Trước khi BLTTDS được ban hành, có đề tài cấp Bộ "Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự", do Tòa án nhân dân tối cao TANDTC thực hiện năm 1
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Mai
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự từ năm 1945đến nay
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ NĂM 2004 VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ
Trang 52.2.1 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004 VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơthẩm vụ án dân sự
dân sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử vụ án dân sự
sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
8789
Trang 6: Tòa án nhân dân tối cao: Vụ án dân sự
: Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiệncác quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng dân sự (TTDS), đáp ứng yêucầu của việc giải quyết các vụ việc dân sự trong điều kiện mới và quán triệtchủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
ở nước ta, tại kỳ họp thứ 5, ngày 15/06/ 2004 Quốc hội khoá XI đã thông qua
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) BLTTDS đã pháp điển hóa vàthống nhất ba loại hình tố tụng được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giảiquyết vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm
1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 Tuynhiên, khi triển khai thi hành Bộ luật này cho thấy nhiều quy định còn bất cậpnhư có vấn đề quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến những cách hiểukhác nhau, áp dụng tại các Tòa án không thống nhất; có những quy định mâuthuẫn với các quy định của các văn bản pháp luật khác, chưa phù hợp với thực
tế, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự v.v… Nhằm khắcphục những bất cập này, tại kỳ họp thứ 9, ngày 29/03/2011 Quốc hội khóa XII
đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS Việc Luật sửađổi bổ sung một số điều của BLTTDS được ban hành đã làm cho hệ thốngpháp luật TTDS Việt Nam được hoàn thiện hơn Tuy vậy, vẫn còn nhiều quyđịnh của BLTTDS bất cập chưa được sửa đổi, bổ sung, trong đó có cả các quyđịnh về chuẩn bị xét xử sơ thẩm (CBXXST) vụ án dân sự (VADS) Vì vậy, để
thực hiện được mục tiêu chiến lược của cải cách tư pháp là "hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" [4] thì phải tiếp tục nghiên cứu
làm rõ những vấn đề lý luận, nội dung các quy định của pháp luật TTDS hiệnhành và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án để phát hiện những bất cập,mâu thuẫn, tìm ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện chúng Với các lý do
Trang 8đó, tôi đã chọn đề tài: "Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004" nghiên cứu luận văn
thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước và sau khi BLTTDS được ban hành đã có nhiều công trình nghiêncứu khoa học pháp lý có nghiên cứu những vấn đề liên quan đến CBXXST
VADS Trước khi BLTTDS được ban hành, có đề tài cấp Bộ "Một số vấn đề về
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự", do Tòa án
nhân dân tối cao (TANDTC) thực hiện năm 1996; đề tài cấp Bộ "Những quan
điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam", do Viện Nhà nước và Pháp luật
của Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện năm 2002; đề tài cấp cơ sở "Thu
thập và đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự thực trạng và giải pháp", do Viện Khoa học xét xử của TANDTC thực hiện năm
2002; luận văn Thạc sĩ luật học "Thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Đoàn Đức Lương, bảo vệ tại
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999; luận văn Thạc sĩ luật học "Về việc cung
cấp và thu thập chứng cứ trong giai đoạn giải quyết vụ kiện dân sự theo thủ tục
sơ thẩm", của Nguyễn Minh Hằng, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm
2003, bài "Xác định địa vị tố tụng của đương sự và đánh giá chứng cứ trong vụ
án dân sự", của Nguyễn Thế Giai, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
9/2000 v.v… Nhưng do các đề tài này được thực hiện trước khi có BLTTDS nênđối tượng nghiên cứu chủ yếu là các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyếtVADS và thực tiễn thực hiện chúng Sau khi BLTTDS được ban hành, có đề tài
cấp Bộ "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam
hiện nay", do Viện Nhà nước và Pháp luật của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện năm 2010; luận án Tiến sĩ luật học "Giai đoạn giải quyết sơ thẩm vụ
án kinh tế theo pháp luật Việt Nam", của Đoàn Đức Lương, bảo vệ tại Viện Nhà
nước và Pháp luật năm 2006; bài "Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận
thức trong pháp luật
Trang 9tố tụng dân sự Việt Nam", của Tưởng Duy Lượng, cho Hội thảo: "Bộ luật tố tụng dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành", Học viện Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 25/12/2004 v.v… Tuy nhiên, do
mục đích nghiên cứu các công trình này chưa đề cập một cách đầy đủ và hệthống các vấn đề liên quan đến CBXXST VADS, mới chỉ nghiên cứu và đềxuất tháo gỡ một số vấn đề bất cập riêng lẻ của CBXXST VADS, nhiều vấn
đề có ý nghĩa quan trọng đối với CBXXST VADS vẫn chưa nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ được các vấn đề vềCBXXST VADS theo quy định của BLTTDS, từ đó phát hiện được những hạnchế, bất cập trong các quy định của BLTTDS về CBXXST VADS, những tồntại trong việc thực hiện chúng tại các Tòa án và tìm ra các giải pháp nhằmhoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chúng trên thực tế
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn
- Khảo sát thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS, Luật sửađổi bổ sung một số điều của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành vềCBXXST VADS của các Tòa án trong những năm gần đây
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về CBXXSTVADS, các quy định của BLTTDS, Luật sửa đổi bổ sung một số điều củaBLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về CBXXST VADS cũng như thựctiễn thực hiện các quy định này tại các Tòa án nhân dân (TAND) các cấp
Trang 10Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là một vấn đề cơ bản và quan trọng củaTTDS nên đề tài có nội dung nghiên cứu rộng Tuy nhiên, do giới hạn của đề tàinghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào nhữngvấn đề lý luận cơ bản của CBXXST VADS như: khái niệm CBXXST VADS; ýnghĩa CBXXST VADS; sự phát triển các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam
về CBXXST VADS; nội dung các quy định cơ bản của BLTTDS và Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của BLTTDS về thời hạn CBXXST VADS; việc thông báoviệc thụ lý VADS; lập hồ sơ VADS; quyết định đưa VADS ra xét xử và chuyển
hồ sơ VADS cho Viện kiểm sát (VKS) nghiên cứu v.v… Những vấn đề khác như:hòa giải VADS; quyết định tạm đình chỉ VADS, quyết định đình chỉ giải quyếtVADS, quyết định áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thờiv.v… tuy được thực hiện trong thời gian CBXXST VADS nhưng không có ýnghĩa trực tiếp tạo các điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa sơthẩm nên không được nghiên cứu trong đề tài này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Quá trình nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứukhoa học chuyên ngành truyền thống như phương pháp lịch sử, phương phápphân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp Ngoài ra, phương pháp thống kêcũng được sử dụng để hoàn thành việc nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có hệ thống cácvấn đề về CBXXST VADS theo quy định của BLTTDS Ý nghĩa khoa học củaviệc nghiên cứu đề tài luận văn thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Trang 11- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về CBXXST VADS như khái niệm, ýnghĩa của CBXXST VADS, sự phát triển các quy định của pháp luật TTDSViệt Nam về chuẩn bị xét xử VADS;
- Làm rõ được nội dung các quy định của BLTTDS và Luật sửa đổi bổsung một số điều của BLTTDS về CBXXST VADS;
- Phát hiện được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS
và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS về CBXXST VADS;
- Tìm được các giải pháp hoàn thiện và thực hiện các quy định của
BLTTDS về CBXXST VADS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 2: Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, "sơ thẩm" là từ ghép của hai từ "sơ" và
"thẩm" "Sơ" có nghĩa là "đầu", "thẩm" có nghĩa là "xét xử" Cho nên, hiểu theo nghĩa chung nhất "sơ thẩm" là xét xử lần đầu vụ việc [50].
Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việcdân sự mà chỉ có khái niệm VADS Khái niệm VADS dùng để chỉ những tranhchấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa hẹp và nhữngtranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Từkhi BLTTDS được ban hành đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, tố tụng kinh
tế, tố tụng lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tạiTòa án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự Theo quy định tại Điều 1BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm VADS và việc dân sự, trong đó VADS lànhững tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại vàlao động được Tòa án thụ lý, giải quyết theo quy định tại các điều 25, 27, 29
và 31 BLTTDS; việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và giađình, kinh doanh, thương mại và lao động được theo quy định tại các điều 26,
28, 30 và 32 BLTTDS Như vậy, VADS là những tranh chấp dân sự phát sinh
từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục TTDS Do đó, theo nghĩa chung nhất sơ thẩm VADS là việc Tòa
án xét xử lần đầu vụ án dân sự [10] Ở các góc độ khác nhau, sơ thẩm VADS
có thể hiểu là một thủ tục TTDS, một giai đoạn của TTDS hoặc một chế địnhcủa pháp luật TTDS Dưới góc độ là một giai đoạn tố tụng, sơ thẩm VADS là
Trang 13khâu đầu tiên của quá trình xét xử VADS Dưới góc độ là một thủ tục TTDS,
sơ thẩm là cách thức, trình tự giải quyết VADS lần đầu của Tòa án Dưới góc
độ là một chế định của pháp luật TTDS, sơ thẩm dân sự được hiểu là một bộphận của pháp luật TTDS, là tổng hợp các quy phạm pháp luật TTDS vềnguyên tắc, thủ tục xét xử lần đầu VADS; về quyền, nghĩa vụ của Tòa án, cácbên đương sự và những chủ thể khác tham gia vào việc xét xử VADS
Thủ tục sơ thẩm VADS bao gồm nhiều thủ tục khác nhau như khởi kiện,
thụ lý, CBXXST VADS và phiên tòa sơ thẩm VADS Khởi kiện VADS là thủ tục
đầu tiên của TTDS, trong đó người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại hoặcđược pháp luật quy định yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của mình, của người khác hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.Tiếp theo khởi kiện VADS là việc thụ lý VADS của Tòa án, trong đó Tòa án xemxét các điều kiện để giải quyết VADS và ghi nhận trách nhiệm của mình đối vớiviệc giải quyết VADS Khởi kiện và thụ lý VADS là tiền đề cho các thủ tục tốtụng tiếp theo Kể từ thời điểm thụ lý VADS sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ củaTòa án trong việc giải quyết VADS Và để giải quyết VADS tại phiên tòa sơ thẩm
có hiệu quả Tòa án phải tiến hành CBXXST VADS
Để giải quyết toàn diện, triệt để và đúng đắn VADS, trong tất cả cácVADS một mặt Tòa án phải xác định đúng được các yêu cầu của đương sự,bao gồm yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, yêu cầu phản tố của Bị đơn vàyêu cầu của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trên cơ sở đó, Tòa án xácđịnh đúng, đầy đủ các quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trongVADS, thành phần đương sự và tư cách tham gia tố tụng của đương sự trongVADS Mặt khác, Tòa án cũng phải có đầy đủ các chứng cứ, tài liệu để làmsáng tỏ các tình tiết, sự kiện liên quan đến VADS
Trong TTDS, đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dungtranh chấp, là người đưa ra yêu cầu cho Tòa án giải quyết và việc giải quyếtVADS liên quan đến quyền, lợi ích của chính họ nên đương sự là chủ thể cónghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án Do đó, khi đưa ra yêu cầu hay phản
Trang 14đối yêu cầu của người khác thì đương sự đã phải cung cấp chứng cứ để chứngminh cho yêu cầu của mình hay phản bác yêu cầu của người khác Khi nhậnđơn khởi kiện hay tiếp nhận yêu cầu, sự phản đối yêu của đương sự, Tòa ánphải kiểm tra xem đương sự đã cung cấp đủ chứng cứ, tài liệu chứng minhcho yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của họ chưa, nếu thiếu thì yêu cầu họ bổsung Trên thực tế, không phải bao giờ các đương sự cũng cung cấp đủ chứng
cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu, sự phản đối yêu cầu của họ Vì vậy, xuấtphát từ yêu cầu của việc giải quyết VADS và tình hình thực tế tham gia tốtụng của đương sự nên pháp luật của các nước đều quy định về vai trò củaTòa án trong việc hỗ trợ đương sự chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của họ ở các mức độ khác nhau
Trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống pháp
luật án lệ (comman law) và hệ thống pháp luật châu âu lục địa (continental law hoặc civil law) Thủ tục tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự được pháp
luật các nước quy định có những điểm khác nhau cơ bản nhưng đều quy địnhnhững yêu cầu và các công việc Tòa án phải tiến hành trước khi mở phiên tòa
để bảo đảm các điều kiện cho việc xét xử tại phiên tòa có hiệu quả Ở nhữngnước theo loại hình tố tụng tranh tụng thì đề cao vai trò của các bên đương sựnên việc thu thập chứng cứ do chính các bên thực hiện hoặc luật sư của họthực hiện, Toà án chỉ trợ giúp thông qua việc buộc bên kia phải trả lời, phảituyên hiện đối chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng tỏ nội dung vụ việc ViệcTòa án tiến hành các công việc trước khi mở phiên tòa chỉ nhằm kiểm tra,thống nhất các chứng cứ, tài liệu được xem xét, đánh giá, sử dụng tại phiêntòa Chẳng hạn, theo pháp luật TTDS của Mỹ thì trước khi mở phiên tòa, theolệnh của Thẩm phán, các bên đương sự phải cùng gặp nhau tại Tòa án đểthống nhất những tài liệu nào được coi là chứng cứ, những tài liệu nào đượcmột bên coi là chứng cứ hoặc những tài liệu nào được các bên coi là chứng cứ
để Tòa án đưa ra trong vụ kiện Ở những nước theo loại hình tố tụng xét hỏi,thì đề cao vai trò của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ việc nên Thẩm phán
Trang 15có quyền chủ động quyết định áp dụng mọi biện pháp thu thập chứng cứ phápluật cho phép Chẳng hạn, theo pháp luật TTDS của Pháp thì trước khi mởphiên tòa, Thẩm phán có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ Tuyvậy, các bên đương sự vẫn có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biệnpháp thu thập chứng cứ và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp khônggiúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ.
Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS, về nguyên tắc các đương
sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và Tòa án có quyền thu thập chứng cứtrong những trường hợp cần thiết, nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án
có quyền chủ động thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ BLTTDS rađời, với xu hướng đề cao vai trò chứng minh của đương sự nên Điều 85BLTTDS quy định Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trườnghợp đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặccác trường hợp do pháp luật quy định Sau một thời gian thực hiện, quy định
về vấn đề này của BLTTDS đã được Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sungmột số điều của BLTTDS sửa đổi theo hướng giao quyền chủ động thu thậpchứng cứ hơn của Tòa án như:
1 Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầuđương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ 2 Trong các trường hợp
do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một sốbiện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ [26]
Như vậy, trước khi đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa thì Tòa án phải tiếnhành các hoạt động tố tụng như nghiên cứu đơn khởi kiện và các chứng cứ, tàiliệu gửi kèm theo đơn khởi kiện, đánh giá sơ bộ các chứng cứ, tài liệu gửi kèmtheo đơn khởi kiện, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án cần đượcgiải quyết, xác định thành phần đương sự, yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ,tài liệu lập hoặc thu thập chứng cứ, tài liệu v.v… để chuẩn bị các
Trang 16điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa Ngoài ra, để việc tiếnhành phiên tòa có hiệu quả, khi đã có đủ các điều kiện mở phiên tòa Tòa áncòn ra quyết định đưa VADS ra xét xử, triệu tập những người tham gia phiêntòa và thực hiện các công việc khác cho việc mở phiên tòa Trong ngôn ngữ
tiếng Việt, "chuẩn bị" là "làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì" [49, tr.
