1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

104 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 112,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện về chủ thể khởi kiệnquyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệulưc pháp luật gửi kèm theo đơn khởi kiện Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Huyền

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIÊṆ VỤ ÁN

nhiêṃ bao đam quyền khơi kiêṇ cua Toa an và các cơ quan ,

̉̉

tổ chức có liên quan

̉̉

sư ̣ViêṭNam vềkhơi kiêṇ vu ̣an dân sư

dân sư ̣môṭsốnươc

Chương 2: KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

Trang 4

2.1.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện

quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệulưc pháp luật

gửi kèm theo đơn khởi kiện

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

án dân sư

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

: Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân tối cao: Tố tụng dân sư

: Ủy ban nhân dân: Vụ án dân sư

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Bộ luật Tố tụng dân sư (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lưc kể từ ngày01/01/2005 BLTTDS được xây dưng trên cơ sở kế thừa và phát triển của baPháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sư năm

1989 (PLTTGQCVADS); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm

1994 (PLTTGQCVAKT); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao độngnăm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) Đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và cóhệ thống các vấn đề về tố tụng dân sư (TTDS) như các nguyên tắc cơ bản trongTTDS; quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng và người tham gia tố tụng; thẩm quyền của Tòa án nhân dân(TAND); trình tư, thủ tục khởi kiện và thụ lý các vụ việc dân sư… Trong quátrình triển khai, áp dụng BLTTDS, Tòa án các cấp đã có rất nhiều nỗ lưc trongviệc áp dụng các quy định pháp luật nói chung và quy định về khởi kiện vụ ándân sư (VADS) nói riêng Tuy nhiên, trong thưc tiễn giải quyết các VADS vẫncòn gặp nhiều vướng mắc, bất cập và có nhiều ý kiến khác nhau trong việc thưchiện các quy định này và chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích mộtcách đầy đủ và thống nhất Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

02/01/2002 của Bộ Chính trị " về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp

trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị

"về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010 định hướng 2020" đều nhấn mạnh việc hoàn thiện pháp luật tố tụng, xác

định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơquan tư pháp, trọng tâm là xây dưng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động củaTAND, bảo đảm các hoạt động tố tụng phải thưc sư dân chủ, nghiêm minh, bảođảm các quyền cơ bản của công dân

Trang 7

Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lưa chọn đề tài "Khởi kiện

vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004" làm đề

tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sau khi BLTTDS được ban hành đã có một số công trình nghiên cứukhoa học pháp lý về vấn đề khởi kiện VADS nhưng các công trình này chỉnghiên cứu về các điều kiện khởi kiện trong mối quan hệ với vấn đề thụ lýVADS hoặc đi sâu nghiên cứu về quyền khởi kiện và các đảm bảo quyền khởi

kiện như luận văn thạc sĩ luật học "Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Liễu Thị Hạnh (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010); luận văn thạc sĩ luật học "Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Trần Đức Thành (Trường Đại học

Luật Hà Nội, 2011)… Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên

ngành về một nội dung nhất định của khởi kiện VADS như bài viết "Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự" của tác giả Lê Thị Bích Lan đăng trên Tạp chí Luật học năm 2005 số đặc san về BLTTDS; bài viết "Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay" của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chí Kiểm sát, số 9/2008); "Bàn về quyền khởi kiện của người đại diện hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự" của tác giả Tào Thị Huệ (Tạp chí TAND, số 5/2010);

"Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng" của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí TAND, số 23/2008)… Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên

cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau và cho đến nayvẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về vấn đềkhởi kiện VADS, đặc biệt theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điềucủa BLTTDS năm 2004 vừa được Quốc hội thông qua ngày 29/3/2011

Trang 8

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận vàthưc tiễn về khởi kiện VADS tại Tòa án, nêu và phân tích những vướng mắc,bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về khởikiện VADS, đồng thời mạnh dạn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện cácquy định pháp luật về chế định này

Nội dung nghiên cứu đề tài tập trung vào việc giải quyết nhiều vấn đềkhác nhau của khởi kiện VADS như khái niệm VADS, khái niệm khởi kiệnVADS, điều kiện khởi kiện VADS, trình tư, thủ tục nhận đơn khởi kiện và mộtsố vấn đề khác có liên quan đến khởi kiện VADS Trong khuôn khổ một luậnvăn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất vềkhởi kiện VADS như khái niệm khởi kiện VADS, ý nghĩa của khởi kiệnVADS, các quy định của BLTTDS về khởi kiện VADS, thưc tiễn thưc hiện vàphương hướng hoàn thiện pháp luật về khởi kiện VADS

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dưa trên cơ sở lý luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cácquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dưngđất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dưngNhà nước pháp quyền

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thưc tiễn,dùng thưc tiễn kiểm chứng lý luận Các phương pháp nghiên cứu khoa họcchuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổnghợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân vềkhởi kiện VADS để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớpCao học Luật dân sư khóa XIV của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

Trang 9

Nội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, ý nghĩa

và cơ sở của khởi kiện VADS, điều kiện khởi kiện VADS, kết hợp với việcnghiên cứu, so sánh pháp luật về khởi kiện VADS của một số nước trên thếgiới để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dưng vàhoàn thiện pháp luật

Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về khởi kiệnVADS trong pháp luật TTDS hiện hành Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâuphân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật TTDS hiện hành về khởi kiệnVADS và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật TTDS về khởi kiện VADS

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sư.

Chương 2: Khởi kiện vụ án dân sư theo pháp luật tố tụng dân sư Việt

Nam hiện hành

Chương 3: Thưc tiễn thưc hiện và phương hướng hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về khởi kiện vụ án dân sư

Trang 10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIÊṆ VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm vụ án dân sự

"Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức thamgia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ phápluật tố tụng dân sư" [53, tr 230] Khởi kiện trước hết là quyền dân sư của cácchủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sưcho mình, cho nhà nước hoặc người khác và là cơ sở để Tòa án xem xét thụlý, giải quyết "Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơquan, tổ chức chính là sư bảo đảm của nhà nước đối với việc thưc hiện cácquyền dân sư của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận" [2, tr 20] Khi yêucầu khởi kiêṇ của cá nhân , cơ quan, tổ chức đáp ứng đầy đủcác điều kiện vềnội dung, về hình thức khởi kiện, tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý và vụ án

dân sư ̣đươc ̣ hinh̀ thành Do đó, khi nghiên cứu , xem xét khái niêṃ khởi kiêṇvụ án dân sư thì phải đặt trong mối liên hệ với khái niệm vụ án dân sư

Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS,PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ tồn tại ba khái niệm VADS, vụ án kinh

tế, vụ án lao động Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồngkinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng kýkinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữacác thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu vàcác tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật Vụ án lao động baogồm các tranh chấp lao động giữa cá nhân giữa người lao động

Trang 11

và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiềnlương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thưc hiện hợp đồng laođộng và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thểngười lao động và người sử dụng lao động về thưc hiện thoả ước lao động tậpthể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn VADS bao gồmnhững tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sư và hôn nhângia đình như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tíchhoặc đã chết

Năm 2004, BLTTDS ra đời, khái niệm VADS đã có sư thay đổi.VADS bao gồm các vụ án về tranh chấp dân sư, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động (gọi chung là VADS) thuộc thẩm quyền giảiquyết của Toà án và có đương sư yêu cầu Toà án giải quyết Theo BLTTDSkhái niệm VADS được mở rộng hơn rất nhiều xét theo phạm vi loại việc, bởingoài những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sư, hôn nhân vàgia đình còn bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật kinhdoanh, thương mại và lao động Tuy vậy, BLTTDS lại thu hẹp về nội dungloại việc bởi VADS chỉ bao gồm những loại việc có tranh chấp

