1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giao kết hợp đồng trong bán đấu giá

104 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 202,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu là làm cho các bên tham gia hợp đồng đều có thể đạtđược một lợi ích nhất định khi giao dịch, rất cần phải có những quy định chặtchẽ của pháp luật về cả quá trình, bắ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Mục lục

VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BÁN ĐẤU GIÁ

1.1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng 81.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 13

1.1.2.4 Hậu quả giao kết hợp đồng 16

1.3 Những nội dung pháp lý cơ bản của giao kết hợp đồng 29 trong bán đấu giá

1.3.2 Sự phân biệt về đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết 32

1.3.4 Nội dung và hình thức hợp đồng bán đấu giá 38

1.4 Hậu quả của việc giao kết hợp đồng trong bán đấu giá 41

Trang 2

1.4.3 Từ chối mua 431.4.4 Hàng hoá có khiếm khuyết hoặc có vấn đề về pháp lý 45

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT 48 HỢP ĐỒNGTRONG BÁN ĐẤU GIÁ TẠI VIỆT NAM

2.1 Pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng trong 48 bán đấu giá tại Việt Nam

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của luật bán đấu giá và giao 48kết hợp đồng trong bán đấu giá

2.1.2 Các loại hình bán đấu giá tại Việt Nam hiện nay 51

2.2 Thực trạng giao kết hợp đồng trong bán đấu giá tại Việt 53 Nam

2.2.1.1 Về hàng hoá được đem bán đấu giá 552.2.1.2 Về chất lượng và hiệu quả hoạt động của người 56bán đấu giá

2.2.2.3 Việc bán đấu giá tài sản để trả nợ vay ngân 66hàng tại tỉnh Y

2.2.2.4 Vụ việc bán đấu giá số điện thoại di động đẹp 69

Trang 3

để ủng hộ Quỹ Vì người nghèo của bưu điện tỉnh Bình

2.4.2 Quy định bước giá trong cuộc đấu giá 752.4.3 Tăng cường giám sát bán đấu giá 76

VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

TRONG BÁN ĐẤU GIÁ 3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng 77 trong bán đấu giá

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết 79 hợp đồng trong bán đấu giá

3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giao 79kết hợp đồng

3.2.2 Xiết chặt hơn chế tài xử lý vi phạm 813.2.3 Nâng mức tiền đặt trước và mức lệ phí hồ sơ đấu giá 853.2.4 Ban hành quy chế khen thưởng cho người bán đấu giá 87

Trang 4

3.3.5 Làm rõ trách nhiệm pháp lý của người bán và người 90bán đấu giá đối với hàng hoá/ tài sản bán đấu giá

3.3.6 Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng trong bán 91đấu giá qua internet

Tài liệu tham khảo

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nói về hợp đồng, người ta có nhiều cách nói khác nhau song tựu chunglại đều thống nhất ở điểm công nhận bản chất tự nguyện và thoả thuận của nó

Để đạt được mục tiêu là làm cho các bên tham gia hợp đồng đều có thể đạtđược một lợi ích nhất định khi giao dịch, rất cần phải có những quy định chặtchẽ của pháp luật về cả quá trình, bắt đầu từ khi tiến hành giao kết đến khithanh toán hợp đồng, trong đó, giao kết hợp đồng là một giai đoạn vô cùngquan trọng và cần được quan tâm nghiên cứu

Bán đấu giá cũng là một hình thức hợp đồng mua bán mà trong đó tàisản, hàng hoá được mua/bán theo một trình tự, thủ tục, hình thức đặc biệt theoquy định của pháp luật Chính vì vậy, vấn đề giao kết hợp đồng trong bán đấugiá cũng mang những nét khác biệt Có xây dựng được một hệ thống các quyđịnh pháp luật về bán đấu giá nói chung và giao kết hợp đồng trong bán đấugiá nói riêng đáp ứng được yêu cầu lý luận và khoa học thì từ đó chúng ta mới

có thể tạo ra một cơ sở để cho đấu giá thực sự phát triển trên thực tiễn

Hình thức bán hàng đặc biệt này đã trở nên phổ biến ở nhiều nước trênthế giới, đem lại lợi ích cho không những người bán mà cả người mua Hơnthế nữa, nó còn tạo nên một “sân chơi” mà trên đó, các giá trị của món hàngđem bán được đánh giá theo những tiêu chuẩn đặc biệt, nhiều khi vượt rangoài sự tưởng tượng của ngay những người trong cuộc Không thể phủ nhậnrằng ở nhiều nước, bán đấu giá đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc lưuthông hàng hoá và thúc đẩy thị trường mua bán hàng hoá phát triển ngày càngsôi động hơn

Hoà chung với xu thế đó, bán đấu giá và pháp luật về bán đấu giá ngàycàng được quan tâm nhiều hơn tại Việt Nam Tuy nhiên, cũng phải công nhận

Trang 6

rằng trên thực tế, nó chưa thực sự trở thành một hình thức bán hàng được ưachuộng và sử dụng rộng rãi Phần lớn hàng hoá/ tài sản được mang bán đấugiá tại thị trường Việt Nam đếu có “vấn đề pháp lý” Nói cách khác, thị trườngbán đấu giá ở nước ta đã hình thành nhưng chưa thực sự phát triển Đối tượngcủa bán đấu giá mới dừng lại ở một số tài sản như: tang vật thi hành án,phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, tài sản cầm cố thế chấp đượcngân hàng cho phát mại, tài sản thanh lý của cơ quan nhà nước khi được cổphần hoá Tài sản do các tổ chức, cá nhân uỷ quyền bán đấu giá còn rất hạnchế Một trong những nguyên nhân mang tính pháp lý dẫn đến thực tế kể trên

là những quy định về bán đấu giá nói chung và giao kết hợp đồng trong bánđấu giá nói riêng còn nhiều bất cập, dẫn đến giảm tính hiệu quả và tăng nguy

cơ rủi ro đối với việc bán đấu giá

Để phát triển hơn nữa hình thức giao dịch này trên thực tế, đáp ứng kịpvới tốc độ phát triển của kinh tế quốc gia và đặc biệt là trong nền kinh tế hànghoá mà chúng ta đang xây dựng, cũng là nhằm kéo gần khoảng cách kinh tếViệt Nam với kinh tế thế giới, Việt Nam cần phải có những điều chỉnh nhằmhoàn thiện pháp luật về đấu giá nói chung và giao kết hợp đồng trong bán đấu

giá nói riêng Vì vậy, người viết đã chọn đề tài “Giao kết hợp đồng trong bán đấu giá” với hi vọng đây sẽ là một đề tài có nhiều đất diễn đề người viết

nghiên cứu và trình bày ý tưởng khoa học của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Ở Việt Nam đã có công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ vềbán đấu giá, tuy nhiên là nghiên cứu tổng thể về những vấn đề liên quan đếnbán đấu giá chứ không đi sâu nghiên cứu riêng vào mảng giao kết hợp đồng;cũng đã có những công trình nghiên cứu khoa học về hợp đồng, giao kết hợpđồng song chưa có ai đi sâu khai thác về khía cạnh giao kết hợp đồng trongbán đấu giá Như vậy, đây là một vấn đề mang tính mới, thú vị Hơn nữa,

Trang 7

những đòi hỏi thiết thực của thị trường đối với bán đấu giá nói chung và giaokết hợp đồng trong bán đấu giá nói riêng cũng ngày càng trở nên cấp thiết hơnnhằm đáp ứng xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế hàng hoá.

