Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, phúc thẩm trong TTDS là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ MINH NGUYỆT
ĐỀ TÀI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ MINH NGUYỆT
ĐỀ TÀI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Triều Dương
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Thị Minh Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới TS Nguyễn Triều Dương, người đã hướng dẫn tận tình và đầy trách nhiệm giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ luật học này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Sau đại học cùng toàn thể các thầy cô, gia đình, bạn bè đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Minh Nguyệt
Trang 5Luật tổ chức Tòa án nhân dân Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự Tòa án
Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng dân sự Thủ tục rút gọn
Vụ án dân sự Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 5
1.1.1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 5
1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 8
1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 14
1.2 Cơ sở xây dựng quy định pháp luật về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 16
1.2.1 Cơ sở lý luận 16
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 18
1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 8/1945 18
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 19
1.3.3 Giai đoạn từ 1960 đến năm 1989 20
1.3.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005 22
1.3.5 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015 23
1.3.6 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay 24
1.4 Pháp luật một số nước về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 25
1.4.1 Pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp 25
1.4.2 Pháp luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga 26
1.4.3 Pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ 27
Kết luận chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 31 2.1 Những quy định chung về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 31
2.1.1 Phạm vi xét xử tại phiên tòa phúc thẩm dân sự 31
2.1.2 Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 33
2.1.3 Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 34
Trang 72.1.4 Hoãn phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 37
2.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 39
2.2.1 Chuẩn bị khai mạc phiên tòa và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm 40
2.2.2 Tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm 41
2.2.3 Nghị án và tuyên án 48
2.3 Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm 51
2.3.1 Giữ nguyên bản án sơ thẩm 51
2.3.2 Sửa bản án sơ thẩm 52
2.3.3 Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm 54 2.3.4 Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án 55
2.3.5 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời57 2.3.6 Đình chỉ xét xử phúc thẩm 59
2.3.7 Tạm đình chỉ giải quyết vụ án 60
Kết luận Chương 2 61
Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 62
3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 62
3.2 Một số kiến nghị về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 70
3.2.1 Kiến nghị về xây dựng pháp luật 70
3.2.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật 73
Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN 78
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS), được quy định cụ thể trong pháp luật TTDS Việc quy định và thực hiện nguyên tắc này là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật của nhận thức và thực tiễn xét xử, nhằm đảm bảo cho các vụ án dân sự được xem xét, giải quyết một cách chính xác, khách quan, giúp Tòa án đưa ra được những bản án, quyết định đúng đắn nhất Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, phúc thẩm trong TTDS là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Để phúc thẩm vụ án dân sự thực sự có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự thì quy định về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự là rất quan trọng Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005) BLTTDS 2004 là kết quả của sự pháp điển hóa quan trọng các quy định pháp luật tố tụng dân sự (TTDS), trong đó có những quy định về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự (PTPTVADS) Các quy định
về PTPTVADS trong BLTTDS 2004 đã khắc phục được nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý của các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLGQCVAKT), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) Đồng thời, thể hiện việc đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính Trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Tuy nhiên, những quy định của
Trang 9bộ về phúc thẩm trong đó có các quy định về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân
sự, đảm bảo hơn nữa nguyên tắc tranh tụng của các bên đương sự nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, bên cạnh đó BLTTDS năm 2015 còn quy định về thủ tục rút gọn trong TTDS nhằm giải quyết các vụ án dân sự nhanh chóng, hiệu quả Kế thừa BLTTDS 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung 2011), BLTTDS năm 2015 dành riêng một chương – Chương XVII quy định
về thủ tục xét xử phúc thẩm Để tìm hiểu rõ hơn những quy định cũng như những điểm mới tiến bộ của BLTTDS năm 2015 về phiên tòa phúc thẩm vụ
án dân sự, tác giả chọn “Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phúc thẩm trong tố tụng dân sự luôn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu Xét đến thời điểm hiện tại
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý được công bố đề cập đến các khía cạnh và ở mức độ khác nhau của phúc thẩm, có thể kể đến như:
Luận án tiến sỹ luật học “Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm
2011 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; Khóa luận tốt nghiệp “Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự” năm 2012 của tác giả Hoàng Tuấn Anh; Khóa luận tốt
Trang 103 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cũng như quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự; thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTDS về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân
sự tại các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây
Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự là một vấn đề phức tạp và có nhiều nội dung khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ luật học tác giả chỉ tập trung nghiên cứu để làm rõ những nội dung về lý luận, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phiên tòa phúc thẩm
vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định đó tại các Tòa án Việt Nam hiện nay để từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự; nội dung những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự và thực tiễn thi hành tại Tòa án đồng thời tìm ra những điểm bất cập, hạn chế trong quá trình thi hành để đưa ra một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự
