tảng của người cách mạng

Hồ Chí Minh xây dựng đạo đức cán bộ ở hai nội dung cơ bản:

Một là, xây dựng hệ thống những chuẩn mực của nền đạo đức mới tổng hợp

những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể

Hai là, xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức

mới Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện,hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ

Những giá trị tích cực của học thuyết của Khổng Tử đã được Chủ tịch Hồ ChíMinh tiếp thu và phát triển trong quá trình giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ Nộidung chủ yếu của ĐĐCM gồm trung - hiếu - nhân - trí - dũng, đều là những phạm trù

có nguồn gốc từ đức trị, song đã được Hồ Chủ tịch “cách mạng hóa”, cho nên chúngmang những nội dung mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một hệ thống các quan điểm cơ bản vàtoàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm

Trang 19

chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rènluyện đạo đức với mỗi người cách mạng.

Tóm lại từ những luận giải trên thì TTHCM về đạo đức cán bộ là hệ thống

những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới so với nền đạo đức cũ (Đạo đức thời phong kiến) nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới.

1.1.4 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ

1.1.4.1 Đạo đức cách mạng là gốc của cán bộ

Thứ nhất: Đạo đức là “gốc”, là nền tảng của người cách mạng, giống như cây

phải có gốc, sông, suối phải có nguồn, người cách mạng phải có đạo đức cách mạnglàm nền tảng thì mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng cực kỳ gian khổ khókhăn Không phải ngẫu nhiên mà khi Lênin mất, Hồ Chí Minh đã viết những dòngđầy xúc động trước tấm gương đạo đức trong sáng mẫu mực của người thầy vĩ đại:

“… Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc Châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về người, không gì ngăn cản nổi…” Còn trong “Đường

Cách mệnh” tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt Nam, HồChí Minh đã dành chương đầu tiên để bàn về tư cách người cách mạng, sau đó mớinói về lý luận và đường lối cách mạng Với Hồ Chí Minh, “Đức là gốc” cho nên,ĐĐCM không chỉ giúp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà còn giúp ngườicách mạng không ngừng cầu tiến bộ và hoàn thiện bản thân mình

Người có ĐĐCM thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại tạm thời cũngkhông rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần giankhổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trởthành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” Vì “Đức là gốc” cho nên ĐĐCM làthước đo lòng cao thượng của con người Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trongđời sống xã hội cũng như trong hoạt động cách mạng, mỗi người có công việc, tàinăng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng bất cứ

Trang 20

ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng Ở mỗi giai đoạn nhất địnhcủa tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ,đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể Song nhất quán và xuyên suốt trong TTHCMthì, đó phải là những con người dám xả thân cho cách mạng, đi tiên phong trongphong trào quần chúng, phải biết “làm việc”, biết “sửa đổi lối làm việc” và luôn luônphải rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân Như sông có nguồnthì mới có nước, như cây phải có gốc, vì nếu không có gốc thì cây chết, người cán bộ,đảng viên phải có ĐĐCM, vì nếu không có ĐĐCM, thì “dù tài giỏi đến đâu cũngkhông thể lãnh đạo được nhân dân” ĐĐCM, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đứchành động vì nhân dân, thể hiện bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng vững vàng,

tự tin và dám chịu trách nhiệm trước bất kỳ khó khăn nào Người cán bộ, đảng viênphải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, đểlòng mình hướng đến “chí công, vô tư”, để “khi đi thì dân tiếc, sắp đến thì dânmong”

Thứ hai: Trong mối quan hệ giữa Đức và Tài thì “Đức là gốc” nhưng đức và

tài phải đi đôi với nhau, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia được Hồ Chí Minhyêu cầu: Tài lớn thì Đức càng phải cao, vì khi đã có trí thì cái đức chính là cái đảmbảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấpnhận và lựa chọn tin theo Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sứcmạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước.Bởi người thật sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rènluyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Và khi đã thấy sức khôngvươn lên được thì sẵn sàng nhường bước, học tập và ủng hộ người tài đức hơn mình,

để họ gánh vác việc nước việc dân Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn luyện ngườicán bộ, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên Thời chiến cũng nhưthời bình, nơi chiến trường hay tại hậu phương, trong học tập, lao động, sản xuất haykhi chiến đấu, Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên

để họ thấm nhuần ĐĐCM, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư TheoNgười, chừng nào chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh thường mắc như

Trang 21

cậy quyền và cậy thế, kiêu ngạo và xa hoa, quan liêu và coi thường quần chúng, tựkiêu và không muốn học tập, không thực hiện tốt phê bình và tự phê bình vẫn cònhiện hữu, thì chừng đó cán bộ, đảng viên sẽ không thể hết lòng, hết sức phục vụ nhândân, hoàn thành những trọng trách mà nhân dân tin tưởng giao phó.