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Mục đích: Nghiên cứu nhằm đưa ra các phương hướng hoàn thiện

pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng trong bán đấu giá

Nhiệm vụ:

Người viết tập trung làm rõ các vấn đề sau:

- Điểm khác biệt của giao kết hợp đồng trong bán đấu giá so với giao kết hợp đồng thông thường

- Những bất cập trong quy định của pháp luật Việt nam về giao kết hợp đồng trong bán đấu giá

- Quy định của pháp luật nước ngoài về giao kết hợp đồng trong bán đấu giá và những điểm có thể vận dụng ở Việt Nam

- Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồngtrong bán đấu giá

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong khuôn khổ luận văn, người viết không có tham vọng đề cập đếntất cả các khía cạnh của bán đấu giá mà chỉ đi sâu vào một vấn đề, đó là giaokết hợp đồng trong bán đấu giá

Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật và thực tiễn pháp lýViệt Nam và một số quốc gia trên thế giới trong vấn đề giao kết hợp đồngtrong bán đấu giá

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài này làphương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh Trên cơ sở những đặc thù củagiao kết hợp đồng trong bán đấu giá so với giao kết những loại hợp đồng

Trang 8

khác, trên cơ sở nghiên cứu đối sánh những quy định về vấn đề này trongpháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, cũng như phân tích thực trạnggiao kết hợp đồng trong bán đấu giá, người viết đưa ra quan điểm của mình vềphương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

6 CƠ CẤU LUẬN VĂN

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng trong bánđấu giá

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng trong bán đấu giátại Việt Nam

Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết hợpđồng trong bán đấu giá

Ngoài ra còn phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BÁN ĐẤU GIÁ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

1.1.1 Bản chất của hợp đồng

Để tồn tại và phát triển, con người không thể tách mình ra khỏi các mốiquan hệ xã hội Thông qua các mối quan hệ xã hội đó, con người trao đổi chonhau những giá trị vật chất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Nhưng tất nhiên,các giá trị vật chất ấy tự chúng không tự tìm đến nhau được mà phải thôngqua những hành vi có ý chí của con người

Khi con người bày tỏ ý chí của mình và nhận được sự đáp lại đồng ýcủa bên tiếp nhận theo một hình thức nào đó, các bên sẽ tiến hành chuyểngiao tài sản và thực hiện công việc/không thực hiện công việc theo thoả thuận

Sự thống nhất về mặt ý chí ấy chính là cơ sở để hình thành quan hệ hợp đồng

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hợp đồng song nhìn chungđều thống nhất ở những thuộc tính mang tính bản chất Điều này được thểhiện rõ qua quá trình phát triển của hợp đồng trên thực tiễn, cũng như tronglịch sử pháp lý về hợp đồng

Các luật gia La Mã, trải qua quá trình phát triển lâu dài của hợp đồngtrong đời sống dân cư, đã định nghĩa hợp đồng (contractus) là căn cứ làm phátsinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trưngkhông thể thiếu: thứ nhất, phải có sự thoả thuận (conventio, consensus) tức là

có sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý, và thứhai, phải có mục đích (căn cứ pháp lý nhất định (causa) mà các bên hướng tới.Hợp đồng là phương tiện để đạt mục đích đó Ngược lại, mục đích là cơ sở vậtchất của hợp đồng Căn cứ pháp lý của hợp đồng có thể là mong muốn

Trang 10

tặng cho, tiếp nhận một nghĩa vụ, hoặc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nói chung

là là mong muốn đạt được một mục đích pháp lý nhất định Không có mongmuốn đó, không có mục đích đó thì không thể có ý chí đích thực để xác lậpquyền và nghĩa vụ Mặt khác, hợp đồng sẽ không có hiệu lực nếu mục đích,nội dung của nó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

Ảnh hưởng của khái niệm hợp đồng trong luật La Mã ngày càng đượckhẳng định cùng với sự ra đời của các bộ Dân luật Điều 1101 - Bộ luật dân sựPháp năm 1804 định nghĩa: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiềubên về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một công việc” Còn Điều

402 - Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1994 thì ghi nhận: “Hợp đồng là sựthoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ dân sự”

Trong thời gian gần đây, khái niệm về hợp đồng trên thế giới xuất hiệnngày càng nhiều và không phải tất cả đều bắt nguồn từ mô hình của luật dân

sự La Mã hay Bộ luật Dân sự Pháp Điều 145 - Bộ luật Dân sự Đức quy định:

“Người đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng với người khác phải chịu ràng buộcbởi đề nghị của mình, trừ trường hợp người đưa ra đề nghị thể hiện rõ rẳng,anh ta không bị ràng buộc bởi đề nghị đó”, tức là khái niệm trong Bộ luật Dân

sự Đức không nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi “hợp đồng là gì?” mà lạiđược tiếp cận từ góc độ “hợp đồng được hình thành như thế nào?” Còn theoquy định của Điều 1378 - Bộ luật Dân sự Quebec thì hợp đồng là “sự thốngnhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện hứa hẹn đã định vìlợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác; và theo quy định của Điều 1-

201 Bộ luật Thương mại chuẩn thống nhất Hoa Kỳ thì hợp đồng lại được địnhnghĩa là “khối nghĩa vụ pháp lý, phát sinh từ thoả thuận giữa các bên theo quyđịnh của Luật này và những quy định khác có liên quan”

Trang 11

Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng cũng đã trải qua những bước thăngtrầm và biến đổi, bắt đầu từ các định nghĩa khái quát về khế ước trong các BộDân luật giản yếu Nam Kỳ (năm 1931), Bộ Dân luật Bắc Kỳ (năm 1931) và

Bộ Dân luật Trung kỳ (năm 1368) đến khái niệm hợp đồng kinh tế và hợpđồng dân sự trong thời gian từ những năm 60 thế kỷ XX đến trước khi bộ luật

Bộ luật Dân sự 1995 ra đời Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 rađời trong điều kiện kinh tế đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm hợp đồng mà nó nêu ra đã khắc phụcđược những hạn chế trong quan niệm về hợp đồng trước kia và gần gũi với tưtưởng về hợp đồng của nền văn hoá Romanh-Giecmanh Điều 394 - Bộ luậtDân sự 1995 và Điều 388-Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự

là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự” Về cơ bản khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam làthống nhất với các nước trên thế giới, nếu khác biệt thì chủ yếu đó chỉ ở vấn

đề sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” thay vì “hợp đồng” [26]

Như vậy, hầu như các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận khái niệm hợpđồng qua một thuộc tính mang tính bản chất, đó phải là sự thoả thuận của cácbên được tạo lập bởi sự thống nhất ý chí (nhưng tất nhiên, nói như vậy không

có nghĩa là mọi sự thoả thuận đều có thể dẫn tới việc làm xuất hiện hợp đồng)

Trang 12

vụ Hiểu một cách đơn giản, giao kết hợp đồng là quá trình “mặc cả” giữa cácbên với nhau về những điều khoản quan trọng trong nội dung của hợp đồng.Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng, dù rằng trên thực tế trong giaiđoạn này hợp đồng chưa hề tồn tại Nó đặt cơ sở, nền móng cho sự ra đời củahợp đồng, đồng thời quyết định nội dung của quan hệ hợp đồng sau này sẽdiễn ra như thế nào Các tranh chấp trong quan hệ hợp đồng không phải chỉphát sinh khi hợp đồng đã được ký kết mà có khi phát sinh trước khi hợp đồngđược ký kết Quan hệ trước khi hợp đồng được chính thức ký kết được gọi làquan hệ tiền hợp đồng (tức là trước khi có hợp đồng), trong đó, giai đoạn giaokết hợp đồng cũng là một nội dung của của quan hệ tiền hợp đồng.

Luật pháp các nước ngày càng quan tâm chú ý đến quan hệ này trong thựctiễn cũng như về mặt pháp lý Các tình huống về tiền hợp đồng xảy ra ngàycàng nhiều hơn và việc hoàn thiện pháp luật về tiền hợp đồng và một yêu cầuthực tiễn đang đặt ra trước mắt các nhà lập pháp các nước, trong đó có ViệtNam Xây dựng pháp luật về quan hệ tiền hợp đồng nói chung và giai đoạngiao kết hợp đồng nói riêng chính là một bước quan trọng để tiến tới hoànthiện pháp luật về hợp đồng của mỗi quốc gia

Sự thoả thuận trong hợp đồng bao gồm hai thành tố: đề nghị và chấpnhận Nói cách khác, quá trình giao kết hợp đồng diễn ra trong hai giai đoạn:giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng

1.1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Bất kỳ ai khi muốn thiết lập một hợp đồng cũng cần thể hiện ý chí củamình thành dạng hành vi cụ thể Thông qua những biểu hiện ấy, phía đối tácmới hiểu được mong muốn của mình, từ đó đi đến việc giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trướcngười khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết

Trang 13

với người đó một hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đềnghị đối với bên đã được xác định cụ thể.

Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng hai yêu cầu cơ bảnsau:

Thứ nhất, thể hiện được ý chí giao kết hợp đồng Nếu thiếu ý chí muốnxác lập các nghĩa vụ pháp luật của bên đưa ra đề nghị, thì đề nghị đó khôngđược coi là đề nghị giao kết hợp đồng và không dẫn đến trách nhiệm củangười đã đưa ra nó

Thứ hai, có nội dung mang tính xác định Lời đề nghị giao kết hợp đồngphải để cho người mà mình muốn giao kết hợp đồng có thể hình dung đượchợp đồng đó như thế nào Vì thế, nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng cầnmang tính xác định, cần mô tả những nội dung được coi là chủ yếu của mộtquan hệ hợp đồng Tính xác định phụ thuộc vào điều kiện cụ thể và nội dungcủa hợp đồng

Ví dụ:

Điều 402 - Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 nêu rõ nội dung của mộthợp đồng dân sự như sau: Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoảthuận về những nội dung sau đây:

1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm

hoặc không được làm;

2 Số lượng, chất lượng;

3 Giá, phương thức thanh toán;

4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

5 Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7 Phạt vi phạm hợp đồng;

8 Các nội dung khác

Trang 14

Cách quy định này đảm bảo tính linh hoạt của các quan hệ tư, nhà làm luậtkhông thể và cũng không cần xác định một cách cứng nhắc những nội dungnhất định mà một đề nghị giao kết hợp đồng phải bao gồm Việc xác định mộtcách cơ bản các nội dung đó trong quy định của pháp luật chỉ mang tính chất

“gợi ý” và “ ràng buộc lỏng lẻo”, giúp các chủ thể có thể định hình được nộidung của một đề nghị giao kết và tạo cơ hội cho người tham gia giao kết cóthể phát huy tính sáng tạo và linh hoạt trong quan hệ

Đề nghị giao kết hợp đồng nếu thoả mãn các yêu cầu kể trên sẽ có hiệulực vào thời điểm được gửi tới cho người nhận Trong thời hạn đề nghị giaokết hợp đồng có hiệu lực, người nhận có quyền chấp nhận và hợp đồng sẽđược giao kết Nói cách khác, đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực làm phátsinh trách nhiệm của bên đề nghị và quyền của bên nhận có thể ràng buộc bên

đề nghị bởi các nghĩa vụ hợp đồng

Tất nhiên, trách nhiệm của bên đề nghị không phải là vô hạn Theo phápluật Hoa Kỳ, đề nghị giao kết hợp đồng hết hiệu lực dưới những điều kiệnsau: (1) người được đề nghị rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, (2) người nhậnđưa ra đề nghị mới, (3) người nhận từ chối đề nghị giao kết hợp đồng, (4) hếthạn chấp nhận, (5) một trong hai bên mất năng lực hành vi và (6) nội dungcủa đề nghị vi phạm pháp luật

Về hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, cách quy định của các nướctheo truyền thống dân luật, trong đó có Việt Nam là công nhận một đề nghịgiao kết hợp đồng có hiệu lực ràng buộc đối với người đề nghị và chỉ được rútlại trong một số trường hợp nhất định Điều 392 - Bộ luật Dân sự Việt Namnăm 2005 quy định, đề nghị giao kết hợp đồng có thể bị thay đổi, rút lại khi:(a) bên được đề nghị nhận được thông báo thay đổi hoặc rút lại trước hoặccùng với thời điểm nhận được đề nghị, (b) điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề

Trang 15

nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổihoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.

Pháp luật Hoa Kỳ về nguyên tắc không quy định hai điều này, người đềnghị có thể rút lại đề nghị kể cả khi người nhận đã nhận được đề nghị hoặc kể

cả khi trong đề nghị không quy định về việc rút lại Kể cả khi trong đề nghị cóghi một thời hạn, mà trong thời hạn đó đề nghị có hiệu lực, thì người đề nghịvẫn có quyền rút lại đề nghị của mình Như vậy, pháp luật Hoa Kỳ quy địnhquyền của người đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị vào bất kỳ thờiđiểm nào trước khi được người nhận chấp nhận Nếu đã được rút lại như vậythì người nhận không thể xác lập quan hệ hợp đồng với nội dung đã được rútlại Về nguyên tắc, người đề nghị có quyền rút lại đề nghị của mình, kể cả khi

đã hứa hẹn một thời hạn hiệu lực nhất định của đề nghị giao kết hợp đồng Đểviệc rút lại đề nghị này có hiệu lực, người đề nghị phải thông báo quyết địnhrút lại của mình cho người nhận Quyết định này được coi là có hiệu lực khingười nhận thực tế đã nhận được hoặc dưới những điều kiện nhất định đượccoi như đã nhận được nó (thuyết tiếp nhận) [16, tr 174-189]

Luật pháp của một số nước có thể quy định đề nghị giao kết hợp đồngkhông thể rút lại được (không huỷ ngang) Có thể so sánh Điều 2-205 Luậtthương mại nhất thể Hoa Kỳ (UCC), theo đó các chào hàng (chào bán hoặcchào mua hàng hoá) bằng văn bản đã được ký bởi thương nhân hứa khônghuỷ ngang thì không được rút lại trong thời hạn đã cam kết, hoặc trong thờihạn hợp lý không quá 3 tháng, nếu không cam kết chi tiết trong chào hàng.Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ

đề nghị họ đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được

đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận đượcthông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng (Điều 393 – BLDS VN 2005) [13, tr 96]

Trang 16

Đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đềnghị (1) trả lời không chấp nhận, (2) hết thời hạn trả lời chấp nhận, (3) khithông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực, (4) khi thông báo

về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực, (5) theo thoả thuận của bên đề nghị và bênnhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên đề nghị trả lời (Điều 394-BLDS

Chú ý: Cần phân biệt một lời đề nghị giao kết hợp đồng với lời mời đưa

ra đề nghị giao kết hợp đồng Đây là hai vấn đề pháp lý hoàn toàn khác nhau,

có thể gây ra những hậu quả và cách xử lý cũng hoàn toàn khác nhau

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng vàchịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể:

Ví dụ: Công ty A gửi đến công ty B một thư chào hàng để chào bán lôhàng vải nhập khẩu từ Hàn Quốc, có gửi kèm báo giá và mẫu vải Thư chàohàng nêu rõ thời hạn trả lời là 30 ngày kể từ ngày thư chào hàng được gửi đi(tính theo dấu bưu điện)

Lời mời đề nghị giao kết hợp đồng không xác định cụ thể ai sẽ là bên đềnghị, không tạo nên sự ràng buộc giữa bên đưa ra lời mời và bên nhận lờimời

Ví dụ: Một công ty của Việt Nam đưa ra lời mời đề nghị giao kết hợp đồng như sau:

Ghế văn phòng cao cấp:

Trang 17

Nội dung: Chúng tôi là công ty chuyên sản xuất các loại ghế dung cho văn phòng cao cấp Sản phẩm của chúng tôi có thể xem tại website:

www.euronice.com.vn Rất mong được hợp tác cùng quý công ty.

Web site: www.euronice.com.vn

Trên trang web của công ty đã mô tả về loại sản phẩm, đưa ra hình ảnhcủa sản phẩm công ty sản xuất như sau:

HT-920

Hãng sản xuất: HUNG TIEN JSC – IMPORT

Loại hình: Giới thiệu sản phẩm

Pháp luật nhiều nước đã có những quy định về lời mời giao kết nhưngpháp luật Việt Nam vẫn còn chưa có Đây là một lỗ hổng cần sớm được lấpđầy để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và theo kịp sự phát triển của pháp luậtquốc tế

1.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là việc bên được đề nghị nhận toàn

bộ lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đềnghị Chấp nhận này phải được chuyển đến cho người đề nghị thì hợp đồngmới được coi là đã xác lập

Trang 18

Việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể được xác định trong mộtthời gian nhất định Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc

có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Trong những trường hợp cần phải

có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ và các bên đã ấn địnhthời gian trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời gian đó Nếu sauthời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết hợpđồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trảlời

Nếu việc trả lời được chuyển qua đường bưu điện thì ngày gửi đi theo dấubưu điện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đềnghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định.Trường hợp các bên trực tiếp giao dịch với nhau, kể cả trong trường hợp quađiện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lờingay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận vềthời hạn trả lời