Để thực hiện được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, nghiên cứu sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời
Trang 114
kỳ; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, tìm hiểu thực tiễn thi hành và tìm ra các hạn chế, bất cập, nguyên nhân để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lenin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch
sử, suy luận logic
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba phần: phần mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương1: Một số vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
Trang 125
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
Để làm rõ khái niệm phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự (PTPTVADS) thì trước hết cần phải làm rõ các khái niệm phúc thẩm và phiên tòa phúc thẩm Phúc thẩm là một thủ tục có tính truyền thống lâu đời của TTDS, nó
được áp dụng ngay từ thời La Mã cổ đại “Theo trình tự tố tụng đặc biệt (cognitio extraordinaria), các quyết định do các quan tòa cấp dưới đưa ra không phải lúc nào cũng có hiệu lực, do vậy nếu các bên không thỏa mãn thì được quyền kháng cáo lên TA cấp trên” 1
Cùng với thời gian, thủ tục phúc
thẩm tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định Thủ tục phúc thẩm được áp dụng tương đối phổ biến với nội dung và mức độ khác nhau trong khoa học luật TTDS ở các nước thuộc hệ thống pháp luật dân sự cũng như hệ thống pháp luật án lệ
Ở Việt Nam, về khái niệm phúc thẩm, dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán – Việt từ điển thì phúc thẩm không có trong từ điển mà phải ghép nghĩa
của hai từ: “phúc” có nghĩa là “lật lại, úp lại, xét kỹ” 2 ; “thẩm” có nghĩa là
“xử đoán” Còn trong Từ điển Tiếng Việt thì phúc thẩm là “Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án” 3 Theo
cách giải thích này thì phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật khi có sự chống án
1
Nguyễn Ngọc Đào (2000), Luật La Mã, Nxb tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr 254 - 258
2
Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, Nxb Trường Thi, Sài gòn, tr 136
Trang 136
Theo từ điển Thuật ngữ Luật học của Trường đại học Luật Hà Nội thì
“phúc thẩm là xét xử lại vụ án mà bản án quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị” 4
Theo Điều 270 BLTTDS 2015: “phúc thẩm dân sự là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm phúc thẩm trong TTDS được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Đó là, phúc thẩm là một giai đoạn của quá trình TTDS, phúc thẩm là một thủ tục tố tụng và phúc thẩm là một cấp xét xử
Dưới góc độ là giai đoạn phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là giai đoạn của quá trình TTDS, trong đó TA cấp phúc thẩm xét xử lại VADS mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm, khắc phục kịp thời sai lầm của TA cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước Dưới góc độ là thủ tục xét xử phúc thẩm, thủ tục phúc thẩm trong TTDS
là cách thức tiến hành các hoạt động TTDS để TA cấp phúc thẩm xét xử lại VADS mà một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của TA cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục kịp thời sai lầm của TA cấp dưới, đảm bảo xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước
Dưới góc độ là cấp xét xử, phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, theo đó TA
có thẩm quyền xét xử lại VADS mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
Nội
Trang 147
lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục kịp thời sai lầm của TA cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước.5
Như vậy, phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ việc dân sự đã được tòa án cấp sơ thẩm giải quyết bằng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định Sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên thì bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay mà còn một thời gian để các đương sự có thể kháng cáo, Viện kiểm sát có thể kháng nghị Nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp tiến hành xét xử lại vụ án Thủ tục xét xử lại vụ án được gọi là thủ tục phúc thẩm dân sự Thủ tục phúc thẩm được bắt đầu khi có căn
cứ là kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát về bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn luật định Về bản chất, phúc thẩm không phải là lần xét xử đầu tiên đối với một vụ án mà là lần xét xử thứ hai Thủ tục phúc thẩm được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm, mục đích của phúc thẩm dân sự là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo kháng nghị Thông qua đó, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân, đảm bảo cho bản án, quyết định đưa ra thi hành là những bản án, quyết định đúng pháp luật và có căn cứ, căn cứ tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị hợp pháp
Còn khái niệm “phiên tòa”? Về mặt thuật ngữ, theo từ điển tiếng Việt thì phiên tòa là “lần họp để xét xử của Tòa án” 6 Dưới góc độ pháp lý “phiên
5
Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 17 - 26
Trang 158
tòa” đã được giải thích trong Từ điển Luật học, “phiên tòa” được hiểu “là hình thức hoạt động xét xử của Tòa án” 7 Do đó, có thể định nghĩa “phiên tòa
là phiên họp của Tòa án để tiến hành hoạt động xét xử của Tòa án”
Như vậy, có thể thấy rằng “PTPTVADS là phiên họp của Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự (VADS) đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị với sự tham gia của những người tham gia tố tụng nhằm xác định tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định đó theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định”
1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
PTPTVADS có những đặc điểm riêng để phân biệt với phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, đồng thời có những đặc điểm đặc thù khác biệt với phúc thẩm trong tố tụng hình sự và phúc thẩm trong tố tụng hành chính, thể hiện ở các đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ sở tiến hành PTPTVADS là dựa trên kháng cáo kháng nghị
đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Theo quy định của pháp luật TTDS, khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và kháng cáo, kháng nghị tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định thì VADS được đưa ra xét
xử theo thủ tục phúc thẩm Như vậy, cơ sở để tiến hành PTPTVADS là dựa trên kháng cáo, kháng nghị hợp lệ đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Đặc điểm này cho thấy sự khác biệt giữa cơ sở tiến hành PTPTVADS với phiên tòa sơ thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự Cơ sở tiến hành phiên tòa sơ thẩm xuất phát từ việc khởi kiện của đương sự; cơ sở của xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
7
Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 620
Trang 169