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng "Vụ là việc, sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết" [56, tr 1279]; "Dân sự (civil administration) thuộc việc của dân để phân biệt với việc của quan" [56, tr 36] Theo Đại từ điển Tiếng Việt "Án là vụ việc phải đưa ra xét xử ở Toà" [64, tr 34] "Dân sự

là việc liên quan đến dân nói chung" [64, tr 520] Những việc liên quan đến

dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn nhân giađình, kinh tế, lao động Trong các mối quan hệ này khi các bên trong quan hệ

có mâu thuẫn, rắc rối, không thống nhất được ý kiến với nhau về quyền và lợiích được gọi là xảy ra tranh chấp Tranh chấp là sư giành giật, mâu thuẫn, bấtđồng ý kiến về quyền và lợi ích giữa các chủ thể Như vậy có thể hiểu VADS

là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến dân và phải đưa ra

Trang 12

xét xử ở Toà án Dưới góc độ pháp luật, vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được đưa ra Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS Trong luận

văn tác giả đề cập đến khái niệm VADS theo nghĩa này

Đặc trưng của VADS là có sư tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữahai bên hay nhiều bên đương sư trong mối quan hệ pháp luật Trong quan hệ

đó một bên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo về quyền và lợi ích hợppháp của mình, yêu cầu bên kia phải thưc hiện nghĩa vụ là làm một việc hoặckhông được làm một việc Nghĩa vụ này phát sinh từ những quan hệ dân sư,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được pháp luật bảovệ Yếu tố tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu để xác định có

là VADS hay không Và đây cũng chính là yếu tổ để phân biệt giữa VADS vàviệc dân sư "Trong vụ án dân sư ta có thể xác định được các bên là nguyênđơn (người có đơn khởi kiện); bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quannhưng trong việc dân sư vì không có tranh chấp nên chỉ xác định được bênyêu cầu còn bên kia có thể xác định hoặc không xác định" [52, tr 5] Thờihiệu khởi kiện VADS là 2 năm trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân

sư là một năm và thời hạn chuẩn bị xét xử VADS dài hơn thời hạn giải quyếtviệc dân sư Do thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sư cónhững khác nhau cơ bản nên khi nhận đơn khởi kiện Toà án phải xác địnhngay đó là VADS hay việc dân sư để thụ lý giải quyết đúng thủ tục

1.1.1.2 Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự

Trong sư phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thìviệc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng phápluật của nhà nước và được bảo đảm thưc hiện thông qua các thiết chế do Nhànước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được phápluật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm

Trang 13

phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việt Nam, Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" [18] Trong đó, quyền dân sư có ý

nghĩa rất quan trọng, cá nhân, tổ chức được thưc hiện các hành vi theo quyđịnh của pháp luật nhằm thoả mãn lợi ích của mình như lao động, sản xuấtkinh doanh để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xãhội tham gia vào các giao dịch dân sư v.v Điều 9 Bộ luật Dân sư (BLDS)năm 2005 quy định, tất cả các quyền dân sư của cá nhân, pháp nhân, chủ thểkhác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sư của một chủthể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tư bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sư của mình; buộc chấm dứt hành

vivi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thưc hiện nghĩa vụ dân sư;buộc bồi thường thiệt hại

Như vậy, quyền khởi kiện trước hết là một quyền dân sư Khi quyền vàlợi ích dân sư của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ

có quyền thưc hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và mộttrong những biện pháp đó chính là khởi kiện vụ án Pháp luật TTDS quy địnhđiều kiện, phương thức khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và trongtrường hợp này quyền khởi kiện VADS được xem xét như một quyền tố tụng Do

đó, dưới góc độ tố tụng quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, cơquan, tổ chức theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Toà án bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân

sư, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Để cụ thể quy định của Hiến pháp, Điều 4 và Điều 5 BLTTDS quyđịnh, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VADS tại Toà án có thẩm

Trang 14

quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc củangười khác Việc thưc hiện quyền khởi kiện của đương sư phải tuân theo quyđịnh của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, năng lưc chủ thể, thẩm quyền củaToà án Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có quyền và lợi ích

bị xâm phạm có quyền tư định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Toàán yêu cầu bảo vệ Việc khởi kiện được thưc hiện bằng hình thức nộp đơnkhởi kiện tại Toà án có thẩm quyền Về nguyên tắc chỉ có cá nhân, cơ quan, tổchức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạmmới có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình Bêncạnh đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một sốtrường hợp đặc biệt Điều 162 BLTTDS nước ta quy định:

Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữtrong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụán về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và giađình quy định Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởikiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định Cơ quan, tổchức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiệnvụ án dân sư để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích củaNhà nước thuộc lĩnh vưc mình phụ trách [24]

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam các đương sư hoàntoàn tư do lưa chọn các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình Nhà nướcchính thức xác nhận quyền khởi kiện VADS của các cá nhân, cơ quan, tổ chứcyêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Pháp luật cũng ghinhận các chủ thể khác như Hội liên hiệp phụ nữ, tổ chức công đoàn cóquyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích của người khác Viêc ̣thưc ̣ hiêṇ quyền này của các chủthểđươc ̣ goịlàkhởi kiêṇ vu ̣án dân sư Theonghĩa hẹp, khởi kiện được hiểu là việc nguyên đơn hoặc người đại diện của

Trang 15

nguyên đơn, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải

quyết VADS để bảo vê ̣quyền, lơị ich́ hơp ̣ pháp của minh̀, của người khác haybảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Theo nghĩa rộng, khởi kiệncòn bao gồm cả việc bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩavụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, bởi yêu cầu phản tố chính là việc bị đơnkiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ phápluật mà nguyên đơn đã kiện bị đơn và yêu cầu độc lập chính là việc người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan kiện nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích củamình Luận văn nghiên cứu về khởi kiện theo nghĩa rộng

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, khởi kiêṇ vu ̣án dân sư ̣là viêc ̣ cá nhân, cơ quan, tổchức hoăc ̣ các chủthểkhác theo quy đinḥ của pháp luâṭ tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầ u Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự

để bảo vệ quyền , lơị ích hơp ̣ pháp của mình , của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.

1.1.2 Ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện là phương thức bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích dân sư trên cơsở quyề n tưđi nḥ đoaṭc ủa các c hủthể The o đó, khởi kiê ṇ làphương t hức để các chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để t ư bảo vệ các quyề n dân s ư

của mình, tránh nguy cơ bị x âm phaṃ như đòi bồi thường thiêṭhaịvềtài sản , sức khỏe, khởi kiêṇ yêu cầu thưc ̣ hiêṇ đúng hơp ̣ đồng , khởi kiêṇ đểyêu cầuchấm dưt hanh vi can trơ trai phap luâṭđối vơi viêc ̣ thưc ̣ hiêṇ quyền dân sư

̉́ ̀

Đểngăn chăṇ ki p ̣ thơi hâụ qua cua hanh vi vi phaṃ

quyền yêu cầu Tòa án áp dung ̣ ngay biêṇ pháp khẩn cấp taṃ thời cùng lúc vớiviêc ̣ nôp ̣ đơn khởi kiêṇ Từ việc khởi kiêṇ, các cơ quan tố tụng sẽ có hành đông ̣ can thiêp ̣ kip ̣ thời để bảo vệ quyền vàlơị ich́ hơp ̣ pháp của các chủ thể,thiêṭhaịsơm đươc ̣ khắc phuc ̣ , ngăn chăṇ va chấm dưt hanh vi trai phap luâṭ

̉́

và sớm khôi phục lại mối quan hệ thiện chí

trong đời sống dân sư ̣

Trang 16

Khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư ̣làhành vi đầu tiờn của cánhõn , pháp nhõn và cácchủ thờ̉ khác tham gia vào quan hợ̀ pháp luật tụ́ tụng dõn sư , là cơ sở pháp lýlàm phát sinh quan hợ̀ pháp luật tụ́ tụng dõn sư Khụng cúhoaṭđụng ̣ khởi