Theo luật Việt Nam và luật một số nước, người được đề nghị có thể chấpnhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nộidung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng

ý với những nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra Các trường hợp này có thểhiểu là người được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà người đềnghị đã đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở hành người đề nghị mới và người đã đề nghịtrước đó lại trở thành người được đề nghị Người đề nghị mới cũng chịu sựràng buộc của mình về nội dung đã đề nghị Sự hoán vị này có thể xảy ranhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thoả thuận được với nhau toàn

bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng [14, tr.107-112]

Trang 19

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, người được đề nghị cóthể sửa đổi, bổ sung nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng mà hành vi đóvẫn có thể được coi là chấp nhận Còn theo thông luật, nếu có bất kỳ sự sửađổi hay bổ sung nào so với đề nghị, thì hành vi đó không được coi là chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng, mà được coi là một đề nghị mới, đồng nghĩavới việc từ chối không giao kết hợp đồng với nội dung cũ Đề nghị và chấpnhận phải trùng khớp “như ảnh và vật qua gương” Ví dụ pháp luật Hoa Kỳquy định hai điều kiện cơ bản để chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có hiệulực: (1) chấp nhận phải thể hiện rõ ý chí của người nhận muốn xác lập quan

hệ hợp đồng, (2) chấp nhận tuyệt đối và vô điều kiện các nội dung của hợpđồng Tuỳ theo từng nội dung cụ thể, toà án sẽ xác định những nội dung nàođược xem là sửa đổi, bổ sung đề nghị giao kết hợp đồng Nếu các nội dungnày chỉ mang tính chất gợi ý, ví dụ về thể thức ký kết hợp đồng, hoặc nhắc lạimột nội dung đã được pháp luật quy định, hoặc chỉ làm rõ thêm một nội dung

cụ thể trong đề nghị thì không được coi là sửa đổi, bổ sung đề nghị

Cũng như đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

có thể được rút lại Theo pháp luật Việt Nam, bên được đề nghị giao kết hợpđồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo nàyđến trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giaokết hợp đồng

Trang 20

trực tiếp lời đề nghị và có thể trả lời là ngay lập tức hoặc sau một khoảng thờigian do hai bên thoả thuận ấn định.

Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyểncông văn, giấy tờ qua đường bưu điện Trong trường hợp này, lời đề nghịđược thể hiện dưới dạng văn bản Bên đề nghị bày tỏ ý chí của mình dướidạng chữ viết Thời hạn trả lời là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định

Về hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Chấp nhận phải đượcthông báo cho người đề nghị theo đúng các điều kiện về hình thức như đã yêucầu cụ thể Nếu không có một hình thức bắt buộc nào được yêu cầu trước thìchấp nhận có thể bằng văn bản, bằng lời nói hay bằng hành vi thực tế Im lặngthường không được coi là chấp nhận Chỉ trong những điều kiện hết sức đặcbiệt, ví dụ giữa các bên đã có quan hệ hợp đồng lâu dài, thì sự im lặng mới cóthể được coi là chấp nhận hợp đồng

1.1.2.4 Hậu quả của giao kết hợp đồng

Sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể của hợp đồng được thể hiện thôngqua lời đề nghị và chấp nhận đề nghị Hậu quả của sự giao kết hợp đồng đó làràng buộc các bên trong quan hệ hợp đồng với các nội dung đã được thoảthuận Kể từ thời điểm hợp đồng được giao kết, các quyền và nghĩa vụ theonội dung hợp đồng bắt đầu phát sinh hiệu lực Các bên buộc phải thực hiệntheo đúng những nội dung đã được thoả thuận, nếu không, sẽ bị cưỡng chế thihành

Tuy nhiên, để giao kết hợp đồng có giá trị pháp lý như vậy thì nó phảithoả mãn những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Một sự thỏa thuận trởthành một hợp đồng khi đáp ứng được các điều kiện sau: (1) Phải có một sựthỏa thuận đầy đủ giữa các bên về các điều kiện của hợp đồng; (2) Các bênphải có ý chí ràng buộc về mặt pháp lý bởi sự thỏa thuận của họ; (3) Nhữngcam kết tạo nên sự thỏa thuận phải được hỗ trợ bởi nghĩa vụ đối ứng trừ khi

Trang 21

sự thỏa thuận trong một chứng thư (agreement is in the form of a deed) Tuynhiên hợp đồng không có hiệu lực nếu thiếu một trong các yếu tố sau: (1)Hình thức được yêu cầu; (2) Năng lực giao kết hợp đồng; (3) Sự bằng lòngchân thực (genuine consent); (4) Đối tượng hợp pháp

1.2 Khái quát chung về bán đấu giá

1.2.1 Khái niệm bán đấu giá

Vào khoảng 500 năm trước công nguyên, theo ghi chép của nhữngngười Hy Lạp cổ đại, hình thức bán đấu giá xuất hiện lần đầu tiên tại Babylonvới đối tượng được mua bán là phụ nữ như một sự cưới hỏi Bất kể người congái nào bị gả bán ngoài cuộc bán đấu giá đều bị coi là bất hợp pháp Nhữngngười phụ nữ xinh đẹp được đưa tới những cuộc bán đấu giá cao cấp, cònnhững người phụ nữ xấu phải có của hồi môn và bị đưa tới các cuộc bán đấugiá để đợi được chấp nhận Giá cả của những người phụ nữ xấu là số âm, tức

là càng xấu càng mất nhiều của hồi môn [47] Tiếp đó, bán đấu giá được phát

triển qua các cuộc chiến tranh của Đế chế La Mã cổ đại Cho tới ngày nay,bán đấu giá đã trở thành một hoạt động khá thông thường và phổ biến

Bán đấu giá là một phương thức bán hàng đặc biệt Sự đặc biệt nàyđược thể hiện ở chỗ người bán tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thựchiện việc bán hàng hoá công khai tại một địa điểm và thời gian đã thông báotrước để những người muốn mua đến trả giá Người trả giá cao nhất sẽ là chủnhân mới của hàng hoá

Theo Đại Từ điển Bách khoa Việt Nam, “đấu giá là hình thức bánnhững hàng hoá hoặc tài sản thường thuộc loại đắt tiền, hàng quý hiếm.Người bán đặt mức giá chuẩn, những người mua trả giá từ thấp đến cao, hànghoá được bán cho người mua trả giá cao nhất” [12, tr 5]

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “đấu giá là bán theo phương thức để chonhững người mua trả giá công khai, ai trả giá cao nhất thì bán” [17, tr 5]

Trang 22

Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại, “đấu giá là một thị trường trong đóngười mua tiềm tàng đặt giá cho hàng hoá chứ không phải đơn thuần trả theogiá công bố của người bán” [11, tr 6].

Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, “đấugiá tài sản thông qua thủ tục trả giá công khai giữa nhiều người muốn mua và

người trả giá cao nhất là người được quyền mua tài sản”[18, tr.6].

Khoản 1 - Điều 185 - Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định: “Đấugiá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặcthuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọnngười mua trả giá cao nhất.”

Như vậy, dù có nhiều cách định nghĩa về bán đấu giá khác nhau, xuấtphát từ những góc độ khai thác khác nhau về bán đấu giá, tựu chung lại, cácđịnh nghĩa đó vẫn thống nhất ở chỗ công nhận bản chất của bán đấu giá, đó là:phương thức mua bán công khai với sự tham gia trả giá của nhiều người

Điểm đặc biệt trong hợp đồng bán đấu giá là các nội dung của hợp đồngcoi như đã được các bên thoả thuận trước, trừ giá cả (và giá cả là điểm cốt yếucủa việc có hình thành quan hệ hợp đồng hay không) Các cuộc bán đấu giá sẽgiống như một “diễn đàn” để người mua có thể thoải mái trả giá trong phạm

vi chi trả của mình và theo quy định của pháp luật Qua sự trả giá đó, mức giácạnh tranh nhất, đem lại lợi ích cao nhất cho người bán hàng sẽ được xác nhận

và quan hệ mua bán được xác lập trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng

Đối tượng của bán đấu giá là hàng hoá thương mại được phép lưuthông Hoạt động bán đấu giá mang đặc trưng của một hoạt động thương mại.Ngoài những đặc điểm chung của một hoạt động thương mại, bán đấu giá còn

có những nét đặc thù sau:

Trang 23

Thứ nhất: Đây là hoạt động bán hàng (có thể) thông qua trung gian.