luật của những người có thẩm quyền Còn đối với việc tiến hành xét xử phúc thẩm được dựa trên cơ sơ là những kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên cấp Tòa án đã tiến hành xét xử sơ thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, PTPTVADS là phiên họp của Tòa án để xét xử lại một VADS
mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Đây là đặc điểm rất quan trọng để phân biệt phiên tòa phúc thẩm với phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự Nếu như
phiên tòa sơ thẩm là lần xét xử thứ nhất VADS, có nghĩa “sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật”8; phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không phải
là phiên tòa xét xử lần thứ ba mà là phiên họp xét xử lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị người có thẩm quyền kháng nghị vì có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án hoặc phát hiện có những tình tiết mới, còn PTPTVADS là phiên họp xét xử lại VADS mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Nếu VADS mà đã được giải quyết trong một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không thể được xem xét theo thủ tục phúc thẩm và đương nhiên không có PTPTVADS
Thứ ba, PTPTVADS được tiến hành công khai với sự có mặt của những
người tham gia tố tụng có liên quan đến giải quyết kháng cáo, kháng nghị Phúc thẩm là thủ tục tố tụng nhằm mục đích để cho đương sự, người đại diện của đương sự thực hiện quyền kháng cáo, VKS thực hiện quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và yêu cầu
8
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.244
Trang 1710
Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án dù bản án, quyết định sơ thẩm được coi là đúng pháp luật và có căn cứ Nếu có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp thì Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành thủ tục phúc thẩm để kiểm tra lại tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm PTPTVADS là phiên họp cần thiết để đảm bảo công bằng, dân chủ, bảo đảm kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Do đó, PTPTVADS phải được tiến hành công khai với sự góp mặt của những người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị như: Người tham gia tố tụng bao gồm các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và sự tham gia của đại diện VKS Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập người kháng cáo
và những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Nếu vắng mặt những người đã được triệu tập thì tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định hoãn, đình chỉ hoặc tiếp tục xét xử vắng mặt Đặc điểm này của PTPTVADS cho thấy sự khác biệt của PTPTVADS với phiên tòa sơ thẩm VADS và phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm (thực chất là phiên họp giám đốc thẩm, phiên họp tái thẩm) Phiên tòa sơ thẩm VADS phải có sự có mặt của tất cả những người tham gia tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt nên đương sự và những người tham gia tố tụng khác chỉ được triệu tập khi cần thiết, nếu họ vắng mặt thì phiên tòa vẫn được tiến hành bình thường
Thứ tư, thẩm quyền xét xử phúc thẩm VADS do Tòa án cấp phúc thẩm
trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sơ thẩm VADS tiến hành
Pháp luật của một số nước như Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga cũng quy định về phiên tòa phúc thẩm, theo đó: Điều 538 Bộ luật Tố tụng dân sự mới
của Cộng hòa Pháp quy định: “Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp
Trang 1811
phúc thẩm xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm”9; Điều 366 Bộ luật tố tụng
dân sự Liên Bang Nga quy định: “Các đương sự, những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo, VKS tham gia tố tụng có quyền kháng nghị bản án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm trừ bản án sơ thẩm của thẩm phán hòa giải để yêu cầu tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm”10 thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm đều do tòa án cấp trên của tòa án đã xét xử sơ thẩm tiến hành
Ở nước ta hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật tổ chức tòa
án nhân dân (LTCTAND) 2014 thì hiện nay có bốn cấp Tòa án gồm: Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) Nếu Tòa án cấp huyện thực hiện xét xử sơ thẩm VADS thì Tòa
án cấp tỉnh (cụ thể là Tòa dân sự, Tòa hôn nhân gia đình và vị thành niên, Tòa kinh tế, Tòa lao động) sẽ thực hiện xét xử phúc thẩm vụ án đó và nếu Tòa án cấp tỉnh thực hiện xét xử sơ thẩm thì Tòa án cấp cao sẽ thực hiện phúc thẩm
vụ án đó, còn Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Như vậy, Tòa án thực hiện xét xử phúc thẩm
là Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao
Thứ năm, mục đích của PTPTVADS là kiểm tra tính hợp pháp và tính có
căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở đánh giá chứng cứ đã thu thập được ở cấp sơ thẩm và xem xét những chứng cứ mới thu thập được trong quá trình phúc thẩm để xác định tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm Đây là đặc điểm khác biệt của PTPTVADS với phiên tòa
sơ thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Nội dung của phiên tòa sơ thẩm là giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu
Trang 1912
cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ra bản án, quyết định sơ thẩm hợp pháp và có căn cứ; nội dung của việc xét xử tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Thứ sáu, xét xử phúc thẩm dựa trên kháng cáo, kháng nghị nên phạm vi
xét xử của phiên tòa phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc những phần bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
Khác với phiên tòa sơ thẩm có phạm vi xét xử rất rộng dựa trên yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; giám đốc thẩm, tái thẩm có thể xem xét phần nội dung vụ án có kháng nghị và có quyền xem xét phần nội dung vụ án không bị kháng nghị do phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án, còn phạm vi xét xử của PTPTVADS chỉ trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị mà không xét xử đối với yêu cầu mới, có nghĩa rằng chủ thể chỉ được kháng cáo, kháng nghị về những nội dung đã được giải quyết trong bản án, quyết định sơ thẩm hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị chứ không được kháng cáo, kháng nghị về những vấn đề chưa được giải quyết ở sơ thẩm Bởi vì, nếu cho phép TA cấp phúc thẩm xét xử cả những yêu cầu mới chưa được giải quyết ở TA cấp sơ thẩm thì có nghĩa là đã vi phạm đến nguyên tắc hai cấp xét xử, không tôn trọng quyền được kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Thứ bảy, bản án, quyết định là kết quả của phiên tòa phúc thẩm được
tuyên sẽ có hiệu lực pháp luật ngay
Khác với bản án, quyết định sơ thẩm được HĐXX tuyên nhưng chỉ phát sinh hiệu lực sau một khoảng thời gian nhất định (Theo BLTTDS 2015 thì hết
Trang 2013
thời hạn quy định tại Điều 273 và Điều 280 nếu không có kháng cáo, kháng nghị), bản án, quyết định phúc thẩm được tuyên sẽ có hiệu lực pháp luật ngay hực chất cấp Tòa án xét xử sơ thẩm chỉ là cấp xét xử thứ nhất nên việc bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực ngay sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của đương
