Hơn nữa, thực tiễn việc thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty còn nhiều hạn chế và cần những giải pháp giúp công ty nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết, thự
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN HUY BÌNH
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC CÔNG TY CHẾ BIẾN THAN THUỘC TẬP ĐOÀN THAN KHOÁNG
SẢN VIỆT NAM (TKV)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân Các
số liệu sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Đoàn Huy Bình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa 6
1.2 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.3 Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 16
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC CÔNG TY CHẾ BIẾN THAN THUỘC TẬP ĐOÀN THAN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM (TKV) 23
2.1 Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 23
2.2 Khái quát chung về các các công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) và thực tiễn kinh doanh tại công ty 33
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) 43 2.4 Đánh giá thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) 49
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 58
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật vè giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 58
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật vè giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 63
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các công ty ché biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) 68
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty từ 2015 - 2017 38 Bảng 2.2 Tình hình tiêu thụ các sản phầm than trong 3 năm 2015-2017 38 Bảng 2.3 Phân tích tinh hình tiêu thụ theo các phân xưởng (phân vùng địa lý) 40
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động mua bán hàng hoá là một hoạt động trung tâm trong giao lưu thương mại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước cũng như phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia Quan hệ mua bán hàng hoá được thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá Hiện nay, khi bước vào nền kinh
tế thị trường, trong bối cảnh toàn cầu hóa dần mở rộng nhiều quan hệ mua bán hàng hóa, việc mua bán hàng hóa không chỉ diễn ra trong lãnh thổ một nước với nhau mà còn thực hiện các quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa quốc tế Hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại nói riêng là một yêu cầu cấp bách của thực tiễn Chính vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hoá để từ đó đưa ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật là rất cần thiết
Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các giao dịch kinh doanh ngày càng sôi động đòi hỏi Nhà nước phải ban hành quy định điều chỉnh chi tiết cho quá trình thiết lập và thực hiện đúng các bạn trong giao dịch phải có sự hiểu biết đầy đủ các quy định pháp luật hợp đồng nhằm bảo đảm cho việc thực hiện các giao dịch này Trên thực là việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của các thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, làm thế nào để doanh nghiệp có được sự chủ động trong công tác này giúp cho việc xác lập và đảm bảo thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất đưa đến lợi nhuận tối ưu, tránh các thiệt hại không đáng Điều này phụ thuộc trước hết vào hệ thống pháp luật, đồng thời cũng phụ thuộc vào khả năng nhận biết cũng như trình độ thực hiện pháp luật của doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, ngoài một số lỗ hổng từ hệ thống pháp luật thì sự hiểu biết về pháp luật của các doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế Hiện nay, ở nước ta, pháp luật về hợp đồng đang được ngày càng hoàn thiện theo hướng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và tiệm cận với pháp luật hợp đồng của thế giới Nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện Trong quá trình làm việc tại Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV), người viết có cơ hội tham gia ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hóa Do nhận thức được vai trò to lớn của hợp đồng mua bán hàng hóa nên việc tìm hiểu
Trang 7pháp luật hợp đồng là điều cần thiết đối với Công ty Hơn nữa, thực tiễn việc thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty còn nhiều hạn chế và cần những giải pháp giúp công ty nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa với riêng công ty mà còn đối với nhiều doanh nghiệp khác
Đây chính là lý do tác giả quyết định lựa chọn để tài: “Giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV)” làm Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Luật Kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
2.1 Ở nước ngoài
Ở nước ngoài cũng đã có một số công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn
đề hợp đồng mua bán hàng hóa và thực trạng pháp luật cho hợp đồng mua bán hàng
A Sukys (1996), Business in law with UCC application, 10th Edition, USA; John
Cartwright và Martijn W Hesselink (2011), Precontractual Liability in European Private Law, Cambrige; Melvin A Eisenberg (2004), The Revocation
of Offer, Berkeley Law; Cheong May Fong (2007), Civil remedies in Malaysia,
Sweet and Maxwell Asia Publishe; W J Wagner (1963), Some Problems
of Revocation and Termination of Offer: Necessity of Communication-Time of Revocation-Death, NotreDame Law Review, Volume 38…
Nội dung của các công trình này đề cập đến một số khía cạnh của hợp đồng mua bán hàng hóanhư: những vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong
đó có hợp đồng điện tử, hợp đồng online… một số tình huống về hợp đồng mua bán hàng hóa… Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích toàn diện và chuyên sâu về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế Mặc dù vậy, những tài liệu liệt kê ở trên là nguồn tài liệu tham khảo rất cần thiết để thực hiện luận văn này
2.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là vấn đề đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu từ
Trang 8thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của một doanh nghiệp cụ thể để từ đó
đề xuất các giải pháp hạn chế rủi ro pháp lý trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa lại là một vấn đề còn khá mới mẻ Hiện nay, mới chỉ có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng thương mại nói chung như:
- Đề tài luận án tiến sĩ "Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở giai
đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Hữu Nghị, Hà Nội, 1996;
- Đề tài luận án tiến sĩ "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo
đảm quyền tự do kinh doanh ở nước ta" của tác giả Bùi Ngọc Cường, 2001;
- Đề tài luận văn thạc sĩ "Hợp đồng kinh doanh vô hiệu và hậu quả pháp lý