Tức là, người có hàng hoá có thể tự mình đứng ra tổ chức bán đấu giá hoặcmượn người trung gian làm dịch vụ bán đấu giá

Quan hệ bán đấu giá có thể theo các mô hình sau:

Mô hình 1:

Bên bán –

Trong mô hình này, cuộc bán đấu giá có sự tham gia của hai đối tượng:Một là: bên bán, gồm ngưòi có hàng hoá (chủ sở hữu của hàng hoá) ; hai là:bên mua

Mô hình 2:

Bên trunggian

Trong mô hình này, cuộc bán đấu giá có sự tham gia của ba đối tượng:Một là: bên bán; hai là: bên mua; và ba là: bên trung gian (người làm dịch vụbán đấu giá)

Trong đó:

Trang 24

Bên bán: là chủ sở hữu của hàng hoá hoặc người được chủ sở hữu uỷquyền hoặc là người có trách nhiệm, lợi ích liên quan đến hàng hoá bán đấugiá.

Bên mua: là những tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua hàng hoá và đápứng các điều kiện của pháp luật để tham gia trả giá

Bên trung gian (người làm dịch vụ bán đấu giá): là những tổ chức đượcngười bán hàng hoá uỷ quyền tiến hành việc bán đấu giá

Như vậy, quan hệ bán đấu giá có thể diễn ra giữa các đối tượng sau:

- Người có hàng hoá (chủ sở hữu hàng hoá) – người mua

- Người có hàng hoá - người bán hàng hoá (được chủ sở hữu hàng hoá

uỷ quyền bán hoặc có quyền bán hàng hoá theo quy định của pháp luật) người mua

Người có hàng hoá người bán đấu giá (thương nhân kinh doanh dịch

vụ đấu giá hàng hoá) – người mua

Thứ hai: Đối tượng của bán đấu giá có thể là hàng hoá thương mại

thông thường nhưng do đặc thù của việc bán hàng theo phương thức này nênhầu hết chỉ có những hàng hoá đặc thù về giá trị và giá trị sử dụng mới đượccân nhắc để lựa chọn bán theo phương thức bán đấu giá Những hàng hoá nàykhó định giá và xác định giá trị, vì vậy người bán chỉ đưa ra giá tham khảo(giá khởi điểm) còn giá thực của hàng hoá sẽ do người mua quyết định trên cơ

sở cạnh tranh trong trả giá

Thứ ba: hình thức pháp lý của quan hệ bán đấu giá không giống một

quan hệ thương mại thông thường, nó được thể hiện dưới hình thức hợp đồng

uỷ quyền bán đấu giá và văn bản bán đấu giá hàng hoá Hợp đồng uỷ quyềnbán đấu giá được xác lập giữa người bán hàng và người được uỷ quyền bánđấu giá Văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán hàng hoá đượcxác lập giữa các bên liên quan (bên bán, bên mua, và tổ chức bán đấu giá)

Trang 25

Pháp luật Việt Nam đã có các văn bản quy phạm pháp luật quy định vềvấn đề bán đấu giá, trong đó có gọi tên phương thức bán hàng đặc biệt này là

“bán đấu giá hàng hoá” và “bán đấu giá tài sản” Ở đây, người viết sẽ chỉ sửdụng thuật ngữ “bán đấu giá” bởi nó có tầm khái quát cao hơn, thể hiện tốt vàtoàn diện hơn phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.2.2 Phân loại bán đấu giá

a Căn cứ và phương pháp xác định giá, có đấu giá theo phương pháp nânggiá lên và phương pháp hạ giá xuống

* Bán đấu giá theo phương thức nâng giá lên hay đấu giá kiểu Anh (English auction)

Đấu giá theo phương thức nâng giá lên được bắt nguồn từ nước Anh

Nó được áp dụng để bán đấu giá đối với tất cả các loại hàng hoá, từ những thứ

có thể định giá chính xác đến những thứ không thể định giá chính xác như cáctác phẩm nghệ thuật… Đây là hình thức bán đấu giá phổ biến nhất và được ápdụng nhiều nhất tại tất cả các quốc gia

Tại cuộc bán đấu giá, nhân viên điều hành bán đấu giá nêu lên giá khởiđiểm thấp nhất của lô hàng hay tài sản bán đấu giá Mức giá khởi điểm này làmức giá được định bởi các chuyên gia, được sự thống nhất ý chí của ngườibán trên cơ sở đánh giá giá trị hàng hoá Giá khởi điểm được tính tương đốisát với giá trị của hàng hoá để chỉ cần vượt qua (hoặc bằng giá này nếu có sựđồng ý của ngưòi bán) là có thể bán được Tuy nhiên, sự định giá này cũng chỉmang tính tương đối vì cũng có khi hàng hoá đem bán là những thứ rất khóđịnh giá như tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ… và vì mục đích tạo sự kích thíchcho người tham đấu giá, cho họ còn thấy lợi khi tham gia đấu giá và có cơ hộiđược trả giá trong cuộc đấu giá Những người mua sẽ trả giá nâng dần lêntheo từng mức mặc cả nhất định, người sau cao hơn người trước Người

Trang 26

trả giá cao nhất theo sự kết luận của nhân viên điều hành đấu giá sẽ được quyền mua lô hàng hoặc tài sản đó.

Ưu điểm:

+ Hình thức này được áp dụng phổ biến nhất trong các cuộc đấu giá vì

nó có lợi cho cả bên mua và bên bán Bên mua được chủ động đề xướng giáđặt mua nên quan hệ mua bán mang tính tự nguyện rất cao Còn bên bánthường được lợi về giá cả vì luôn có sự trả giá cao hơn giá khởi điểm mìnhđưa ra

+ Nhiều khi, mức giá mà bên mua trả vượt cao quá sức tưởng tượng củabên bán

+ Cuộc đấu giá theo phương thức nâng giá lên luôn luôn sôi động bởi

sự trả giá liên tục giống như cuộc rượt đuổi của những người tham gia đấugiá

+ Thời gian tổ chức ngắn, do các mức giá được đưa ra công khai, dễdàng tìm ra người thắng cuộc mà không mất công so sánh các mức giá đượctrả của những người tham gia khác nhau

Nhược điểm: Người tham gia đấu giá luôn luôn biết rõ đối thủ của mìnhtrả giá như thế nào nên làm chủ về mặt thời gian và mức ra giá Họ thường chỉtrả giá nhích từng chút một và nhiều khi cuộc bán đấu giá kết thúc với giá bánđược không bỏ xa giá khởi điểm bao nhiêu

* Bán đấu giá theo phương thức hạ giá xuống hay đấu giá Hà Lan (Dutch auction)

Đấu giá theo phương thức hạ giá xuống được bắt nguồn từ Hà Lan, vàođầu thế kỷ 15 Thông thường, đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để báncác hàng hoá có giới hạn tồn tại, có nghĩa là các hàng hoá nhanh hỏng Bêncạnh sử dụng để bán hoa Hà Lan, đấu giá Hà Lan còn thường được còn được

Trang 27

sử dụng để bán cá tại Anh và Israel, thị trường tín dụng ở Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia, Jamaica, Zambia

Đấu giá Hà Lan thường được áp dụng trong trường hợp một hàng hoákhông được chấp nhận khi đưa ra một mức giá cao hoặc một hàng hoá muốnđược bán đi thật nhanh

Đặc điểm của phương thức bán đấu giá này là:

+ Hàng hoá được bán theo hình thức này thường là các hàng hoá giốngnhau, có số lượng lớn hoặc hàng hoá mau hỏng

+ Có nhiều hơn một gói hàng được đem ra bán, và có thể có nhiềungười chiến thắng

Đây là hình thức đấu giá mà trong cuộc đấu giá này, một món hàngđược chào bán với một mức giá rất cao Giá ban đầu được đưa ra này cao hơnnhiều giá trị món hàng và chẳng có người bán nào hi vọng bán được mónhàng với giá cao như vậy Giá được giảm xuống từ từ cho đến khi một ngườitrả giá (bidders) nào đó quyết định mua và nếu ông ta là người đầu tiên làmthế thì ông ta thắng