sự nhất là trong trường hợp vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét không chính xác, đánh giá phiến diện hay có sự tiêu cực trong quá trình giải quyết Quá trình phúc thẩm lại vụ án là lần xét xử lại vụ án đã sơ thẩm nếu đương sự hoặc VKS
có yêu cầu, việc phúc thẩm sẽ đảm bảo vụ án được xem xét kĩ càng hơn, chuyên nghiệp hơn (với việc các Tòa chuyên trách thụ lý nên sẽ tránh được những hạn chế, sai sót và bản án, quyết định phúc thẩm với tư cách là kết quả của quá trình tiến hành PTPTVADS sẽ mang tính chung thẩm và sẽ có hiệu lực pháp luật ngay sau khi HĐXX tuyên án Sau khi bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực và vụ
án dân sự được giải quyết và chuyển sang giai đoạn thi hành án dân sự, nếu phát hiện vụ án được giải quyết sai quy định pháp luật thì vụ án sẽ được xem xét lại thông qua việc xem xét các bản án, quyết định đã được tuyên và nếu phát hiện có
sự vi phạm thì vụ án dân sự sẽ được xem xét theo những thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
PTPTVADS có những điểm khác biệt so với phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính và vụ án hình sự
Việc xét xử của Tòa án là một trong những biện pháp mà Nhà nước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội Tại PTPTVADS, phạm vi và diễn biến của PTPTVADS phụ thuộc và quyền tự quyết định và tự
định đoạt của đương sự theo phương châm “việc dân sự cốt ở hai bên”, các
bên đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu Do đó, tại TA cấp phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau và việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì TA sẽ công nhận Còn tại phiên
Trang 2114
tòa phúc thẩm vụ án hình sự, hai bên buộc tội và gỡ tội không thể thỏa thuận với nhau về việc họ phạm tội gì, mức hình phạt là như thế nào mà tất cả những vấn đề này đều được các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết Việc giải quyết vụ án hình sự là việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm, và bên bị buộc tội (bị can, bị cáo)
có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thuộc về phía các cơ quan công quyền tiến hành tố tụng đại diện cho quyền lực Nhà nước
So với phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính, về cơ bản, PTPTVADS có những điểm giống với phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính Tuy nhiên, do bản chất của phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính là giải quyết tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức, với các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước
về các quyết định hành chính và hành vi hành chính của các cơ quan này nên giữa các đương sự trong quan hệ pháp luật hành chính luôn tồn tại mối quan hệ bất bình đẳng Do đó, các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính cũng không có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính
1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
Về mặt pháp lý: Việc tiến hành phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự có ý
nghĩa quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá được chất lượng hoạt động xét
xử của TA cấp sơ thẩm Bằng các quyền hạn của mình, TA cấp phúc thẩm có thể phát hiện và khắc phục kịp thời những sai lầm, vi phạm pháp luật có thể
có trong các bản án, quyết định của TA cấp sơ thẩm Qua đó có thể chỉ đạo một cách kịp thời và thống nhất việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của các tòa án ở địa phương, mặt khác có thể rút kinh nghiệm, hướng dẫn công tác xét xử, bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong hoạt động xét xử tại tòa án; đồng thời ngăn chặn việc đưa ra thi hành những bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật; đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp
Trang 22Về mặt xã hội: PTPTVADS nhằm khắc phục những sai sót của Tòa án
cấp sơ thẩm trong việc giải quyết vụ án làm cho các quyền, lợi ích chính đáng của đương sự được bảo đảm một cách đúng đắn, đầy đủ Việc xét xử tốt tại PTPTVADS sẽ góp phần bảo vệ tốt quyền lợi hợp pháp của người dân, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng đồng thời đảm bảo cho một nền công lí trong sạch, trung thực và công bằng Tại PTPTVADS, các yêu cầu kháng cáo, kháng nghị được
TA giải quyết, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ bổ sung, bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị được đưa ra xem xét, phân tích, đánh giá Trong quá trình giải quyết này, TA cấp phúc thẩm phổ biến, giải thích cho đương sự biết các quy định của pháp luật TTDS về phúc thẩm đặc biệt là quyền và nghĩa vụ của họ, giúp những người tham dự phiên tòa, người tham gia tố tụng hiểu biết thêm về pháp luật, nhận thức đầy đủ hơn
về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Về mặt chính trị: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một
nội dung cơ bản và quan trọng của Nhà nước pháp quyền Việc tiến hành PTPTVADS dựa trên kháng cáo, kháng nghị đối với các bản án, quyết định sơ
Trang 2316
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, do đó trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân thì TA cấp phúc thẩm có trách nhiệm giải quyết lại VADS theo thủ tục phúc thẩm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân khi việc kháng cáo, kháng nghị đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định
TA cấp phúc thẩm tạo điều kiện cho đương sự được bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS, thực hiện các biện pháp do pháp luật quy định để đảm bảo cho mọi người tôn trọng các quyền tố tụng của đương sự Với việc xét xử lại vụ án, phiên tòa phúc thẩm góp phần khắc phục thiếu sót của bản án, quyết định sơ thẩm hoặc khẳng định lại một lần nữa tính đúng đắn của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở những quy định của pháp luật Đảm bảo xét xử đúng pháp luật không những giúp bản thân đương sự nhận thức được những việc mà họ đã thực hiện là phù hợp với quy định pháp luật hay không mà còn đảm bảo bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần nâng cao địa vị chính trị của Nhà nước ta
1.2 Cơ sở xây dựng quy định pháp luật về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
1.2.1 Cơ sở lý luận
Hiện nay, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật
để góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện Khoản
6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, cụ thể hóa chiến lược của Nghị quyết số 48/NQ-TW về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam định hướng đến năm 2020: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm”11 Trên cơ sở đó, Điều 17 BLTTDS năm 2015 quy định về bảo đảm
Trang 24
17
chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm như sau: “1.Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật” Có thể thấy rằng,