kiờṇ thỡcũng khụng cúquátrinh̀ tụ́tung ̣ dõn sư ̣cho các giai đoaṇ tiếp theo Tũa chỉ thụ lý giải quyết vụ án dõn sư khi cú đơn khởi kiợ̀n của các chủ thờ̉ đáp ứng đủ các điều kiợ̀n do pháp luật quy định Khi người khởi kiợ̀n thưc hiợ̀n quyền khởi kiợ̀n của mỡnh bằng viợ̀c nộp đơn khởi kiợ̀n cho Toà án cú thẩm quyền, Toà án cú trách nhiợ̀m nhận đơn, vào sổ theo dừi đờ̉ xem xột giải quyết Toà sẽ phải xem xột viợ̀c khởi kiợ̀n cú đáp ứng đủ các điều kiợ̀n do pháp luật như: Tư cách pháp lý của người khởi kiợ̀n; người khởi kiợ̀n cú năng lưc hành vi TTDS, cú quyền và lợi ớch hợp pháp bị xõm phạm hay đang tranh chấp khụng, trong trường hợp người đại diợ̀n khởi kiợ̀n thỡ phải tuõn thủ các quy định về đại diợ̀n; nội dung đương sư yờu cầu giải quyết cú thuộc thẩm quyền giải quyết của Tũa án mỡnh khụng; đơn khởi kiợ̀n cú nộp trong thời hiợ̀u khởi kiợ̀n khụng và sư viợ̀c đó được giải quyết bằng án, quyết định đó cú hiợ̀u lưc chưa Khi viợ̀c khởi kiợ̀n đáp ứng được các yờu cầu thỡ Toà án tiến hành thụ lý VADS Trong trường hợp người khởi kiợ̀n phải nộp tiền tạm ứng phớ thỡ Toà án sẽ thụng báo đờ̉ họ biết và đi nộp tiền tạm ứng án phớ Sau khi nhận được biờn lai thu tiền tạm ứng án phớ do đương sư nộp, Toà án sẽ vào sổ

thụ lý vụ án đờ̉ giải quyết Như vậy, khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư ̣làcơ sở , tiền đề đờ̉ Tũa án nhõn danh nhànước giải quyết các vu ̣án dõn sư Các phán quyếtcủa Tũa án buộc các cá nhõn , cơ quan, tổ chức cú liờn quan tụn trọng và triợ̀tđờ̉ thi hành nờn viờc ̣ thưc ̣ hiờṇ quyền khởi kiờṇ se ̃bảo đảm cho viợ̀c bảo vợ̀ cúhiợ̀u quả quyền vàlơị ich́ hơp ̣ pháp của các chủthờ̉

Bằng hoạt động xét xử, tòa án góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao đối với nhân dân và một môi tr-ờng pháp lý an toàn, trong đó các quyền công

Trang 17

11

Trang 18

mọi ng-ời tôn trọng, những ng-ời có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Có nh- vậy kỷ c-ơng phép n-ớc mới đ-ợc tôn trọng và đề cao Đồng thời, thông qua phiên tòa công khai và bản án có căn cứ thuyết phục không những có tác dụng tốt đối với bản thân đ-ơng sự mà còn có giá trị giáo dục rộng rãi trong xã hội Với ng-ời thật, việc thật đ-ợc bản án kết luận chính xác, khách quan, nó dễ

đi vào lòng ng-ời và dễ đ-ợc nhân dân chấp nhận hơn là việc thuyết giáo suông về pháp luật Khi nhân dân đã tin t-ởng vào pháp luật thì pháp luật là chỗ dựa cho họ đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và chính pháp luật

đi vào lòng ng-ời nh- vậy nó trở thành sức mạnh bảo đảm cho pháp luật đ-ợc tôn trọng, pháp chế xã hội chủ nghĩa ngày càng đ-ợc củng cố và tăng c-ờng.

Khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư ̣cũn là cơ sở đờ̉ Tũa án tớnh thời hiợ̀u khởi kiợ̀ncủa chủ thờ̉ cũn hay đó hết Quyền khởi kiờṇ măc ̣ dựlàmụṭquyền dõn sư ̣đươc ̣ phap luõṭghi nhõṇ va đam bao thưc ̣ hiờṇ cho cá nhõn, cơ quan, tổ chức

Viợ̀c ghi nhận quyền khởi kiợ̀n yờu cầu Tũa án bảo vợ̀ quyền, lợi ớchhợp pháp của các chủ thờ̉ và sư bảo đảm của Nhà nước trong viợ̀c thưc hiợ̀nquyền khởi kiợ̀n gúp phần nõng cao ý thức pháp luật của người dõn Thụngqua các quy định của pháp luật về quyền khởi kiợ̀n và khởi kiợ̀n VADS sẽ gúpphần nõng cao ý thức tuõn thủ pháp luật của các chủ thờ̉ tham gia quan hợ̀ dõn

sư, hụn nhõn gia đỡnh, kinh doanh, thương mại, lao động đồng thời cú ý nghĩa

Trang 19

12

Trang 20

1.2 Cơ sở của khởi kiện vụ ỏn dõn sự

Quyền và lợi ích của các chủ thể là một vấn đề quan trọng, là

động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội Trong lĩnh vưc dõn sư, lợi ớch của các bờn được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dõn sư "Tranh chấp pháp lý sẽ khụng thờ̉ xuất hiợ̀n, nếu khụng cú yờu cầu khởi kiợ̀n của các bờn" [65, tr 70] Như vậy, quyền và lợi ớch hợp pháp của cá nhõn, cơ quan, tổ chức là cơ sở đờ̉ các chủ thờ̉ khởi kiợ̀n Các quyền và lợi ớch này cú thờ̉ là các quyền về tài sản hoặc nhõn thõn Khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư

̣chinh́ làcụng cu ̣ pháp lý hữu hiợ̀u đờ̉ bảo vợ̀ các quyền dõn sư của cụng dõn

Cơ sởđờ̉pháp luõṭquy đinḥ khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư ̣xuất phát từ nguyờn tắc quyền dõn sư ̣ của cụng dõn được tụn trọng và bảo vợ̀

Ở Viợ̀t Nam, chương V Hiến pháp năm 1992 về quyền vànghia ̃ vụ cơbản của cụng dõn đó quy định: "Ở nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Viợ̀t Nam,các quyền con người về chớnh trị , dõn sư, ̣kinh tế, văn húa vàxóhụịđươc ̣ tụn

trọng, thờ̉hiờṇ ởcác quyền cụng dõn vàđươc ̣ quy đinḥ trong Hi ến pháp vàluõṭ" [18, Điều 50] Tại Điều 9 Bụ ̣luõṭDõn sư ̣năm 2005 quy đinḥ nguyờn tắc tụn trong ̣, bảo vợ̀ quyền dõn sư:

1 Tất cảcác quyền dõn sư ̣của cánhõn , pháp nhõn, chủ thờ̉ khác được tụn trọng và được pháp luật bảo vờ ̣2 Khi quyền dõn sư ̣ của một chủ thờ̉ bị xõm phạm thỡ chủ thờ̉ đú cú quyền tư bảo vợ̀theo quy đinḥ cua Bụ ̣luõṭnay hoăc ̣ yờu cầu cơ quan

̉̉

thẩm quyền : Cụng nhõṇ quyền dõn sư ̣cua minh ;

hành vi vi phaṃ; Buục ̣ xin lỗi, cải chớnh cụng khai ; Buục ̣ thưc ̣ hiờṇnghĩa vụ dõn sư; Buục ̣ bồi thường thiờṭhaị[26]

Vỡ võỵ, khởi kiờṇ vu ̣án dõn sư ̣chinh́ làcụng cu ̣pháp lýhữu hiờụ đờ̉bảo vợ̀ các quyền quyền dõn sư của cụng dõn trong Bụ ̣luõṭdõn sư ̣vàcác vănbản pháp luật cú liờn quan Cú thờ̉ núi khởi kiợ̀n là "phương thức luật định mởrộng cho hết thảy những ai muụ́n cầu cứu đến cụng lý, đờ̉ xin che chở quyền

lợi bị lõm nguy" [7, tr 43].

Trang 21

Song, đờ̉ khởi kiợ̀n VADS, người khởi kiợ̀n phải chứng minh giữa nguyờn đơn và người bị kiợ̀n trước đú đó tồn tại một quan hợ̀ pháp luật dõn sư mà theo quan hợ̀ pháp luật này nguyờn đơn bị ảnh hưởng, xõm phạm về quyền và lợi ớch Viợ̀c chứng minh được thờ̉ hiợ̀n ở chỗ người khởi kiợ̀n phải xuất trỡnh cho Tũa án tài liợ̀u, chứng cứ đờ̉ chứng minh giữa nguyờn đơn và bị đơn đó tồn tại một quan hợ̀ pháp luật dõn sư thuộc thẩm quyền về dõn sư của Tũa án Chẳng hạn, đối với tranh chấp

về hợp đồng, đương sư phải xuất trỡnh bản hợp đồng do các bên ký kết hoặc giấy tờ xác nhận các bên đã giao kết hợp đồng; các chứng cứ, tài liệu phản

ánh quá trình thực hiện hợp đồng của các bên; các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác Đối với các việc về hôn nhân và gia đình, đương sư phải xuất trỡnh giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; giấy khai sinh của các con; giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản chung của vợ chồng hoặc sở hữu riêng của từng ng-ời; các chứng cứ, tài liệu khác có liên quan.