Đấu giá Hà Lan thường được tổ chức bởi các nhà tổ chức đấu giá lớn

và nhiều kinh nghiệm Cuộc đấu giá thường được thông báo cho bidders Họ

sẽ tiến hành trưng bày các sản phẩm hàng hoá được đấu giá để những ngườitham gia đấu giá có cơ hội xem xét các hàng hoá mà họ sẽ mua Trước mỗicuộc đấu giá, người tổ chức sẽ công bố số lượng gói hàng đem bán, giá trị bán

lẻ, giá cược thế chấp, độ giảm giá cược và thời gian đóng cửa đấu giá Bằngviệc đặt cược giá, bạn đồng ý rằng bạn có thể và dự định mua

Đầu tiên, hàng hoá được chia ra thành các gói nhỏ Trong cuộc đấu giátheo phương thức này, giá mở đầu thường được đưa ra rất cao, không ngườinào mua nổi Tiếp theo mức giá này được giảm dần với một mức định trước.Mức định trước này có thể hiểu là một mức giá định trước, một mức thời gian

Trang 28

định trước, tuỳ theo cuộc đấu giá khác nhau mà các mức quy định này khácnhau Auctioners đưa ra giá và chờ người đó đồng ý Nếu không có ai đồng ýthì anh ta sẽ giảm giá theo mức đã định và hỏi lại các bidders Mức giá cứgiảm dần cho đến khi một người mua xác nhận sản phẩm là của ông ta bằngcách kếu “mine”, hoặc ấn một cái nút để dừng một cái đồng hồ tự động đangchạy Nếu bidders là người đầu tiên ra quyết định thì anh ta là người thắngcuộc Người mua phải trả mức giá mà anh ta quyết định với một lượng hàngxác định Cuộc đấu giá sẽ tiếp tục nếu vẫn còn hàng hoá cùng loại Bidderscòn lại sẽ tiếp tục tham gia đấu giá Kết quả của quá trình đấu giá này, hànghoá sẽ được bán với mức giá khác nhau, các bidders khác nhau, và số lượngkhác nhau, mà người đầu tiên quyết định giá sẽ là người trả giá cao nhất vàngười thắng cuộc cuối cùng là người trả giá thấp nhất.

Thời gian diễn ra cuộc đấu giá rất ngắn, mọi người tham gia cuộc đấugiá thường im lặng để chờ đến mức giá mà họ có thể quyết định mua Điềunày hoàn toàn ngược lại với không khí cạnh tranh sôi nổi của đấu giá theophương thức tăng giá lên

Quy trình của đấu giá theo phương thức này có thể khiến chúng ta nghĩrằng người bán có thể bị lỗ tiền, nhưng sự thực thì họ thường được nhiều tiềnhơn kiểu đấu giá theo phương thức nâng giá lên truyền thống Với một cuộcđấu giá theo phương thức nâng giá lên, bidder tăng giá nhưng hiếm khi họ đạtđến mức giá trị thực của hàng hoá Họ không có lý do để hành động thậtnhanh vì họ biết chính xác khi nào thì cuộc đấu giá kết thúc và họ thường đợiđến phút cuối và chỉ tăng giá một chút Tuy nhiên, trong đấu giá Hà Lan,bidders sẽ hành động thật nhanh vì họ không biết khi nào thì cuộc đấu giá kếtthúc Vì vậy, dù giá đang giảm mạnh thay vì tăng giá, bidders sẽ kết thúc việctrả giá với giá thậm chí cao hơn giá trị món hàng

Trang 29

Tính cạnh tranh trong đấu giá Hà Lan là cạnh tranh ngầm giữa biddersmuốn sở hữu món hàng diễn ra rất mạnh mẽ Mức giá càng giảm thì bidderscàng muốn mua và tính cạnh tranh ngày càng tăng.

Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ những nhược điểm sau:

- Với tính chất đặc biệt của đấu giá Hà Lan nên các cuộc đấu giá rấtkhó tổ chức Auctioner phải là những người có kinh nghiệm và chuyên nghiệpthì mới điều hành được phiên đấu giá

+ Số lượng bidders tham gia cuộc đấu giá thường bị hạn chế

Trong giai đoạn hiện nay, đấu giá Hà Lan còn được xem là kiểu đấu giátrực tuyến và trở nên khá thịnh hành trên các trang web như Ebay, Google [35]

b Căn cứ vào hình thức biểu đạt trong cuộc bán đấu giá, có đấu giá dùng lờinói, đấu giá không dùng lời nói và đấu giá thông qua mạng internet

* Đấu giá dùng lời nói

Đây là hình thức đấu giá được áp dụng rộng rãi nhất trong các hìnhthức bán đấu giá Trong phiên bán đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá dùnglời nói của mình để đưa ra giá khởi điểm Những người mua sẽ đặt giá cũngbằng lời nói hoặc bằng việc làm dấu hiệu để người điều hành đấu giá biết

Sau mỗi lần người tham gia đấu giá trả giá, người điều hành cuộc bánđấu giá nhắc lại ba lần một cách rõ ràng, chính xác bằng lới nói giá đã trả caonhất, mỗi lần cách nhau ba mươi giây Sau ba lần nhắc lại như vậy mà vẫnkhông có ai trả giá cao hơn (đối với cuộc bán đấu giá theo phương thức nânggiá lên) hoặc đồng ý mua (đối với cuộc bán đấu giá theo phương thức hạ giáxuống) thì người điều hành cuộc bán đấu giá sẽ đồng ý bán cho người trả giácao nhất (đối với cuộc bán đấu giá theo phương thức nâng giá lên) hoặcchuyển sang mức giá khác thấp hơn để chào bán (đối với cuộc bán đấu giátheo phương thức hạ giá xuống)

2

Trang 30

Hình thức đấu giá dùng lời nói có ưu điểm là sự trả giá của mọi ngườimua đều công khai, người trả giá cao nhất được xác định ngay mà không mấtnhiều thời giờ để so sánh, vì thế mà cuộc đấu giá nhanh chóng kết thúc Nếuthực hiện đúng hình thức này thì sẽ đem lại kết quả tốt trong cuộc bán đấu giá.

Nhưng nó cũng có nhược điểm là những cuộc bán đấu giá có nhiềungười tham gia thì rất khó điều hành bởi vì sau khi người đầu tiên trả giá thì

có hàng loạt người trả giá cùng một lúc, người điều hành bán đấu giá khôngxác định được, cho nên dễ xảy ra tình trạng mất trật tự trong cuộc đấu giá.Mặt khác, hình thức này cũng không quy định trật tự trả giá cho nên dễ phátsinh tiêu cực trong việc người bán đấu giá sắp xếp thứ tự ngưòi tham gia đấugiá có lợi cho người mua móc ngoặc với người bán đấu giá, từ đó lũng đoạncuộc bán đấu giá

* Đấu giá không dùng lời nói

Đây là hình thức bán đấu giá cũng được áp dụng rộng rãi Trong cuộcbán đấu giá theo hình thức này, việc trả giá của người mua không được thểhiện bằng lời nói hoặc việc làm dấu hiệu mà được viết ra giấy hoặc thông quamột hình thức nào đó sẽ thông báo cho nhân viên điều hành đấu giá biết

Nhân viên điều hành sẽ thông báo mức giá cao nhất qua mỗi lần trả giátrên cơ sở so sánh các mức giá chấp nhận mà họ được thông báo Việc đấu giákéo dài cho đến lần trả giá mà không ai trả giá cao hơn giá đã trả cao nhất củalần trả giá liền trước đó

Hình thức này có rất nhiều ưu điểm Nó hạn chế được tình trạng chạyđua giữa những người mua nâng giá lên cao một cách quá đáng so với giá trịthực của hàng hoá, vì mỗi người mua sẽ không biết mức giá mà người muakhác trả trong mỗi lần trả giá Như vậy, những tiêu cực trong đấu giá bằng lời

Trang 31

nói sẽ không thực hiện được Mặt khác, hình thức này cũng tránh được hiệntượng gây rối, mất trật tự trong cuộc đấu giá.