khi một vụ án dân sự được đưa ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, nếu HĐXX sơ thẩm xét xử sai thì khi đó quyền và lợi ích của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác sẽ ra sao? Khi đó họ phải làm thế nào để bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình? Để trả lời cho câu hỏi đó, căn cứ theo quy định về nguyên tắc hai cấp xét xử trong BLTTDS năm 2015, khi bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị sẽ là cơ
sở để tiến hành thủ tục phúc thẩm, và Tòa án cấp phúc thẩm sẽ mở phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự để tiến hành xét xử trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự được tiến hành vừa bảo đảm cho Tòa
án xét xử đúng vụ án dân sự, vừa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Việc quy định phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn Bởi lẽ, tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, những vấn đề thuộc về nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích và đánh giá kỹ càng, đầy đủ hơn Trên
cơ sở đó, các phán quyết của Tòa án đưa ra sẽ bảo đảm độ chính xác cao hơn Việc quy định về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm tại phiên tòa sơ thẩm bằng việc kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để vụ án được xét xử lại tại cấp phúc thẩm
Trang 2518
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế đã khiến
xã hội Việt Nam có những thay đổi nhất định, một trong số đó là sự gia tăng các tranh chấp dân sự dẫn đến yêu cầu giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án có
xu hướng tăng và phức tạp Do đó, việc xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa
sơ thẩm không thể tránh khỏi những sai sót Khi đó, nếu vụ án dân sự không được tiến hành xét xử lại tại phiên tòa phúc thẩm thì quyền lợi của các đương
sự sẽ không được đảm bảo
Việc quy định một vụ án dân sự có thể được xét xử tại phiên tòa phúc thẩm cũng như quy định về việc bản án sơ thẩm có thể bị sửa, bị hủy, quyết định ở cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng xét xử sơ thẩm, giúp họ có thái độ thận trọng và trách nhiệm hơn trước khi đưa ra những phán quyết của mình Tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, thông qua Hội đồng xét xử phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm kịp thời chỉ
ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc phải, tự mình sửa chữa hoặc đề nghị Tòa án sơ thẩm sửa chữa sai lầm của mình Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên có điều kiện để tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và hướng dẫn kịp thời Tòa án cấp dưới thực hiện thống nhất pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 8/1945
Trước Cách mạng tháng Tám 8/1945, xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến dưới ách thống trị của thực dân Pháp, chế độ hai
Trang 2619
cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm12 được áp dụng tại các TA Pháp Theo đó,
“đương sự có quyền kháng cáo một lần để đề nghị Tòa thượng thẩm xét lại bản án dân sự sơ thẩm Khi có kháng cáo thì tòa thượng thẩm xét xử phúc thẩm các bản án dân sự sơ thẩm của tòa cấp dưới Bản án phúc thẩm là chung thẩm, đương sự không có quyền kháng cáo nữa mà chỉ có quyền xin thượng tố để Tòa phá án xét lại theo trình tự phá án (giám đốc thẩm)” 13
Tại các TA Việt Nam ở Bắc Kỳ thì áp dụng “nguyên tắc lưỡng cấp thẩm” Còn tại Trung Kỳ “nguyên tắc đệ tam cấp thẩm được áp dụng Ngoại trừ các tội vi cảnh, tất cả các vụ kiện khác như Hình, Hộ, Thương mại, đều phải xét xử ba lần dù đương sự có kháng cáo hay không mặc lòng” 14
Có thể thấy trong giai đoạn này có xuất hiện những quy định về phúc
thẩm nhưng vẫn còn rất giản lược và thuật ngữ “phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự” còn chưa được nhắc đến trong hệ thống pháp luật Việt Nam
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959, đây là thời kỳ đất nước vừa mới giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vì vậy cùng với việc xây dựng bộ máy Nhà nước thì pháp luật cũng được hình thành
và phát triển trong đó có pháp luật TTDS Những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về TTDS ra đời trong đó có các văn bản pháp luật tiêu biểu như: Sắc lệnh số 47/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phép áp dụng tạm thời các luật
lệ hiện hành về dân sự, thương sự và tố tụng ở Bắc – Trung – Nam kỳ với
nguyên tắc: “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa” Tiếp đó hàng loạt các Sắc lệnh quy định về phúc thẩm
như: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về Tổ chức Tòa án và các ngạch
nhân dân, Hà Nội, tr 418
Trang 2720
Thẩm phán, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Tòa
án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án Những quy định trong các văn bản trên bước đầu khẳng định phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai xét xử lại bản án sơ thẩm và là cấp xét xử cuối cùng Tiếp theo là Sắc lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ khuyết Điều 23 và Điều 24 của Sắc lệnh số 51/SL đã có những quy định về hệ thống hai cấp xét xử của Tòa án, bổ sung về các trường hợp kháng cáo, kháng nghị, thời hạn kháng cáo Hiến pháp năm 1946 quy định cơ cấu tổ chức của cơ quan tư pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm: Tòa án tối cao, Tòa án phúc thẩm, Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp Đặc biệt Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định về quyền tố tụng như quyền kháng cáo của công tố viên, thành phần của HĐXX phúc thẩm Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hệ thống Tòa án được củng cố và tăng cường với việc Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập TANDTC ngày 29/4/1958 và hệ thống TAND tách khỏi Bộ tư pháp, TAND đã được giải thích và quy định rõ cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của TAND phúc thẩm Hà Nội, Vinh, Hải Phòng Như vậy, những quy định về phúc thẩm cũng được xây dựng và phát triển, chế định phúc thẩm đã được quy định trong các văn bản pháp lý quan trọng nhưng các quy định này còn sơ lược hầu hết còn quy định chung chung, chưa có sự phân biệt giữa TTDS với
tố tụng hình sự Việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng vào giải quyết VADS thường là rất ít, chủ yếu là xét xử hình sự Khái niệm PTPTVADS mới được manh nha và những quy định về phiên tòa phúc thẩm
chủ yếu là “việc vay mượn”
1.3.3 Giai đoạn từ 1960 đến năm 1989
Trong giai đoạn từ 1960 đến năm 1989, đây là giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến và pháp luật trong giai đoạn này cũng có nhiều chuyển biến quan trọng Ngày 31/12/1959 Hiến pháp mới của nước Việt Nam
Trang 2821
dân chủ cộng hòa ra đời thay thế cho Hiến pháp 1946 Hiến pháp năm 1959
đã quy định hệ thống Tòa án gồm có TANDTC, TAND địa phương, Tòa án quân sự Quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể khác Trong luật này, lần
