1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cán bộ và vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở việt nam hiện nay

114 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 761,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng ta thẳng thắn chỉ ra rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chín

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=========================

ĐINH THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ

VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=========================

ĐINH THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ

VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sỹ với đề tài “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về đạo đức cán bộ và vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” được hoàn thành

dưới sự hướng dẫn của TS Lương Thùy Liên là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2014

Học viên Đinh Thị Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức trong những năm học qua, giúp tôi nắm vững những vấn đề lý luận và phương pháp luận để hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Lương Thùy Liên đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2014

Học viên Đinh Thị Ngọc Lan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ 12

1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cán bộ và đạo đức là gốc của người cán bộ 12

1.1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cán bộ 12

1.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức là gốc của người cán bộ 14

1.2 Những phẩm chất đạo đức cơ bản mà người cán bộ cần phải có 18

1.2.1 Trung với nước, hiếu với dân 18

1.2.2 Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư 24

1.2.3 Nhân, nghĩa, trí, dũng 30

1.2.4 Tinh thần yêu lao động, nỗ lực học tập, cầu tiến bộ 31

1.2.5 Tinh thần quốc tế trong sáng 34

1.3 Những căn bệnh thường mắc phải của người cán bộ 38

1.3.1 Bệnh tham lam 38

1.3.2 Bệnh lười biếng 39

1.3.3 Bệnh kiêu ngạo 40

1.3.4 Bệnh quan liêu 41

1.3.5 Bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa 43

1.3.6 Bệnh tự cho mình là lãnh tụ 44

1.4 Phương pháp xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho người cán bộ 47

1.4.1 Tu dưỡng bền bỉ, thường xuyên 47

1.4.2 Nói đi đôi với làm 49

1.4.3 Nêu gương đạo đức 51

1.4.4 Tự phê bình và phê bình 53

1.4.5 Xây dựng đạo đức mới, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân 55

Trang 6

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 59 2.1 Người cán bộ lãnh đạo, quản lý và những yêu cầu đạo đức đối với người cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 59

2.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 59 2.1.2 Những yêu cầu đạo đức đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 65

2.2 Thực trạng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 70

2.2.1 Những biểu hiện tích cực của đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 70 2.2.2 Những biểu hiện tiêu cực của đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 74

2.3 Những vấn đề đang đặt ra về đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 86 2.4 Một số giải pháp chủ yếu xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 90

2.4.1 Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức và phát huy tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 90 2.4.2 Đổi mới công tác cán bộ, chú trọng vấn đề đạo đức cán bộ 95 2.4.3 Phải thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình và tự phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý 97 2.4.4 Phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý 99 2.4.5 Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xử lý kịp thời và nghiêm minh những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật 100

KẾT LUẬN 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta,

là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ

có giá trị trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn có giá trị bền vững đối với sự phát triển của đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú Trong đó, vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề được Người quan tâm hàng đầu Sinh thời Người đã từng nhấn mạnh, xây dựng, chăm lo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là một công việc trọng yếu của Đảng Hơn ai hết, Người hiểu rõ rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là cái dây chuyền của bộ máy, muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém Vì thế, Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà Người nhấn mạnh trước tiên ở người cán bộ cách mạng đó là vấn đề đạo đức, coi đạo đức là cái gốc của cán bộ Theo Người, đạo đức của người cán bộ cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, không có gốc thì cây héo, không có nguồn thì sông cạn Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Lời dạy của Người về tầm quan trọng của việc trau dồi đạo đức, phẩm chất của người cán bộ cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường, nước ta đang có bước chuyển mình quan trọng Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Có được những thành tựu trên phải kể đến sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, 2012), Đảng nhận định

rõ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ

về nhiều mặt, đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất

Trang 8

chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng

và đội ngũ này đã đóng góp to lớn vào thành tựu 25 năm đổi mới vừa qua

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng và Nhà nước ta đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp

vụ, về lý luận cho đội ngũ này Chính vì vậy, những năm qua, việc nhận thức và vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn ngày càng có hiệu quả hơn Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thích nghi hơn với cơ chế thị trường và tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm, việc hoạch định chính sách, khả năng cụ thể hóa đường lối, chủ trương được nâng lên rõ rệt Tính chủ động, sáng tạo được phát huy Bệnh kinh nghiệm, giáo điều, tính ỷ lại, thụ động từng bước được khắc phục

Bên cạnh những thành tích đó, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại về mặt đạo đức xã hội Sự xuống cấp về đạo đức không chỉ trong nhân dân mà còn ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý Đảng ta thẳng thắn chỉ ra rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về

sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng tham nhũng, lãng phí

ở bộ phận cán bộ có chức, có quyền đang trở thành vấn nạn, thành nỗi bức xúc của toàn xã hội Điều đó làm giảm uy tín của Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước Chính vì vậy, vấn đề ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý trở thành vấn đề cơ bản, cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay Tuy nhiên, để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Trong đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 9

Từ việc nhận thức tầm quan trọng của vấn đề đạo đức cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như từ thực trạng và yêu cầu xây dựng đạo đức cán bộ

lãnh đạo, quản lý hiện nay, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về đạo đức cán bộ và vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Hồ Chí Minh” thì đề tài này tiếp tục nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà nghiên cứu với mục đích chỉ ra những giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức, cũng như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhóm những công trình liên quan mật thiết tới

đề tài này thành ba nhóm như sau:

Thứ nhất, nhóm những nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

và đạo đức cán bộ:

- Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”

(Nxb Chính trị quốc gia, 2003) do Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) đã trình bày một cách hệ thống những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, các tác giả dành riêng một chương để nói về tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minh Các tác giả khẳng định, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, nó hình thành từ yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các tác giả nhấn mạnh đến tư tưởng coi đạo đức cách mạng là cái gốc, là nền tảng của người cán bộ; nhấn mạnh đến điểm đặc biệt của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đó là, bên cạnh việc đưa ra những chuẩn mực

Trang 10

đạo đức chung có ý nghĩa cơ bản, có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp thì Người còn đề ra những chuẩn mực cụ thể đối với từng lớp người phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm của lớp người đó

- Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” (Nxb Giáo dục, 2006)

do Đinh Xuân Dũng (chủ biên) Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả từng là lãnh đạo Đảng, Nhà nước – những người có cơ hội sống và làm việc cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh Các bài viết đã minh chứng cho sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa nói đạo đức và thực hành đạo đức trong con người Hồ Chí Minh Đồng thời, những luận điểm lớn của Hồ Chí Minh về đạo đức, đạo đức cách mạng đã được các tác giả đề cập và phân tích như: đạo đức là gốc của người cách mạng, cần – kiệm – liêm - chính – chí công vô tư, trung với nước, hiếu với dân

- Cuốn sách “Rèn luyện đạo đức cách mạng theo Bác Hồ” (Nxb Quân

đội nhân dân, 2006) giới thiệu một số bài viết của các tác giả về nhân cách, đạo đức, về chuẩn mực đạo đức trung với nước, hiếu với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, về nguồn gốc, hoàn cảnh phát sinh, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân và phương hướng khắc phục chủ nghĩa cá nhân

- Cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” (Nxb Chính trị quốc gia,

1996) do Thành Duy (chủ biên) đã chỉ ra nguồn gốc, đặc điểm của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và khẳng định tầm quan trọng của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp đổi mới hiện nay của nước

ta

- Tác giả Phạm Quốc Thành với “Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí

Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên” (Nxb Giáo dục,

2006) đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, những chuẩn mực đạo đức

cơ bản của người cán bộ, đảng viên, những căn bệnh mà người cán bộ, đảng viên thường mắc phải và những phương pháp phấn đấu, rèn luyện để trở thành người cán bộ, đảng viên tốt

Trang 11

Thứ hai, nhóm những nghiên cứu về thực trạng đạo đức của cán bộ lãnh

đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay Những năm gần đây, khi mà biểu hiện suy

thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống ngày càng rõ nét, nạn tham ô, tham nhũng ngày càng trở thành vấn đề gây nhức nhối trong xã hội, thì mảng đề tài về đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý càng thu hút sự quan tâm của các học giả Có thể kể đến một số công trình như:

- “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với

việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” (Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 1999) do Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) Các tác giả cho rằng, trong điều kiện kinh tế thị trường các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cần được phát triển trong điều kiện mới như: lòng yêu nước, lòng nhân ái, đoàn kết cộng đồng, vị tha, trung thực, tinh thần ham học hỏi, khiêm tốn Có những giá trị mới được bổ sung như: sáng tạo, tự lập, tự chủ Vì vậy, giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và từ đạo đức Hồ Chí Minh định hướng giá trị đạo đức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay

- “Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản lý của

Việt Nam hiện nay” (Nxb Chính trị quốc gia, 2001), Nguyễn Thế Kiệt (chủ

biên) Các tác giả đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm của đạo đức phong kiến, ảnh hưởng của đạo đức phong kiến đến cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

và đề ra một số phương pháp ngăn ngừa và từng bước khắc phục ảnh hưởng của

- “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay – Thực trạng và giải

pháp” (Nxb Chính trị quốc gia, 2005), Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên) Công trình

đã chỉ ra vai trò, nội dung, yêu cầu về đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị, trên cơ sở đó xác định phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay

- Tác giả Trần Văn Phòng với bài “Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ

lãnh đạo chính trị hiện nay” (Tạp chí Lý luận chính trị số 5, 2003) Tác giả cho

Trang 12

rằng, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cán bộ lãnh đạo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu về đạo đức, lối sống, có kiến thức khoa học về lãnh đạo, quản lý Do đó, về đạo đức cán bộ lãnh đạo chính trị phải có tính tích cực chính trị, lối sống lành mạnh trong sáng, phong cách công tác dân chủ

- Luận án tiến sĩ triết học “Vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Mai Xuân Hợi đã phân tích thực trạng đạo đức của cán bộ lãnh đạo,

quản lý dưới tác động của kinh tế thị trường, chỉ ra những nguyên nhân về sự suy thoái đạo đức và đưa ra một số giải pháp khắc phục sự suy thoái đạo đức của cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, nhóm những nghiên cứu về việc vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí

Minh để xây dựng đạo đức cán bộ và cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay:

- Cuốn sách “Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo đạo đức, phong

cách, tư duy khoa học của Hồ Chí Minh” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005),

các tác giả đều có quan điểm rằng, để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay thì giải pháp quan trọng trước hết là đẩy mạnh giáo dục về tấm gương đạo đức và tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh

- Nguyễn Quang Phát (chủ biên) với cuốn “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh

về đức – tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội” (Nxb Quân đội nhân dân, 2006)

nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài, mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ cách mạng và việc nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ cán

bộ quân đội theo tư tưởng của Người

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” (Nxb Lao động

xã hội, 2006) của tác giả Bùi Đình Phong Trên cơ sở chỉ ra những yêu cầu của

Hồ Chí Minh đối với cán bộ, tác giả đã vận dụng và đưa ra quan điểm về tiêu chuẩn cán bộ trong tình hình mới Trong đó, tác giả đặt tiêu chuẩn về đạo đức cách mạng lên hàng đầu, yêu cầu người cán bộ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, có lối sống giản dị, đời tư trong sáng

Trang 13

- “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc

của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” (Nxb Chính trị quốc gia,

2010), Nguyễn Thế Thắng (Chủ biên), đã chỉ ra thực trạng phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta và giải pháp xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến một số mặt như: “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng” (Tạp chí cộng sản, số 2 – 1/2000) của Thành Duy, “Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường” (Tạp chí triết học số 4 năm 2002) của Đỗ Lan Hiền, “Nâng cao phẩm chất và năng lực đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” (Tạp chí cộng sản, số 18 - 2003) của Nguyễn Trọng Điều, “Một

số giải pháp xây dựng nhân cách đạo đức hiện nay” (Tạp chí triết học, số 4, 1999) của Nguyễn Văn Phúc, “Đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” (Tạp chí cộng sản, số 832, tháng 2 năm 2012) của Nhị Lê…

Như vậy, vấn đề nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, đạo đức cán bộ và vấn đề đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình chủ yếu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về đạo đức cán bộ trong tổng thể nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Người, chưa có một công trình nào nghiên cứu tư tưởng đạo đức cán bộ một cách hệ thống và khái quát Còn các công trình nghiên cứu về đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý thì chưa nhấn mạnh đế tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng đạo đức cán bộ của Hồ Chí Minh vào xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả của những người đi trước, chúng tôi khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, làm rõ yêu cầu, thực trạng đạo đức cán

bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay và tìm ra giải pháp xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài: làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, từ đó vận dụng vào xây dựng đạo đức cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ

Hai là, làm rõ thực trạng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Ba là, đưa ra giải pháp xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo quản lý theo tư tưởng của Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ và thực trạng đạo đức cán bộ ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ thể hiện trong 15 tập Hồ Chí Minh toàn tập và nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng đó đối với việc xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời

kỳ đổi mới, tức là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đạo đức cán bộ

- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp khác, tiêu biểu như, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp

Trang 15

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa, khái quát hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ và giá trị thực tiễn của tư tưởng đó đối với Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 2 chương và 8 tiết, không kể phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ

MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ 1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cán bộ và đạo đức là gốc của người cán bộ

1.1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cán bộ

Trong sự nghiệp cách mạng, việc xây dựng tư tưởng, lý luận, vạch ra đường lối chiến lược là những vấn đề quyết định hàng đầu Cùng với đó, việc xây dựng tổ chức và lực lượng, trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng cũng là một vấn đề then chốt Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đã quan tâm đúng mức đến cả hai vấn đề cơ bản có ý nghĩa quyết định đó

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thức được vị trí, vai trò của người cán

bộ Do đó, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người rất mực quan tâm đến vấn đề cán bộ

Cán bộ mà chúng ta bàn tới ở đây theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những người làm trong các cơ quan, đoàn thể, công sở, lực lượng vũ trang Họ có thể giữ chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo, quản lý hoặc làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn đơn thuần, trực tiếp hoặc gián tiếp đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc Họ có thể là những đảng viên cộng sản hoặc chưa phải, không phải đảng viên cộng sản Đặc biệt, trong các bài viết, tác phẩm, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiều đến đối tượng cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, những người chịu trách nhiệm trực tiếp và to lớn trước nhân dân và toàn dân tộc Những người cán bộ đó, do vậy theo Hồ Chí Minh phải là những người có tinh thần cách mạng, sẵn sàng hy sinh cho độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân

Trang 17

Cán bộ cách mạng có vị trí, vai trò quan trọng, quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy” [35, tr.68] Trong cỗ máy công nghiệp, dây chuyền liên quan đến nhiều bộ phận, chuyển tải sức điện từ động cơ đến các bộ phận Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Trong đời sống kinh tế - xã hội, sự chuyển động của xã hội được coi như một “cỗ máy” khổng lồ Trong “cỗ máy” đó, cán bộ là “dây chuyền”, “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân Đây là một “dây chuyền” đặc biệt Bởi vì, theo Hồ Chí Minh, cán bộ là người xây dựng nên đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sao cho phản ánh đúng lợi ích của các tầng lớp nhân dân, là người thực thi pháp luật của Nhà nước Thực tế là mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều

do cán bộ nghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ

Nói đến cán bộ, Người còn ví cán bộ như là “tiền vốn của Đoàn thể” Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn

Hồ Chí Minh đưa ra một triết lý sâu sắc “cán bộ là cái gốc của công việc”, cán bộ là nhân tố quan trọng góp phần quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước Vì vậy, trong mọi việc mà không

có cán bộ thì không thể hoàn thành Nhưng vấn đề không phải chỉ dừng lại ở chỗ

có hay không có cán bộ mà ở chỗ cán bộ phải là người như thế nào mới đưa cách mạng đến thắng lợi? Trong bài nói tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương năm 1952, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ quyết định mọi việc Các đồng chí đều

là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí” [37, tr.415]

Trang 18

Như vậy, khi bàn đến vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh không đề cập đến cán bộ một cách chung chung, mà Người chỉ rõ là “cán bộ tốt” hay “cán bộ kém”, “cán bộ dở” Vì “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [35, tr.313] Nói cụ thể, có cán bộ tốt thì mọi việc mới thành công

Vậy thế nào là cán bộ tốt? Theo Hồ Chí Minh, cán bộ tốt là người có cả đức và tài, trong đó đức là gốc

1.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức là gốc của người cán bộ

Hồ Chí Minh quan niệm, một người cán bộ tốt tức là ở người cán bộ đó có

sự thống nhất giữa đức và tài, trong đó Người đặc biệt đề cao đạo đức, coi “đức

là gốc” của người cán bộ

Bàn về vai trò của đạo đức đối với cán bộ, Hồ Chí Minh viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”[35, tr.292-293] Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người, tiêu chí để kiểm tra chất “người”, tính “người” của một con người Đạo đức cần cho mọi người, đó là đạo đức công dân Nhưng đạo đức đặc biệt cần cho cán bộ, cho người cách mạng Tại sao như vậy?

Hồ Chí Minh cho rằng: “làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [41, tr.601] Đồng thời, người cán bộ cách mạng nếu được vũ trang bằng đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước và khi gặp thuận lợi, thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, chứ không kiêu ngạo, hủ hóa

Trang 19

Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao yếu tố đạo đức ở người cán bộ Nhưng đạo

đức đó phải là đạo đức mới, đạo đức cách mạng chứ không phải đạo đức cũ,

đạo đức thủ cựu thời phong kiến Bởi lẽ, con đường cách mạng theo Hồ Chí Minh là con đường cách mạng vô sản Đó không những là một cuộc cách mạng chính trị mà còn là một cuộc cách mạng đạo đức Đi theo con đường cách mạng

vô sản, Hồ Chí Minh thực sự đã tiến hành một cuộc đảo lộn trong quan niệm đạo đức Sự đảo lộn đó trước hết thể hiện trong những quan niệm đúng đắn về đạo đức cũ và đạo đức mới

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức mới tức là đạo đức cách mạng Đạo đức cách mạng khác về chất so với đạo đức cũ Trong Bài nói chuyện tại trường Chính trị trung cấp quân đội, Hồ Chủ tịch đã phân biệt đạo đức cũ và đạo đức mới, Người nói: “Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau Nói như vậy là lầm to Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề

ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân” [37, tr.220]

Đạo đức cũ – loại hình đạo đức tương ứng với bản chất của chế độ phong kiến, một chế độ dựa trên nguyên tắc phục tùng thứ bậc, được phản ánh trong ý thức đạo đức dưới hình thức thân phận của mỗi con người Ở đâu, giai cấp phong kiến cũng coi khinh lao động và quần chúng lao động, đòi hỏi họ phải "giữ phận", chung thuỷ và trung thành vô điều kiện với bề trên Quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị vừa ảnh hưởng, vừa đối lập với quan niệm đạo đức của nông nô và nông dân Nhưng vì chính sách ngu dân của phong kiến, vì địa vị xã hội hèn mọn của nông dân đã nuôi dưỡng ở họ tính yên phận, nhẫn nhục, thói quen phục tùng, thái độ tôi tớ đối với phong kiến Thế còn đạo đức cách mạng thì theo Hồ Chí Minh, đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức

vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của

Trang 20

dân tộc, của loài người Đạo đức mà ở đó mỗi người tự ý thức được vị trí, trách nhiệm của mình đối với dân tộc, hòa chung lợi ích bản thân với lợi ích dân tộc

Đó là lòng yêu nước thương nòi, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, xả thân vì độc lập,

tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, có lý tưởng, có ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, nhân ái… Đạo đức cách mạng đã trở thành bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, là nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi thử thách cam go vươn lên giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh

cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [41, tr.603]

Cũng có lúc Người nói một cách ngắn gọn hơn: “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:

Nhận rõ phải trái Giữ vững lập trường

Tận trung với nước Tận hiếu với dân” [39, tr.354]

Quan điểm lấy đức làm “gốc” là quan điểm cổ xưa có từ trong thuyết

“Đức trị” của Nho giáo Ở Hồ Chí Minh cũng có quan điểm tương đồng như thế nhưng lại là một sự khác biệt căn bản, vì cái gốc của đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới – đạo đức cách mạng mang bản chất chủ nghĩa cộng sản, có kế thừa phát huy truyền thống đạo đức và tinh hoa đạo đức nhân loại; còn cái gốc của đạo đức

Trang 21

Nho giáo phong kiến là những giáo điều, những mệnh đề cực đoan trói buộc con người vào chế độ đẳng cấp hà khắc, phản dân chủ

Tuy nhiên cần phải thấy rằng, quan điểm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài Đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể chỉ có mặt này mà thiếu mặt kia Đức là nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển

và phát triển đúng hướng – tức phục vụ nhân dân và cách mạng Ngược lại, tài năng một mặt là biểu hiện đạo đức, mặt khác góp phần nâng cao uy tín, phẩm chất đạo đức của người cán bộ Người đã dặn dò: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu

có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi

gì cho loài người” [41, tr.399]