Vì vậy, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao tư cách người cách mạng.Người đã dày công đào luyện đội ngũ cán bộ vừa biết trọn đời hy sinh cho lý tưởngcao đẹp, vừa biết gắn bó máu thịt với nhân dân và hòa mình vào cuộc đấu tranh vìnhân loại tiến bộ; đồng thời biết sống một cuộc sống giản dị và trong sạch TTHCM

về đạo đức và ĐĐCM đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng ĐĐCM của đạođức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn củacác dân tộc Việt Nam với ĐĐCM của giai cấp công nhân

Xét về lý luận, quan điểm “Đức là gốc” của Hồ Chí Minh có nội dung phongphú, bao trùm và xuyên suốt toàn bộ tư tưởng ĐĐCM của Người

1.1.4.2 Những yêu cầu cơ bản của đạo đức cán bộ

Nghiên cứu di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ta thấy Người có những lờidạy với những phẩm chất đạo đức cụ thể cho từng đối tượng Người nêu cái đúng, cáitốt, cái hay, đồng thời cũng chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở để giáo dục đạo đức cho cáctầng lớp nhân dân Qua đó, Hồ Chí Minh đã nêu bật những phẩm chất đạo đức cơ bảnnhất của con người Việt Nam trong thời đại mới Đây cũng là những phẩm chất củanền đạo đức mới, ĐĐCM Việt Nam và cũng là đạo đức cán bộ Đó là những phẩmchất đạo đức sau:

-Trung với nước, hiếu với dân

Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chấtkhác Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thốngcủa xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới,phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân” Đó là

một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức “Trung với nước hiếu với dân, suốt

đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì CNXH và hạnh phúc của nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng

Trang 22

đánh thắng” [18, tr.350] Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là

định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộcđấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau

Đề cập đến yêu nước, Hồ Chí Minh đề cập khái niệm yêu nước, yêu nước làtình cảm tự nhiên, yêu nước và yêu dân tộc, vai trò của yêu nước, tính giai cấp củayêu nước, chủ nghĩa yêu nước, yêu nước ở Việt Nam ngày nay Nội dung của chủnghĩa yêu nước theo Bác là trung thành với lý tưởng XHCN; quan niệm về trung khácvới trong xã hội phong kiến, TTHCM về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quanđiểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đấtnước Nội dung chủ yếu của trung với nước là: Trong mối quan hệ giữa cá nhân vớicộng đồng và xã hội, phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lêntrên hết, trước hết; quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng; thực hiện tốtmọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

“Trung” và “Hiếu” là hai khái niệm cơ bản, là trung tâm của tư tưởng đạo đứcNho giáo Theo đó, “trung” và “hiếu” chỉ tồn tại trong một phạm vi nhỏ hẹp là trungđối với vua, hiếu đối với cha mẹ Ở tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, “trung” và “hiếu”

đã được mở rộng ra phạm vi xã hội: trung với nước, hiếu với dân thì nước

ở đây là nước của dân và dân là chủ của nước, “trung”, “hiếu” đã mang một chấtlượng mới với ý nghĩa cách mạng, hết sức sâu sắc, vượt xa những giá trị đạo đứctruyền thống Nho giáo Người nói:

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, trung là trung với vua, hiếu làhiếu với cha mẹ mình thôi Ngày nay nước ta là một nước dân chủ cộnghòa (…), trung là trung với nước, hiếu là hiếu với dân [20, tr.640] Vàngười cách mạng hiếu với nhân dân nên tích cực tham gia chiến đấu đểgiải phóng nước nhà, như thế không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu

bố mẹ người khác, bố mẹ cả nước nữa [19, tr.640, 94-95]

Trung - Hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông,

được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới:

- Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước,

Trang 23

phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu" Nước làcủa dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân,

“bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”

- Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”

- Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng.Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, vớinhân dân”, và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”

- Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân,lấy dân làm gốc Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dânsinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủđất nước Yêu nước và trung thành với lý tưởng XHCN

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo đứcbao trùm quan trọng nhất, đó chính là tiêu chuẩn số một của người cách mạng, là tiêuchí để phân biệt những kẻ cơ hội, những kẻ giả danh cách mạng chỉ tìm mọi cách thuvén lợi ích cá nhân, “trung với nước, hiếu với dân” thể hiện phẩm chất đạo đức hàngđầu của người cách mạng, là giá trị văn hóa cao đẹp nhất, điển hình của người cán bộ,đảng viên và còn là mối quan hệ rộng lớn của mỗi con người với Tổ quốc, với dântộc, với toàn thể nhân dân Giải quyết đúng đắn mối quan hệ này quyết định đến giảiquyết các mối quan hệ khác và phẩm chất đạo đức khác Có “trung với nước, hiếu vớidân” thì người cách mạng mới cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Hồ Chí Minhkhẳng định “ĐĐCM có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái Giữ vững lập trường.Tận trung với nước Tận hiếu với dân” [23, tr.480] Người còn chỉ rõ, ĐĐCM là,quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng đó là điều chủ chốt nhất,ĐĐCM là tuyệt đối trung thành với Đảng với dân Đây chính là mục tiêu, lý tưởngchiến đấu của chúng ta Từ “trung”, “hiếu” của đạo đức truyền thống đã được Hồ ChíMinh phát triển lên tầm cao mới, đưa vào nội dung mới, phản ánh ĐĐCM cao hơn,rộng hơn Người khắc phục triệt để tư tưởng “trung, hiếu” phong kiến là chỉ trung vớivua, hiếu với cha mẹ Người làm một cuộc cách

Trang 24

mạng trong quan niệm đạo đức “trung” “hiếu”, Hồ Chí Minh gạt bỏ cái hạn chế cốtlõi trong đạo đức cũ là lòng trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến mà ông vua

là đại diện theo kiểu “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” Người không chấp nhậnlòng trung thành tuyệt đối của nhân dân đối với kẻ áp bức, thống trị mình là giai cấpphong kiến đã lỗi thời phản động, đó là điều cần phải thay đổi Đứng vững trên lậptrường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân Người đãdạy, ĐĐCM là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng Như vậy,trung với nước, trung với Đảng là yêu cầu hàng đầu trong phẩm chất ĐĐCM củangười cán bộ, đảng viên, là biểu hiện cao nhất thể hiện sự trung thành tuyệt đối vớimục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc, trung thành với chế độ XHCN,trung thành với lợi ích của nhân dân