đầu tiên nguyên tắc hai cấp xét xử được ghi nhận rõ trong Điều 9: “TAND thực hiện chế độ hai cấp xét xử Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của TAND xử sơ thẩm lên TAND trên một cấp VKSND cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND Nếu đương sự không chống án và VKSND không kháng nghị trong thời hạn
do pháp luật quy định thì bản án, quyết định sơ thẩm của TAND địa phương
sẽ có hiệu lực pháp luật” Sau đó, hàng loạt các văn bản hướng dẫn về thủ tục
phúc thẩm ra hướng dẫn cụ thể về phiên tòa phúc thẩm như: Công văn số NCLP của TANDTC trả lời các câu hỏi về thủ tục tố tụng, Công văn số 1119-NCLP ngày 25/8/1964 của TANDTC trả lời một số câu hỏi về tố tụng, Công văn số 196-NCLP ngày 24/2/1965 của TANDTC về một số vấn đề về thủ tục
439-tố tụng, Công văn số 905-NCLP ngày 22/7/1965 của TANDTC trả lời về thủ tục xét xử phúc thẩm, Thông tư số 3NCLP ngày 3/3/1966 của TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hôn, Công văn số 138-NCLP ngày 22/2/1968 của TANDTC về thủ tục xét xử phúc thẩm có mặt đương sự Theo đó trình tự thông thường của một phiên tòa phúc thẩm là: Chủ tọa phiên tòa tóm tắt nội dung vụ án, nội dung của kháng cáo, kháng nghị; Thẩm vấn, tranh luận, VKS phát biểu ý kiến; Nghị án và tuyên án Ngoài ra, theo Thông tư số 132-NCLP ngày 28/2/1972 của TANDTC về việc xét xử bút lục trong tình hình mới thì trình tự phiên tòa phúc thẩm được xác định như sau: Chủ tọa phiên tòa tóm tắt nội dung vụ án và nội dung của việc kháng cáo, kháng nghị; đại diện của VKS phát biểu ý kiến; HĐXX nghị án; Chủ tọa phiên tòa tuyên án Tại Sắc luật số 01/SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm
Trang 2922
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định tổ chức của TAND và VKSND
khẳng định: “Các TAND thực hành chế độ hai cấp xét xử Bị cáo và các đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của TAND xử sơ thẩm lên
TA trên một cấp” Tiếp theo đó là sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 và
LTCTAND năm 1981 đánh dấu sự phát triển của pháp luật tố tụng nói chung
và quy định về phiên tòa phúc thẩm nói riêng Nếu các đương sự tự động đến phiên tòa thì TAND sẽ xét xử theo trình tự thông thường
Trong giai đoạn này, phiên tòa phúc thẩm đã được quy định nhưng còn nằm rải rác trong các văn bản dưới luật nên vấn đề tiến hành phiên tòa phúc thẩm trong thực tế gặp phải rất nhiều khó khăn
1.3.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005
Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005, được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) năm 1989 Cùng với đó là sự ra đời của các Tòa chuyên trách: Tòa kinh tế, Tòa lao động với chức năng, quyền hạn của các tòa này được quy định trong luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của LTCTAND năm 1993 và năm 1995 trên cơ sở này, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLGQCTCLĐ) lần lượt ra đời vào các năm 1994 và 1996 Cả ba pháp lệnh này đều dành một chương quy định về phúc thẩm VADS, kinh tế, lao động, trong đó có các quy định về PTPTVADS như phạm vi xét xử phúc thẩm, thời hạn xét xử phúc thẩm, những người tham gia phiên tòa phúc thẩm, thủ tục phiên tòa phúc thẩm, quyền hạn của HĐXX cấp phúc thẩm Tuy nhiên, các quy định về PTPTVADS trong các pháp lệnh này chưa thật sự cụ thể và còn nhiều bất cập Đến năm 2002, LTCTAND được ban hành thì nguyên tắc hai cấp xét xử một lần nữa lại được quy định
Trang 3023
1.3.5 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015
Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật TTDS và thực tiễn các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 Sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành, Hội đồng thẩm phán
TANDTC đã ban hành một số quy định trong phần thứ ba “thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa phúc thẩm” của BLTTDS Các vấn đề về phiên tòa phúc thẩm
vụ án dân sự được quy định tương đối, đầy đủ, chặt chẽ, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết trong các văn bản tố tụng Về cơ bản, BLTTDS năm 2004 được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi nhưng
có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng
Trước yêu cầu đẩy mạnh sâu rộng hơn nữa và tăng cường hiệu quả của chiến lược cải cách tư pháp, ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã tiến hành sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự trong đó có các quy định
về thành phần tham gia, thủ tục của PTPTVADS Trong luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2012) thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại phần thứ ba từ chương XV gồm 3 chế định với 39 Điều luật Theo
đó, mục đích của phiên tòa phúc thẩm dân sự được xác định là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, không bắt buộc tổ chức hòa giải giữa các đương sự như một thủ tục tại Tòa án cấp
sơ thẩm, với thành phần Hội đồng xét xử không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân và với xu hướng ngày càng đề cao vai trò trung tâm của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, phát biểu và tranh luận công khai, tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt, sự tự nguyện thỏa thuận hợp
Trang 3124
pháp của đương sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự tại PTPTVADS nói riêng cũng như tại cấp tòa án phúc thẩm nói chung
1.3.6 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay
Qua tổng kết 10 năm thi hành BLTTDS cho thấy, BLTTDS năm 2004
đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự Trước yêu cầu của công tác cải cách tư pháp, để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án Nhân dân, đặc biệt là thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của Nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, việc sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2004 là yêu cầu cần thiết Trên cơ sở đó, Bộ luật tố tụng dân sự mới được Quốc hội khoá XIII,
kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 (viết tắt là BLTTDS năm 2015)
Để thi hành Bộ luật này ngày 25/11/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 BLTTDS năm 2015 quy định thủ tục giải quyết vụ
án tại tòa án cấp phúc thẩm tại phần thứ ba từ chương XV gồm 3 chế định với 45 Điều luật đã quy định cụ thể về nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, mở rộng thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Ngoài ra, BLTTDS 2015 còn dành phần thứ tư để quy định về việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn trong đó có giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm để đảm bảo cho các vụ án dân sự được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Trang 3225
1.4 Pháp luật một số nước về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
1.4.1 Pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp
Hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp xét xử tại Cộng hòa Pháp, bao gồm Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng, Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp, Tòa án thương mại sơ thẩm, Tòa phúc thẩm và Tòa phá án Theo quan điểm của các nhà lập pháp Pháp, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên đương sự, một