Qua tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy, đạo đức cách mạng là cái “gốc”,

là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá cán bộ Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài mấy cũng vô dụng Đức là gốc vì nó có ý nghĩa quyết định thái độ, lập trường tư tưởng chính trị của người cán bộ, đảng viên và quyết định mục tiêu, lý tưởng mà họ phấn đấu Đức là gốc còn vì trong đức đã có tài, bởi khi người cán

bộ cách mạng có đức sẽ thường xuyên đòi hỏi với chính bản thân việc học tập, nâng cao trình độ, tài năng để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Bản chất của đạo đức cách mạng đã tiềm ẩn một nội lực khiến cho con người phải vươn lên không ngừng để thực hiện những hoài bão của mình Không có ý chí, sự quyết tâm, lòng dũng cảm, thái độ cần mẫn học tập thì không thể gọi là người có đạo đức Không hề có đạo đức cho những kẻ lười nhác Phải có đức mới đi đến cái trí, có cái trí mới đi đến tài năng Chân lý hiển nhiên đó đã được chứng minh một cách sống động bằng chính cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của

Hồ Chí Minh Cái đức sâu thẳm và bao la ở Hồ Chí Minh là lòng nồng nàn yêu nước, thương dân Chính lòng yêu nước là nội lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân và sẵn sàng chịu đựng mọi gian lao, khổ ải nhằm giành

Trang 22

bằng được độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình Sau này, Người bộc bạch rằng, lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa Người đi theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba

Bằng cách diễn đạt bình dị của Người, chúng ta thấy đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người Người cán bộ nếu chỉ giác ngộ chính trị, tăng cường sức mạnh tổ chức thôi thì chưa đủ, phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, có như vậy mới tăng sức mạnh cho cách mạng lên bội phần Không phải ngẫu nhiên mà trong khi soạn bài giảng cho lớp thanh niên trí thức ở Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái

Quốc lại đưa bài Tư cách một người cách mệnh lên hàng đầu Đây là cuốn sách

viết về Đường cách mệnh nhằm mục đích nói cho đồng bào ta biết rõ: chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh và cách mệnh thì phải làm thế nào? Mục đích sách không nói gì đến việc giáo dục đạo đức Nhưng cách trình bày của sách cho thấy, muốn làm cách mạng thì trước hết phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải coi đạo đức cách mạng là gốc, là cái căn bản, nền tảng

Vậy là trong tư duy và hành động, Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự nhất quán: đạo đức cách mạng là gốc của người cán bộ Đã là cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách mạng Giữ được đạo đức cách mạng mới là người cán bộ chân chính Người đòi hỏi mỗi cán bộ phải thấm nhuần và thực hành theo tinh thần đó

1.2 Những phẩm chất đạo đức cơ bản mà người cán bộ cần phải có

1.2.1 Trung với nước, hiếu với dân

Chúng ta biết rằng, lịch sử của dân tộc ta là lịch sử đấu tranh dựng nước

và giữ nước, xây đắp Tổ quốc Việt Nam thống nhất, giàu mạnh Trong quá trình lịch sử đó, nhiều luồng văn hóa, đạo đức trên thế giới, nhất là học thuyết Nho

giáo của Khổng Tử, mà xương sống của nó là thuyết trung quân đã du nhập vào

nước ta nhằm mục đích đồng hóa văn hóa của ta Nhưng chẳng những chúng ta không bị đồng hóa mà trái lại, nhân dân ta, trước hết là các nhà Nho yêu nước đã

Trang 23

chủ động tiếp thu, chọn lọc, cải biến chúng cho thích hợp với cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, không ngừng làm phong phú nền văn hóa truyền thống của mình

Trung, hiếu là những khái niệm cơ bản, những phẩm chất hàng đầu trong

hệ thống phẩm chất đạo đức Nho giáo du nhập vào nước ta đã lâu, và được nhân dân ta tiếp nhận, cải biến cho phù hợp với yêu cầu đạo đức truyền thống của dân tộc; phản ánh và thể hiện những mối quan hệ rường cột, chủ yếu nhất của xã hội phong kiến Đồng thời, nó đã xác lập và phát huy vai trò to lớn trong việc duy trì trật tự, kỷ cương xã hội, đặt nền tảng cho sự tồn vong của chế độ phong kiến phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Theo đạo đức Nho giáo, trung là đạo thờ vua, muốn nhấn mạnh sự toàn

tâm, toàn ý, một lòng một dạ của thần dân đối với vua Mà vua là biểu tượng của

chế độ phong kiến, nên trung cũng đồng thời là trung thành với chế độ phong

kiến, đến chết cũng không được thay đổi để bảo vệ quyền lợi của vua quan phong

kiến Còn hiếu là lòng kính yêu và biết ơn đối với cha mẹ - những người đã sinh

thành, dưỡng dục mình nên người; là bổn phận làm con, cháu phải phụng dưỡng

và hiếu thảo với bố mẹ, ông bà Trung, hiếu có mối quan hệ hữu cơ với nhau,

hiếu là gốc của trung, trung lại là đầu mối, rường cột của cả hệ thống phẩm chất

đạo đức phong kiến Tuy nhiên, phạm trù trung, hiếu của đạo đức phong kiến lại

mang tính thụ động, một chiều, chỉ có giá trị hạn hẹp trong phạm vi mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, chỉ đòi hỏi bầy tôi, kẻ dưới phục vụ lợi ích bề trên, lợi ích của thiểu số vua quan phong kiến

Trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội các giá trị đạo đức phong kiến nói chung

và quan niệm trung, hiếu nói riêng, trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí

Minh đã kế thừa những yếu tố hợp lý, chắt lọc những tinh hoa và gạt bỏ đi những hạn chế, bất cập, qua đó nâng lên tầm cao hơn Chuẩn mực giá trị đạo đức

“Trung với nước, hiếu với dân” là một trong những chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất của người cán bộ cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh Trong bài báo “Người cán bộ cách mạng” đăng trên báo Nhân dân ngày 3

Trang 24

tháng 3 năm 1955, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, đối với người cách mạng, cụ thể là cán bộ thì phải: “Tận trung với nước Tận hiếu với dân” [39, tr.354]

Phạm trù trung, hiếu trong tư tưởng của Người đã chuyển từ sự phản ánh các

mối quan hệ xã hội có ý nghĩa hạn hẹp giữa cá nhân với cá nhân (vua - tôi, cha mẹ -

con cái), sang sự phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, chứa đựng trong

đó giá trị nhân văn cao cả, ý nghĩa xã hội rộng lớn và nội dung chính trị - đạo đức sâu sắc Theo Người, trung ở đây là trung với nước, trung với Đảng, hiếu ở đây

là hiếu với dân, với đồng bào Ở Hồ Chí Minh không chỉ dùng từ trung, hiếu với ý

nghĩa một trách nhiệm, bổn phận của con người mà với khái niệm mang tính truyền thống lịch sử, Người đã đưa vào đó một nội dung mới, mang tính cách mạng, phản ánh đạo đức cao rộng hơn Người viết: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” [34, tr.170]

Trung với nước là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, trung thành với Đảng cộng sản và nhân dân, thực hiện trách nhiệm của cá nhân với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Để trung với nước, phải giáo dục cho cán bộ tinh thần nồng nàn yêu nước, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mọi suy nghĩ và việc làm đều hướng tới lợi ích của Tổ quốc Người chỉ rõ rằng: “Phải