của nó" của tác giả Lê Thị Bích Thọ, 2002;
- Công trình nghiên cứu khoa học "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về
giao dịch dân sự vô hiệu tại Tòa án nhân dân" của tác giả Nguyễn Văn Luật, 2003;
- Công trình nghiên cứu khoa học "Hợp đồng kinh doanh vô hiệu: Lý luận và
thực tiễn", Tài liệu Hội thảo về việc xử lý hợp đồng vô hiệu, Diễn đàn doanh nghiệp
và Câu lạc bộ Luật gia Việt - Đức, Hà Nội
- Sách chuyên khảo do TS Nguyễn Thị Dung chủ biên, Kiến thức pháp lý và
kỹ năng cơ bản trong đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, NXB Chính trị- Hành chính, năm 2012, nghiên cứu một cách toàn
diện và sâu sắc những pháp đề pháp lý về cả ba hoạt động đàm phán, soạn thảo và
ký kết hợp đồng thương mại
- Sách tham khảo của tác giả Phạm Thanh Phấn, Nguyễn Huy An, “Kỹ thuật
soạn thảo hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại”, NXB Thống kê, năm 1998;
- Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng - Phần chung, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;
- Ngô Huy Cương (2012), Pháp luật về nghĩa vụ cho cao học, Bài giảng điện tử;
- Ngô Huy Cương (2010), Đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt
Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 265), tr.29-44;
- Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập II, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội;
- Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, TP
Hồ Chí Minh;
Trang 9- Đỗ Văn Đại (2017), Luật Hợp đồng Việt Nam,Tập 1 và 2, Nxb Hồng Đức,
- Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm
2005, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Bài tạp chí của tác giả Lê Thị Diễm Phương (2013), Đề nghị và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng - nhìn từ góc độ so sánh, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại
học Luật TP Hồ Chí Minh, 2013, (Số 2), tr 68-74
- Bài tạp chí của tác giả Đỗ Đăng Khoa, “Kỹ năng soạn thảo hợp đồng
thương mại” đăng trên Tạp chí Luật học Trường đại học Luật Hà Nội, số 11/2008
- TS Thái Trí Dũng, (2005); Kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh
doanh, NXB Thống kê;
- Nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp, http://news
vibonline.com.vn/Home/Su-kien-Binh-luan/10367/Nang-cao phap-ly-cho-doanh-nghiep…
hieu-qua-tro-giup-Như vậy, cho đến nay chưa có đề tài nào thực sự đi sâu vào việc nghiên cứu về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp chế biến than thuộc ngành than nhằm chỉ ra các giải pháp đảm bảo cho việc giao kết thực hiện các hợp đồng, hạn chế những rủi ro pháp lý phát sinh trong đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng thương mại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện những vấn đề lý luận và pháp luật nvề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, từ thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản việt nam (TKV) đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các kỹ năng trong đàm phán, soạn thảo và ký hết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm kiểm soát và phòng tránh rủi ro pháp lý xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đống mua bán hàng hóa
Để thực hiện mục đích này, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa như khái
Trang 10niệm, đặc điểm, nội dung việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các Công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) trên cơ sở đó rút ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các ưu điểm và hạn chế trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm kiểm soát và phòng tránh rủi ro pháp lý khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa thông qua đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng trong phạm vi pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành;
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa từ thực tiễn hoạt động của các Công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV);
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động của các Công ty chế
biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) từ 1995 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn dựa trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về pháp luật Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng; phương pháp thống kê; phương pháp tổng hợp và khái quát hoá; tra cứu sách, tài liệu tham khảo tại thư viện, trên mạng internet
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có cơ cấu
gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
và thực tiễn thực hiện tại các Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV)
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiện nay, hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng thông dụng chiếm một
số lượng lớn Tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 có nêu khái niệm chung về hợp
đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Đối với hoạt động mua bán hay hợp đồng mua bán
hàng hóa cũng là sự xác lập, thay đổi quyền sở hữu đối với tài sản Mua bán hàng hóa tức là sự thỏa thuận giữu hai bên trong đó bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa cho bên mua đồng thời bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán Các điều khoản có liên quan đến nội dung hợp đồng hay cách thức thực hiện hợp đồng đều sẽ do 2 bên tự thỏa thuận với nhau để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên Điều này được quy định trong điều 430 Bộ luật Dân sự như
sau: hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán
chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, ta sẽ xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các tổ chức cá nhân có đăng ký kinh doanh mà quan hệ với nhau vì mục
đích lợi nhuận Theo khoản 8 điều 3 Luật Thương mại 2005: Mua bán hàng hóa là
hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán
cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Trong luật
Thương mại không có nêu khái niệm về hợp đồng thương mại mà chỉ có hoạt động thương mại, trong đó mua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại Các hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận, và đây là điểm khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng trong hoạt động thương mại Khi so sánh giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng mua bán hàng hóa theo tính chất hợp đồng thì hợp đồng dân sự có tính chất dân sự còn hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất thương mại Hợp đồng mua bán được giao kết bởi các thương nhân và mục đích giao kết hợp đồng là để sinh lợi giữa các bên, đó gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa
có tính chất thương mại Như vậy, các hợp đồng được giao kết không nhằm mục đích lợi nhuận là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất dân sự