vụ án cần được xử qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, ngoài ra, còn có thủ tục phá án để có đủ điều kiện khắc phục những sai lầm có thể có trong các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa
án, Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng, Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp, Tòa án thương mại sơ thẩm có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo quy định của BLTTDS của Cộng hòa Pháp, đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm lên Tòa án phúc thẩm Do đó thẩm quyền giải quyết kháng cáo trong trường hợp này thuộc về các Tòa phúc thẩm Điều 527 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sự có quyền kháng cáo theo thủ tục thông thường là kháng cáo phúc thẩm và kháng cáo vắng mặt; thủ tục kháng cáo đặc biệt là thủ tục kháng án của người thứ ba, thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm15
Toàn thể nước Pháp có 3 Tòa phúc thẩm (Cour d’ Appel) chưa kể lãnh thổ hải ngoại được thành lập ở các thành phố lớn và các khu vực lãnh thổ Tòa án này có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án do các Tòa án cấp dưới xét xử bị kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm các bản án phức tạp Theo pháp luật tố tụng dân sự Pháp, việc kháng cáo theo thủ tục thông thường được kéo dài một tháng đối với Tòa án sơ thẩm (Điều 538) Đương sự
có toàn quyền quyết định việc kháng cáo, chống án (kháng án vắng mặt) mà không có sự tham gia của các cơ quan Nhà nước khác Phiên tòa phúc thẩm
15
Lê Thu Hà (2010), Tổ chức xét xử vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 228
Trang 3326
các vụ án gồm có 5 Thẩm phán16 và thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm sẽ bao gồm: thủ tục tranh luận, nghị án và tuyên án, không có thủ tục Tòa án hỏi các bên đương sự Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành dựa trên sự chú trọng đến việc tranh luận giữa các bên đương sự, Thẩm phán chỉ quan sát, điều khiển, giữ gìn trật tự phiên tòa và đóng vai trò trọng tài phân xử khi ra phán quyết Quyết định của tòa phúc thẩm có thể bị kháng nghị, kháng cáo lên Tòa phá án – cấp Tòa án cao nhất trong hệ thống Tòa án ở Pháp Như vậy, đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sự vi phạm pháp luật thì đương sự tại Pháp cũng có quyền kháng cáo
1.4.2 Pháp luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga
Quan điểm chung trong lĩnh vực tố tụng tại Liên Bang Nga chính là quan điểm của các hệ thống luật La Mã
Tại Liên Bang Nga, tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Nga (năm 1964) sửa đổi, bổ sung vào ngày 29 tháng 5 năm
1992 (Luật về tố tụng tư pháp) Theo Điều 126 Hiến pháp, Tòa án tối cao của Liên bang là cơ quan tài phán cấp cao nhất có thẩm quyền xét xử các vụ án dân
sự Các Tòa án cấp dưới của Tòa án tối cao Liên bang bao gồm các Tòa án xét
xử những vụ việc đơn giản và hòa giải, các Tòa án sơ thẩm (khoảng 1000 Tòa
án sơ thẩm cấp huyện và cấp thành phố) và các Tòa phúc thẩm (có 89 Tòa cấp bang và cấp vùng, tùy từng trường hợp) Theo đó, mọi vụ việc đều có thể được giải quyết lần lượt ở cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và cấp giám đốc thẩm17
Xuất phát từ nhiều yếu tố trong lịch sử phát triển, pháp luật tố tụng dân
sự Liên bang Nga có nhiều nét tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tên gọi, cơ cấu tổ chức các cơ quan tư pháp, cấp Tòa án xét xử tuy nhiên vẫn có những sự khác biệt Đó là, chỉ trong thời hạn luật định là mười
Trang 34cứ, nghe tranh luận giữa các bên tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành nghị án, ra quyết định và tuyên án
1.4.3 Pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ
Theo pháp luật tố tụng dân sự Mỹ, hệ thống Tòa án được tổ chức gồm nhiều Tòa án độc lập khác nhau Cấu trúc Tòa án tiểu bang/Liên bang tồn tại song song, Tòa án tối cao Mỹ là cơ quan phán xử cuối cùng theo luật của liên bang và Tòa án tối cao bang có quyền cao nhất quyết định các vấn đề liên quan đến luật của tiểu bang đó
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, chỉ có các đương
sự, những người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án dân sự mới có quyền kháng cáo phúc thẩm chứ Viện công tố không có quyền kháng nghị phúc thẩm Quy định này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và vì tranh chấp, mâu thuẫn dân sự là của đương sự nên để đảm bảo
có nguyên tắc “không có lợi ích thì không được quyền kiện dân sự hay kháng
Trang 3528
cáo” nên việc yêu cầu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm chỉ dựa trên
quyền kháng cáo của đương sự18
Với quan niệm bản án sơ thẩm là kết quả của quá trình tố tụng công bằng, đúng pháp luật và ở đó các yêu cầu, các chứng cứ, các tài liệu đã được xem xét, đánh giá công khai tại phiên tòa sơ thẩm nên theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, các đương sự không thể kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên
xem xét lại vấn đề sự kiện của vụ án Điều này có nghĩa là “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét vụ kiện trên cơ sở hồ sơ sơ thẩm mà thôi Nếu trong giai đoạn phúc thẩm có một chứng cứ mới nào đó liên quan đến vụ kiện được trình lên Tòa phúc thẩm thì có nghĩa toàn bộ vụ kiện sẽ được gửi lại Tòa sơ thẩm để giải quyết”
Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ được tổ chức với việc coi trọng nguyên tắc tranh tụng, đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc, họ là các chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng Tòa án chỉ là người trọng tài, giữ vai trò trung gian, căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra quyết định giải quyết vụ án Trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, vai trò chủ động thuộc
về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra lời khai của người làm chứng
Tòa án cấp phúc thẩm của Hoa Kỳ chỉ xem xét các vấn đề pháp lý nên Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có nhiệm vụ về việc sửa lỗi về việc áp dụng pháp luật do tòa án cấp dưới gây ra Do đó, hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ có quyền giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm nếu quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm là đúng đắn; nếu quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là trái pháp luật thì hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm
Hà Nội, Hà Nội, tr 19
Trang 3629
để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại Hội đồng xét xử phúc thẩm “không xem xét để ra một quyết định mới hoặc ra một quyết định hoàn toàn mới thay thế quyết định của tòa án cấp dưới” Quyết định của tòa án cấp phúc thẩm
trong hầu hết các trường hợp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay Bản án phúc thẩm là văn bản giải thích pháp luật và nó được xuất bản
có giá trị như án lệ để tòa án cấp sơ thẩm tuân theo khi giải quyết các vụ án xảy ra tương tự Ngoài ra, các đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định phúc thẩm lên Tòa án tối cao19
19
Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ và khả năng ứng dụng vào hoàn thiện pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, tr 56 - 60
Trang 3730
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về PTPTVADS theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam hiện hành có thể kết luận phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ việc dân sự đã được tòa án cấp sơ thẩm giải quyết bằng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn
cứ của bản án, quyết định đó theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định Do
đó, đây là hoạt động tố tụng quan trọng về mặt pháp lý và chính trị, xã hội Pháp luật về PTPTVADS được quy định ngày càng hoàn thiện qua các thời kỳ lịch sử của đất nước gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trước cách mạng tháng 8/1945, PTPTVADS chưa được quy định chính thức trong pháp luật TTDS, trải qua
cả một chặng đường hơn 60 năm phát triển, đến nay với sự ra đời của BLDS năm 2015, các quy định về PTPTVADS đã được hình thành một cách tương đối đầy đủ trên tinh thần nguyên tắc tranh tụng trong TTDS, góp phần khắc phục những sai lầm có thể có trong bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đương sự, giúp các quan hệ xã hội phát triển một cách lành mạnh
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, nhận thấy nguyên tắc tổ chức hoạt động tư pháp theo hai cấp xét xử đều được ghi nhận trong pháp luật, bất
kể pháp luật của các nước theo truyền thống pháp luật dân sự (Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga ) hay các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Hoa Kỳ ) và phúc thẩm với tư cách là một cấp xét xử thứ hai đồng thời cũng là cấp xét xử chính thức cuối cùng của một VADS luôn có một vai trò quan trọng, đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan
Trang 3831
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 2.1 Những quy định chung về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
2.1.1 Phạm vi xét xử tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
Phạm vi xét xử phúc thẩm là giới hạn những vấn đề của VADS mà TA cấp phúc thẩm có thẩm quyền xem xét, giải quyết Việc xác định phạm vi xét
xử phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng bởi xác định đúng phạm vi xét xử phúc thẩm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho TA thực hiện thẩm quyền quyết định đối với các vấn đề của vụ án Hay nói cách khác thẩm quyền quyết định của
TA chỉ được thực hiện trong phạm vi giới hạn pháp luật cho phép
Điều 293 BLTTDS 2015 quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị” Theo đó, BLTTDS 2015 vẫn giữ nguyên tinh thần Điều 263
BTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung 2011) về phạm vi xét xử phúc thẩm Cụ thể, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nghĩa là các đương sự chỉ có quyền kháng cáo, VKS chỉ có quyền kháng nghị về những nội dung đã được giải quyết ở TA cấp sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết trong phạm vi những nội dung đã được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm và trong nội dung của kháng cáo, kháng nghị hoặc những phần có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Quy định như vậy nhằm bảo đảm tính ổn định của phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị cũng như tôn trọng quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể Bên cạnh đó, nội
Trang 3932
dung của PTPTVADS là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm nên để đảm bảo bản án, quyết định sơ thẩm trước khi được đưa ra thi hành là các bản án, quyết định đúng đắn, chính xác và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thể xem xét phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Việc xem xét này có ý nghĩa quan trọng mang tính căn bản, tiền đề cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị mà việc bỏ qua không xem xét hay việc xem nhẹ
sẽ khiến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị trở nên thiếu khách quan, qua đó chất lượng phiên tòa phúc thẩm cũng bị ảnh hưởng
Có ý kiến cho rằng cần phải quy định mở rộng phạm vi xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại toàn bộ bản án, quyết định
sơ thẩm, kể cả những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Quan điểm trên cũng tương tự như quy định tại khoản 2
Điều 347 Bộ luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga: “Để bảo vệ pháp chế, Tòa
án cấp phúc thẩm có quyền kiểm tra toàn bộ bản án của Tòa án cấp sơ thẩm” Việc quy định mở rộng phạm vi xét xử phúc thẩm như ý kiến này sẽ
tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể phát huy được tính chủ động, tích cực trong việc phát hiện và khắc phục sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm Tuy nhiên, quan điểm này xác định phạm vi xét xử phúc thẩm quá rộng,
vi phạm đến nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời làm cho phúc thẩm không còn là cấp xét xử thứ hai Bên cạnh đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm không phụ thuộc vào kháng cáo, kháng nghị sẽ dẫn đến tình trạng Tòa án cấp sơ thẩm chủ quan, tùy tiện, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với các phán quyết của mình cũng như làm mất tính ổn định của phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
Trang 4033
Ý kiến khác lại cho rằng cần quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề tuy không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp nội dung phần của bản án, quyết định không có kháng cáo, kháng nghị đó xâm phạm đến lợi ích của người thứ ba, không phải là đương sự trong vụ án thì cần phải được giải quyết bằng một thủ tục khác Quy định như vậy sẽ bảo đảm nguyên tắc về quyền tự định đoạt của đương sự cũng như quyền của đương sự trong việc yêu cầu xét xử lại những vấn đề mới được xét xử ở một cấp Tòa án20
Nhận thấy quy định hiện hành của Điều 293 BLTTDS 2015 về phạm vi xét xử phúc thẩm là hợp lý Bởi lẽ nó vừa cho phép các đương sự chủ động thực hiện quyền tự định đoạt tranh chấp của mình vừa cho phép Tòa án có thể linh động xem xét những vấn đề tuy không được yêu cầu xem xét lại nhưng
có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị
2.1.2 Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Điều 64 BLTTDS 2015 quy định thành phần “Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba Thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này” Theo đó, Điều 65 quy định về “việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành” Như
vậy, Hội thẩm nhân dân không được tham gia trong thành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm dân sự, bởi lẽ mục đích của việc phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ trong bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm nên HĐXX phúc thẩm phải bao gồm những người có khả năng chuyên môn cao, hiểu biết kiến thức pháp luật cần thiết để thực hiện mục đích này
20
Hoàng Tuấn Anh (2012), Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học luật
Hà Nội, Hà Nội, tr 22 - 23