175] Từ đó, có thể hiểu CBXXST VADS là việc chuẩn bị các điều kiện cầnthiết để xét xử sơ thẩm VADS, tạo tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảocho việc xét xử và ra các phán quyết của Tòa án được khách quan, toàn diện,đúng pháp luật Khái niệm CBXXST VADS được nghiên cứu, tiếp cận dướinhiều góc độ khác nhau:
- Nếu tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là một giaiđoạn của quá trình TTDS thì CBXXST VADS là một giai đoạn tố tụng độc lậpcủa quá trình giải quyết VADS, trong đó người tiến hành tố tụng và ngườitham gia tố tụng phải thực hiện, tiến hành những công việc cần thiết nhằmlàm rõ những sự thật khách quan của vụ án, trong trường hợp các bên đương
sự không hòa giải được với nhau, người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thìTòa án có thể ra phán quyết về vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên
- Nếu tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là một thủtục TTDS thì CBXXST VADS là một thủ tục TTDS, bao gồm các công việcTòa án phải tiến hành vào thời gian trước khi Tòa án mở phiên tòa sơ thẩmtheo một trình tự do pháp luật TTDS quy định nhằm tạo các điều kiện cầnthiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm
- Nếu tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là một hoạtđộng tố tụng thì CBXXST VADS bao gồm những hoạt động cụ thể do nhữngngười tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quyđịnh của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ để đảm bảo cho việc xét
xử VADS theo trình tự sơ thẩm
Trang 17- Nếu tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là một chếđịnh pháp luật thì CBXXST VADS là một chế định của pháp luật TTDS, baogồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa Tòa án với nhữngngười tham gia TTDS phát sinh trong quá trình giải quyết VADS vào thời giantrước khi Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm.
Dù tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS dưới góc độ nào thì mục đíchcủa nó vẫn là để bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc tiến hành phiên tòa
sơ thẩm và được tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm Trong khuôn khổ của luậnvăn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu đề tài của tôi tiếp cận CBXXST VADSdưới góc độ hoạt động TTDS Trong đó, hoạt động CBXXST VADS là hoạtđộng của Tòa án như hoạt động nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ
án, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, ra quyết địnhđưa vụ án ra xét xử, triệu tập người tham gia phiên tòa v.v Từ đó, tôi chorằng nếu hiểu khái niệm CBXXST VADS dưới góc độ hoạt động TTDS baogồm cả những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và ngườitham gia tố tụng tiến hành như nêu trên là quá rộng và không chính xác Vì
vậy, khái niệm CBXXST VADS phải được hiểu như sau: CBXXST VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự.
1.1.2 Các đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Khi việc khởi kiện VADS đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện cả
về nội dung và hình thức khởi kiện thì Tòa án sẽ thụ lý VADS Sau khi thụ lýVADS thì Tòa án phải tiến hành giải quyết VADS thông qua việc hòa giải hayxét xử vụ án CBXXST VADS nhằm tạo những điều kiện cần thiết cho việcxét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm CBXXST VADS có các đặc điểm cơ bảnsau:
Trang 18- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có mục đích là nhằm tạo các điều kiện cần thiết để tiến hành phiên tòa sơ thẩm có hiệu quả.
Để giải quyết VADS tại phiên tòa có hiệu quả thì ít nhất Tòa án cũngphải nắm vững được nội dung vụ án, pháp luật áp dụng giải quyết vụ án vànhững vấn đề khác liên quan đến vụ án Trong khi đó, Tòa án không phải làngười tham gia vào VADS và pháp luật áp dụng giải quyết mỗi vụ án khácnhau nên không phải trong trường hợp nào Tòa án cũng có thể nắm vữngđược các vấn đề đó Trong thực tế, nhiều VADS được Tòa án thụ lý giải quyếtrất phức tạp, các quy định của pháp luật áp dụng giải quyết VADS lại không
rõ ràng, nhất quán, ý thức pháp luật của đương sự hạn chế v.v… nên việc xácminh làm rõ các tình tiết của VADS, áp dụng pháp luật giải quyết VADS, triệutập đương sự đến tham gia tố tụng của Tòa án đã gặp không ít khó khăn.Ngoài ra, do yêu cầu của việc giải quyết VADS phải được tiến hành nhanhchóng và đúng đắn nên pháp luật quy định việc xét xử phải tiến hành côngkhai, trực tiếp, liên tục và bằng lời nói Vì vậy, Tòa án phải tiến hành các côngviệc CBXXST VADS với mục đích nhằm tạo các điều kiện cần thiết để tiếnhành phiên tòa sơ thẩm có hiệu quả
- CBXXST VADS bao gồm nhiều hoạt động do Tòa án tiến hành trên
cơ sở quy định của pháp luật nhằm mục đích bảo đảm những điều kiện cầnthiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm
Trong TTDS, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giảiquyết VADS Để việc xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm có hiệu quả, thì trongthời gian CBXXST VADS Tòa án phải tiến hành nhiều hoạt động tố tụng khácnhau như thông báo việc thụ lý vụ án, lập hồ sơ vụ án, nghiên cứu các chứng cứ,tài liệu có trong hồ sơ vụ án, pháp luật áp dụng giải quyết vụ án, hòa giải, quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, triệu tập các đương sự và những người tham gia tố tụngđến tham gia phiên tòa v.v… Tất cả các hoạt động này đều được tiến hành trên
cơ sở quy định của pháp luật và với mục đích nhằm bảo đảm những điều kiệncần thiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm
Trang 19- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý VADS và kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử VADS.
Theo quy định của pháp luật TTDS thì thời hạn giải quyết VADSkhông phải là vô hạn, trong một thời hạn nhất định Tòa án phải mở phiên tòa
để xét xử vụ án Vì vậy, để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án thì ngaykhi thụ lý VADS Tòa án đã phải tiến hành các công việc CBXXST VADS nhưnghiên cứu các chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp ban đầu để xác địnhyêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án, thànhphần đương sự, các chứng cứ, tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án v.v…Mặt khác, khi phiên tòa sơ thẩm đã mở thì việc xét xử đã được thực hiện, cáchoạt động của Tòa án chỉ tập trung vào việc xét xử vụ án Do đó, CBXXSTVADS sẽ kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử VADS
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có mối liên hệ và là hệ quả của việc thụ lý vụ án, là tiền đề của việc xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm
Khi thụ lý VADS, Tòa án mới có trách nhiệm giải quyết VADS Vì thế,CBXXST VADS có mối quan hệ mật thiết với thụ lý VADS và là hệ quả của việcthụ lý VADS, chỉ được tiến hành sau khi Tòa án đã thụ lý VADS Đối với nhữngtrường hợp việc khởi kiện không đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quyđịnh không được Tòa án chấp nhận thụ lý, thì Tòa án không có trách nhiệm giảiquyết nên không phải tiến hành các công việc CBXXST VADS
Để tạo các điều kiện cần thiết để tiến hành xét xử VADS tại phiên tòa
sơ thẩm có hiệu quả thì Tòa án phải tiến hành các công việc CBXXST VADS
Vì vậy, CBXXST VADS không những chỉ có mối quan hệ với thụ lý VADS
mà còn có mối quan hệ mật thiết với phiên tòa sơ thẩm và là tiền đề của việcxét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm Theo đó, Tòa án chỉ có thể tiến hành xét xửVADS tại phiên tòa sau khi đã tiến hành CBXXST VADS
Ngoài ra, do phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với phiên tòa phúc thẩmdân sự, VADS cũng khác với việc dân sự và vụ án hình sự cho nên CBXXST
Trang 20VADS cũng khác với chuẩn bị xét xử phúc VADS, chuẩn bị phiên họp giảiquyết việc dân sự và chuẩn bị xét xử vụ án hình sự ở các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, khác với chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS trong CBXXST VADS Tòa án phải lập hồ sơ vụ án.
Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu đối với VADS Khi xét xử sơ thẩm Tòa
án phải có đầy đủ các chứng cứ, tài liệu để làm rõ các tình tiết của VADS Vìvậy, trong quá trình CBXXST VADS Tòa án phải tiến hành lập hồ sơ vụ án
Trong TTDS, các đương sự là người có quyền lợi liên quan đến vụ án,biết được các tình tiết liên quan đến vụ án và là người đưa ra yêu cầu cho Tòa
án giải quyết nên họ phải cung cấp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh làm
rõ sự thật khách quan vụ án Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đưa
ra yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì họ cũng
có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ như đương sự Mặt khác, trong TTDS, cácđương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ TTDS Vì thế, các đương sự cũngbình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ để chứng minh choyêu cầu của mình hoặc phản bác yêu cầu của đối phương Để bảo đảm việcthực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, trong quá trìnhCBXXST VADS Tòa án hướng dẫn các bên đương sự thực hiện việc cung cấpchứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Khicác đương sự cung cấp các chứng cứ, tài liệu cho Tòa án thì Tòa án phải tiếpnhận và lưu vào trong hồ sơ VADS Trong những trường hợp cần thiết Tòa án
có thể hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ
Khác với CBXXST VADS, do tính chất của xét xử phúc thẩm là "xét
xử lại vụ án" nên trong chuẩn bị xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm
không phải lập hồ sơ vụ án mà chủ yếu căn cứ vào hồ sơ đã được Tòa án cấp
sơ thẩm lập để giải quyết lại vụ án, trường hợp thiếu chứng cứ, tài liệu thì mới
bổ sung Các hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS chỉ tập trung vàophần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị và những phần liên quan
Trang 21đến kháng cáo, kháng nghị Nếu bản án, quyết định sơ thẩm có căn cứ thì cấpphúc thẩm y án sơ thẩm, nếu việc xây dựng hồ sơ vụ án của cấp sơ thẩm chưađầy đủ, nhiều thiếu sót thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, quyếtđịnh sơ thẩm giao cho Tòa án sơ thẩm xét xử lại.
Ngoài việc lập hồ sơ VADS, Tòa án có thể tiến hành nghiên cứu các tàiliệu, chứng cứ của VADS và bước đầu đánh giá chứng cứ để nhận thức sự thậtkhách quan VADS Khi thấy đủ các điều kiện xét xử VADS, Tòa án ra quyết địnhđưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét
xử tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án tiến hành triệu tập những người tham gia tố tụngđến tham gia phiên tòa sơ thẩm và thực hiện các công việc nghiệp vụ khác cầnthiết như nghiên cứu pháp luật giải quyết vụ án, xây dựng kế hoạch bảo vệ phiêntòa, chuyển hồ sơ vụ án cho VKS nghiên cứu v.v
Thứ hai, khác với chuẩn bị phiên họp giải quyết việc dân sự CBXXST VADS gồm nhiều hoạt động phức tạp và công phu.
Thủ tục giải quyết việc dân sự lần đầu tiên được quy định tạiBLTTDS Theo các quy định của BLTTDS thì thủ tục giải quyết việc dân sự
có nhiều điểm khác biệt với thủ tục giải quyết VADS và đơn giản hơn thủ tụcgiải quyết VADS nên việc chuẩn bị phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa
án cũng đơn giản Nói cách khác, như đã nêu trên CBXXST VADS gồm nhiềuhoạt động phức tạp và công phu hơn việc chuẩn bị phiên họp giải quyết việcdân sự Sở dĩ có sự khác nhau đó xuất phát từ chỗ:
- Trong việc dân sự các bên không có tranh chấp, chỉ yêu cầu Tòa ánxác định một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệpháp luật giữa họ hay công nhận, không công nhận quyền nghĩa vụ dân sự của
họ Tòa án có thể công nhận nếu yêu cầu đó là phù hợp hay không công nhậnnếu yêu cầu đó là không phù hợp với các quy định của pháp luật
- Thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định tại BLTTDS rút gọnhơn so với thủ tục giải quyết VADS về thành phần tiến hành tố tụng, các công
Trang 22việc tiến hành và thời hạn giải quyết nhằm bảo đảm cho việc giải quyết việcdân sự được nhanh chóng, giảm bớt chi phí tố tụng đồng thời tạo điều kiệncho Thẩm phán chủ động trong công việc của mình, nâng cao trách nhiệm cánhân của Thẩm phán, thực hiện những bước đi cơ bản của công cuộc cải cách
tư pháp Ngoại trừ việc giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 5 Điều 26;khoản 6 Điều 28; khoản 2, khoản 3 Điều 30; Điều 32 BLTTDS thành phầngiải quyết việc dân sự gồm 3 Thẩm phán, còn lại các việc dân sự khác gồmmột Thẩm phán giải quyết
- Trong giải quyết VADS, sự tham gia của Thẩm phán và các bênđương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là điều hiển nhiên Tuy nhiên, đối vớiVKS tùy thuộc vào mỗi vụ án mà sự tham gia của VKS là khác nhau Trong
mô hình của các nước theo hệ thống án lệ, hệ thống cơ quan công tố được tổchức rất gọn nhẹ, chủ yếu tham gia vào lĩnh vực hình sự mà không tham giavào lĩnh vực dân sự Bởi ở các nước này tồn tại quan điểm càng ít có sự canthiệp của Nhà nước, càng ít có sự can thiệp của pháp luật thì xã hội càng vậnhành có hiệu quả Ở nước ta, trước đây theo quy định của BLTTDS phạm vi
và mức độ tham gia tố tụng của VKS trong TTDS nói chung không nhiều.Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDSthì phạm vi tham gia phiên tòa của VKS đã được mở rộng hơn:
Viện kiểm sát nhân dân tham gia….các phiên tòa sơ thẩmđối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặcđối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sửdụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thànhniên, người có nhược điểm về thể chất và tâm thần [26]
Điều này, nhằm mục đích tăng cường hoạt động kiểm sát việc tuântheo pháp luật của VKS đối với hoạt động của những người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm Đối với việc giải quyết việcdân sự, thông thường là đơn giản hơn, nên BLTTDS quy định chỉ có một
Trang 23Thẩm phán (khoản 2 điều 55 BLTTDS) Để tránh khả năng lạm quyền của Thẩmphán đòi hỏi phải có sự kiểm sát chặt chẽ của VKS Do đó, BLTTDS quy định,đại diện VKS phải tham gia 100% các phiên họp giải quyết việc dân sự.
Thứ ba, khác với CBXXST vụ án hình sự, CBXXST VADS tiến hành trên cơ sở yêu cầu của đương sự, việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự và do Tòa án thực hiện.