Trang 12Trong hoạt động tại các doanh nghiệp, việc giao kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa là khâu cơ bản Sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào quá trình này Hợp đồng mua bán hàng hóa tạo điều kiện pháp lý cho các chủ thể kinh doanh có điều kiện phát triển các hoạt động tiêu dùng, sản xuất và lưu thông hàng hóa Các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế, tạo ra các mối quan hệ giữa người mua và người bán đi kèm với quyền lợi và nghĩa vụ được pháp luật bảo hộ, tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp nền kinh tế ngày một phát triển
Ngày nay, khi nghiên cứu về hợp đồng, không thể không nhắc tới một phương cách ký kết hợp đồng đang ngày một phát triển như là xu hướng của thời đại hiện nay
đó là hợp đồng điện tử Trước khi đề cập đến vấn đề này chúng ta xem xét qua khái niệm hợp đồng trong pháp luật một số quốc gia so sánh với quan niệm của Việt Nam
Về khái niệm hợp đồng, Điều 1, Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform Commerce Code – UCC) của Hoa Kỳ quy định “hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên” Luật Hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc quy định “hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức (Điều 2) Những quy định này có sự tương đồng với quy định của Việt Nam ở chỗ coi hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên để quy định quyền, nghĩa vụ đối với nhau Điều khác nhau là ở chỗ Luật Việt Nam đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự còn Luật Hoa Kỳ gọi là hợp đồng
Với cách phân tích ở trên có thể hiểu một cách đơn giản hợp đồng điện tử là
sự thỏa thuận giữa các bên, thông qua các phương tiện điện tử, nhằm quy định quyền và nghĩa vụ đối với nhau Về cơ bản, hợp đồng điện tử cũng giống hợp đồng truyền thống về chức năng, nội dung và giá trị pháp lý Điểm khác biệt nổi bật là hình thức thể hiện, phương thức ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử Điều 11, mục
1, Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL (1996) quy định: “Về hình thức hợp đồng, trừ khi các bên có quy định khác, chào hàng và chấp nhận chào hàng
có thể được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu Khi thông điệp dữ liệu được sử dụng
để hình thành hợp đồng, hợp đồng đó không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì nó được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu” Cùng với sự phát triển của thương mại điện
tử, hợp đồng điện tử cũng đã được luật pháp thừa nhận là một công cụ pháp lý để ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
Trang 13Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử cũng được quy định cụ thể tại Điều 9, Công ước của LHQ về việc Sử dụng thông điệp dữ liệu trong Hợp đồng điện tử quốc tế (2005), theo đó: “Khi pháp luật quy định một hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản thì hợp đồng điện tử được coi là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin trong hợp đồng có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết”
Khái niệm về hợp đồng điện tử được hiểu tương đối thống nhất trong quy định của luật pháp các nước cũng như trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng điện
tử Sự thống nhất này thể hiện ở chỗ phần lớn ý kiến đều cho rằng hợp đồng điện tử
là hợp đồng được ký kết bằng phương tiện điện tử Hoa kỳ là quốc gia có nền thương mại điện tử phát triển hàng đầu thế giới, khái niệm hợp đồng điện tử đã được Hoa Kỳ quy định cụ thể trong Luật thống nhất về Giao dịch điện tử năm 1999 (UETA) Điều 7 của UETA quy định “hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành chỉ vì lý do duy nhất là nó tồn tại dưới dạng điện tử” Đồng thời, điều 14 của UETA quy định rõ thêm về việc ký kết hợp đồng điện
tử, theo đó, “một hợp đồng điện tử có thể được hình thành giữa các bên và hệ thống thông tin của đối tác, không cần có sự can thiệp của con người vào các giao dịch tự động đó” [UETA, http://www.nccusl.org/ /uniformacts-fs-ueta.asp, tháng 8/2009] Tại Việt Nam, khái niệm về hợp đồng điện tử đã được quy định cụ thể tại điều
33 của Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam (2005), theo đó “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” “Thông điệp dữ liệu” được giải thích cụ thể tại điều 4, mục 12 là “thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận
và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” Cũng theo đó, “phương tiện điện tử” được quy định là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật
số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”
[Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu.] Như vậy, hợp đồng điện tử trước hết là
một hợp đồng – một công cụ pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên ký kết
Là một hợp đồng, hợp đồng điện tử cũng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm tiến hành một công việc nhất định Hợp đồng điện tử, do đó, có tất cả các đặc điểm của một hợp đồng nói chung và cũng có những đặc điểm riêng, đặc thù của nó
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 14mua, bên bán và bên trung gian (nếu có) Theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại
2005 thì: thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các nghành nghề mà đã đăng ký trong giấy phép đăng ký kinh doanh đồng thời là những ngành nghề không bị pháp luật cấm Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ Tuy nhiên, trong quá trình mua bán hàng hóa, các bên chủ thể không nhất thiết đều phải là các thương nhân, đó có thể là các cá nhân, các tổ chức khác… mà thỏa mãn điều kiện có đăng ký kinh doanh, quan hệ với nhau vì mục đích lợi nhuận Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Như vậy, chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân, ngoài các thương nhân Việt Nam thì còn thương
nhân nước ngoài
1.1.2.2 Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
Tại Điều 24 Luật Thương mại 2005 có quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa (MBHH): hợp đồng MBHH được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng MBHH mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Chủ yếu các hợp đồng trong hoạt động thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa được lập thành văn bản Trước hết là do việc giao kết hợp đồng bằng văn bản mang tính đảm bảo cao hơn so với các hình thức khác Hơn nữa hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra nhằm mục đích lợi nhuận nên việc ký kết hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản Trong luật cũng quy định hình thức hợp đồng được lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương với văn bản Các hình thức có giả trị tương đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
1.1.2.3 Đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa
Đối tượng chủ yếu trong hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa được phép giao dịch, không nằm trong đối tượng hàng hóa bị cấm không được phép giao dịch Luật Thương mại có quy định hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai hay những vật gắn liền với đất đai Đây là những khái niệm nói chung về đối tượng trong mua bán hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra, việc trao đổi hàng hóa là quá trình tất yếu của phát triển Hàng hóa bao gồm nhiều loại, nó được tạo ra ngày càng nhiều nhằm
Trang 15thỏa mãn cho nhu cầu tiêu dùng của con người Đó có thể vật hữu hình hay vô hình, động sản hay bất động sản… đều là những đối tượng của hợp đông mua bán hàng hóa Mỗi đối tượng đều có những hình thức để trao đổi khác nhau, nhưng tựu chung vẫn phải tuân theo những nguyên tắc chung trong hoạt động mua bán hàng hóa
1.1.2.4 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện ý chí của các bên trong việc bảo vệ quyền lợi lợi ích của chính mình đồng thời cũng phải tuân theo các nguyên tắc trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung khác nhau Trong hợp đồng, thông thường có nêu rõ quyền và nghĩa vụ do các bên thỏa thuận Ngoài những thỏa thuận trong hợp đồng, những thỏa thuận thường có trong tất cả các hợp đồng thì có những thỏa thuận khác phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp Đó có thể là những thỏa thuận bên ngoài, không được ghi trong hợp đồng hoặc những tiền lệ đã có từ trước đã có giữa các bên Trong quy định của luật dân sự và luật thương mại có quy đinh các nội dung chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng
Là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải được xác định rõ trong hợp đồng tranh xảy ra những sai sót dẫn đến tranh chấp giữa các bên Mặc dù ngay từ đầu xác định giao kết hợp đồng, bên mua vốn đã biết trước nhu cầu của mình với hàng hóa rồi mới tìm đến các bên đối tác, hoặc bên bán có những hàng hóa như thế nào khi xác định đề nghị giao kết chào hàng
Thứ hai, về số lượng và chất lượng
Những quy định về vấn đề này được ghi trong hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên Quy định chất lượng hàng hóa nhằm phân biệt giữa các chủng loại khác nhau, mẫu mã, tránh việc nhầm lẫn có thể xảy ra Các bên có thể thoả thuận về số lượng nhất định hàng hoá cụ thể mà bên bán phải giao Và nghĩa vụ của bên bán là phải giao đủ số lượng hàng hóa đã quy đinh trong hợp đồng Khi bên bán không giao đủ
số lượng như đã thỏa thuận thì có thể dựa vào những điều khoản đã quy định trong hợp đồng để đảm bảo lợi ích của mình
Thứ ba, về giá và phương thức thanh toán
Đây là nghĩa vụ của bên mua đối vơi bên bán khi đã giao hàng hóa đạt yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng Giá cả ngoài đơn giá, bảng giá chung thì các bên có thể thỏa thuận mức giá hợp lý cho cả hai bên, đồng thời phương thức thanh
Trang 16toán Việc thanh toán có thể diễn ra bằng nhiều cách, nhưng chủ yếu hiện nay là thông qua tài khoản tại ngân hàng Thanh toán có thể thanh toán một lần vào cuối khi đã giao toàn bộ hàng hóa cho bên mua, cũng có thể thanh toán theo từng lần nhận hàng nếu số lượng hàng hóa lớn, và hợp đồng được thực hiện trong một thời gian nhất định
Thứ tư, về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
Đến thời hạn giao hàng thỏa thuận trong hợp đồng, tại nơi giao hàng bên bán phải giao hàng cho bên mua đủ số lượng và đảm bảo chất lượng, bên mua có nghĩa
vụ có mặt để nhận hàng Địa điểm giao hàng có thể là kho của bên mua, cũng có thể
là nơi mà hai bên đã thỏa thuận từ trước
1.2 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự
1.2.1 Nguyên tắc trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Việc giao kết hợp đồng thể hiện ý chí của 2 bên, việc giao kết là quyền tự do của các bên, nhưng vẫn cần tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo sự công bằng, cũng như sự điều chỉnh của pháp luật Những nguyên tắc trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định từ điều 10 đến điều 15 Luật Thương mại năm 2005 gồm:
- Thứ nhất là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các thương nhân
trong hoạt động thương mại Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại (Điều 10, Luật Thương mại)
- Thứ hai là nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương
mại Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Trong quy định về chủ thể giao kết trong hợp đồng mua bán đó là các doanh nhân, hoặc các tổ chức, cá nhân có giấy pháp kinh doanh…nguyên tắc này nhằm giúp cho các chủ thể khi tham gia giao kết thể hiện ý muốn của mình và bảo vệ lợi ích của bản thân Đi kèm với nguyên tắc tự do giao kết, tự do thỏa thuận nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Trước hết, là với các doanh nghiệp, các thương nhân khi tham gia giao kết cần phải đảm bảo có tư cách hợp pháp trước pháp luật, chịu trách nhiệm về bản thân mình trước đối tác và trước pháp luật Việc giao kết không được trái pháp luật hay đạo đức xã hội, như việc giao dịch hàng hóa bị pháp luật cấm…thì đều vi phạm nguyên tắc này Lợi ích của cá nhân được đảm bảo đồng thời không làm xâm hại đến lợi ích của tập thể, của xã hội Trong hoạt động thương mại, các bên
Trang 17hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào
- Thứ ba là nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại Theo
đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật
- Thứ tư là nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại Theo
đó, trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không
có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật Thương mại và trong Bộ luật Dân sự
- Thứ năm là nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng Theo
đó, trước nhất, thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh
và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó Bên cạnh đó, thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh
- Thứ sáu là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong
hoạt động thương mại Theo đó, trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản
1.2.1.1 Trình tự giao kết hợp đồng
*Đề nghị giao kết hợp đồng
Khoản 1 điều 386 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Đề nghị giao kết hợp đồng
là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng Đây là việc thể hiện
ý chí của một bên mong muốn giao kết hợp đồng với chủ thể khác với những điều kiện mà phía bên chủ thể chủ động đề nghị đưa ra Như vậy, xét về mặt bản chất đây cũng có thể coi là là một lời chào hàng như trong thương mại Nó mang có hiệu lực pháp luật nếu bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị Trong lời đề nghị giao kết phải có những nội dung cơ bản cũng như những thông tin giống như trong nội dung hợp đồng nhằm đảm bảo bên được đề nghị có những thông tin cần thiết Dù không có quy định cụ thể về nội dung của đơn chào hàng nhưng cũng có những nội dủng chủ yếu như: đối tượng, giá cả, chất lượng…Những nội dung này cần chính