Nhược điểm của hình thức này là thủ tục phức tạp và mất nhiều thời gian hơn so với đấu giá bằng lời nói Không khí của cuộc đấu giá cũng kém sôi động hơn Sự cạnh tranh của những người tham gia đấu giá là sự cạnh tranh ngầm, tuy nhiên cũng không kém phần quyết liệt và căng thẳng * Đấu giá thông qua mạng internet

Nếu người có tài sản có phương tiện, trang thiết bị tin học phục vụ cuộcđấu giá thông qua mạng internet thì có thể lựa chọn phương thức này để tiếnhành cuộc bán đấu giá

Những ưu điểm của hình thức này là:

Thứ nhất, không ràng buộc thời gian Việc đặt giá có thể thực hiện bất

kì lúc nào Các sản phẩm đuợc liệt kê trong một một vài ngày (thường là từ 1đến 10 ngày, tùy theo ý thích của người bán) để người mua có thời gian tìmkiếm, quyết định và đặt giá Giá trị của món hàng sẽ được nâng lên theo sốlượng người tham giá đấu giá

Thứ hai, không ràng buộc địa lý: Những người bán hàng và nhữngngười đấu giá có thể tham gia đấu giá từ bất kì nơi nào có truy cập Internet.Điều này làm các cuộc đấu giá thêm gần gũi và giảm chi phí tham dự mộtcuộc đấu giá Điều này đồng thời cũng làm tăng số lượng các sản phẩm (cócàng nhiều người bán hàng) và số lượng các đặt giá (có càng nhiều người đặtgiá) Những món hàng không những không cần phải đưa đến sàn đấu giá màcòn giảm được chi phí, giảm được giá khởi điểm được chấp nhận của ngườibán

Thứ ba, sức mạnh của tương tác xã hội: Tương tác xã hội mà liên quanđến quá trình đấu giá thì giống như việc đánh bạc Những người đấu giá chờđợi trong hi vọng là họ sẽ thắng Cũng giống như sự ham mê cờ bạc, nhiều

Trang 32

người tham gia đặt giá chủ yếu để "chơi trò chơi" chứ không muốn giànhđược món hàng.

Thứ tư, số lượng người đấu giá lớn Bởi vì tiềm năng có giá thấp, hànghóa và dịch vụ đa dạng, dễ dàng tham gia và lợi ích xã hội của quá trình đấugiá

Thứ năm, số lượng người bán hàng lớn Bởi vì có nhiều người tham giađặt giá, có thể đạt được giá cao, giảm chi phí bán hàng, dễ buôn bán

Đây là một hình thức hiện đại Trong thời buổi bùng nổ công nghệthông tin như hiện nay, việc ngồi ở nhà mà vẫn có thể tham gia đấu giá, được

có cảm giác hồi hộp và hứng khởi như tham dự một cuộc đấu giá thực sự làmột sự hấp dẫn lớn đối với mọi người Nhưng hình thức này cũng có nhiềubất tiện, đó là việc không có gì ràng buộc người tham gia đấu giá nên họ cứ

vô tư trả giá rồi không mua, hoặc dung những tên ảo để phá cuộc đấu giá.Chính vì thế, việc quản lý đấu giá qua mạng là rất khó khăn và yêu cầu xâydựng được quy định pháp luật chặt chẽ để quản lý mô hình bán đấu giá trựctuyến này là vô cùng cần thiết đối với pháp luật đấu giá của mỗi quốc gia,trong đó có Việt Nam

Hiện nay, có nhiều trang web bán đấu giá trực tuyến trên mạng, nổi bậttrong số đó phải kể đến eBay (eBay.com) Đây là trang web của tập đoàneBay - một công ty của Mỹ eBay.com là một website đấu giá trực tuyến, nơi

mà mọi người khắp nơi trên thế giới có thể mua hoặc bán hàng hóa và dịch

vụ Ngoài trụ sở tại Mỹ, eBay còn có chi nhánh tại một số quốc gia khác Đốithủ chính của eBay là hệ thống đấu giá Marketplace của Amazon.com vàYahoo! Auctions

Ở Việt Nam cũng đã bắt đầu có những trang web bán đấu giá chậpchững nhập cuộc, nổi bật trong số đó là: www.haya.com,

Trang 33

chodaugia.bancanbiet.com, www.saigonbid.com, www.saigondaugia.com,chodientu.vn…

1.3 Những nội dung pháp lý cơ bản của giao kết hợp đồng trong bán đấu giá

Giao kết hợp đồng trong bán đấu giá chính là quá trình bày tỏ ý chígiữa các bên trong quan hệ đấu giá, từ đó tiến tới xác lập các quyền và nghĩa

vụ nhằm ràng buộc các bên

Cũng là quan hệ mua – bán hàng hoá, cũng là quá trình “mặc cả” và đitới thống nhất ý chí về các nội dung của hợp đồng, song giao kết hợp đồngtrong bán đấu giá có những điểm khác biệt cơ bản so với giao kết hợp đồngthông thường bởi vì đây là quan hệ mua bán hàng hoá đặc biệt Nó khác biệt

so với giao kết hợp đồng thông thường không những về chủ thể, thủ tục tiếnhành, hình thức thể hiện mà cả nội dung biểu đạt trong giao kết

1.3.1 Chủ thể

Theo các mô hình bán đấu giá đã trình bày ở phần khái niệm, chủ thểtham gia vào quan hệ đấu giá nói chung và giao kết hợp đồng trong bán đấugiá nói riêng có thể chia ra như sau: Nếu đây là quan hệ bán đấu giá trực tiếp,tức là người có hàng hoá, tài sản đứng ra tự tổ chức bán đấu giá hàng hoá, tàisản thuộc sở hữu của mình thì chủ thể bao gồm: người bán - người mua Cònnếu họ không tự đứng ra và tổ chức bán đấu giá được mà phải thông qua trunggian, tức là các tổ chức bán đấu giá thì chủ thể của cuộc bán đấu giá bao gồm:người bán, người mua và trung gian giữa họ là người tổ chức bán đấu giá vàngười điều hành bán đấu giá

a Người bán

Người bán là chủ sở hữu hàng hoá, người được chủ sở hữu hàng hoá uỷquyền bán hoặc người có quyền bán hàng hoá của người khác theo quy địnhcủa pháp luật (Khoản 2 - Điều 186 – LTM VN 2005)

Trang 34

Như vậy, người bán hàng hoá ở đây được phân biệt với người tổ chứcđấu giá hàng hoá Người bán hàng có thể chính là chủ sở hữu đứng ra ký hợpđồng dịch vụ tổ chức bán đấu giá với người tổ chức bán đấu giá hoặc ngườibán hàng có thể là trung gian, làm công việc cầu nối giữa chủ sở hữu vớingười tổ chức bán đấu giá hàng hoá.

b Người tổ chức bán đấu giá và người điều hành bán đấu giá

Người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụđấu giá hoặc là người bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tự

tổ chức đấu giá (Khoản 1 - Điều 186 – LTMVN 2005)

Như vậy, thuật ngữ người tổ chức đấu giá được đặt ra đối với cả trườnghợp người bán tự mình tổ chức bán đấu giá hàng hoá và trong cả trường hợpngười tổ chức bán đấu giá là một thương nhân lấy hoạt động dịch vụ tổ chứcbán đấu giá làm nghề nghiệp của mình Xét về bản chất, ngưòi tổ chức bánđấu giá là người tiến hành các công việc cụ thể của một cuộc bán đấu giá.Trong trường hợp người bán hàng không tự mình tổ chức bán đấu giá hànghoá mà thuê một người tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp tiến hành bán đấugiá thì giữa hai người này phải hình thành một hợp đồng dịch vụ bán đấu giátrưóc khi các công việc liên quan đến bán đấu giá được thực hiện

Thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá bao gồm: Doanhnghiệp bán đấu giá tài sản và trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Trong đó,doanh nghiệp bán đấu giá tài sản là những doanh nghiệp có đủ các điều kiệnsau đây: (1) Có đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản; (2) Có ít nhất

1 đấu giá viên; (3) Có cơ sở vật chất bảo đảm cho việc thực hiện bán đấu giátài sản Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản ở mỗi tỉnh, thành phổ trực thuộcTrung ương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương quyết định thành lập và giao cho Sở chuyên môn có chức năng quản lýnhà nước về công tác bán đấu giá tài sản tại địa phương trực tiếp quản lý