Người khởi kiợ̀n khụng những cú quyền, lợi ớch bị xõm phạm hay tranhchấp mà họ cũn phải cú tư cách pháp lý Tư cách pháp lý cho phộp người khởikiợ̀n đứng đơn khởi kiợ̀n Thụng thường người khởi kiợ̀n chớnh là nguyờn đơn -người cú quyền, lợi ớch hợp pháp bị xõm phạm hay tranh chấp, nếu họ là người

cú đủ năng lưc hành vi TTDS Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đ-ơng

sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ

tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đ-ơng sự là cá nhân

đ-ợc xác định bởi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ vàbởi tính chất, yêu cầu của việc tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân

sự Thông th-ờng cá nhân chỉ đ-ợc coi là có năng lực hành

vi tố tụng dân sự khi đã từ đủ m-ời tám tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự Đối với những ng-ời ch-a đủ m-ời tám tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đ-ơng sự này tr-ớc toà án phải do ng-ời đại diện hợp pháp của họ thực hiện Tuy vậy, thực tiễn xét xử của các toà án và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định tr-ờng hợp ngoại lệ nh-

Trang 22

tr-ờng hợp ng-ời vợ từ đủ m-ời bảy tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổitrong việc ly hôn hoặc trong tr-ờng hợp đ-ơng sự là ng-ời từ đủ m-ờilăm tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp

đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản của mình v.v

Đối với những tr-ờng hợp này, ng-ời vợ từ đủ m-ời bảy tuổi đến ch-a đủm-ời tám tuổi, ng-ời từ đủ m-ời lăm tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổivẫn đ-ợc coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự về việc ly hôn, việc

có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó

Trong trường hợp này nếu nguyờn đơn khụng muụ́n trưc tiếp khởi kiợ̀nthỡ họ cú thờ̉ ủy quyền cho người khác khởi kiợ̀n thay Viợ̀c ủy quyền phảiđược thưc hiợ̀n bằng văn bản, trong đú nờu rừ nội dung và thời hạn ủy quyền.Tuy nhiờn, nguyờn đơn chỉ được ủy quyền khởi kiợ̀n đụ́i với các tranh chấp vềtài sản Đụ́i với cá nhõn khụng cú năng lưc hành vi TTDS, thỡ người khởi kiợ̀nsẽ là người đại diợ̀n theo pháp luật Đú là, cha, mẹ đụ́i với con chưa thànhniờn; người giám hộ đụ́i với người được giám hộ; người được Toà án chỉ địnhđụ́i với người bị hạn chế năng lưc hành vi dõn sư Đụ́i với cơ quan, tổ chức thỡngười khởi kiợ̀n phải là người đại diợ̀n theo pháp luật của cơ quan tổ chức đú

Đú là, người đứng đầu pháp nhõn theo quy định của điều lợ̀ pháp nhõn hoặcquyết định của cơ quan nhà nước cú thẩm quyền; chủ hộ gia đỡnh đụ́i với hộgia đỡnh; tổ trưởng tổ hợp tác đụ́i với tổ hợp tác

Ngoài ra yờu cầu, vụ viợ̀c được khởi kiợ̀n chưa được giải quyết bằngmột bản án hay quyết định của Tũa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước

cú thẩm quyền đó cú hiợ̀u lưc pháp luật, trừ các trường hợp đặc biợ̀t; viợ̀c khởikiợ̀n của các chủ thờ̉ phải được thưc hiợ̀n đỳng thẩm quyền xột xử về dõn sưcủa Tũa án; đụ́i với một sụ́ loại viợ̀c trước khi khởi kiợ̀n, yờu cầu Tũa án giảiquyết người khởi kiợ̀n, yờu cầu phải yờu cầu các cơ quan, liờn quan, xem xột,giải quyết trước; thời hiợ̀u khởi kiợ̀n, thời hiợ̀u yờu cầu cũn và tuõn thủ cácyờu cầu về hỡnh thức khởi kiợ̀n

Trang 23

nhiêṃ bảo đảm q uyền khởi kiên của T òa án và các cơ quan , tổ chức có liên quan

Theo qui định của Hiến pháp, Nhà nước bảo vệ tất cả các quyền và lợiích hợp pháp của công dân Mỗi khi các quyền và lợi ích bị xâm hại, các côngdân đều có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ Khởi kiện tại Tòa án là một trongnhững phương thức yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền dân sư mang tính khả thi cao

và được nhiều người lưa chọn Theo quy định tại Điều 161 BLTTDS, cá nhân, cơquan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp mỗi khi bị xâm hại hoặc có tranh chấp Song, việckhởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ được Tòa án thụ lý khi đáp ứng đủcác điều kiện do pháp luật quy định Như vậy, khởi kiện VADS là một quyềnđược pháp luật ghi nhận và bảo hộ Tuy nhiên, để quyền này được thưc thi cóhiệu quả trên thưc tế thì một yêu cầu đặt ra là pháp luật phải quy định các điềukiện khởi kiện phù hợp với trình độ nhận thức nói chung và trình độ nhận thứcpháp luật nói riêng của công dân thì họ mới có thể thưc hiện được

Tòa án nhân dân là cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết và xét xử cácVADS, là nơi công dân thưc hiện quyền khởi kiện trên thưc tế theo các quy địnhcủa pháp luật Pháp luật quy định quyền khởi kiện của công dân nhưng để quyềnnày thưc sư có ý nghĩa và được bảo đảm thưc thi thì phải tạo điều kiện cho họthưc hiện tốt quyền này tại Tòa án Nếu các Tòa án coi trọng quyền này và thưchiện nhiệm vụ có trách nhiệm thì công dân sẽ phát huy quyền khởi kiện của mìnhmột cách tối đa và không cảm thấy bị phiền hà, khó dễ khi đến Tòa án thưc hiệnquyền khởi kiện Tòa án, với chức năng nhiệm vụ được giao, sẽ phải bố trí conngười, thời gian và địa điểm để tiếp nhận đơn, hồ sơ khởi kiện của công dân,niêm yết các thủ tục khởi kiện đầy đủ, rõ ràng, hướng dẫn cụ thể, nhiệt tình, cótrách nhiệm cho công dân khi họ đến liên hệ khởi kiện VADS Bên cạnh đó,trong thời hạn pháp luật quy định, thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơkhởi kiện của công dân cần kiểm tra các điều kiện

Trang 24

khởi kiện, đối chiếu với quy định của pháp luật nếu thấy đáp ứng đầy đủ thìphải hướng dẫn họ nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý vụ án ngay Ngược lại,nếu Tòa án không coi trọng quyền khởi kiện của công dân thì sẽ gây khó dễcho họ, khiến cho họ phải đi lại nhiều lần, tốn thời gian và chi phí đi lại choviệc khởi kiện, và như vậy quyền khởi kiện không được đảm bảo trên thưc tế.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm cho cá nhân, tổ chức đượcthưc hiện quyền khởi kiện VADS yêu cầu Toà án bảo vệ khi quyền và lợi íchhợp pháp bị xâm phạm Toà án có trách nhiệm xem xét thụ lý giải quyết hồ sơkhởi kiện của công dân Thụ lý VADS là một bước quan trọng trong quá trìnhToà án giải quyết các tranh chấp dân sư và chính là một sư bảo đảm quyềnkhởi kiện của công dân trên thưc tế Sau khi thụ lý Toà án sẽ phải thưc hiệncác bước để giải quyết vụ án đúng thời hạn, đúng pháp luật; các đương sư sẽthưc hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình Thưc hiệntốt hoạt động nhận đơn khởi kiện và thụ lý sẽ góp phần rất lớn để việc giảiquyết VADS được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Việc Toà ánnhận trách nhiệm giải quyết vụ án góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhândân vào tính nghiêm minh của pháp luật