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được tiến hành trên cơ sở thực hiệnquyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và vàoviệc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự
Điều 7 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 tuyên bố:
"Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ ngang nhau " [47] Như vậy, việc bảo vệ các quyền của con người là
trách nhiệm của mỗi Nhà nước Nhà nước với tư cách là đại diện cho lợi íchcủa các giai cấp trong xã hội, thông qua pháp luật ghi nhận và thiết lập cácbiện pháp pháp lý, bảo đảm việc bảo vệ quyền con người Việc xét xử của Tòa
án là một trong các biện pháp Nhà nước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi íchcủa các chủ thể Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án hình sự là giảiquyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội Chonên, phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến hành trên cơ sở các quyết định củacác cơ quan tiến hành tố tụng Còn việc giải quyết VADS là giải quyết cácquyền và nghĩa vụ dân sự chỉ liên quan đến cá nhân các đương sự Vì thế, cácđương sự có quyền lựa chọn biện pháp phù hợp với pháp luật để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho mình, khi thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án là cácbên đang thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình CBXXST VADS chỉ phát sinh khi các chủ thể thực hiện quyền này
Mặt khác, trong TTDS các đương sự có quyền tự định đoạt, có quyền
tự quyết định việc khởi kiện, tự tham gia TTDS hay ủy quyền cho người khác
Trang 24tham gia tố tụng; tự quyết định về phạm vi, nội dung, mức độ yêu cầu Tòa ánbảo vệ quyền, lợi ích của họ Trong quá trình tố tụng, họ có quyền đưa ra yêucầu, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu Trách nhiệm của Tòa án chỉ giải quyết trongphạm vi yêu cầu của đương sự, trừ một số trường hợp ngoại lệ Tòa án không tựxác định phạm vi giải quyết vụ án mà dựa trên yêu cầu của đương sự, phụ thuộcvào quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự Vì vậy, quá trình CBXXSTVADS phụ thuộc vào vào quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự Khiđương sự đưa ra yêu cầu mà thay đổi, bổ sung yêu cầu thì Tòa án phải xét xửtheo sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nên cũng căn cứ vào sự thay đổi,
bổ sung yêu cầu đó của đương sự mà CBXXST VADS
Trong vụ án hình sự, ngoại trừ các vụ án chỉ được khởi kiện theo yêucầu của người bị hại (khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự), sự phát sinh,thay đổi, chấm dứt dựa trên các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành
tố tụng Vì thế, việc nghiên cứu hồ sơ, CBXXSTVAHS cũng như phạm vi xét
xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm dựa trên nội dung quyết định truy tố củaVKS đối với các bị can, hai bên buộc tội và gỡ tội không thể thỏa thuận vớinhau về vụ án để chấm dứt quá trình tố tụng
- Các công việc CBXXST VADS do Tòa án thực hiện
Như đã nêu trên, trong TTDS việc chứng minh làm rõ các tình tiết liênquan đến VADS trước hết thuộc trách nhiệm của các đương sự Các đương sựkhi đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của người khác phải cung cấp choTòa án để chứng minh cho yêu cầu hay sự phản đối của mình Theo đó, các cánhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người khác cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minhnhư đương sự Từ đó, việc lập hồ sơ VADS được thực hiện chủ yếu trên cơ sởhoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự Hoạt động xác minh, thu thậpchứng cứ trong những trường hợp do pháp luật TTDS quy định chỉ nhằm bổsung cho hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ
Trang 25chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháctrong trường hợp họ không hoàn thành được nghĩa vụ chứng minh của mình
để bảo đảm việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn Pháp luậtTTDS không quy định một cơ quan riêng có thẩm quyền trong việc lập hồ sơVADS như trong tố tụng hình sự Vì vậy, khác với chuẩn bị xét xử vụ án hình
sự, các công việc CBXXST VADS do Tòa án thực hiện
Trong tố tụng hình sự, việc chuẩn bị xét xử vụ án hình sự cũng do Tòa
án tiến hành Tuy nhiên, do tính chất và sự phức tạp của vụ án hình sự để giảiquyết đúng đắn vụ án hình sự, pháp luật tố tụng hình sự quy định việc giảiquyết vụ án hình sự với sự tham gia nhiều cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.Theo quy định tại Điều 10 BLTTHS:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọibiện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách kháchquan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và nhữngtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Tráchnhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng
Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh làmình vô tội [22]
Do vậy, trong tố tụng hình sự các chuẩn bị xét xử vụ án hình sự đượcthực hiện bởi nhiều cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án chỉ là một trong số các
cơ quan đó Và Tòa án chỉ tiến hành chuẩn bị xét xử vụ án hình sự cũng khi
cơ quan điều tra đã lập xong hồ sơ vụ án hình sự và đã được VKS phê chuẩn.Tòa án chỉ nghiên cứu hồ sơ vụ án mà tiến hành các hoạt động tố tụng để lập
hồ sơ vụ án như trong CBXXST VADS
1.2 Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Hoạt động xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm chỉ có hiệu quả khi đã có
đủ các điều kiện nhất định như đã có đủ các chứng cứ, tài liệu để làm rõ sự
Trang 26thật khách quan của vụ án, những người tham gia tố tụng đã có mặt đầy đủtham gia phiên tòa, các thành viên của Hội đồng xét xử đã nắm vững các tìnhtiết liên quan đến VADS và pháp luật áp dụng giải quyết VADS v.v…Vì vậy,việc CBXXST VADS có nhiều ý nghĩa và là một trong các yếu tố quan trọngquyết định đến hiệu quả xét xử VADS của Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm Các ýnghĩa của việc CBXXST VADS thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, CBXXST VADS giúp Tòa án xây dựng hồ sơ VADS, có đầy
đủ chứng cứ, tài liệu liên quan đến VADS để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về các tình tiết của vụ án, từ đó giải quyết chính xác VADS.
Tại phiên tòa sơ thẩm, tất cả các yêu cầu, chứng cứ, tài liệu được xemxét, đánh giá toàn diện, trực tiếp và công khai Thực tiễn xét xử của Tòa áncho thấy, để giải quyết được VADS tại phiên tòa sơ thẩm được nhanh chóng
và đúng đắn thì các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ VADS phải đầy đủ và phảiđược Tòa án nghiên cứu trước đó Vì phiên tòa sơ thẩm chỉ diễn ra trong mộtthời gian ngắn và có những chứng cứ, tài liệu cần có thời gian mới có thểnghiên cứu, đánh giá đúng Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng cóthể cung cấp cho Tòa án các chứng cứ, tài liệu nhưng cũng chỉ mang tính chất
bổ sung Nếu tất cả các chứng cứ tài liệu đến phiên tòa đương sự mới đượccung cấp và Tòa án với nghiên cứu thì không thể thực hiện ngay được việc xét
xử Vì vậy, nếu CBXXST VADS tốt thì phiên tòa sẽ diễn tiến thuận lợi, đúngquy định của pháp luật, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương
sự và sẽ góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại, khángnghị theo thủ tục giám đốc thẩm Việc giải quyết VADS cũng nhờ đó được kếtthúc nhanh chóng, tiết kiệm chi phí tố tụng cho Nhà nước và các đương sự,giao lưu dân sự được ổn định, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển CBXXSTVADS có ý nghĩa chi phối quá trình giải quyết VADS tại phiên tòa dân sự sơthẩm nên trong quá trình CBXXST VADS, Thẩm phán được phân công giảiquyết vụ án phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, để xem xét đầy đủ chứng cứ, tài liệu,trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu đương sự cung cấp thêm chứng cứ,
Trang 27tài liệu hoặc theo quy định của pháp luật TTDS Tòa án tự mình thu thập đểlàm rõ hơn tình tiết của vụ án.
Thứ hai, CBXXST VADS giúp Tòa án tiến hành các công việc cần thiết để bảo đảm các điều kiện cho việc mở phiên tòa sơ thẩm.
Ngoài việc lập hồ sơ vụ án, để mở phiên tòa sơ thẩm thì Tòa án cònphải tiến hành những công việc nhất định như phân công những người tiếnhành tố tụng, triệu tập những người tham gia tố tụng, chuẩn bị cơ sở vật chấtcho phiên tòa như chuẩn bị hội trường xét xử, thiết bị âm thanh, ánh sáng…Thực tiễn xét xử cũng cho thấy đây là những công việc giúp cho việc xét xửdiễn ra được thuận lợi, đúng kế hoạch Vì để xét xử được VADS thì các thànhviên của Hội đồng xét xử phải có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhữngngười tham gia tố tụng phải có mặt tham gia phiên tòa và việc xét xử cũng cầnphải có hội trường xét xử, thiết bị âm thanh, ánh sáng v.v… Việc phân côngnhững người tiến hành tố tụng, triệu tập những người tham gia tố tụng trướckhi mở phiên tòa một thời gian nhất định sẽ tạo điều kiện cho họ chuẩn bịtham gia xét xử tại phiên tòa được tốt Mặt khác, việc hội trường xét xử, thiết
bị âm thanh, ánh sáng v.v… tạo các điều kiện vật chất để hỗ trợ cho việc tiếnhành phiên tòa nghiêm túc và có hiệu quả
Thứ ba, CBXXST VADS tạo điều kiện để Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật nâng cao ý thức pháp luật của đương sự, giải quyết những vướng mắc trong tư tưởng, tình cảm của họ để phiên tòa diễn ra được thuận lợi.