để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà” và “Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm” [36, tr.131]

Trung với Đảng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, luôn cố gắng hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ mà Đảng giao cho, biết làm việc

có lợi, tránh việc có hại cho Đảng Trung với nước, với Đảng không chỉ là dành tình cảm cho Đảng, cho Tổ quốc mà còn bằng những hành động cách mạng cụ thể như: ra sức đấu tranh bảo vệ đất nước, bảo vệ Đảng; thực hiện đầy đủ, hiệu quả mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước; kiên quyết chống mọi nguy cơ làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc, của Đảng Người viết:

“Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là:

Trang 25

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối” [41, tr.603]

Và: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng…” [41, tr.607]

Xuất phát từ truyền thống quý báu của dân tộc ta, những phẩm chất cao quý của nhân dân ta và vai trò lãnh đạo của Đảng, Người luôn nhắc nhở người cán bộ phải có nhận thức đúng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào trí tuệ tập thể và nhân dân Chính vì vậy, Người yêu cầu cán bộ phải biết làm việc có lợi cho Đảng, cho tập thể, cho nhân dân, phải đặt lợi ích của Đảng, của tập thể lên trên hết Người cán bộ cách mạng là người “trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quý hơn tính mệnh của mình” [35, tr.299] và trong mọi hoàn cảnh đều “Lo, thì lo trước thiên hạ; hưởng, thì hưởng sau thiên hạ” [39, tr.508]

Theo Hồ Chí Minh, "trung với nước" phải gắn liền "hiếu với dân" Theo quan niệm của Bác, dân là toàn dân, toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo… cùng tham gia sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vì nước là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của nước; bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, nên cán bộ

là đày tớ của dân chứ không phải là “quan cách mạng” Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất ngày 25 tháng 6 năm 1952, Người căn dặn: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân” và trong bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10 tháng 2 năm 1967, Người nhắc lại: “Mỗi người đảng viên, người cán bộ phải

Trang 26

hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày

tớ nhân dân chứ không phải làm quan nhân dân”

Nho giáo chỉ giới hạn chữ hiếu đối với cha mẹ Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở chúng ta phải hiếu với cha mẹ mình, nhưng ta không chỉ thương cha mẹ ta mà còn phải thương cả cha mẹ người, không chỉ hiếu với cha mẹ mình

mà còn phải hiếu với nhân dân Đó là thái độ yêu mến, quý trọng nhân dân, chăm

lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân Ở đây, nội hàm của chữ hiếu được mở rộng thể hiện trọng trách của người cán bộ Hồ Chí Minh nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất là người đa tình, chí hiếu nhất Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị

đế quốc phong kiến giày vò

Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa

Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy” [38, tr.99]

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân Do đó, dân là trung tâm của sự

nghiệp cách mạng Nguyễn Trãi đã từng nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật

thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết” Nhận

thấy được điều đó, nên theo Hồ Chí Minh, điều quan trọng có ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng chính là thái độ đối với dân Cán bộ trước hết phải yêu dân, tin dân, hết lòng phục vụ nhân dân, chiến đấu vì độc lập, tự do, vì hạnh phúc của nhân dân và làm cho ai cũng có cơ ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Điều này được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rất nhiều lần Trong bài báo “Chính phủ là công bộc của dân”, Người viết: “Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: chính phủ là công bộc của dân vậy Các công việc của chính phủ

là nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người Cho nên chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy” [34, tr.21]

Để căn dặn cán bộ các cấp phải một lòng một dạ vì dân, trong bức thư

“Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”, Người viết: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhưng nếu nước

Trang 27

độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” và Bác căn dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh

Chúng ta phải yêu dân, thì dân mới yêu ta, kính ta” [34, tr.64-65]

“Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý” [34, tr.52]

Muốn thực hiện được nghĩa vụ cao cả như trên với dân thì Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải lấy dân làm “gốc”, phải gần gũi nhân dân, hòa cùng nhân dân, không được tự tách ra khỏi dân, không được đặt mình cao hơn dân Cán bộ cũng từ nơi quần chúng ra, vì vậy cần trở lại nơi quần chúng để gần gũi, hòa cùng nhân dân thì mới hiểu được dân, đồng cảm với dân, nắm được tâm tư tình cảm của dân Hòa cùng nhân dân còn để giác ngộ, lãnh đạo nhân dân, thúc đẩy

xã hội phát triển theo chiều hướng có lợi cho nhân dân

Người căn dặn cán bộ: “Phải làm cho dân yêu, dân phục, dân tin” [35, tr.264]; phải coi đó là cội nguồn của thắng lợi:

“Gốc có vững cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [35, tr.502]

Đó là một sự tổng kết mang tính chân lý về mối quan hệ giữa nước với dân, mà cầu nối giữa nước với dân chính là cán bộ Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng ''điều chủ chốt nhất'' của đạo đức cán bộ là “trung với nước, hiếu với dân”, hơn nữa phải là “tận trung, tận hiếu” thì mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân Tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân mà còn phải phục vụ hết lòng vì dân Đối với cán bộ lãnh đạo, phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, phải thường xuyên quan tâm đến việc

Trang 28

cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước Có như vậy người lãnh đạo mới được dân tin yêu, quý mến, kính trọng

Chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân” theo Hồ Chí Minh cũng chính là giá trị tư tưởng “ái quốc, ái dân” Khi nước mất, nhà tan thì mọi người có tinh thần yêu nước, có tinh thần dân tộc phải tìm đường cứu nước, cứu dân Khi có nền độc lập dân tộc, khi đất nước bị lâm nguy, phải quyết tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu mực trong thực hành chuẩn mực đạo đức “trung với nước, hiếu với dân” Người ra đi tìm đường cứu nước không phải để vinh thân, phì gia mà là để cứu nước, cứu dân Cuộc đời hoạt động cách mạng của người là cả quá trình đấu tranh, cống hiến cho Đảng, cho cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân

Chuẩn mực đạo đức “trung với nước, hiếu với dân” đã được Hồ Chí Minh phát triển lên một chất lượng mới, một tầm cao mới với phạm vị rộng lớn và sâu sắc, đồng thời đó cũng trở thành chuẩn mực đạo đức bao trùm và cao nhất trong thời đại ngày nay

1.2.2 Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư

Nếu phẩm chất “Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất cơ bản, bao trùm, thì “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng, là biểu hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân” Phẩm chất này gắn với mọi hoạt động hàng ngày của mọi người, gắn chặt giữa nói và làm, giữa suy nghĩ và hành động Chuẩn mực: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” được Hồ Chí Minh xem là chuẩn mực trung tâm, là yếu tố quan trọng nhất để trở “thành người”

Ngay từ những bài giảng về “Đường kách mệnh” năm 1925 cho lớp cán

bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, bài đầu tiên của Hồ Chí Minh là “Tư cách một người cách mạng” với những lời đầu tiên là: “Tự mình phải: Cần kiệm”, “Vị công vong tư”, “Nói thì phải làm” Người mong mỏi tha thiết mỗi