Trong lĩnh vưc dân sư, đương sư khi đưa ra yêu cầu, khởi kiện, bác bỏyêu cầu của người khác có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh choyêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hay bác bỏ yêu cầu của ngườikhác Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Như vậy,trong TTDS, ai là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sưthì người đó phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minhcho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bởi khi giải quyết vụ việc dân

sư Tòa án đã giải quyết các tranh chấp, yêu cầu liên quan đến lợi ích và mốiquan hệ giữa các đương sư Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh củađương sư được thể hiện trong toàn bộ quá trình TTDS Khi khởi kiện, người

Trang 25

khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện khởi kiện do pháp luật quy định và đểđảm bảo cho việc khởi kiện, yêu cầu của các cá nhân, tổ chức là có căn cứ thìkhi khởi kiện, yêu cầu người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tàiliệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ vàhợp pháp Tức là, ngoài các điều kiện khởi kiện khác, ngay khi nộp đơn khởikiện, yêu cầu, người khởi kiện, yêu cầu phải xuất trình cho Tòa án các tài liệu,chứng cứ để chứng minh mình có quyền khởi kiện đối với một người về mộtquan hệ pháp luật nhất định Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chứng cứ củavụ việc dân sư lại do các cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý Do đó, đểtạo điều kiện cho đương sư có thể thưc hiện quyền khởi kiện của mình thì việcthưc hiện tốt trách nhiệm cung cấp thông tin của các cá nhân, cơ quan, tổ chứclưu giữ, quản lý thông tin là vấn đề rất quan trọng Hiện nay, tình trạng các cánhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp những giấy tờ, tài liệu đang lưu giữcho đương sư làm chứng cứ nhưng lại thường từ chối không trả lời bằng vănbản về việc này mà chỉ trả lời miệng diễn ra khá phổ biến Chính từ điều này

mà các đương sư không có tài liệu xuất trình cho Tòa án nên đơn khởi kiệncủa họ không được Tòa án thụ lý Do đó, để bảo đảm quyền khởi kiện của cácđương sư, cần phải nhanh chóng hiện đại hóa và minh bạch hóa hệ thống đăngký, quản lý tài sản trong phạm vi toàn quốc để tiện lợi cho việc tra cứu, tìmkiếm thông tin Đồng thời, cần quy định cụ thể chế tài áp dụng đối với cánhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đương sư có yêucầu

1.4 Lươc ̣ sưử hinhh̀ thành vàphát triển của pháp luâṭtốtung ̣ dân

sư ̣ViêṭNam vềkhởi kiên vu ̣án dân sư ̣

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới tronglịch sử phát triển đất nước Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủtịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam

Trang 26

dân chủ cộng hoà Bản tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập dân tộc cơbản của con người Từ đó, bộ máy nhà nước cách mạng cũng được khẩntrương xây dưng Ngày 13/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số33C/SL về việc thành lập các Toà án quân sư cơ quan xét xử của nước ViệtNam dân chủ cộng hoà, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định về tổchức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộnghoà chỉ rõ ngoài các việc hình Toà án còn giải quyết các việc về dân sư vàthương sư (Điều 17) Do thời kỳ này đất nước mới thành lập tình hình thùtrong giặc ngoài rất nguy cấp nên mọi việc tập trung chủ yếu để trấn áp bọnphản cách mạng bảo vệ sư an nguy của đất nước, chưa có điều kiện để soạnthảo các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về TTDS nói riêngnên ngày 10 tháng 10 năm 1945 Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 47/SL chophép áp dụng luật lệ cũ để xét xử nhưng "không trái với nguyên tắc độc lậpcủa nước Việt Nam và chính thể cộng hoà" trong đó có Điều 11 quy định vềthủ tục tố tụng cho giữ tạm thời thủ tục tố tụng của chế độ cũ Trong điều kiệnđất nước còn non trẻ, chưa thể ban hành tất cả văn bản điều chỉnh mọi lĩnhvưc, việc áp dụng luật lệ cũ là cần thiết với thời điểm lúc bấy giờ Ngày17/4/1946 Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 51-SL có quy định về việc kiện,khởi tố và thụ lý vụ án tuy nhiên không quy định thụ lý như thế nào Tiếp đóSắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950 được ban hành bãi bỏ việc áp dụng luật lệcủa chế độ cũ; Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/05/1950 cải cách bộ máy tư pháp

và tố tụng, từ Điều 15 đến Điều 18 quy định về thủ tục tố tụng nhưng không

có điều luật nào quy định về thủ tục khởi kiêṇ vu ̣án dân sư ̣ Từ năm 1945 đếnnăm 1954 không có văn bản pháp luật quy định riêng về thủ tục TTDS cũngnhư khởi kiêṇ VADS Thời kỳ này cuộc kháng chiến chống Pháp đang bướcvào giai đoạn quyết liệt, các Toà án chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sư, ítgiải quyết các tranh chấp dân sư

Thậm chí theo Thông tư số 12-NV-CT ngày 29/12/1946 của Bộ Tưpháp về tổ chức tư pháp trong tình hình đặc biệt:

Trang 27

Nếu vì một lẽ gì, Toà án thường không thể tiếp tục công việc

xử án được, việc xét xử những phạm pháp sẽ do quyết định của Uỷban bảo vệ khu mà giao cho Toà án quân sư Còn các việc hộ hoặcthương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc thì sẽ do hội thẩmchuyên môn của Toà án quân sư xét xử bằng mệnh lệnh [50, tr 37]

Từ năm 1955 đến năm 1960 Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản phápluật tố tụng như Thông tư số 141/HCTP ngày 05/02/1957, Thông tư số1607/HCTP ngày 24/08/1956 của Bộ Tư pháp và Thông tư số 69/TC ngày31/12/1958 của Bộ Tư pháp và TANDTC sửa đổi thẩm quyền của các TAND

nhưng các văn bản pháp luật tố tụng này chủ yếu chỉ quy định về nguyên tắcgiải quyết VADS mà chưa quy định cụ thể về khởi kiêṇ VADS

1.4.2 Từ năm 1960 đến năm 1989

Sau khi Luật hôn nhân và gia định năm 1959 và Luật tổ chức TANDnăm 1960 ra đời đã có một khối lượng đáng kể các văn bản hướng dẫn thủ tụcgiải quyết các tranh chấp về dân sư, đặc biệt là thủ tục giải quyết ly hôn Theo

đó, " đương sư có quyền đưa đơn trưc tiếp đến Toà án, mặc dù việc bất hoàtrong gia đình chưa được tổ hoà giải hoặc Ủy ban hành chính xã giải quyết.Khi nhận đơn Toà án phải thụ lý để giải quyết " [38] Bên cạnh đó Viện kiểmsát nhân dân tối cao cũng có Thông tư số 613/V5 ngày 04/06/1969 hướng dẫn

về khởi tố vụ kiện dân sư: " Khi có đơn khởi kiện của nhân dân hoặc cóquyết định khởi tố của Viện kiểm sát thì Toà án có trách nhiệm thụ lý và giảiquyết"

Trong giai đoạn này đáng chú ý nhất phải kể đến Thông tư số NCPL ngày 21/01/1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp vàtạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sư TrongThông tư này TANDTC hướng dẫn rất cụ thể việc thụ lý VADS:

39-Khi nghiên cứu một đơn kiện, thẩm phán cần xem xét nội dung của đơn kiện có rõ ràng không, vụ kiện có thuộc thẩm quyền xét xử

Trang 28

của Toà án không, nguyên đơn có đủ tư cách đi kiện không Nếu nhậnthấy nội dung đơn kiện đã rõ ràng, vụ kiện thuộc thẩm quyền của Toàán mình và nguyên đơn có đủ tư cách đi kiện, thẩm phán phải thụ lývụ kiện Việc đó phải được vào sổ thụ lý ngay [39, tr 33].