Trang 18xác đảm bảo cho những cơ sở ban đầu để bên được đề nghị xem xét việc tham gia giao kết Bên đề nghị giao kết phải chịu trách nhiệm trước những nội dung đã đề nghị và mọi thay đổi trong nội dung đều phải nhận được sự chấp nhận của phía bên kia
Lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán là những điều khoản do một bên đưa
ra cho phía bên kia Lời đề nghị này mới chỉ thể hiện ý chí, nguyện vọng của một bên trong quan hệ hợp đồng và phải được chấp nhận bởi các bên còn lại mới hình thành sự nhất chí thỏa thuận chung
Đề nghị giao kết hợp đồng phải có các điều khoản chủ yếu như đối tượng của hợp đồng mà cụ thể ở đây là hàng hóa hay địa điểm giao hàng hoặc phương thức thanh toán; phải thể hiện mong muốn ràng buộc trách nhiệm đồng thời hướng đến một chủ thể hoặc một số chủ thể nhất định và phải tuân theo hình thức pháp luật quy định
Cần phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với quảng cáo, …Đối với đề nghị giao kết hay chào hàng là gửi đến một hay nhiều chủ thể xác định với mục tiêu nhằm xác lập giao kết đối với chủ thể đó Khi đó bên đề nghị giao kết sẽ chịu sự ràng buộc đối với bên đã được xác định cụ thể Còn quảng cáo, hay thư quảng cáo được gửi đến nhiều đối tượng không xác định, vì vậy không hề có giá trị về mặt pháp lý
Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị giao kết lại giao kết hợp đồng với một chủ thể thứ ba khác trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị
mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh Đây chính là điều kiện ràng buộc của bên đề nghị đối với bên kia, trong trường hợp vi phạm theo đề nghị giao kết
Ngoài ra theo điều 388 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết có hiệu lực do bên đề nghị giao kết là người chủ động đề nghị ấn định Nếu bên
đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên đề nghị nhận được được đề nghị đó
Đề nghị giao kết có thể được thay đổi, rút lại trong các trường hợp nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện
đó phát sinh Bên cạnh đó việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng nếu trong đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ quyền này trong đề nghị đồng thời phải thông báo cho
Trang 19bên được đề nghị và thông báo này có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Nếu không bên đề nghị giao kết sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra, nó cũng giống như trường hợp giao kết với bên thứ ba trước thời hạn bên được đề nghị giao kết trả lời
Theo điều 391 Bộ luật Dân sự 2015 đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng;
- Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận;
- Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
- Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
- Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực;
- Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
*Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng Khi bên được đề nghị chấp nhận thì lúc này đề nghị giao kết hợp đồng được coi như là một thỏa thuận có sự ràng buộc giữa hai bên Trong trường hợp mà bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết hạn trả lời thì chấp nhận này được coi như đề nghị mới của bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn còn hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
1.2.1.2 Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Về thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, nguyên tắc chung hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định khác nhau phụ thuộc vào cách thức giao kết và hình thức của hợp đồng Theo Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015, có thể xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán như sau:
- Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản: thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Trang 20- Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản (thông qua các tài liệu giao dịch): hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
- Hợp đồng được giao kết bằng lời nói: thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó
Theo quy định hiện hành, hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015)
1.2.1.3 Rút lại, thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết
Các nội dung trên được quy định tại các điều 389, 390, 391, 392 của Bộ luật Dân sự 2015
- Thay đổi, rút lại đề nghị (Điều 389 Bộ luật Dân sự 2015)
Một trong những lý do trên thực tế việc xác định thời điểm bản đề nghị bắt đầu
có hiệu lực là rất quan trọng Cho đến thời điểm đó, bên đề nghị có quyền đổi ý và quyết định không tham gia giao kết hợp đồng nữa, hoặc đổi lại đề nghị cũ bằng một đề nghị mới khác, bất kể là bản đề nghị ban đầu đó bị thu hồi lại hay chưa Chỉ cần người nhận đề nghị phải được thông báo về sự thay đổi ý định của người đưa ra đề nghị, trước hoặc vào đúng thời điểm mà bên nhận đề nghị nhận được đề nghị ban đầu
- Huỷ bỏ đề nghị giao kết
Điều 390 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Bên đề nghị giao kết hợp đồng
có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Việc một đề nghị có thể được phép huỷ bỏ hay không là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong việc giao kết hợp đồng Vì ở đây không có sự hoà hợp giữa hai cách nhìn của hai bên tham gia ký kết hợp đồng, việc quy định như vậy sẽ dẫn tới một số trường hợp không được phép huỷ bỏ, và chỉ trong một số ngoại tệ nó mới được phép được huỷ bỏ
+ Các đề nghị có thể bị huỷ bỏ trên nguyên tắc
Ta suy luận ra rằng, các đề nghị được phép huỷ bỏ cho đến khi hợp đồng được giao kết Tuy nhiên, pháp luật quy định việc huỷ bỏ một đề nghị có thể được
Trang 21thực hiện khi bên nhận đề nghị vẫn chưa tuyên bố chấp nhận đề nghị Nghĩa là kể cả khi một đề nghị bằng văn bản được chấp nhận bằng miệng, hoặc khi người nhận thực hiện theo đề nghị mà chưa thông báo cho người đưa ra đề nghị, thì bên đề nghị vẫn có quyền huỷ bỏ đề nghị cho đến trước thời điểm giao kết hợp đồng Khi một bên đề nghị được chấp nhận bằng văn bản, thì hợp đồng được giao kết từ khi lời chấp nhận đề nghị được truyền đạt đến người đưa ra đề nghị đó Tuy nhiên, quyền của bên đề nghị về việc yêu cầu huỷ bỏ đề nghị sẽ chấm dứt sớm hơn, nghĩa là khi bên nhận đề nghị gửi lời chấp nhận đề nghị Các giải quyết ngược lại như vậy có thể gây nhiều bất tiện cho bên nhận đề nghị vì bên này không phải lúc nào cũng biết được liệu đề nghị đó bị huỷ bỏ hay chưa Do đó, trong một số trường hợp nên theo cách giải quyết này, có nghĩa là phải thu hẹp thời gian được quyền rút lại đề nghị của bên đề xuất
Trong thực tế, việc hủy bỏ hợp đồng và không hủy bỏ hợp đồng luôn luôn gắn liền với nhau: Nếu hủy bỏ có lợi cho bên A thì không hủy bỏ thường có lợi cho bên B và như vậy sẽ diễn ra việc tranh chấp trong việc ký kết hợp đồng của hai bên