Hiếu với dân trong xã hội phong kiến chỉ bó hẹp trong khuôn khổ, phạm vi giađình, cụ thể là đối với cha mẹ “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, nghĩa là: chabảo con chết, con không chết là bất hiếu, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó Hồ Chí Minh

đã khắc phục những hạn chế đó, Người đưa vào đạo “hiếu” một nội dung mới, rộnglớn hơn Đó là hiếu với nhân dân lao động, là chủ nhân của đất nước, không phải làthần dân, con dân của vua như đạo đức phong kiến Hiếu với dân theo Hồ Chí Minh

là biết dựa vào dân, tin ở dân, lấy dân làm gốc, tôn trọng và thực hiện quyền làm chủcủa nhân dân, quyền lực và lợi ích thuộc về nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, sẵnsàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, luôn gần dân, học hỏi nhân dân, chăm

lo đời sống nhân dân Hồ Chí Minh không chỉ làm cuộc cách mạng trong quan niệm

“trung”, “hiếu” mà bản thân Người còn là tấm gương đạo đức cách mạng mẫu mực về

“trung với nước, hiếu với dân” “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục

vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều

gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[18, tr 512] Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh soi chiếu, tỏa sáng trong sự nghiệpcủa chúng ta Suy nghĩ, học tập về Người chúng ta nhìn lại những thành quả đã đạtđược và nghiêm khắc nhận ra những tồn tại yếu kém, mà Đảng ta đã chỉ rõ, là vẫncòn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng

Trang 25

viên sa sút phẩm chất đạo đức, lối sống, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, làm giảmlòng tin trong nhân dân Vì vậy, thực hiện “trung với nước, hiếu với dân” xây dựng,rèn luyện đạo đức cách mạng hiện nay chính là luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc,với Đảng, với nhân dân, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức cảnh giác,tinh thần trách nhiệm cao, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn hoàn thành mọinhiệm vụ được giao.

Người đã dạy: Mỗi người có ba trách nhiệm trước Đảng, trước dân, trước côngviệc Trong đó, trước hết cần có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trước nhândân làm cho thật tốt rồi đem kết quả đó báo cáo với Đảng, với cấp trên Theo Người,xây dựng Tổ quốc là một cuộc chiến đấu khổng lồ cần phải dựa vào sức mạnh củanhân dân, sự nghiệp xây dựng Tổ quốc muốn thành công thì nhân tố hàng đầu là phảiphát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tập thể, đẩy mạnh tu dưỡng rèn luyện ĐĐCM,chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng thực dụng, cục bộ địa phương Đó là tinh thầntrách nhiệm, ý thức chính trị của chúng ta trước yêu cầu mới của cách mạng Đồngthời, phải đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên,công chức có phẩm chất ĐĐCM, trong giai đoạn cách mạng mới, làm cho Đảng trongsạch vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh vĩ đại là lãnh đạo nhân dân, giữ vững độc lậpdân tộc và xây dựng thành công CNXH Đây là mục đích cao cả, lợi ích thiêng liêngcủa Đảng và của nhân dân ta

Theo Hồ Chí Minh, mỗi người phải theo đạo đức công dân, đó là tuân theopháp luật của Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung Phục vụ nhân dântrên cơ sở nhân dân là chủ, dân làm chủ Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì sựnghiệp cách mạng ấy là của nhân dân, nhân dân là sức mạnh vô địch

Người còn chỉ rõ, ý thức trách nhiệm của mỗi người trước hết thể hiện trongquan hệ với nhiệm vụ được giao và công việc phải làm, ý thức trách nhiệm còn đượcbiểu hiện trong việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ, thựchiện đúng đường lối quần chúng, không quan liêu mệnh lệnh chủ quan Hồ Chí Minhchỉ rõ, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhândân lên trên hết, trước hết, luôn quan tâm chăm lo mọi mặt

Trang 26

đời sống nhân dân, làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, luôn tôntrọng quyền làm chủ của nhân dân, vì dân mà làm việc Tôn trọng dân, trước hết làtôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng ý kiến của dân, không tự cao, tự đại,khinh rẻ dân, chê bai dân, hướng dẫn dân tăng gia sản xuất chăm lo đời sống, thựchành tiết kiệm… phải luôn quán triệt “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trungthành của nhân dân Mấy chữ a, b, c này không phải là ai cũng thuộc đâu, phải họcmãi, học suốt đời mới thuộc được” [18, tr 516] Phục vụ nhân dân là, tự phê bìnhtrước dân và nếu có khuyết điểm thì nhận, đồng thời hoan nghênh nhân dân phê bìnhmình.

Tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong TTHCM rộng lớn sâusắc, trước hết là nhận thức về Tổ quốc về nhân dân, vị trí vai trò của cán bộ đảngviên Nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng, nhận thức sai là hành độngsai Điểm cốt lõi về vấn đề này trong TTHCM chính là: Dân là chủ, là gốc của nước,

có dân là có tất cả, cán bộ là đầy tớ của dân Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân lànhiệm vụ của mọi CBCC là gốc của mọi công việc Cán bộ, đảng viên phải là tấmgương sáng cho mọi người noi theo

- Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩmchất đạo đức cao đẹp nhất Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người

cùng khổ Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự

ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân

ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [16, tr.161] Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không

phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái không phânbiệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trongtấm lòng nhân ái của Người Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với nhữngngười có sai lầm khuyết điểm Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căndặn, chúng ta:

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho

Trang 27

phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bịmất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng Đối với những người cóthói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phảigiúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở

để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời [18, tr.558]

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn

nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người” Về chữ nhân, Người cho rằng, nhân là “thật thà thương yêu, hết lòng giúp

đỡ đồng chí và đồng bào Vì thế mà cương quyết chống lại những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân” [12, tr.252-253] Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩanhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Hồ Chí Minh coi yêu thươngcon người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Yêu thương con người thể hiện mốiquan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong QHXH Tình yêu thương con người thể hiệntrước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động bìnhthường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột Yêu thương conngười phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấucho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Thươngyêu con người phải tin vào con người Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với ngườithì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầmđường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm Yêu thương con người là giúp cho mỗingười ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bìnhchân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến

bộ Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng conngười Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ nghĩa

Mác-Lênin để thương yêu nhau hơn Người viết: "Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải

sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” [20, tr.640].