Tóm lại, trong giai đoạn này các văn bản pháp luật quy định về TTDS

và hướng dẫn về việc khởi kiêṇ VADS rất ít Tuy vậy, bước đầu các văn bảnpháp luật TTDS được ban hành trong thời gian từ năm 1960 trở đi cũng đã cónhững quy định về khởi kiêṇ VADS

1.4.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VItăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, kế thừa và phát triển các quyđịnh về thủ tục TTDS trước đó, thời gian từ năm 1989 đến năm 2003 Nhànước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS như: PLTTGQCVADSngày 29/11/1989; PLTTGQCVAKT ngày 16/03/1994; PLTTGQCTCLĐ ngày11/04/1996 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng có ý nghĩa rất lớn vềthủ tục giải quyết các VADS trong thời kỳ này Đặc biệt vấn đề khởi kiêṇ vụán cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật này tạo cơ sở pháp lýcho quá trình giải quyết VADS

Về điều kiện khởi kiêṇvụ án được quy định tại Điều 36

PLTTGQCVADS, Điều 32 PLTTGQCVAKT, Điều 34 PLTTGQCTCLĐ Đólàcác điều kiêṇ như: người khởi kiện có quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện vụ án còn, sư việc chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lưc pháp luật, sư việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Ngoài ra, theo Điều 11 PLTTGQCTCLĐ, còn có một điều kiện là các tranh chấp lao động đã qua hoà giải ở cơ sở hoặc đã được Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết trừ những tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thường thiệthại cho người sử dụng lao động thì mới được khởi kiện tại tòa án

Trang 29

Về trình tư thủ tục nhâṇ đơn khởi kiêṇ: Các văn bản pháp luật này quyđịnh sau khi nhận đơn kiện và các tài liệu kèm theo, nếu đơn kiện khôngthuộc một trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện thì Toà án cần xem xétvụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không (thẩm quyền theo loại việc,thẩm quyền của cấp Toà án, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sư lưachọn của nguyên đơn) Tại Mục 4 Phần I Thông tư liên ngành số 04/TTLNngày 07/01/1995 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thihành một số quy định của PLTTGQCVAKT cũng nêu:

Sau khi nhận được đơn và các tài liệu kèm theo, nếu đơnkiện không thuộc một trong những trường hợp trả lại đơn theo quyđịnh tại Điều 32 Pháp lệnh thì Toà án cần xem xét vụ án có thuộcthẩm quyền của mình thì phải cho nguyên đơn biết và trong thờihạn bẩy ngày kể từ ngày nhận được thông báo nguyên đơn phải nộptiền tạm ứng án phí Toà án chỉ vào sổ thụ lý vụ án kể từ ngày xuấttrình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí [49]

Như vậy các văn bản pháp luật TTDS được ban hành trong thời giannày đã quy định về thủ tục khởi kiêṇ VADS, vụ án kinh tế và vụ án lao động.Tuy nhiên các quy định còn mang tính chất chung chung, thiếu cụ thể, chưaquy định rõ thời hạn Toà án phải xem xét giải quyết đơn nên chưa đề caođược trách nhiệm của Toà án Mặt khác, về bản chất, tranh chấp kinh tế, tranhchấp lao động đều bắt nguồn từ tranh chấp dân sư nhưng thủ tục giải quyếtđược quy định bởi ba pháp lệnh khác nhau, việc phân biệt thủ tục giải quyếtđôi khi gặp phải không ít khó khăn và nhầm lẫn

1.4.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Cùng với sư phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, hội nhập kinh tế với khu vưc và quốc tế, đòi hỏi pháp luật TTDSViệt Nam phải tương thích với pháp luật quốc tế Hơn nữa các quan hệ phápluật trong các lĩnh vưc dân sư, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,

Trang 30

lao động là những vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày củangười dân nên áp dụng các thủ tục khác nhau để giải quyết tranh chấp là rấtphức tạp Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, đồng thời cụ thể hoá các quyđịnh của Hiến pháp năm 1992, ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLTTDS gồm 36 chương với

418 điều BLTTDS đã quy định thống nhất một thủ tục giải quyết các VADS,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Trong đó Chương 12quy định về thủ tục khởi kiện VADS với 9 điều, từ Điều 161 đến Điều 170

BLTTDS là văn bản pháp luật có hiệu lưc pháp lý cao nhất về TTDS từtrước tới nay BLTTDS xác định rõ các chủ thể có quyền khởi kiện VADS, đồngthời không quy định quyền khởi tố VADS cho Viện kiểm sát nữa Quy định nàyphù hợp vì nó thể hiện tốt các nguyên tắc quyền tư định đoạt của đương sư,nguyên tắc toả thuận trong việc giải quyết các VADS Về phạm vi khởi kiệnnhiều người hoặc nhiều người khởi kiện một người về cùng một quan hệ phápluật như quy định tại Điều 34 PLTTGQCVADS Điều 163 BLTTDS quy địnhđược giải quyết trong cùng một vụ án các trường hợp: cá nhân, cơ quan, tổ chứckhởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ phápluật hay nhiều quan hệ pháp luật có liên quan; nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức cóthể khởi kiện một cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về cùng một quan hệ pháp luậthay nhiều quan hệ pháp luật có liên quan

BLTTDS năm 2004 bổ sung thêm 3 trường hợp trả lại đơn khởi kiệnlà: người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn pháp luậtquy định; không bổ sung đơn theo yêu cầu của Toà án và chưa đủ điều kiệnkhởi kiện Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về quyền khiếu nại của ngườikhởi kiện khi nhận lại đơn khởi kiện BLTTDS đã làm thay đổi cơ bản các quyđịnh về thủ tục TTDS nói chung và các quy định về khởi kiêṇ VADS nóiriêng, tạo nền tảng quan trọng để các Toà án giải quyết vụ án được nhanhchóng, kịp thời và chính xác

Trang 31

TANDTC đó phụ́i hợp với các cơ quan hữu quan xõy dưng, ban hànhcác văn bản hướng dẫn các quy định của BLTTDS núi chung và vấn đề khởikiợ̀n VADS núi riờng Cụ thờ̉ là Nghị quyết sụ́ 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31-3-

2005 hướng dẫn thi hành một sụ́ quy định trong phần thứ nhất "Những quyđịnh chung" của BLTTDS trong đú cú nội dung hướng dẫn các quy định vềthẩm quyền giải quyết VADS của Tũa án, về thời hiợ̀u khởi kiợ̀n VADS ;Nghị quyết sụ́ 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành cácquy định trong phần thứ hai " Thủ tục giải quyết vụ án tại Tũa án cấp sơthẩm" của BLTTDS, tại mục I của Nghị quyết hướng dẫn cụ thờ̉ về quyềnkhởi kiợ̀n, chủ thờ̉ khởi kiợ̀n, phạm vi khởi kiợ̀n, đơn khởi kiợ̀n, trỡnh tư thủtục nhận đơn khởi kiợ̀n, các trường hợp trả lại đơn khởi kiợ̀n ; Thụng tư liờntịch sụ́ 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 1/9/2005 của Viợ̀n kiờ̉m sátnhõn dõn tụ́i cao, TANDTC hướng dẫn thi hành một sụ́ quy định của BLTTDS

về kiờ̉m sát viợ̀c tuõn theo pháp luật trong TTDS và sư tham gia của kiờ̉m sátviờn trong viợ̀c giải quyết các VADS; Cụng văn sụ́ 109/KHXX ngày 30-6-

2006 về viợ̀c xử lý các trường hợp khụng biết địa chỉ của nguời bị kiợ̀n

1.5 Khái quát vềkhởi kiờn vu ̣việc dõn sư ̣theo phỏp luõṭtụ́tung ̣ dõn sư ̣mụṭsụ́nước

Trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống luật án lệ (comman law) và hệ thống pháp luật châu âu lục địa (continental law hoặc civil law) Điểm khác biệt lớn nhất của hai hệ thống pháp luật này ở vai trò của Thẩm phán và các bên đ-ơng sự trong việc chứng minh sự việc Song, về cơ bản pháp luật của các n-ớc đều quy định việc khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những điều kiện nhất định về nội dung và hình thức khởi kiện.