Trang 29

người Việt Nam, nhất là cán bộ phải lấy “Cần, kiệm, liêm, chính” làm phương châm sống trong cuộc sống mới

Đến khi cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã vạch rõ sáu nhiệm

vụ cấp bách của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ở nhiệm vụ thứ tư, Người viết: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” [34, tr.7]

Không phải tất cả mọi người cán bộ đều thấm nhuần và thực hiện đúng

“Cần, kiệm, liêm, chính” Có người vẫn cho “cần, kiệm, liêm, chính” là đạo đức

cũ từ thời phong kiến Hoặc “cần, kiệm” chỉ là lấy cần cù bù khả năng, hay ngày xưa vì nghèo đói nên mới phải cần, kiệm… Để chỉnh đốn lối suy nghĩ ấy, để cho mọi người đều hiểu rõ, đều thực hành được, Hồ Chí Minh tiếp tục sử dụng những

từ nói về đạo đức rất quen thuộc với nhân dân từ lâu đời, đưa vào đó những nội dung mới Ở Hồ Chí Minh đạo đức truyền thống đã được nâng lên một tầm cao mới, rất gần gũi với tâm hồn và cốt cách người Viêt Nam, nhất là đối với cán bộ, đảng viên

Trong bài viết “Cần, kiệm, liêm, chính” đăng trên báo Cứu Quốc ngày

30-5, 31-30-5, 1-6 và 2-6 năm 1949, ngay ở phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những vấn đề trên trong tương quan với các quy luật của tự nhiên và xã hội bằng 6 câu thơ như sau:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người” [36, tr.117] Qua đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao 4 đức tính trên như điều kiện cần đối với mỗi người trong đời sống và hoạt động xã hội Nếu là người cán

bộ thì 4 đức tính ấy lại càng phải quán triệt và hành động triệt để hơn, có hiệu quả hơn, nghiêm minh hơn

Trang 30

Nội dung của 4 đức tính trên thật giản dị, dễ hiểu, dễ thuộc Người phân tích kỹ nội dung của từng đức tính

Theo Hồ Chí Minh, “cần” tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai

“Siêng học tập thì mau biết Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến Siêng làm thì nhất định thành công” [36, tr.118] Chữ “cần” không chỉ có nghĩa hẹp là tay siêng làm thì hàm siêng nhai mà nó có nghĩa rộng là tất cả mọi người đều phải

“cần”, cả nước đều phải “cần” “Người siêng năng thì mau tiến bộ Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu” [36, tr.118] Muốn cho chữ “cần” có nhiều kết quả thì phải

có kế hoạch cho mọi công việc, tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng, phải xem điều gì nên làm trước, điều gì nên làm sau Vậy, siêng năng và có kế hoạch phải

đi đôi với nhau Kế hoạch lại đi đối với phân công và phải phân công cho khéo Mục đích là để việc gì gấp thì làm trước, việc gì hoãn thì làm sau và để sử dụng nhân tài, người nào có năng lực làm việc gì thì đặt vào việc ấy “Cần” và chuyên phải đi đôi với nhau Chuyên là dẻo dai, bền bỉ Không thể chỉ hôm nay “cần”, mai không “cần” thì cũng vô ích, cũng không phải “cần” là cố gắng hết sức làm một việc cho xong rồi vì thế mà mắc bệnh, không làm việc được nữa “Cần” phải được tiến hành thường xuyên, đều đặn, bền bỉ Có như vậy công việc được giao mới được tiến hành và đạt kết quả như mong muốn Và lười biếng là kẻ địch của chữ “cần”, là kẻ địch của dân tộc Tóm lại, theo Bác: “Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời Nhưng không làm quá trớn Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài [36, tr.120]

“Kiệm” là thế nào? “Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi CẦN với KIỆM phải đi đôi với nhau như hai chân của con người” [36, tr.122] “Cần” mà không “kiệm” thì làm chừng nào xào chừng ấy, cũng như cái thùng không đáy “Kiệm” mà không “cần” thì không tăng thêm, không phát triển được, sẽ khô kiệt

Thời giờ cũng cần tiết kiệm như của cải Vì thời giờ đã đi qua rồi thì không kéo nó lại được Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ

Trang 31

của người “Thời giờ tức là tiền bạc Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ Thì

ai đưa thời giờ vứt đi là người ngu dại” [36, tr.123] Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn Việc không nên tiêu xài thì một xu cũng không nên tiêu Việc đáng làm,

có ích có lợi cho đồng bào, Tổ quốc thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ Việc đáng làm một giờ mà kéo dài hai, ba giờ là xa xỉ Hao phí giấy bút, vật liệu là xa xỉ Ăn sung, mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ Ăn không ngồi rồi trong lúc cần kháng chiến là xa xỉ Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào Cho nên, phải khéo để tổ chức tiết kiệm sức lực, thời giờ, vật liệu Nếu toàn dân thi đua cần, kiệm: các cơ quan tiết kiệm ngân quỹ, chiến sĩ tiết kiệm súng đạn, công nhân tiết kiệm nguyên liệu, học sinh tiết kiệm giấy bút, mỗi người tiết kiệm thời giờ thì nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới

“Liêm” là trong sạch, không tham lam Ngày xưa, những người làm quan không đục khoét dân thì gọi là “liêm”, chữ “liêm” ấy chỉ có nghĩa hẹp Ngày nay, chữ “liêm” có nghĩa rộng hơn, là mọi người đều phải “liêm” Chữ “liêm” luôn đi đôi với “kiệm” Có “kiệm” mới “liêm” được Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam

“Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu, chợ đen chợ

đỏ, tích chữ đầu cơ Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp đầu bóp họng đồng bào… Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị Gặp việc phải,

mà sợ khó nhọc nguy hiểm không giám làm… Đều là trái với chữ LIÊM” [36, tr.126-127] Bất liêm tức là trộm cắp Cụ Khổng Tử nói: Người mà không liêm, không bằng súc vật Cụ Mạnh Tử nói: Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy Do đó,

để thực hiện được chữ “liêm” cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền

mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp dĩ công vi tư

Vì vậy, cán bộ phải thực hiện chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân” [36,

Trang 32

tr.127] Một người cán bộ “liêm” tức là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa Họ chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ

Người căn dặn rằng, những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài hoặc xoay tiền của Chính phủ, đục khoét của nhân dân… Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu Người kết luận: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu

về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ” [36, tr.128]

“Chính” là gì? “Chính là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn” [36, tr.129] “Cần, kiệm, liêm” là gốc rễ của “chính” Một người phải “cần, kiệm, liêm”, nhưng phải “chính” mới là người hoàn toàn Về chữ “chính”, Người căn dặn: “Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư lợi, hoặc tư thù, tư oán Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc Chớ vì bà con, bè bạn mà kéo vào chức nọ, chức kia Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào Chớ lên mặt quan cách mệnh” [35, tr.123]

Theo Hồ Chí Minh, trên quả đất có hai loại người là người thiện và người

ác Trong xã hội chia ra hai loại việc là việc chính và việc tà Làm việc chính là người thiện Làm việc tà là người ác Người nói: “Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác” [36, tr.129] Chữ chính thể hiện trong từng mối quan hệ cụ thể: mình đối với mình, mình đối với người, mình đối với công việc