Trang 28

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

Là phẩm chất đạo đức cơ bản, được Hồ Chí Minh đề cập thường xuyên vì nógắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người cách mạng và quan hệ mật thiết vớiphẩm chất “Trung với nước, hiếu với dân” Đây là một phẩm chất đạo đức nữa luôngắn liền với những hoạt động hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh và luôn được đề

cập nhiều nhất, thường xuyên Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm cần kiệm

liêm chính, chí công vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt

Nam Người chỉ ra rằng: phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thựchiện Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương chonhân dân noi theo Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất,vững mạnh về tinh thần, sự văn minh tiến bộ của một dân tộc Quán triệt lời dạy củaBác, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, người cán bộ, lãnh đạo, Đảng viên cũng phảithực hiện “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” Theo Hồ Chí Minh thì:

Cần tức là lao động cần cù, tính siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có

năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại,không dựa dẫm Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống,nguồn hạnh phúc của chúng ta" Bác nhấn mạnh, những cán bộ lười biếng, khôngsiêng năng chăm chỉ ấy, chính là những người đang “lừa gạt dân” Phải lấy kết quảthiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cáchmạng

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,

của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộnglại thành cái to; không lãng phí thời gian, của cải của mình và của dân "không xa xỉ,không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chèchén lu bù Từ lý giải này của Bác, có thể hiểu Kiệm không chỉ có nghĩa là tiết kiệmtiền của, mà quan trọng hơn, đó là tiết kiệm thời gian, công sức Đồng thời, không chỉ

là tiết kiệm tiền của, thời gian, công sức của bản thân mình, mà còn là tiết kiệm tiềncủa, thời gian, công sức của người khác Như vậy, chữ Kiệm Bác nói khá toàn diện:tiết kiệm thời gian, tiết kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu

Trang 29

dùng; tiết kiệm ở cả xã hội và ở mỗi cá nhân Bác cũng nói rõ: tiết kiệm không phải làbủn xỉn, không phải là gặp việc gì đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng khôngtiêu Khi có việc đáng làm, việc có ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì bao nhiêucông, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng Như thế mới là kiệm.

Cần, Kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, của người cán

bộ trong công tác

Liêm là trong sạch, tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân";

"không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân" Liêm tức làkhông tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của nhân dân Phải "trongsạch, không tham lam"; "không tham địa vị, không tham tiền tài… không ham

người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa" Báccho rằng: “cán bộ cơ quan, đoàn thể cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù

to nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” “Nhữngngười trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ được cần,kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên tai hại, biến thành sâu mọt của nhân dân” Như vậy,theo Bác, những cán bộ làm trong bộ máy nhà nước rất dễ có cơ hội để tham ô, thamnhũng Đó là khi họ nắm trong tay quyền hành nhưng “thiếu lương tâm”, không giữđược chữ cần, kiệm, liêm, chính Người cán bộ phải thực sự rũ bỏ lòng tham, khôngchỉ đối với tiền bạc vật chất mà cả với những danh vọng, địa vị, chức tước Nhữngtiền tài và danh vọng đó có sức quyến rũ vô cùng mạnh mẽ Nằm trong bộ máy nhànước, nắm trong tay quyền lực, người cán bộ rất dễ bị những cám dỗ đó lôi kéo Vàkhi quyền lực kết hợp với lòng tham, thì từ người cán bộ bỗng trở thành con mọt đụckhoét của công, hay trở thành ông quan cách mạng, chỉ là trong gang tấc Do đó, đốivới người cán bộ, thực hiện chữ Liêm là vô cùng cần thiết, mặc dù rất khó khăn.Nhưng dù khó khăn đến mấy, cũng phải “lấy Liêm làm đầu” Liêm đã trở thành thước

đo bản chất người, bản chất cách mạng của người cán bộ

Chính là ngay thẳng, thấy phải dù nhỏ cũng phải làm; thấy trái dù nhỏ cũng

phải tránh; “không tà, là đúng đắn, chính trực Đối với mình không tự cao, tự đại,luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa

Trang 30

đổi điều dở của bản thân mình; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dốitrá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết Đối với việc thì để việccông lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳđược, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” [16, tr.55] Khi nói tới Chính, trước hết phải lấy mình làm đối tượng Bác dặn người cán bộ:

Mình là người làm việc cần phải có công tâm, công đức Chớ đemcủa công dùng vào việc tư Chớ đem người tư làm việc công Việc gì cũngphải công minh, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ hay tư thù, tư oán.Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làmđược việc Chớ vì bà con, bầu bạn mà bổ họ vào chức nọ, chức kia Chớ vì

sợ mất lòng mà dìm những kẻ có tài hơn mình [12, tr.252-253]

Liêm, Chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.

Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người,như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dungtừng khái niệm Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính lànền tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức Bốn đức tính này trởthành nền tảng cơ bản để trở thành một con người có đạo đức, cơ bản đến mức, “thiếumột đức thì không thành người” Đây là những đức tính mà bản thân mỗi CBCC lấy

đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động Nội dung cụ thể của bốn chữnày áp dụng cho đội ngũ công chức được Bác diễn giải hết sức dễ hiểu và thấu đáo.Mặc dù sử dụng khái niệm của Nho giáo nhưng cách nói của Bác rất cụ thể và gầngũi với người cán bộ

Chí công, vô tư: chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được

có lòng riêng, thiên tư, thiên vị "tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán", đem lòng chícông, vô tư đối với người, với việc “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mìnhtrước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” Chícông vô tư là đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc Ham làm nhữngviệc ích quốc lợi dân, không ham địa vị công danh phú quý Khi làm bất

Trang 31

cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đến sau Chícông vô tư là chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà; chăm lo việc tập thể như

chăm lo việc gia đình (chí công vô tư không phải là không chăm lo lợi ích riêng Bác

chỉ yêu cầu trong quan hệ lợi ích chung-riêng cần hài hòa Nghĩ đến lợi ích riêng

nhưng cần ưu tiên lợi ích chung Hồ Chí Minh phê phán chủ nghĩa cá nhân nhưng

yêu cầu giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân và xã hội, không trù dập lợi ích cá nhân,phải tôn trọng và phát triển cá nhân để chống chủ nghĩa cá nhân) Muốn "chí công, vôtư" phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo,người "giữ cán cân công lý", không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật

Như vậy, các phạm trù đạo đức của học thuyết Nho giáo đã được Hồ Chủ tịchvận dụng tiếp thu và phát triển, mở rộng nội dung, mang tính giai cấp, tính nhân vàtính chiến đấu để trở thành những phạm trù đạo đức cách mạng Nội dung của đạođức cách mạng là một sự phát triển mới và là sự khác biệt về chất so với đạo đức

phong kiến, như Người đã khẳng định: “đó không phải là những đạo đức thủ cựu Nó

là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [27, tr.251 – 252].

- Tinh thần quốc tế trong sáng

TTHCM là sự thống nhất, hoà quyện giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính vớichủ nghĩa quốc tế trong sáng Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liềnvới chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩaquốc tế vô sản trong sáng Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất đạo đức, là yêucầu đạo đức nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt qua khuôn khổ quốc gia, dân tộc.Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong TTHCM rộng lớn và sâu sắc Đó là sự thương yêu,tôn trọng tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dântộc và sự phân biệt chủng tộc

Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằngmệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị

áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp

Trang 32

bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạngcủa cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những ngườitiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn củathời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc vàCNXH, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc Tư tưởng đạo đức HồChí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo,nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất”đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩlỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tếtrong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:

- Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột

- Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”

-Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội

- Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước chânchính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa

sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ

1.2.1 Kế thừa giá trị tư tưởng đạo đức của dân tộc

Nước ta có một bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước nên những giá trị truyềnthống rất đặc sắc và cao quý Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất,tinh thần tương thân, tương ái, lòng nhân nghĩa, ý chí vươn lên vượt qua mọi khókhăn thử thách, thông minh, sáng tạo…

Yêu nước chính là giá trị chủ đạo, cao quý thiêng liêng, là cội nguồn của cácgiá trị khác đồng thời cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc

Khi Người lớn lên trong một gia đình nho giáo, có truyền thống yêu nước, gầngũi với nhân dân Thân sinh của Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, cụ là nhànho cấp tiến có lòng yêu nước thương dân sâu sắc, đặc biệt là tư tưởng lấy dân

Trang 33

làm hậu thuẫn cho mọi cải cách CT-XH, chính tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu sắcđến nhân cách của Người Quê hương Nghệ Tĩnh của Người cũng là mảnh đất giàutruyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, có nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sửnhư là Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… cả chị và anh trai của Người cũng thamgia hoạt động yêu nước nhưng đều đã bị bắt giam và lưu đày hàng chục năm Nhữnggiá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương, của gia đình đã ngấm vào conngười Hồ Chí Minh và đó là động lực thúc đẩy Người ra đi tìm con đường đấu tranhđúng đắn cho dân tộc.

1.2.2 Tiếp thu tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kết hợp các giá trị văn hóa phươngĐông và phương Tây, đó chính là điểm đặc sắc

Tư tưởng văn hóa phương Đông ảnh hưởng đến Người phải kể đến đầu tiên làNho giáo Lớn lên trong một gia đình Nho giáo, Người đã được truyền thụ bao nhiều

tư tưởng Người sớm nhận ra trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm lạc hậu, phảnđộng như là phân biệt đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thườngdoanh lơi… mà sau này Người từng phê phán bác bỏ Nhưng không phủ định tất cả,Người vẫn thấy những yếu tố tích cực trong Nho giáo, đó chính là tư tưởng nhập thế,hành đạo, giúp đời, đó lý tưởng về một xã hội bình trị; là triết lý nhân sinh, tu thândưỡng tính; đề cao văn hóa, lễ giáo tạo ra truyền thống hiếu học [30, tr 21]

Như sau này Người đã đề cao việc kiểm điểm và tự kiểm điểm trong công tácgiữ gìn sự trong sạch của Đảng hay sau khi đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước thìNgười cũng chú trọng đến công tác chống giặc dốt, Người kêu gọi toàn dân xóa mùchữ để nâng cao dân trí

Ngoài Nho giáo thì tư tưởng Phật giáo cũng ảnh hưởng đến TTHCM Phậtgiáo đã du nhập vào nước ta từ khá sớm và đã trở thành quốc giáo, ảnh hưởng mạnhtrong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc đến phong tục tập quán, lối sống… Là mộttôn giáo thì Phật giáo cũng có những mặt tiêu cực không tránh khỏi Nhưng có nhữngmặt tích cực đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của conngười Việt Nam Có thể kể đến thứ nhất là tư tưởng vị tha, từ