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp

Điều 53 BLTTDS quy định các đ-ơng sự khởi kiện ra tòa án bằng đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải tuân theo đúng các điều kiện về nội dung khởi

Trang 32

kiện Mặc dù BLTTDS không có điều luật quy định cụ thể về nội dung khởi kiện nh-ng vào Điều 117 về hành vi tố tụng vô hiệu do khiếm khuyết và Điều

122 về yêu cầu bác đơn, có thể thấy việc khởi kiện phải tuân thủ các điều kiện

về nội dung nh- ng-ời khởi kiện phải có đủ t- cách để khởi kiện (nguyên đơn có năng lực tham gia tố tụng, ng-ời đại diện của thể nhân, pháp nhân có quyền đại diện), có lợi ích liên quan, còn thời hiệu khởi kiện và vụ kiện chưa đ-ợc giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Bên cạnh đó, việc khởi kiện còn phải tuân thủ điều kiện về hình thức đ-ợc quy định tại Điều 57 BLTTDS Pháp nh-:

Đối với thể nhân phải ghi rõ họ, tên, nghề nghiệp, nơi c- trú, quốc tịch, ngày sinh

và nơi sinh của từng ng-ời khởi kiện; đối với pháp nhân phải ghi rõ hình thức, tên gọi, trụ sở và cơ quan đại diện hợp pháp của pháp nhân; ghi rõ Tòa án nơi đ-a đơn khởi kiện; trong tr-ờng hợp cần thiết, còn phải ghi rõ thêm những điều liên quan

đến bất động sản; tài liệu làm căn cứ khởi kiện Trong tr-ờng hợp đơn khởi kiện không tuân thủ các quy định này, Tòa án sẽ không thụ lý.

Bên cạnh quyền khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có quyền

đ-a đơn yêu cầu phản tố, các đ-ơng sự có quyền đ-a đơn yêu cầu

bổ sung và ng-ời thứ ba (ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) cóquyền đ-a ra yêu cầu can thiệp dự sự

Ngoài ra, Viện Công tố còn có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo vệ trật tự công khi có những hành vi xâm hại trật tự công (Điều 423).

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga

Công dân, tổ chức có quyền tự do và lợi ích bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án Viện kiểm sát có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp ng-ời không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga Theo các điều 4, 45, 46 BLTTDS Liên bang Nga thì các cơ quan nhà n-ớc, cơ quan chính quyền tự quản địa ph-ơng có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo

Trang 33

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời khác Ng-ời khởi kiện gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản và theo đúng quy định tại Điều 131 BLTTDS Liên bang Nga cho Tòa án, trong đó nêu rõ họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị

đơn; quyền, tự do và lợi ích hợp pháp nào của nguyên đơn bị xâm phạm hoặc bị đe dọa vi phạm, yêu cầu của họ là gì; những tình tiết mà dựa vào đó nguyên đơn đ-a ra yêu cầu, những chứng cứ làm cơ sở cho những tình tiết đó; giá trị vụ kiện cũng nh- khoản tiền yêu cầu hoặc tranh chấp; thủ tục áp dụng tr-ớc khi khởi kiện; danh mục tài liệu kèm theo Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, thẩm phán có nghĩa vụ xem xét việc thụ lý vụ việc dân sự hoặc quyết định trả lại đơn khởi kiện.

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Nhật Bản

Cá nhân, pháp nhân và các cơ quan, tổ chức khác có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ng-ời khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền Đơn khởi kiện phải lập thành văn bản và theo đúng quy định tại Điều 133 BLTTDS Nhật Bản Khi nhận đ-ợc đơn khởi kiện thẩm phán phải nghiên cứu đơn khởi kiện nếu thấy đơn khởi kiện không đầy đủ các nội dung theo quy định của điều luật này thì thẩm phán sẽ thông báo cho ng-ời khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn nhất định do thẩm phán ấn định Nếu đơn khởi kiện thoả mãn đầy đủ các

điều kiện do pháp luật quy định thì tòa án phải tống đạt đơn khởi kiện cho bị

đơn và xem xét việc chuẩn bị tranh tụng bằng lời.

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Anh

Các đ-ơng sự có quyền khởi kiện vụ việc dân sự tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi khởi kiện, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện do luật s- của nguyên đơn soạn thảo cho tòa án và Tòa án chính thức công bố Sau khi nhận đ-ợc đơn khởi kiện nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình tòa án sẽ thụ lý vụ việc Nếu Tòa án thụ lý đơn kiện thì đơn khởi kiện của nguyên đơn đ-ợc tòa án

Trang 34

tống đạt đến cho bị đơn Trong khoảng thời gian nhất định bên bị đơn có nghĩa vụ trả lời các yêu cầu của nguyên đơn Nếu bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn, hai bên sẽ trao đổi các biên bản bào chữa Thông qua các biên bản bào chữa, các tình tiết cụ thể của vụ việc dân sự sẽ đ-ợc làm sáng tỏ.

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Hoa Kỳ

Cá nhân, pháp nhân và các cơ quan, tổ chức khác có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích chung của xã hội nh- trong tr-ờng hợp để bảo vệ môi tr-ờng Khi khởi kiện nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản và theo đúng quy

định của pháp luật tố tụng dân sự cho Tòa án Trong quá trình nhận đơn khởi kiện nếu đơn khởi kiện không hợp lệ; vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án; việc giải quyết vụ việc đó ch-a đ-ợc quy định trong luật; thời hiệu khởi kiện đã hết thì tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì tòa án thụ lý vụ việc Sau khi thụ lý đơn kiện, tòa án có trách nhiệm thông báo với bị đơn về việc nguyên đơn đã khởi kiện vụ việc ra tòa Trong thời hạn 20 ngày (đối với tòa án liên bang), 30 ngày hoặc có thể kéo dài đến 60 ngày (đối với tòa án bang) bị đơn

có nghĩa vụ nộp cho tòa án văn bản trả lời của mình đối với yêu cầu của nguyên

đơn Nội dung trả lời của bị đơn bao gồm những ý kiến của bị đơn về những vấn đề nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện đó là những yêu cầu nào của nguyên

đơn đ-ợc chấp nhận, những yêu nào không đ-ợc chấp nhận.

Nh- vậy, có thấy các quy định về khởi kiện vụ việc dân sự của pháp luật TTDS Việt Nam có nhiều điểm t-ơng đồng với quy định của pháp luật nhiều n-ớc trên thế giới Đó là khởi kiện là quyền tố tụng của công dân nhằm bảo vệ quyền lợi ích dân sự Tuy nhiên, việc thực hiện quyền khởi kiện phải

đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Ngoài ra theo pháp luật TTDS của Cộng hòa Pháp và liên bang Nga thì Viện kiểm sát còn có quyền khởi kiện vụ việc dân sự trong những tr-ờng hợp đặc biệt.

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về khởi kiện VADStại Chương 1 của luận văn có thể kết luận quyền khởi kiện VADS là quyền tốtụng quan trọng của các chủ thể trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân

sư, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Việc thưc hiệnquyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện VADS Theo nghĩa hẹp, khởikiện được hiểu là việc nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn, cơquan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết VADS để bảo

vệ quyền , lơị ich́ hơp ̣ pháp của minh̀ , của người khác hay bảo vệ lợi ích côngcộng, lợi ích của Nhà nước Theo nghĩa rộng, khởi kiện còn bao gồm cả việc

bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đưa rayêu cầu độc lập, bởi yêu cầu phản tố chính là việc bị đơn kiện ngược lạinguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật mà nguyênđơn đã kiện bị đơn và yêu cầu độc lập chính là việc người có quyền lợi nghĩavụ liên quan kiện nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích của mình Cơ sở củakhởi kiện VADS dưa trên tính chất của quan hệ pháp luật nội dung có tranhchấp, trên nguyên tắc tư do, tư nguyện cam kết, thỏa thuận trong dân sư vànguyên tắc về quyền bình đẳng, quyền định đoạt của đương sư trong TTDS.Khởi kiện VADS là phương thức bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích dân sư trên cơsở quyền tư ̣đinḥ đoaṭcủa các chủthể Mặt khác, khởi kiện VADS vừa là tiền

đề vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm khôiphục những quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Việc cá nhân, cơquan, tổ chức khởi kiện là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án thụ lý và giảiquyết VADS, là tiền đề để cơ quan tiến hành tố tụng thưc hiện các giai đoạn tốtụng tiếp theo

Trang 36

Chương 2

KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Điều kiện về nội dung khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện VADS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể, phápluật ghi nhận và đảm bảo quyền khởi kiện cho các chủ thể, đồng thời quy địnhcác điều kiện khởi kiện Khi các chủ thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởikiện thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật.BLTTDS năm 2004 có 9 điều từ Điều 161 đến Điều 170 quy định về thủ tụckhởi kiện và các điều kiện khởi kiện như về thời hiệu, thẩm quyền, quyềnkhởi kiện… Đó là các điều kiện về chủ thể, về thẩm quyền, về hòa giải tiền tốtụng, về thời hiệu và một số điều kiện khác do pháp luật nội dung quy định