Trước hết, đối với mình: “Chớ tự kiêu, tự đại Tự kiêu tự đại là khờ dại

Vì mình hay, cò nhiều người hay hơn mình Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình Tự kiêu, tự đại là thoái bộ” [36, tr.129-130] Phải luôn luôn cầu tiến bộ, tiến bộ không giới hạn, luôn tự kiểm điểm phê bình, đồng thời hoan nghênh người khác phê bình mình Cụ Khổng Tử nói rằng: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ Tự mình phải chính trước, mới giúp

Trang 33

được người khác chính Nếu mình không chính, mà muốn người khác chính là vô

Đối với người: Theo nghĩa hẹp, chữ người là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng hơn là cả loài người Trừ bọn Việt gian bán nước, bọn thực dân xâm lược là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, còn đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ Bác nói: “Chớ nịnh hót người trên Chớ xem khinh người dưới Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà, đoàn kết Phải học người và giúp người tiến tới Phải thực hành chữ Bác – Ái” [36, tr.131]

Đối với việc: “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm” [36, tr.131] Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, có kế hoạch, phải cẩn thận và quyết làm cho thành công Việc thiện thì nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh Làm việc gì cũng phải xét xem

có lợi cho nước không, nếu có lợi cho mình nhưng có hại cho nước thì kiên quyết không làm

Trên cái nền của các khái niệm cũ rất quen thuộc, Hồ Chí Minh đã đưa vào những nội dung đạo đức mới làm cho các khái niệm Cần, Kiệm, Liêm, Chính trở nên vừa bình dị, dân dã, lại vừa ý tứ, sâu sắc, có tác dụng thức tỉnh tinh thần tự giác của mọi người, nhất là cán bộ Đọc “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác thì ai cũng có thể hiểu, hiểu rồi thì sẽ tiến đến suy nghĩ và hành động đúng Người khẳng định: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới Nghĩa

là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng Nếu không thực hành bốn điều

đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời” [35, tr.240]

“Chí công vô tư” cũng là cốt lõi của người cán bộ “Chí công vô tư” là một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân, không tham danh vọng, địa vị, không nề hà khó khăn gian khổ, sẵn sàng xả thân vì nghĩa tử cao đẹp “Chí công

vô tư” là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân Có “chí công vô tư” thì lòng dạ cán bộ mới trong trẻo, đầu óc sáng suốt để chăm làm những việc ích nước lợi dân

Trang 34

Tóm lại, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là một trong những phẩm chất cơ bản của người cán bộ cách mạng Theo Hồ Chí Minh, tất cả mọi người cần phải rèn luyện những đức tính này nhưng trước hết người cán bộ phải gương mẫu rèn luyện để nhân dân học tập và noi theo Những đức tính này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Một người cán bộ cần cù, chịu khó sẽ biết quý trọng thành quả lao động của mình, của nhân dân và sẽ biết tiết kiệm Hay một người cán bộ liêm khiết, thanh cao, không màng danh lợi thì ắt sẽ ngay thẳng, không có gì phải dấu Đảng và nhân dân Và một khi người cán bộ đã có đủ "Cần, kiệm, liêm, chính” thì tự nhiên sẽ dẫn đến “chí công vô tư”

1.2.3 Nhân, nghĩa, trí, dũng

Đạo đức cách mạng, nhất là đạo đức cán bộ theo Hồ Chí Minh còn bao gồm cả các tính tốt: Nhân, nghĩa, trí, dũng Các đức tính này cũng được Người nhắc đến nhiều lần trong các bài viết, bài nói chuyện để răn dạy cán bộ phải thường xuyên trau dồi

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào” [35, tr.291] Khi nói chuyện tại hội nghị quân sự lần thứ năm, Bác nói: “Nhân là phải thương yêu cấp dưới, đồng cam cộng khổ với họ Đối với địch hàng, ta phải khoan dung” [35, tr.594] Như vậy, theo Hồ Chí Minh, chữ “nhân” thể hiện ở người cán bộ là lòng yêu thương,

mà trước hết là yêu thương đồng chí, đồng bào, yêu thương cấp dưới của mình, kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân và phải có lòng khoan dung, tha thứ Vì thế mà cán bộ sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền

“Nghĩa” là “ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không việc

gì phải dấu Đảng, tất cả vì lợi ích của Đảng” [35, tr.292] Ngoài lợi ích của Đảng thì cán bộ, đảng viên không có lợi ích riêng phải lo toan Đảng giao cho bất kỳ việc gì, dù to hay nhỏ đều ra sức làm cẩn thận Thấy việc phải thì làm, thấy việc

Trang 35

phải thì nói Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn

“Trí” là “sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh” [35, tr.259] Vì không có việc tư túi làm mù quáng cho nên đầu óc luôn trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng Người cán bộ phải có trí để phân biệt phải – trái, đúng – sai, biết làm việc lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian

“Dũng” là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy có khuyết điểm thì có gan sửa chữa, cực khổ khó khăn thì có gan chịu đựng, có gan chống lại những vinh hoa, phú quý, không chính đáng Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát Người dẫn chứng ra nhiều tấm gương về các đồng chí trong thời kỳ hoạt động bí mật và trong thời kỳ kháng chiến đã giữ vững khí tiết, trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng, chấp nhận hy sinh

cả tính mạng của mình, thậm chí hy sinh cả lợi ích của gia đình mình Các đồng chí ấy không đòi hỏi, kể công mà chấp nhận hy sinh với một tinh thần chí công vô tư

Với các khái niệm “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng” được sử dụng phổ biến trong quan niệm về đạo đức của người quân tử trong Nho giáo, Hồ Chí Minh đã khéo léo đưa vào đó các nội dung đạo đức cách mạng và giải thích nó theo quan điểm mới Ở đây, các mối quan hệ lợi ích đã khác xưa Nếu như trước kia, trong thời phong kiến thì tất cả là để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, cho tầng lớp quan lại, thì giờ đây trong chế độ dân chủ cộng hòa tất cả vì lợi ích chung của dân tộc, của nhân dân

1.2.4 Tinh thần yêu lao động, nỗ lực học tập, cầu tiến bộ

Lao động chính là điểm cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật Bằng lao động, con người cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội để đáp ứng những nhu cầu về mọi mặt của đời sống và cũng chính bằng lao động

mà con người đã sáng tạo ra văn minh nhân loại Hồ Chí Minh đã dạy rằng, lao động là vẻ vang Dù chúng ta làm việc gì, dù là rửa bát, quét nhà hay là chủ tịch,

Trang 36

miễn là lao động chân chính thì đều vinh quang Do đó, yêu lao động và lao động sáng tạo là một trong những chuẩn mực đạo đức cách mạng cơ bản Người cán

bộ phải gương mẫu trong lao động, phải đem hết sức lực và trí tuệ cho lao động của mình và của tập thể để đạt được năng xuất lao động ngày càng cao, góp phần cho công cuộc kháng chiến kiến quốc cũng như xây dựng nước nhà văn minh, giàu đẹp