Trong quá trình CBXXST VADS, mọi yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của
vụ án, những thắc mắc của các bên đương sự đều được Thẩm phán xem xét,phân tích rõ tại các buổi lấy lời khai, hòa giải nên các đương sự cũng hiểu biếtthêm về pháp luật, nhận thức rõ hơn về quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước về sự việc Khi đã nhận thức rõ được cácquy định của pháp luật, các đương sự sẽ hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ củamình trong quan hệ pháp luật nên những mâu thuẫn, vướng mắc trong tư
Trang 28tưởng, tình cảm, tâm lý thắng thua của đương sự được giải tỏa Như vậy,thông qua việc lấy lời khai, hòa giải, Tòa án thực hiện tuyên truyền, giáo dụcpháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, củng cố thêm lòng tin củanhân dân vào đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.Cho nên, nếu hoạt động này được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm tác dụng củacông tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, thực hiện việc tuyên truyềnđường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, các bên đương sựthỏa thuận được với nhau, tránh phải mở phiên tòa, tiết kiệm được thời giancủa các bên, tránh lãng phí tiền của cho đương sự và cho Nhà nước nếu phải
mở phiên tòa Ngược lại, quá trình CBXXST VADS tiến hành không tốt cónhiều sai sót thì kết quả của công tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởngxấu, làm cho mọi người thiếu tin tưởng vào hoạt động hòa giải của Tòa án
Ngoài ra, CBXXST VADS còn tạo điều kiện cho các đương sự trongviệc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa chứng minh bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình Trong TTDS, các đương sự có quyền và nghĩa vụcung cấp chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình trướcTòa án Nếu đương sự không cung cấp hoặc cung cấp không đủ chứng cứ đểchứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải chịu hậu quả củaviệc không cung cấp hoặc cung cấp không đủ chứng cứ Các chứng cứ, tàiliệu liên quan đến VADS không phải lúc nào cũng do đương sự giữ, nhất làđối với bị đơn là người bị động trong việc tham gia tố tụng Trong nhiềutrường hợp, các chứng cứ, tài liệu liên quan đến VADS do các cá nhân, cơquan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý, đương sự phải yêu cầu họ cung cấp chomình để cung cấp cho Tòa án Thực tế cho thấy, để thực hiện được việc nàycần phải có một thời gian nhất định Mặt khác, muốn chứng minh bảo vệ đượcquyền và và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án đương sự phải có sự hiểubiết pháp luật nhất định nên phải tìm hiểu pháp luật hoặc phải ủy quyền chongười khác đại diện cho mình trong tố tụng hay nhờ người khác tham gia tốtụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Vì vậy, thời gian CBXXST
Trang 29VADS là thời gian quan trọng tạo điều kiện cho đương sự thu thập chứng cứcung cấp cho Tòa án, nghiên cứu pháp luật, ủy quyền hay nhờ người kháctham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước phiêntòa sơ thẩm.
1.3 KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG VIỆT NAM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra mở ra kỷ nguyên mới cholịch sử dân tộc Việt Nam, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhànước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á Ngay sau khi giành đượcchính quyền, để xây dựng và củng cố chính quyền cũng như đáp ứng đòi hỏimới của đời sống dân sự, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản phápluật mới Ngày 13/09/1945 Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 32 bãi bỏ haingạch quan hành chính và quan tư pháp; ngày 10-10-1945 Nhà nước ban hànhSắc lệnh số 47 cho giữ tạm thời các luật lệ cũ những điều khoản không tráivới nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa;ngày 13/09/1945 ban hành Sắc lệnh thiết lập các Tòa án quân sự - cơ quan xét
xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đánh dấu sự ra đời của TAND ởnước ta Tiếp đó, ngày 24/01/1946 Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 13 về tổchức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy địnhmột cách đầy đủ tổ chức giải quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở
cơ sở cũng như tổ chức các Tòa án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyềnhạn của các ngạch Thẩm phán Về xét xử thì mỗi tuần lễ, ít ra cũng phải cóhai phiên tòa công khai: một phiên hộ và một phiên hình Trước khi mở phiêntòa, các phụ thẩm nhân dân không được đọc hồ sơ, nhưng tại phiên tòa họ có
quyền yêu cầu ông Chánh án (Chủ tọa phiên tòa) hỏi thêm các bị cáo và cho
biết các tài liệu có trong hồ sơ Tiếp theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946,
Trang 30Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946 ấn định thẩm quyềncác Tòa án và sự phân công giữa các thành viên trong Tòa án So với Sắc lệnh
số 13 ngày 24/01/1946, thì Sắc lệnh này quy định cụ thể hơn về thẩm quyềncủa các Tòa án, các thủ tục phải tiến hành trước khi mở phiên tòa xét xử,quyền cung cấp chứng cứ của đương sự…
Ngày 09/11/1946 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thôngqua bản Hiến pháp năm 1946 Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 là sự kiệnpháp lý quan trọng để Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành cảicách bộ máy tư pháp và thủ tục tố tụng Ngày 25/05/1950 Nhà nước ban hànhSắc lệnh số 85/ SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng Ngoài việc đổitên Tòa án thành TAND huyện, TAND tỉnh, Sắc lệnh này đã quy định về cảicách bộ máy tư pháp và tố tụng
Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, ngoài nhữngvăn bản pháp luật đã nêu trên thì hầu như không có văn bản pháp luật nào quyđịnh về thủ tục TTDS Nguyên nhân chính của tình trạng này là do thời giannày chúng ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, các tranh chấp dân
sự Tòa án thụ lý giải quyết ít mà chủ yếu là các vụ án hình sự
Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, quân và dânmiền Bắc ra sức thi đua sản xuất, hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đưaMiền Bắc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chi viện cho miền Namkháng chiến chống Mỹ Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1959, Nhànước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về TTDS như Thông tư
số 1507/HCTP ngày 24/08/1956 của Bộ Tư pháp về tư pháp xã và công nhậnthuận tình ly hôn; Thông tư số 141/HCTP ngày 05/02/1957 của Bộ Tư phápquy định về tổ chức và phân công trong nội bộ Tòa án; Thông tư số 69/TCngày 31/12/1958 của Bộ Tư pháp, TANDTC sửa đổi thẩm quyền của TAND
và thủ tục ly hôn v.v…
Ở Miền Nam, trong thời gian chính quyền Sài Gòn việc giải quyết các
vụ việc dân sự được thực hiện theo những văn bản pháp luật ban hành dưới
Trang 31thời Pháp thuộc như Bộ luật dân sự (BLDS) tố tụng ban hành theo Nghị định16/3/1910 và một số văn bản mới ban hành như Dụ số 27 ngày 2/9/1954 vềTòa phá án, Dụ số 15 ngày 08/07/1952 về Tòa án Lao động, Dụ số 04 ngày02/04/1953 về Tòa án nhà phố… Ngoài ra, án lệ cũng là một trong các nguồnluật để các Tòa án giải thích và áp dụng trong giải quyết các vụ việc dân sự.
Như vậy, mặc dù mới ra đời sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lạiphải lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp, nhưng từ năm 1945 đếnnăm 1959 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong đó có quyđịnh về tổ chức Tòa án và thủ tục TTDS Những quy định này tuy còn sơ sàinhưng đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng nền tác tưpháp mới, đặt nền móng quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật TTDS,trong đó có các quy định về CBXXST VADS trong thời gian sau này
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988
Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1959, Nhà nước ta ban hành Luật tổchức TAND và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) vào năm
1960 Sau đó, TANDTC đã ban hành một khối lượng đáng kể các văn bảnhướng dẫn về thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự và hôn nhân gia đìnhtrong đó có quy định về CBXXST VADS như: Thông tư số 03/NCPL ngày03/03/1966 về trình tự giải quyết việc ly hôn; Thông tư số 39/NCPL ngày21/01/1972 hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện vềhôn nhân và gia đình và tranh chấp về dân sự; Thông tư số 06/TATC ngày25/2/1974 hướng dẫn về công tác điều tra trong TTDS; Bản hướng dẫn vềtrình tự xét xử sơ thẩm về dân sự ban hành kèm theo Thông tư số 96/NCPLngày 8/2/1977 v.v… Trong các văn bản pháp luật này, ở những mức độ khácnhau đều có những quy định về CBXXST VADS
Theo Thông tư số 03/NCPL ngày 03/03/1966, thì trong khi hỏi đương
sự và trong quá trình điều tra xét thấy cần thiết cần phổ biến nội dung nhữngđiều khoản của Luật hôn nhân và gia đình và chính sách có liên quan đến việc
Trang 32của đương sự để đương sự biết được quyền lợi, nghĩa vụ của họ, giúp họ khaibáo rõ ràng, đề xuất những yêu cầu chính đáng.