Trang 34

bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; thứ hai là nếp sống cóđạo đức, trong sạch giản dị, chăm lo làm điều thiện; thứ ba là tinh thần bình đẳng,tinh thần dân chủ chất phác chống lại phân biệt đẳng cấp; thứ tư là Phật giáo đề caolao động, chống lười biếng Trong hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ thì phật giáo cũng

có nét riêng biệt đó là không còn đứng hoàn toàn ngoài cuộc sống, không rời xa đờisống nhân dân, với đất nước nữa mà đã tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân,chống kẻ thù dân tộc Chính từ tư tưởng mới này đã hình thành nên phái Trúc lâmViệt Nam

Là người sáng suốt, Người đã biết khai thác các yếu tố tích cực đó của Nhogiáo và Phật giáo để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của nước ta

Tư tưởng văn hóa Phương Tây đã được Người tiếp nhận trong suốt thời gian

ba mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước

Người đã từng đến Mỹ, được biết đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, choquyền sống của con người được lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ.Đầu năm 1913, Người sang Anh, ở đó Người đã đi những bước đi đầu tiên trong cuộcđời hoạt động chính trị của mình, Người gia nhập công đoàn thủy thủ và tham gia cáccuộc biểu tình, đình công Cuối năm 1973, Hồ Chí Minh quyết định chuyển từ Anhsang Pháp, Người sống tại Pari – thủ đô nước Pháp đồng thời cũng là trung tâm vănhóa – nghệ thuật của Châu Âu Ở đây Người tiếp xúc với các dòng văn hóa thế giới

và đã nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống vănhóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp Tại đây Người cũng có rất nhiều hoạt độngnhư viết báo, tham gia Đảng cộng sản Pháp, tham dự các cuộc mít tinh Một ngày củaNgười thường là, đi làm nửa ngày, đi làm buổi sáng để kiếm tiền, buổi chiều thì điđến thư viện hoặc đến dự những buổi nói chuyện chính trị Tối đến, ông đi dự míttinh [38, tr.39]

Người cũng rất thích đi du lịch, Người tham ra vào cả hội “Du lịch”, đó làmmột hội được người ta đưa đi thăm nước Pháp và các nước lân cận với giá tiền rất rẻ.Người lúc ấy hãy còn trẻ thường nửa đùa nửa thận khuyên các bạn mình như sau

“Trong những ngày nghỉ, không nên tiêu phí tiền bạc, mất thì giờ ở bãi bể để nhìn những người đàn bà đi tắm, mà nên đi du lịch, học hỏi được nhiều” [38, tr.41].

Trang 35

Sống và học tập ở Pháp Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hìnhthành được phong cách dân chủ của bản thân từ cuộc sống thực tiễn Người nhận thấysống ở Pháp, Người có thể hoạt động công khai, được tự do nêu ý kiến, quan điểmphê phán bọn quan lại, vua chúa của nước mình Trải qua bao nhiêu năm hoạt độngtích cực dưới sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của những nhà cách mạng và trí thức tiến bộnhư M Casanh, P.V Cutuyarie, G Moongmutxo… Người đã từng bước trưởngthành, từ làm giàu vốn kiến thức Đông, Tây, biết chọn lọc tiếp thu những cái tinh hoacủa nhân loại.

1.2.3 Năng lực tư duy và trí tuệ của cá nhân Hồ Chí Minh

Nhờ khả năng này mà trong thời gian Người bôn ba khắp nơi cứu nước đãkhông ngừng quan sát, học hỏi, nhận xét thực tiễn làm phong phú thêm sự hiểu biếtcủa mình và hình thành những cơ sở quan trọng để tạo dựng nên những thành côngtrong lĩnh vực hoạt động lý luận của Người về sau

Các nhà yêu nước cùng thời với Hồ Chí Minh như Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh… cũng được sống trong không khí đó nhưng họ chưa nhận thức đúng về sựthay đổi của dân tộc và thời đại do vậy mà họ cứ loay hoay tính các con đường khácnhau nhưng rút cuộc lại thất bại do các phong trào mà họ khởi sướng đó chưa đápứng được nhu cầu thực tế đang đặt ra và cần giải quyết Trong quá trình tìm tòi conđường cứu nước Người đã phát hiện ra những quy luật vận động, đời sống văn hóa vàcuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành lý luận,đem lý luận chỉ đạo các hoạt động thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn

Với các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, đạo đức cán bộ, đạo đức mới nêu trêncủa TTHCM được xây dựng nên nhờ tài năng cá nhân của Người cùng với sự kế thừagiá trị đạo đức của dân tộc và tiếp thu tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một tài sản tinh thần vô giá, đó

là tư tưởng của Người Trong đó, nổi bật là tư tưởng ĐĐCM Bản thân Chủ tịch HồChí Minh đã là một tấm gương mẫu mực, sáng ngời về thực hành ĐĐCM để toànĐảng, toàn dân noi theo Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lãnh tụ HồChí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện ĐĐCM cho

Trang 36

cán bộ, đảng viên và nhân dân Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần

50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức Có thể nói đạo đức là một trong nhữngvấn đề quan tâm hàng đầu của Bác trong sự nghiệp cách mạng Tư tưởng đạo đức HồChí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hìnhthành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vậndụng và phát triển sáng tạo ĐĐCM của Chủ nghĩa Mác-Lênin; là sự tiếp thu có chọnlọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại cả phương Đông lẫnphương Tây mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầygian lao, thử thách vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người