Không chỉ yêu lao động, người cán bộ còn phải nỗ lực học tập, cầu tiến

bộ Hồ Chí Minh chỉ rõ, tiến lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ Để cách mạng thành công, để xây dựng chủ nghĩa xã hội cần có những con người cách mạng sẵn sàng lao động quên mình, kiên quyết đấu tranh với những

kẻ có âm mưu chống phá cách mạng Hồ Chí Minh chỉ ra ba loại địch: thứ nhất là chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc; thứ hai là thói quen và truyền thống lạc hậu Đây cũng là kẻ địch to vì nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ; thứ ba là chủ nghĩa cá nhân Kẻ thù này nó ẩn nấp trong mỗi người chúng ta, là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia

Muốn chiến thắng các loại kẻ thù trên, người cán bộ phải ra sức học tập để

có tri thức, để vững vàng vượt qua mọi thử thách cam go Đó là học tập lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ nhận thức, để giữ vững lập trường, kiên định mục tiêu và lý tưởng Học tập các nghị quyết, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để từ đó có quan điểm chỉ đạo đúng đắn trong quá trình tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ cụ thể

Hồ Chí Minh nêu lên tính quy luật: Người chăm học thì mau hiểu biết, người siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến Cán bộ, đảng viên là những người lãnh đạo nhân dân phải là những người hiểu sâu biết rộng, luôn luôn tìm tòi và có những sáng kiến mới để dẫn dắt phong trào, lãnh đạo nhân dân Do đó, người cán

bộ phải say mê học tập, phải tự nguyện, tự giác, coi học tập là việc thường xuyên

và cũng là một nhiệm vụ quan trọng Đúng như V.I.Lênin đã dạy: “Học, học nữa, học mãi” Đồng thời mỗi người cán bộ phải xác định rõ động cơ học tập như lời

Trang 37

Bác Hồ đã ghi ở trang đầu quyển sổ vàng truyền thống của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương:

“Học để làm việc,

làm người,

làm cán bộ

Học để phụng sự Đoàn thể

phụng sự giai cấp và nhân dân,

phụng sự Tổ quốc và nhân loại

Muốn đạt được mục đích, thì phải

cần, kiệm, liêm, chính

chí công vô tư” [36, tr.208]

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện

và học tập, Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của việc học: “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn

Học để tin tưởng: Tin tưởng vào Đoàn thể

Tin tưởng vào nhân dân

Tin tưởng vào tương lai của dân tộc

Tin tưởng vào tương lai của cách mạng

Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh” [36,tr 360-361]

Theo Lênin, chúng ta chỉ có thể xây dựng một xã hội mới trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, mà nếu không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa xã hội cũng chỉ là ước vọng mà thôi Sau khi giành được chính quyền, Việt Nam ở trong tình thế hết sức khó khăn: kinh tế lạc hậu, trình độ dân trí thấp, số dân mù chữ nhiều,

cơ sở vật chất kĩ thuật bị tàn phá nặng nề… Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực lao động, học tập của tất cả mọi người dân, nhất là người cán bộ Vì cán bộ cùng với Đảng lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc nên cán bộ phải là những người có kiến thức, có hiểu biết, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước

Trang 38

để hoàn thành tốt nhiệm vụ và đồng thời đem những kiến thức ấy phổ biến cho nhân dân Do đó, theo Hồ Chí Minh, người cán bộ chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng ngời về tinh thần học tập bền bỉ và khiêm tốn học hỏi Khi nói chuyện với đảng viên, Bác phê phán đảng viên mới 40 tuổi mà đã cho là mình già nên ít chịu học tập và nói rõ là mình

76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm rồi kêu gọi chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời Hồ Chí Minh đã dẫn ra câu nói của Lênin để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản” [54, tr.138]

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, thời đại bùng nổ thông tin và cơ chế kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi các nước phải mở cửa hội nhập thì yêu cầu học tập, nghiên cứu đối với người cán bộ, nhất

là cán bộ lãnh đạo, quản lý càng trở nên cấp thiết Người cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, muốn làm tròn vai trò lãnh đạo thì nhất định phải chăm chỉ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, tìm mọi cách để nắm bắt thông tin, tri thức mới Người nào lười học, lười đọc, lười suy nghĩ, chỉ bằng lòng với những

gì mình đã có, bằng lòng với kinh nghiệm của bản thân thì sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ, tụt hậu

1.2.5 Tinh thần quốc tế trong sáng

Trong nền tảng đạo đức cách mạng thì tinh thần quốc tế trong sáng cũng

là phẩm chất, là yêu cầu đạo đức của mỗi người cán bộ trong mối quan hệ rộng lớn, vượt qua phạm vi quốc gia, dân tộc

Tinh thần quốc tế trong sáng, đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản,

đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người tiến bộ trên toàn thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ

xã hội Tinh thần này được Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun đắp bằng hoạt

động cách mạng thực tiễn của bản thân và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc

Trang 39

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản Thực tế sinh động đã giúp Người đồng cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có người nghèo như ở xứ mình, dù ở các nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn bởi chủ nghĩa thực dân tàn ác Trong bài “Đoàn kết giai cấp” viết tháng 5 năm 1924, Người kết luận: “Dù màu

da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [31, tr.287] Kết luận này cho thấy nhận thức của Hồ Chí Minh về

ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã từ tầm nhìn quốc gia tới tầm nhìn quốc tế Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế giới, luôn gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế

Tinh thần quốc tế trong sáng còn là vì mục tiêu chung “Bốn phương vô sản đều là anh em” Ngay từ năm 1921, Người khẳng định thực dân đế quốc là

kẻ thù của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc Bởi vậy, để chống lại kẻ thù chung, đạt tới mục tiêu giải phóng thân phận

nô lệ và bị bóc lột, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh chặt chẽ nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc Điểm mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước thuộc địa, mà còn thống trị nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc Người đã ví chủ nghĩa đế quốc giống như “con đỉa hai vòi” Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa Muốn giết con vật ấy, phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu và vòi bị cắt tiếp tục mọc ra Vì thế, nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản, đánh đổ chúng là nhiệm vụ của cả nhân dân lao động chính quốc và thuộc địa Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực lượng nói trên

Trang 40

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản trong sáng Trong bài “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế” (1953), Người đã nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới” [38, tr.273] Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Những khuynh hướng sai lệch

ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay một liên bang đa quốc gia dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu, đối địch Do tình hình và nhiệm vụ cụ thể của mỗi đảng, mỗi dân tộc, sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh của mỗi nước, sự lớn mạnh hay suy yếu của mỗi đảng, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc… mà sự bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, việc mất đoàn kết giữa một số đảng ở một số nước xã hội chủ nghĩa là điều khó tránh khỏi Hậu quả của việc chia rẽ gây nhiều tổn thất nặng nề Sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa

xã hội ở Liên xô và Đông Âu, một mặt là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức, mặt khác là do sự chia rẽ, xung đột trong phong trào cộng sản quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa

Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được hậu quả của sự chia rẽ, mất đoàn kết này Trong “Di chúc”, Người viết: “Là một người suốt đời phụ vụ cho cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản…” [45, tr.623]

Có thể nói tinh thần quốc tế trong sáng trong đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tình thương yêu đối với con người; vì mục tiêu giải phóng các dân tộc

Ngày đăng: 05/04/2020, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w