2.2.1.4 Vấn đề ủy quyền ký kết hợp đồng
Thông thường chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là người trực tiếp ký kết hợp đồng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cá nhân hay người đứng đầu pháp nhân không thể tham gia trực tiếp vào hợp đồng Vì vậy pháp luật cho phép họ uỷ quyền cho người thứ ba thay mặt mình giao kết hoặc thực hiện hợp đồng
Đối với tổ chức, quan hệ uỷ quyền thường xuất hiện giữa cấp trên đối với cấp dưới Ví dụ giám đốc uỷ quyền cho trưởng phòng kinh doanh đàm phán ký kết hợp đồng đại lý của công ty…trong trường hợp này, uỷ quyền thường gắn với trách nhiệm quyền và nghĩa vụ hai bên Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc uỷ quyền
và việc phân công công việcnhiệm vụ lại tương đối giống nhau và Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 chưa phân biệt rõ ràng
1.3 Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau như pháp luật quốc gia, các điều ước về MBHHQT, các tập quán thương mại, thói quen thương mại …Việc nguồn luật nào điều chỉnh còn tuỳ vào từng trường hợp cụ thể
Trang 221.3.1.1 Pháp luật quốc gia
Trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam, nguồn luật được áp dụng là những văn bản do cơ quan là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục và dưới những hình thức nhất định, có nội dung là các quy phạm pháp luật dân sự, thương mại, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: " Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này"
Nguồn pháp luật quốc gia trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa không phải là tất cả các văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ bao gồm những văn bản quy phạm pháp luật có các quy phạm pháp luật dân sự, thương mại,… tức là những quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động giao kết hợp đồng
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hệ thống nguồn khá đa dạng Ngoài Luật Dân sự, Luật Thương mại nguồn pháp luật quốc gia trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa còn có nhiều ngành luật chuyên ngành khác tuy nhiên, những văn bản quy phạm pháp luật này đều xuất phát từ một nguồn - đó là luật hiến pháp
Đối với hoạt động thương mại quốc tế, luật quốc gia áp dụng thông thường là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký hợp đồng, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện… Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT trong các trường hợp:
- Các bên ký hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng Việc thoả thuận áp dụng luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng MBHHQT
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó Thông thường, luật quốc gia áp dụng sẽ là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký kết hợp đồng, luật của nước mà các bên mang quốc tịch,…
Trang 231.3.1.2 Điều ước quốc tế
Theo Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế: “Điều ước quốc tế là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh” Vậy có thể nói, điều ước quốc tế về thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc
tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế
Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế có một số điều ước quốc tế tiêu biểu:
Điều kiện chung về giao hàng giữa các tổ chức kinh tế của các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnh quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Một điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực MBHHQT là công ước Viên
về mua bán hàng hoá quốc tế ngày 1/1/1980 Đến nay đã có hơn 60 nước phê chuẩn công ước này
Quy tắc La Hay ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Công ước Rôma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được ký tại Rôm ngày 19/6/1980
Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được ký ở Mehico City ngày 17/5/1994, được thông qua bởi Hội nghị quốc tế Liên Mỹ về tư pháp quốc tế tổ chức tại Mehico City
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 Hiệp định thương mại song
phương Trong đó phải kể đến: Hiệp định Buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU là
hiệp định thương mại chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứ của hàng hoá, điều khoản liên quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng Việc ký kết các hiệp định thương mại, là thành viên của các công ước quốc tế sẽ tạo
cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động MBHHQT giữa các thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài
1.3.1.3 Tập quán thương mại, thói quen thương mại
Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời Các tập quán này
sẽ trở thành nguồn luật đìều chỉnh các hợp đồng MBHH, nhất là hợp đồng MBHHQT nếu các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng chấp nhận các tập quán thương mại quốc tế sẽ là nguồn luật điều chỉnh
Trang 24Khi được dẫn chiếu vào hợp đồng MBHH, hợp đồng MBHHQT các tập quán thương mại sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết, chúng được chia thành nhóm: Các tập quán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực Ví dụ, một tập quán thông dụng trong mua bán quốc tế được Phòng Thương mại quốc tế (The International Chamber
of Commerce - ICC) soạn thảo và ban hành một tập quán thông dụng trong mua bán quốc tế là Incoterms
Trong mua bán hàng hóa quốc tế, án lệ hay tiền lệ pháp về thương mại cũng được các thương nhân tham gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế coi trọng và lựa chọn, đặc biệt là ở các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common law) Trong thương mại quốc tế, việc công nhận và sử dụng các phán quyết của toà án cũng như thừa nhận vai trò tích cực của án lệ đang ngày một gia tăng tại các nước có hệ thống pháp luật khác nhau Cơ quan xét xử có thể vận dụng án lệ tương tự để giảm nhẹ những khó khăn phức tạp trong việc tra cứu, mà các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế thường tập trung vào một số vấn đề và có nhiều trường hợp tương đồng
1.3.2 Nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại tiểu mục 1 từ điều 385 đến điều 400 Bộ luật Dân sự 2015 Theo đó, điều 385 quy
định về khái niệm hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Các nội dung cụ thể như sau:
- Về đề nghị giao kết hợp đồng MBHH được quy định tại điều 386: “Đề nghị
giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc
về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)” Điều luật cũng quy định: ‘Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh” (Khoản 2, Điều 386)
Về thông tin trong giao kết hợp đồng (điều 387) quy định: Trường hợp một
bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin
và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục
Trang 25đích trái pháp luật khác Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