Theo Thông tư số 39/NCPL ngày 21/01/1972, thì khi nghiên cứu một
hồ sơ khởi kiện, Thẩm phán cần xem xét nội dung của đơn kiện có rõ ràngkhông, vụ kiện có thuộc quyền xét xử của Tòa án không, nguyên đơn có đủ tưcách đi kiện không và nếu nhận thấy nội dung đơn khởi kiện đã rõ ràng, vụkiện thuộc thẩm quyền của Tòa án mình mà nguyên đơn có đủ tư cách đi kiện,Thẩm phán phải thụ lý vụ kiện Việc đó phải được vào sổ thụ lý ngay và Tòa
án phải triệu tập ngay các đương sự đến Tòa án để Điều tra, hòa giải…
Thông tư số 06/TATC ngày 25/2/1974, thì trong TTDS việc điều tra,thu thập chứng cứ, lập hồ sơ khi có đơn kiện là nhiệm vụ của TAND Cácđương sự (nguyên đơn, bị đơn, người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu
và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu vàbảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Nhiệm vụ của TAND làphải kiểm tra kỹ những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất, đồng thời phảichủ động tiến hành mọi biện pháp điều tra cần thiết làm sáng tỏ sự thật
Theo Thông tư số 96/NCPL ngày 8/2/1977, muốn giải quyết một vụkiện được chính xác thì trước tiên, công tác điều tra phải đầy đủ và kháchquan Để bảo vệ những quyền lợi của mình, các đương sự có nhiệm vụ phải
đề xuất chứng cứ nhưng Tòa án không được phép chỉ dựa vào những lời khaicủa các đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét
xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật
Như vậy, tuy còn tản mạn, hiệu lực văn bản pháp luật TTDS chưa có hiệu lực cao nhưng các quy định về CBXXST VADS trong thời kỳ này đã quy định khá đầy đủ và hợp lý các vấn đề về cung cấp chứng cứ của đương sự, thu thập chứng cứ của Tòa án và những vấn đề khác nhằm tạo các điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm Đây là những quy định rất quan trọng là cơ sở cho việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật TTDS sau này.
Trang 331.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vềviệc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, từ năm 1989 đến năm 2003Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định các vấn
đề về TTDS như Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS (thông qua ngày 29/11/1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế (thông qua ngày 16/03/1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động (thông qua ngày 11/04/1996) Các pháp lệnh này đã kế thừa các quy định về TTDS của
pháp luật được ban hành trong các giai đoạn trước và bổ sung nhiều quy địnhmới, trong đó có cả vấn đề CBXXST VADS Cụ thể, trong các pháp lệnh nàyvấn đề CBXXST VADS được quy định như sau;
- Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS vấn đề CBXXST VADSđược quy định từ Điều 38 đến Điều 47, thuộc chương VII và chương IX củaPháp lệnh Theo các quy định này công tác chuẩn bị xét xử gồm: Điều tra vụ
án, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải và ra một trong cácquyết định Trước khi hòa giải, xét xử, Tòa án phải tiến hành hoạt động điều
tra, cụ thể gồm các hoạt động sau: - Lấy lời khai của các đương sự, người làm chứng về những vấn đề cần thiết; - Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hữu quan hoặc công dân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết
vụ án; - Xem xét tại chỗ; - Trưng cầu giám định.
Pháp lệnh cũng đã có quy định rõ hơn về việc ủy thác điều tra: "Nếucần điều tra ở ngoài địa hạt của mình thì Tòa án có thể ủy thác cho Tòa án nơicần phải tiến hành điều tra" Theo các quy định của Pháp lệnh và các văn bảnhướng dẫn thi hành thì trong chuẩn bị xét xử VADS, vai trò của Tòa án thểhiện ở sự chủ động tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ chứngminh nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Các đương sự trở thànhđối tượng điều tra của Tòa án trong hoạt động thu thập chứng cứ, nên phầnnào có sự thụ động Vai trò của VKS cũng được thể hiện tương đối rõ nét:
Trang 34ngoài việc VKS có quyền khởi kiện VADS trong một số trường hợp thì VKScòn có "quyền tự mình hoặc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc điềutra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án" Như vậy, tuy là cơquan giữ vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS đã lại phần nào có sự
"lấn sân" sang vai trò của Tòa án Tại Điều 47 quy định về thời hạn chuẩn bịxét xử: là "trong thời hạn bốn tháng"; còn thời hạn mở phiên tòa kể từ thờiđiểm có Quyết định đưa vụ án ra xét xử là "trong thời hạn một tháng", và "nếu
có lý do chính đáng thì trong thời hạn hai tháng" - tức không có sự khác biệtnào đáng kể so với thời hạn của BLTTDS; tuy nhiên, quy định về thời hạntrên quá chung chung, chỉ phù hợp áp dụng đối với những vụ án có tính chấtđơn giản về nội dung và số lượng người tham gia tố tụng không nhiều, cònđối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc nhiều người tham gia tố tụngthì có nhiều vướng mắc, dễ dẫn đến tình trạng vi phạm tố tụng về thời hạn;
- Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế vấn đề CBXXST vụ
án kinh tế được quy định từ Điều 34 đến Điều 40 Ra đời sau Pháp lệnh thủtục giải quyết các VADS khoảng 5 năm, các quy định về CBXXST vụ án kinh
tế được quy định thành một chương riêng biệt (chương VII) Theo đó, côngtác chuẩn bị xét xử gồm các công việc: thông báo cho bị đơn và người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện; xác minh, thu thập chứng
cứ, hòa giải, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và ra các quyết địnhphù hợp với từng trường hợp Điều 35 Pháp lệnh quy định: "Xét thấy cầnthiết, Tòa án có thể tiến hành hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiến hành xácminh, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án" [42] Việc xácminh, thu thập chứng cứ là hoạt động quan trọng và có thể thấy, giữ vai trò làchủ thể chứng minh trong vụ án kinh tế chính là đương sự, còn Tòa án chỉ thuthập chứng cứ khi xét thấy cần thiết Vấn đề thời hạn được quy định một cách
rõ ràng trong các điều luật: thời hạn Thông báo cho bị đơn và người có quyềnlợi nghĩa vụ liên quan biết việc khởi kiện là 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án;quyền phản tố cũng đã bước đầu được đề cập đến khi quy định trong thời hạn
Trang 3510 ngày kể từ ngày được thông báo, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan phải gửi cho Tòa án ý kiến của mình bằng văn bản về đơn kiện vàcác tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án Do tính chất đơn giảncủa các quan hệ tranh chấp, do sự cần thiết phải được nhanh chóng giải quyếtcủa các vụ án kinh tế, và do tính chủ động cung cấp chứng cứ của đương sự,nên quy định thời hạn xét xử được rút ngắn đi rất nhiều so với VADS, cụ thể:Thời hạn phải đưa vụ án ra xét xử là "bốn mươi ngày kể từ ngày thụ lý vụ án"
và phải đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn "mười ngày kể từ ngày có Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn đókhông quá hai mươi ngày" Vai trò của VKS trong vụ án kinh tế có sự hạn chếhơn so với các VADS: sự tham gia tố tụng của VKS ở bất kỳ giai đoạn nào
"nếu xét thấy cần thiết"
Do tính chất phát triển không ngừng của kinh tế, xã hội, các tranhchấp kinh tế ngày càng phát sinh nhiều hơn và phức tạp hơn; thậm chí, thườngxuyên có yếu tố nước ngoài, vì thế, một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án kinh tế về công tác chuẩn bị xét xử đã không còn phù hợp, sựcần thiết phải có những quy định mới ngày càng bức xúc hơn, dẫn đến sự rađời của BLTTDS sau này
- Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, CBXXSTquy định từ Điều 36 đến Điều 42, được quy định tại chương VII của Pháp lệnh.Gồm các công việc: thông báo cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan biết nội dung đơn kiện; xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, áp dụng cácbiện pháp khẩn cấp tạm thời và ra các quyết định Tương tự như các quy địnhcủa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, quan trọng là công tác xácminh, thu thập chứng cứ Vai trò của đương sự được thể hiện ở sự chủ động thuthập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ cho quyền - lợi ích hợp phápcủa mình Tòa án tự mình hoặc ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ, xácminh "khi thấy cần thiết" Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa
án phải thông báo cho Bị đơn và người có quyền lợi
Trang 36nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện Trong thời hạn ba mươi ngày kể từngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công Chủ tọa phải có Quyết định
đưa vụ án ra xét xử (nếu không tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết).