2.1.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Để có đủ điều kiện khởi kiện thì chủ thể phải có quyền khởi kiện và tưcách pháp lý Chủ thể khởi kiện VADS bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức đápứng được các điều kiện do pháp luật quy định Trước hết, chủ thể khởi kiệnphải là người được tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS Các chủ thể cóquyền khởi kiện được quy định tại Điều 161 và Điều 162 BLTTDS TheoĐiều 161 BLTTDS thì "cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tư mình hoặcthông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sư (sau đây gọi chung

là người khởi kiện) tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình" [24] Theo Điều 162 BLTTDS thì "cơ quan, tổ chức trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sư để yêu cầuTòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vưc mìnhphụ trách" [24]

Khởi kiện VADS hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc khởi kiện củanguyên đơn, việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của

Trang 37

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS Để việc thưc hiện quyềncủa các đương sư này không làm ảnh hưởng hoặc gây cản trở đến quyền củacác đương sư khác, pháp luật đòi hỏi nguyên đơn khi khởi kiện VADS phải là

"người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm" [24, Điều 161], đồng thờipháp luật đã quy định những điều kiện nhất định về quyền khởi kiện, quyềnphản tố, quyền đưa ra yêu cầu độc lập

* Chủ thể khởi kiện là nguyên đơn: Theo khoản 2 Điều 56 BLTTDS,

để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng nhữngyêu cầu: phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sư, hôn nhân và gia đình,kinh doanh, thương mại, lao động; là người cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của mình đang bị tranh chấp hoặc bị xâm hại; có năng lưc pháp luật vànăng lưc hành vi TTDS, trường hợp cá nhân không có năng lưc hành vi TTDSthì việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của họ do người đại diện hợp pháp của

họ thưc hiện

Nguyên đơn là người đầu tiên nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, chính họ

là người đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết VADS Đó có thể là cánhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhhoặc cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyềnkhởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhànước thuộc lĩnh vưc mình phụ trách

* Chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu phản tố: Phản tố là quyền của bị

đơn trong VADS Thưc chất việc phản tố của bị đơn là là việc bị đơn khởikiện ngược lại nguyên đơn, nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơnkhởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên

có liên quan chặt chẽ với nhau Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toànkhông liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiệnthành một VADS mới

Bị đơn có quyền phản tố, tức là kiện ngược lại nguyên đơn nếu yêu cầu mới của mình có liên quan chặt chẽ đến việc giải quyết

Trang 38

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cần lưu ý là yêu cầu mới của bịđơn có thể không cùng tính chất về quan hệ tranh chấp với yêu cầucủa nguyên đơn nhưng phải có liên quan đến việc giải quyết yêucầu của nguyên đơn, nếu không bị đơn phải khởi kiện thành một vụán mới [14, tr 59].

Theo Điều 176 BLTTDS thì quyền phản tố của họ chỉ được chấp nhậnkhi thuộc một trong các trường hợp sau:

1) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn; 2)Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phầnhoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; 3) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu củanguyên đơn có sư liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng mộtvụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Việc xác định đúng có phải là yêu cầu phản tố của bị đơn hay khôngđòi hỏi người thẩm phán phải có sư nghiên cứu kỹ lưỡng yêu cầu của bị đơncũng như các quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTDS Trên thưc tế đã cóthẩm phán xác định nhầm yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến việc giải quyếtvụ án trái quy định của pháp luật Đó là vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn ThịKiều A và anh Nguyễn Duy V do TAND huyện KC, tỉnh HY giải quyết

Hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 20/2/2009, chị A có đơn xin ly hônanh V gửi TAND huyện KC Ngày 6/3/2009, Tòa thụ lý vụ án và tiếnhành các thủ tục tố tụng như lấy lời khai của các đương sư, xác minhtại chính quyền địa phương, hòa giải…Ngày 25/8/2009 ra quyết địnhđưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào ngày 20/9/2009 Tại phiên tòa ngày20/9/2009, chị Kiều A có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện và đề nghịđình chỉ việc giải quyết vụ án, anh V vắng mặt tại phiên tòa không rõlý do Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa Đến ngày 8/11/2010,anh V nộp cho Tòa án KC đơn đề nghị phản tố với nội dung đề nghịTòa án tiếp tục giải quyết cho anh được ly hôn chị A

Trang 39

Ngày 8/11/2010, Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyếtVADS có nội dung đình chỉ yêu cầu xin ly hôn của chị A và tiếp tụcgiải quyết yêu cầu phản tố xin ly hôn của anh V [32].

BLTTDS năm 2004 không quy định cụ thể về thời điểm kết thúc thờihạn mà bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố nên ở mỗi Tòa án lại có sưgiải quyết khác nhau Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này đã được khắc phục Tạikhoản 3 điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004quy định: "Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố cho đến trước khi Tòa án

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm" Điều này hoàn toàn phù hợp vềmặt lý luận và thưc tiễn, bảo đảm quyền của các đương sư trong TTDS đồngthời phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của TTDS

* Chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu độc lập: Người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Trong trường hợp họ không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bịđơn thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 61 và Điều 177 BLTTDS, họ

có quyền đưa ra yêu cầu độc lập Yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận khi

có đủ các điều kiện sau: 1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ; 2) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang đượcgiải quyết; 3) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ ánlàm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Thưc tiễn giải quyết các VADS, việc xác định có phải là yêu cầu độclập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay không cũng là một việc khóđối với Tòa án Có khi cùng một chủ thể, một yêu cầu nhưng có quan điểmcho rằng không phải là yêu cầu độc lập và họ chỉ tham gia tố tụng với tư cách

là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Có quan điểm lại xác định là người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Chẳng hạn như vụ ántranh chấp hụi họ giữa nguyên đơn bà Trần Thị Lan và bị đơn bà Nguyễn ThịLý do TAND thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đang thụ lý giải quyết:

Trang 40

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, bàLan trình bày từ năm 2004 đến năm 2007, giữa bà và một số ngườitrong đó có bà Lý đã cùng nhau chơi họ có lãi do bà làm cái họ Donhững người cùng chơi không có nhu cầu lĩnh họ nên bà Lý đã được

sư đồng ý của những người chơi và của cái họ cho lĩnh họ, vay họ,mượn họ tổng số là 18 bát họ Sau khi họ bị vỡ, bà Lý đã chốt nợvới bà Lan tổng số tiền là 5.000.000.000đ vào tháng 9/2008 và hẹnđến tháng 5/2009 sẽ thanh toán trả cho bà Lan số nợ trên Đến hạnthanh toán, bà Lan đã nhiều lần đòi nhưng bà Lý khất lần không trả.Tháng 6/2009 bà Lan khởi kiện yêu cầu bà Lý phải thưc hiện nghĩavụ trả nợ Bị đơn bà Lý có quan điểm bà và con gái là Dương ThịThu Hằng đã trả nợ thay bà Lan cho một số người cùng chơi họ sốtiền là 2.000.000.000đ, đề nghị đối trừ khoản tiền này vào nghĩa vụtrả nợ Số nợ còn lại khi nào có bà sẽ thanh toán Chị Thu Hằng cóvăn bản đề nghị Tòa án giải quyết số tiền chị đã trả nợ thay mẹ chị

là 2.000.000.000đ được đối trừ vào số nợ của bà Lý [36]

Sau khi nhận được yêu cầu của chị Hằng, TAND thành phố HY có haiquan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng yêu cầu của chị Hằng khôngphải là yêu cầu độc lập và chỉ xác định tư cách tham gia tố tụng của chị Hằng

là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn và không phảinộp tiền tạm ứng án phí Có quan điểm cho rằng phải xác định là yêu cầu độclập, chị Hằng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập và phải nộp tiền tạm ứng án phí thì mới được xemxét, giải quyết Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, xác định chịHằng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn Bởi lẽ, bàLý là bị đơn đã có đề nghị Tòa án giải quyết số tiền 2 tỷ đồng mà bà và congái (chị Hằng) đã trả nợ thay bà Lan Chỉ khi nào bà Lý không có yêu cầu này

và chị Hằng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết thì mới xác định là yêu cầu độclập

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w