- Về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (điều 388) được xác
định như sau: (i) Do bên đề nghị ấn định; (ii) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị
đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác
Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng: (i) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; (ii) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; (iii) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác
- Về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 389), theo đó, bên đề
nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp sau đây: (i) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; (ii) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới
- Việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 390): Bên đề nghị giao kết
hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được
đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo Điều 391 đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau
đây: (1) Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng; (2) Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận; (3) Hết thời hạn trả lời chấp nhận; (4) Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; (5) Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị
có hiệu lực; (6) Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 392)
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 393) Theo đó, chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị; Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp
Trang 26nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen
đã được xác lập giữa các bên
Về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được quy định ở Điều 394,
theo đó, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên
đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể
cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời
Trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị
Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị
Về rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng (Điều 397) Bên được đề
nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Nội dung của hợp đồng được quy định tại Điều 398 Theo đó, các bên trong
hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: (a) Đối tượng của hợp đồng; (b) Số lượng, chất lượng; (c) Giá, phương thức thanh toán; (d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; (đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên; (e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; (g) Phương thức giải quyết tranh chấp
Trang 27Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân
đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 399)
Về thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 400) quy định: 1 Hợp đồng được giao
kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết 2 Trường hợp các bên
có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó 3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng 4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này
Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề về lý luận về phòng, chống oan, sai trong điều tra tội phạm giết người của Lực lượng Cảnh sát Hình sự Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:
- Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán
chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán
- Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
Trên cơ sở khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa về chủ thể, hình thức, đối tượng và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa tác giả đi vào phân tích sâu hơn về nội dung, nguyên tắc, nguồn điều chỉnh của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa;
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả đánh giá đúng thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại các Công ty chế biến Than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) ở Chương 2 của luận văn
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC CÔNG TY CHẾ BIẾN THAN THUỘC TẬP ĐOÀN THAN
KHOÁNG SẢN VIỆT NAM (TKV)
2.1 Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật về hợp đồng bao gồm rất nhiều nội dung khác nhau, nhưng trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến: Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Trong từng nội dung, luận văn cố gắng chỉ ra các quy định mới của pháp luật về giao kết hợp đồng, đánh giá sự tác động của chúng tới thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng Từ đó chỉ ra các điểm bất hợp lý trong cơ chế áp dụng pháp luật đối với hợp đồng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Như đã phân tích ở trên, giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa
vụ dân sự
2.1.1 Về nguyên tắc giao kết hợp đồng
Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực vào ngày 01/01/2017, không có quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng Tuy nhiên, tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 lại có quy định về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự như sau:
“1 Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản
2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng
3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của mình một cách thiện chí, trung thực
4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Trang 295 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thỏa mãn được các nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần Bộ luật Dân sự cho phép, mọi chủ thể được quyền "tự
do giao kết hợp đồng" Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng nào, nếu họ muốn, mà không ai có quyền ngăn cản và mọi sự ngăn cản việc ký kết hợp đồng đều vô hiệu Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết những hợp đồng dân sự
đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như những hợp đồng khác dù rằng pháp luật chưa quy định Ngoài Bộ luật Dân sự, điều 4 của pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Điều
11 Luật Thương mại cũng đã quy định khá cụ thể vấn đề này Cho dù Pháp lệnh hợp đồng kinh tế không còn hiệu lực, song giá trị về quyền tự do giao kết hợp đồng vẫn còn nguyên vẹn Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy,
tự do của mỗi chủ thể phải "không trái pháp luật, đạo đức xã hội" Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền "tự do giao kết hợp đồng" vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là "sự giới hạn" ý chí tự do của mỗi người chủ thể trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi nói chung của họ
- Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng
Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với các chủ thể khi giao kết hợp
đồng phải: "Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng"