Trang 35

Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu, có trụ sở, có tư cách pháp nhân, có condấu và tài khoản riêng Trung tâm có Giám đốc, kế toán, thủ quỹ, thủ kho và ítnhất là một đấu giá viên Giám đốc Trung tâm phải là đấu giá viên Trung tâm

có nhiệm vụ bán đấu giá tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện

vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của phápluật Ngoài nhiệm vụ bán đấu giá các tài sản quy định trên, Trung tâm có thể

ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân có yêu cầu để bán đấu giá các loại tài sảnkhác

Đối với những tài sản của Nhà nước có giá trị dưới mười triệu đồng Thủtrưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Hộiđồng bán đấu giá tài sản để tổ chức bán đấu giá Trong trường hợp tài sản là

cổ vật, tài sản có giá trị văn hoá - lịch sử, tài sản có giá trị đặc biệt lớn phảiđược bán đấu giá thông qua Hội đồng bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức bánđấu giá nước ngoài thì việc thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản hoặc thuê

tổ chức bán đấu giá nước ngoài được thực hiện theo quyết định của Thủ tướngChính phủ (Điều 35, 36, 37 - Nghị định 05)

Người điều hành đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc người đượcngười tổ chức đấu giá uỷ quyền điều hành cuộc bán đấu giá (Khoản 2 - Điều

187 – LTMVN 2005) Người điều hành đấu giá là người xuất hiện chủ yếu vàđiều khiển các phiên đấu giá theo một trình tự được pháp luật quy định vớinhững điều kiện do người bán đưa ra

Trang 36

không được quyền tham gia trả giá Trong pháp luật về bán đấu giá của ViệtNam, các đối tượng này là:

- Người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vidân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luậtDân sự hoặc người tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành

1.3.2 Sự phân biệt về đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết

a Đề nghị giao kết

Trang 37

Trước khi đi vào nội dung chính thức trong một cuộc bán đấu giá,những người tham gia đấu giá đã được người bán đấu giá cung cấp nhữngthông tin cần thiết về hàng hoá mà họ muốn bán, được xem hàng hoá khingười tổ chức bán đấu giá tổ chức trưng bày Trên cơ sở những thông tin ấy,người tham gia đấu giá đã định hình được về hàng hoá, về khả năng mua hàng

và khả năng trả giá của mình

Việc thông báo ban đầu mời tham dự cuộc bán đấu giá của người bánđấu giá không được xem như lời đề nghị giao kết hợp đồng mà đó là lời mời

đề nghị giao kết Người bán đấu giá không bị ràng buộc về quyền và nghĩa vụđối với lời mời đề nghị giao kết của mình Nhận lời mời đề nghị giao kết, cáckhách hàng tiềm năng mới tiến hành đăng ký và làm các thủ tục cần thiết đểtrở thành người tham gia đấu giá Tại cuộc đấu giá, người điều hành cuộc đấugiá nêu tên hàng hoá/ tài sản được đem bán và đưa ra mức giá khởi điểm,hành động này vẫn chưa được coi là lời đề nghị giao kết hợp đồng mà vẫn làlời mời đề nghị giao kết Lời đề nghị giao kết hợp đồng chỉ thực sự được đưa

ra bởi những người mua khi họ tham gia trả giá

- Trong cuộc đấu giá theo phương thức nâng giá lên:

Người mua sẽ liên tục đưa ra các mức giá khác nhau tuỳ thuộc vào khảnăng tài chính của bản thân, theo sự điều hành cuộc bán đấu giá của đấu giáviên Việc đưa ra các mức giá khác nhau ấy thực chất những lời đề nghị giaokết, trái với cách tư duy thông thường rằng người bán là người đề nghị, ngườimua là người được đề nghị Các nội dung khác của hợp đồng bán đấu giá coinhư đã được thoả thuận trước, đề nghị giao kết chỉ hướng tới một mục đích làthoả thuận về giá cả Chấp nhận bán hàng với mức giá như thế nào, người bán

sẽ dựa vào kết quả của cuộc đấu giá để quyết định

Có thể tóm quá trình này trong sơ đồ sau:

Trang 38

Lời mời đề nghị giao kết

Đề nghị giao kết

- Trong cuộc đấu giá theo phương thức hạ giá xuống:

Người bán sẽ liên tiếp đưa ra các mức giá theo mức độ giảm dần (nhữnglời mời đề nghị giao kết với các mức giá khác nhau), cho đến khi người muachấp nhận mua hàng hoá ở một mức giá nhất định Mỗi lần người bán đưa ramức giá mới được hiểu là một lần người bán đưa ra lời mời đề nghị giao kết hợpđồng mới Những lời mời đề nghị giao kết sẽ liên tục thay thế nhau như vậy chođến khi có người chấp nhận mua (tức là chính thức đưa ra lời đề nghị giao kết tạicuộc bán đấu giá với một mức giá xác định theo sự điều hành của người điềuhành cuộc đấu giá) Cũng như ở trên, người mua là người đề nghị giao kết, cònngười bán lại là người nhận được đề nghị giao kết

Có thể hình dung quá trình đề nghị giao kết này theo sơ đồ sau:

Lời mời đề nghị giao kết

Đề nghị giao kết

đề nghị)

(Đề nghị mua ở một đề nghị)mức giá nhất định)

Trang 39

b Chấp nhận giao kết

Bên mua khi nhận được lời mời đề nghị giao kết hợp đồng sẽ cân nhắccác khả năng và đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng chính thức tại quá trìnhtrả giá trong cuộc bán đấu giá Khi người được đề nghị đồng ý bán hàng hoátheo mức giá mà người đề nghị đưa ra, tức là người được đề nghị chấp nhậngiao kết hợp đồng theo đề nghị của bên đề nghị, thì cuộc bán đấu giá dừng lại

Cụ thể là:

- Trong cuộc đấu giá theo phương thức nâng giá lên: khi người mua trảgiá cao nhất và không có ai trả giá cao hơn được nữa, người bán chấp nhậnbán hàng hoá (chấp nhận giao kết)

Đề nghị giao kết(Trả giá)

Chấp nhận giao kết(đồng ý bán)

- Trong cuộc đấu giá theo phương thức hạ giá xuống: Người bán hạ dầngiá so với mức giá khởi điểm, cho đến khi có người mua đề nghị mua hànghoá với mức giá nhất định và người bán chấp nhận bán

Đề nghị giao kết(đề nghị mua)

Chấp nhận giao kết(đồng ý bán)

Trang 40

1.3.3 Đối tượng bán đấu giá

Cũng là giao kết hợp đồng trong bán đấu giá, song đối với mỗi loại đốitượng khác nhau thì vấn đề đề hiệu lực giao kết và thủ tục giao kết đều mangnhững điểm khác biệt

Thứ nhất: Đối với động sản hoặc bất động sản:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, bất động sản là những tài sảnbao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tàisản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đấtđai; các tài sản khác do pháp luật quy định (Điều 174) Động sản là những tàisản không phải là bất động sản

Đối với đối tượng là động sản, tại cuộc bán đấu giá, khi người điềuhành tuyên bố hàng hoá/ tài sản đã được bán cho người trả giá cao nhất thìhợp đồng coi như đã được giao kết và kể từ thời điểm này, các bên bị ràngbuộc với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ Quyền tài sản phát sinh đối vớingười mua khi người đó đóng đủ khoản tiền đấu giá, tiền thuế, hoàn tất thủtục giấy tờ đối với tổ chức bán đấu giá

Đối với đối tượng là bất động sản, theo quy định của pháp luật ViệtNam, khi tiến hành giao dịch đối với loại tài sản này, về hình thức, bắt buộcphải thể hiện dưới dạng văn bản có chứng nhận, chứng thực Chính vì vậy, khingười điều hành tuyên bố tài sản đã được bán cho người trả giá cao nhất, tức

là xác nhận sự giao kết hợp đồng thì ngoài việc đóng thuế, nộp tiền mua, kývào các giấy tờ cần thiết như văn bản bán đấu giá tài sản, người mua và ngườibán còn phải tiến hành các thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định củapháp luật với sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Theo quy định tại Thông tư 03/2005/TT-BTP: “Đối với Hợp đồng muabán tài sản bán đấu giá là bất động sản, thì Hợp đồng đó phải được cơ quancông chứng nơi có bất động sản chứng nhận

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w