Vai trò nền tảng của ĐĐCM được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: làm cáchmạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng cũng

là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức

có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có ĐĐCM làmnền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang; có ĐĐCM thì gặp khókhăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữvững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, mới lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ,

lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không côngthần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con

người Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức làgốc, nó quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kếtdân tộc Nhờ đó mà đạo đức góp phần to lớn vào việc quyết định sự thành bại củacách mạng nước ta Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rènluyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ, đảng viên

Từ việc phân tích trên các khái niệm chung về cán bộ; đạo đức; về TTHCM vềđạo đức cán bộ cũng như cơ sở hình thành của TTHCM về đạo đức cán bộ thì mốiquan hệ giữa đạo đức và pháp luật là một tiền đề để luận giải cho việc vận dụngTTHCM về đạo đức cán bộ ở nước ta hiện nay, cụ thể:

Trang 37

1.3 Quan hệ giữa đạo đức và pháp luật

Nội dung của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức là toàn bộ sự tác độngqua lại giữa chúng đối với nhau Cả pháp luật và đạo đức đều được hiểu theo nghĩarộng, chính vì vậy sự tác động giữa chúng cũng diễn ra cả trên bình diện ý thức (ýthức pháp luật, ý thức đạo đức), cả trên bình diện thể chế (hệ thống pháp luật thựcđịnh; các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực đạo đức), cả trên bình diện thực tiễn (hành

vi pháp luật, hành vi đạo đức)

1.3.1 Đạo đức và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội

Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật có mối liên hệ biện chứng với nhau vàđều có chức năng chung là điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo toàn và phát triển

xã hội Khi chưa có luật pháp hoặc luật pháp mới hình thành thì việc điều chỉnh nhằmđảm bảo các quan hệ và trật tự xã hội do đạo đức đảm nhiệm Đạo đức là hình thái ýthức xã hội (YTXH) thường được thể hiện ra dưới hình thức các niềm tin, lý tưởng,các nguyên tắc, quy tắc chung có ý nghĩa định hướng tinh thần giúp các thành viên xãhội tự điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với người khác và xã hội dưới

sự kiểm soát của lương tâm và dư luận xã hội (DLXH) Vì thế, đạo đức thường khôngthiên về việc qui định hành vi một cách cụ thể Trong khi đó, luật pháp lại chú trọngđến việc qui định các hành vi ngày càng cụ thể

Cả pháp luật và đạo đức đều góp phần bảo vệ các giá trị chân chính, đều liênquan đến hành vi đến lợi ích của con người và xã hội Pháp luật tham gia điều chỉnhquan hệ xã hội bằng những quy phạm, điều khoản quy định các quyền và nghĩa vụcủa chủ thể Các quy phạm pháp luật quy định chi tiết các hành vi được phép và hành

vi bị cấm đoán Đồng thời, chúng còn xác định cụ thể cách cư xử lẫn những hình phạt

sẽ áp dụng nếu chủ thể vi phạm Ngoài ra, pháp luật còn thực hiện điều chỉnh mốiquan hệ giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc, cưỡng chế từ bên ngoài Trongkhi đó, đạo đức lại điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư luận xã hội, bằng sự giác ngộ

và sự thôi thúc từ bên trong Sự khác biệt nhưng lại thống nhất này là cơ sở để phápluật và đạo đức bổ sung và hỗ trợ nhau Do vậy có thể nói pháp luật không những làcông cụ để quản lý nhà nước, mà còn là môi trường thuận lợi

Trang 38

cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức Bên cạnh đó đạo đức là gốc của phápluật cho nên việc con người thực hiện tốt các quy phạm, các chuẩn mực đạo đức cũng

là một bước để thực thi tốt pháp luật

Tuy nhiên đạo đức và pháp luật có những đặc điểm và tính chất khác nhautrong quá trình điều chỉnh hành vi của con người: Đạo đức và pháp luật khác nhau vềphương thức điều chỉnh hành vi con người; Đạo đức thì tình cảm mềm dẻo, pháp luậtthì bắt buộc và cứng rắn; Đạo đức mang tính chung, định hướng Pháp luật thì cụ thể

và rõ ràng; Đạo đức đạt được kết quả là một quá trình Pháp luật đạt được kết quảngay tức thì; Đạo đức là kết quả tự thân, bền vững Pháp luật là kết quả tác động từbên ngoài, chưa bền vững

Như vậy, giữa đạo đức và pháp luật có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗlẫn nhau Chúng thống nhất với nhau ở đối tượng và mục tiêu là con người Trái lạichúng khác nhau ở phương thức điều chỉnh hành vi của con người Để nâng cao vaitrò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thểthiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyền Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy

đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh

và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tíchcực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con ngườivới xã hội

Đạo đức và pháp luật thống nhất với nhau ở mục tiêu của nó là điều chỉnhhành vi của con người để đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội Một người viphạm đạo đức thường là vi phạm pháp luật và ngược lại vi phạm pháp luật cũng là

vi phạm đạo đức Đạo đức và pháp luật không tự nhiên mà có Để con người có được

ý thức đạo đức và ý thức pháp luật đều là kết quả giáo dục lâu dài Giáo dục cho conngười có đạo đức cũng là giáo dục cho con người biết tôn trọng pháp luật, kỷ cươngphép nước Giáo dục pháp luật cho còn người cũng là để bảo vệ giá trị đạo đức vànâng cao đạo đức con người Vì vậy, giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết

để hình thành ở công dân sự tôn trọng sâu sắc đối với pháp luật Ngược lại, giáo dụcpháp luật lại tạo ra khả năng thiết lập trong đời sống thực tiễn

Trang 39

thường ngày những nguyên tắc của đạo đức, củng cố các nghĩa vụ đạo đức, thiết lậpquan hệ bảo vệ hạnh phúc gia đình, bồi dưỡng thế hệ trẻ, kích thích sự giúp đỡ đồngchí, tính lương thiện, thật thà và không dung thứ với các biểu hiện chống đối xã hội.