VKS chỉ tham gia những vụ án do mình khởi tố hoặc có yêu cầu tham giaphiên tòa Có thể nói, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp laođộng, sự tham gia của VKS có sự hạn chế hơn, thời hạn tố tụng ngắn hơn cácquy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS
Trong các quy định của cả ba Pháp lệnh nói trên đều quy định: "Tòa
án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án" (ngoại trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải quy định tại Điều 43 Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS) Sở dĩ có quy định này là
bởi nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự Quy định vềhòa giải cũng được BLTTDS kế thừa và phát triển một cách rõ ràng, cụ thểhơn và được nâng lên một tầm cao mới: thủ tục hòa giải là bắt buộc và đượcthực hiện trên hai tiêu chí: sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự vànội dung sự thỏa thuận đó không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
Ngoài các quy định về CBXXST VADS trong ba Pháp lệnh trên,trong một số văn bản của TANDTC và các cơ quan hữu quan như Nghị quyết
số 03/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướngdẫn thực hiện các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS; Thông tưliên ngành số 09/TTLN ngày 01/01/1990 của TANDTC, VKSNDTC và Bộ
Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyếtVADS, vấn đề chuẩn bị xét xử VADS được cụ thể hóa thành những công việc,những thủ tục nhằm làm cho người tiến hành tố tụng thực hiện một cách tốtnhất công việc chuẩn bị xét xử
Như vậy, trong giai đoạn này nhiều văn bản quy định về TTDS có hiệulực tương đối cao đã được ban hành Việc ban hành các văn bản pháp luật này
đã đánh dấu bước phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam, tạo cơ sở pháp lýcho việc giải quyết các VADS nói chung và việc CBXXST VADS nói
Trang 37riêng Tuy nhiên, các quy định của các văn bản pháp luật này quy định vềCBXXST VADS còn chung chung, chưa đề cao được vai trò chứng minh củađương sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết vụ án Mặt khác,bản chất ba loại tranh chấp kinh tế, dân sự và lao động giống nhau thủ tục giảiquyết lại được quy định trong ba văn bản khác nhau nên cách hiểu và áp dụngpháp luật trên thực tế còn nhiều bất cập Đó chính là một trong những nguyênnhân dẫn đến việc giải quyết các vụ án bị tồn đọng, kéo dài, bản án bị sửa,hủy nhiều gây tốn kém cho đương sự và Nhà nước.
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tư pháp, ngày 02/01/2002, BộChính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của côngtác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới hoạtđộng của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng Trên cơ sở thựctrạng pháp luật TTDS và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 15/06/2004Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS và
có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 Trong BLTTDS có nhiều quy định vềCBXXST VADS như các điều từ Điều 172 đến Điều 179 quy định về phân côngThẩm phán giải quyết VADS, thông báo thụ lý VADS, lập hồ sơ VADS, thời hạnCBXXST VADS v.v… Sau khi BLTTDS được ban hành, nhiều văn bản hướngdẫn thi hành Bộ luật này cũng được ban hành như Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS năm 2004; Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII "Các biện
pháp khẩn cấp tạm thời" của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày
17/9/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy
định của BLTTDS về "Chứng cứ và chứng minh"; Nghị quyết số HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành
02/2006/NQ-các quy định trong Phần thứ
Trang 38hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm của BLTTDS", Thông tư
liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/09/2005 củaTANDTC và VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS
về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS và sự tham gia của VKSNDtrong việc giải quyết các vụ việc dân sự v.v…
Việc ban hành BLTTDS đã thống nhất ba loại hình tố tụng, khắc phụcđược tình trạng quy định tản mạn, mâu thuẫn của các văn bản pháp luật tốtụng trước đây, trong đó vấn đề CBXXST VADS đã được quy định tương đốiđầy đủ và chặt chẽ Tuy vậy, sau 5 năm thực hiện, BLTTDS đã bộc lộ một sốquy định không phù hợp với thực tiễn hoặc một số quy định của Bộ luật cònchưa rõ ràng, chưa đầy đủ và mâu thuẫn Vì vậy, ngày 29/03/2011 Nhà nước
ta đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS và có hiệu lực
từ ngày 01/01/2012 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS đã sửađổi, bổ sung nhiều quy định của BLTTDS, như các quy định về thẩm quyềncủa Tòa án, việc VKS tham gia phiên tòa, thời hiệu khởi kiện v.v… và cácquy định liên quan đến CBXXST VADS như quy định về thời điểm đưa rayêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan cũng được sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện hơn
Như vậy, so với các giai đoạn trước đây thì pháp luật TTDS nói chung,các quy định về CBXXST VADS giai đoạn này hoàn thiện nhất Vì vậy, đã tạođược cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc CBXXST VADS của Tòa án có hiệuquả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là một hoạt động tố tụng quan trọngtrong việc giải quyết VADS, là tiền đề bảo đảm cho việc xét xử và ra các phánquyết của Tòa án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật Trong thời gianCBXXST VADS, Tòa án tiến hành những công việc cần thiết nhằm làm rõnhững sự thật khách quan của vụ án, trong trường hợp các bên đương
Trang 39sự không hòa giải được với nhau, người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thìTòa án có thể ra phán quyết về vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên CBXXST VADS có nhiều điểm khác so với chuẩn bị xét xửphúc thẩm VADS, chuẩn bị phiên họp giải quyết việc dân sự và chuẩn bị xét
xử vụ án hình sự, bởi CBXXST VADS được tiến hành trên cơ sở việc thựchiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;phạm vi giải quyết VADS phụ thuộc vào quyền tự quyết định và định đoạt củađương sự; trong VADS các bên đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tốtụng, bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu và chứng minh yêu cầu Ở ViệtNam, pháp luật TTDS trong các giai đoạn khác nhau đều có quy định vềCBXXST VADS và ngày càng hoàn thiện Đến nay, CBXXST VADS bêncạnh được quy định trong BLTTDS còn được quy định trong Luật sửa đổi bổsung một số điều của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạoluật này
Trang 402.1 THỜI HẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Thời hạn CBXXST VADS là khoảng thời gian cần thiết để Tòa án tiếnhành lập hồ sơ vụ án và tiến hành các công việc khác cần thiết để đưa VADS
ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Thời hạn CBXXST VADS được tính từ ngàyTòa án thụ lý VADS đến ngày Tòa án ra mở phiên tòa xét xử VADS Sau khithụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết VADS phải tiến hành cáchoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án trong thời gian luật định Kếthừa các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS, Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết tranh chấp lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế,Điều 179 BLTTDS quy định về thời hạn CBXXST VADS bao gồm thời hạnquyết định đưa VADS ra xét xử và thời hạn mở phiên tòa sơ thẩm
Về thời hạn ra quyết định đưa VADS ra xét xử, tùy theo tính chất củatừng loại vụ án Điều 179 BLTTDS quy định khác nhau Đối với các tranhchấp về dân sự và tranh chấp hôn nhân và gia đình thời hạn ra quyết định đưa
VADS ra xét xử là bốn tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; nếu có "tính chất phức tạp" hoặc có "trở ngại khách quan" thì Chánh án có thể gia hạn nhưng không