Trong một xã hội cụ thể, đạo đức và pháp luật về cơ bản thống nhất ở mụcđích, ở định hướng tinh thần nhưng lại có nhiều điều khác nhau về hình thức biểuhiện Luật pháp thường được biểu hiện ra như những tiêu chuẩn tối thiểu nhằm bảođảm sự tồn tại xã hội như nó hiện có, trong khi đó đạo đức bao giờ cũng là những tiêuchuẩn cao của xã hội gắn liền với những lý tưởng hoàn thiện về con người và xã hộicon người Trong một quốc gia dân tộc, luật pháp hoặc các qui định có tính chất luậtpháp được các cơ quan nhà nước soạn thảo, ban hành và đôn đốc kiểm tra việc thốngnhất thi hành trong toàn quốc ĐĐXH với tư cách là một mặt của đời sống tinh thần

xã hội thì ngoài những nguyên tắc, qui tắc chung được xác định với tư cách là nhữngđịnh hướng tinh thần phù hợp với trạng thái xã hội hiện tồn, nó còn chứa đựng nhữngyếu tố truyền thống của quá khứ và bao gồm cả phong tục, tập quán địa phương đãđược nâng lên thành những yêu cầu đạo đức mang tính địa phương, cục bộ phụ thuộcvào những điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của từng khu vực cụ thể

Luật pháp kể các luật pháp đã đạt đến trình độ phát triển cũng chỉ có thể điềuchỉnh trên một số mặt nhất định của đời sống xã hội Trong khi đó đạo đức có vai tròđiều tiết trong tất cả các quan hệ xã hội (QHXH) Luật pháp thường chỉ tham gia vàođiều chỉnh các QHXH khi đã đến độ chín mùi nên những ảnh hưởng xấu cho xã hội

và cơ bản ứng dụng đối với các thành viên đã đến tuổi công dân Còn đạo đức, dotính chất mềm dẻo và linh động của mình nó tham gia vào điều chỉnh các hiện tượnglệch chuẩn xã hội ngay từ khi mới xuất hiện và đối tượng điều chỉnh là tất cả cácthành viên xã hội, không kể địa vị xã hội và tuổi tác

Để bảo đảm cho luật pháp được chấp hành, nhà nước áp dụng chủ yếu cáchình thức cưỡng bức, trừng phạt; còn đạo đức thì lại được bảo đảm bằng quá trìnhgiáo dục, thuyết phục, ủng hộ hoặc lên án của DLXH và sự kiểm soát của lương tâmcon người Trong điều kiện xã hội mới, xã hội XHCN, đạo đức và luật pháp càng có

Trang 40

sự thống nhất ở đó chẳng những đạo đức mà cả pháp luật cũng được thi thành mộtcách tự giác Tất nhiên, điều đó không có nghĩa đạo đức thay thế pháp luật mà chỉ là

sự biểu hiện mối quan hệ gắn bó giữa đạo đức và pháp luật trên cơ sở phục vụ cho sựtiến bộ và nâng cao, hoàn thiện con người

Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện xã hội mới còn thểhiện ở chỗ, bản thân luật pháp một mặt phản ánh những yêu cầu của sự phát triểnkinh tế-xã hội, nhưng mặt khác nó vẫn kế thừa các giá trị các giá trị đạo đức trongtruyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng Còn đạo đức, một mặt chứa đựngcác giá trị đạo đức truyền thống, phản ánh những yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xãhội, nhưng mặt khác nó phải đảm bảo phù hợp với những yêu cầu của luật pháp vàkhuyến khích thực hiện tốt pháp luật Cho nên có thể nói rằng, trong điều kiện mới,luật pháp là yêu cầu đạo đức tối thiểu, còn đạo đức là yêu cầu tối đa Một người cóđạo đức phải là người có ý thức bảo đảm thi hành pháp luật và việc thi hành pháp luật

ở mức độ cao, lại có thể tạo nên những giá trị đạo đức

Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật không xóa nhòa ranh giới giữa haihình thái YTXH này Chính vì thế trong thực tế thường xảy ra trường hợp luật pháptrừng phạt nhưng đạo đức không kên tiếng, hoặc đạo đức lên án mạnh mẽ nhưngpháp luật lại không xem là thuộc trách nhiệm điều chỉnh của mình [29, tr.70-73]

1.3.2 Đạo đức hỗ trợ, song hành và bổ sung cho luật pháp Cụ thể là

Đạo đức tác động mạnh mẽ đến việc hình thành các qui định cụ thể trong hệ thống pháp luật (HTPL) Đạo đức là nền tảng tinh thần của xã hội, vì vậy nó được

xem như là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là chấtliệu làm nên các qui định của pháp luật Có thể nói, bất kì một hệ thống pháp luật nàobao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định Nhữngquan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởngchỉ đạo việc xây dựng nên các qui định cụ thể của pháp luật Vì vậy, mỗi một nền đạođức có một HTPL tương ứng ghi nhận, phản ánh các quan niệm, quan điểm, chuẩnmực đạo đức của xã hội đó Nói cách khác, nội dung các qui phạm pháp luật (QPPL)chịu sự ảnh hưởng của các quan niệm, quan điểm đạo đức

Ngày đăng: 04/11/2020, 16:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w