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ dân sự, quy luật giá trị đòi hỏi các bên khi thiết lập các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau Không một
ai được lấy lý do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo v.v
để làm biến dạng các quan hệ dân sự Mặt khác, chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng, thì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm Vì vậy, theo nguyên tắc này, những hợp đồng được
Trang 30giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đánh giá một hợp đồng có phải là ý chí tự nguyện của các bên hay không là một công việc tương đối phức tạp và khó khăn trong thực tế
Hợp đồng là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia Vì thế, muốn xem xét các chủ thể có tự nguyện trong giao kết hợp đồng hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: ý chí và sự bày tỏ ý chí Như chúng ta đã biết, ý chí là mong muốn chủ quan bên trong của mỗi chủ thể,
nó phải được bày tỏ ra bên ngoài thông qua một hình thức nhất định ý chí và sự bày
tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề, chúng luôn có quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít với nhau Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhất giữa ý muốn chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài Vì vậy, để xác định một hợp đồng dân sự có tuân theo nguyên tắc tự nguyện hay không cần phải dựa vào sự thống nhất ý chí của người giao kết hợp đồng và sự thể hiện (bày tỏ) ý chí đó trong nội dung của hợp đồng mà người đó đã giao kết Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết, thì việc giao kết đó mới coi là tự nguyện
Như vậy, tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc đe dọa đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc này và vì thế
nó sẽ bị coi là vô hiệu (xem từ Điều 123 đến 133 Bộ luật Dân sự)
2.1.2 Trình tự giao kết hợp đồng
Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ
ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thống nhất xác lập những quyền
và nghĩa vụ dân sự đối với nhau Thực chất, đó là quá trình mà hai bên đàm phán, thương lượng về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng Thông thường, trình tự giao kết hợp đồng diễn ra thông qua hai giai đoạn:
Trang 31thường, đó là kiến của bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng Chỉ có như vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một hợp đồng
Để người mà mình muốn giao kết hợp đồng với họ có thể hình dung được hợp đồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được
đề nghị để trao đổi, thỏa thuận hoặc có thể thông qua điện thoại v.v Trong những trường hợp này, thì thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận ấn định Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định
Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, Điều 386 Bộ luật Dân sự đã quy định: "Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên
đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu
rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị
mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh." [12]
Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã
có tính chất ràng buộc đối với người đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thể thay đổi hoặc rút lại lời đề nghị trong các trường hợp sau:
+ Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị
+ Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến
Trong thực tế hiện nay, cho dù nhận được một hợp đồng có yêu cầu về thời hạn trả lời thì các chủ thể được đề nghị giao kết hợp đồng chỉ quan tâm khi nội dung của hợp đồng có lợi cho mình và việc chấp nhận bồi thường là rất khó Thực
tế đang diễn ra là các doanh nghiệp gửi đề nghị giao kết hợp đồng cho nhiều bên
Trang 32khác nhau thể hiện dưới dạng một lời đề nghị mở Việc tuân thủ về thời gian chỉ được các bên chấp hành khi hợp đồng đã có hiệu lực
Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận
- Chấp nhận giao kết hợp đồng
Vấn đề này được Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại Điều 393 như sau: "Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị" [12]
Là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Trong những trường hợp cần phải
có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã ấn định thời hạn trả lời, thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận
đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời
Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện, thì ngày gửi đi theo dấu của bưu điện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định
Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra Nghĩa là, trong những trường hợp này, người được đề nghị giao kết muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà người đề nghị đã đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở thành người đề nghị mới và người đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị Người đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn
bộ nội dung của hợp đồng, thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng Khi đó giao kết hợp đồng có hiệu lực và tại Điều 388 của Bộ luật Dân sự quy định như sau:
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác [12]
Trang 33Một số trường hợp sau đây được coi là đã nhận được giao kết hợp đồng: a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác
Trong thực tế, Điều 388 của Bộ luật Dân sự 2015 có giá trị đối với các doanh nghiệp đã có quá trình hợp tác lâu dài hoặc phụ thuộc lẫn nhau theo một tiêu chí nào
đó Chẳng hạn, mối quan hệ giữ một bên là nhà sản xuất một bên là nhà phân phối sản phẩm đó được thể hiện trong các bản hợp đồng đơn giản Nó thường thể hiện dưới các dạng hợp đồng đơn giản như: đơn đặt hàng trong tháng, đơn đặt hàng theo tuần, đơn đặt hàng theo kỳ Hình thức của nó thường đơn giản như gọi điện hay là fax
Đối với hợp đồng mà giữa các bên ít có giao lưu kinh tế, chưa ký hợp đồng lần nào thì việc áp dụng Điều 386 của Bộ luật Dân sự khó xảy ra
Nguyên nhân: Bên nhận được đề nghị luôn mong muốn sửa đổi nội dung của bản đề nghị cho phù hợp với ý muốn của mình Bên nhận được đề nghị luôn mong muốn gặp gỡ bên đề nghị để cùng thỏa thuận, thống nhất những nội dung chưa phù hợp, những nội dung còn nghi ngờ
- Rút lại, thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết
Các nội dung trên được quy định tại các điều 389, 390, 391 của Bộ luật Dân
sự 2015
- Rút lại một đề nghị (Điều 389 Bộ luật Dân sự 2015)
Một trong những lý do trên thực tế việc xác định thời điểm bản đề nghị bắt đầu có hiệu lực là rất quan trọng Cho đến thời điểm đó, bên đề nghị có quyền đổi ý
và quyết định không tham gia giao kết hợp đồng nữa, hoặc đổi lại đề nghị cũ bằng một
đề nghị mới khác, bất kể là bản đề nghị ban đầu đó bị thu hồi lại hay chưa Chỉ cần người nhận đề nghị phải được thông báo về sự thay đổi ý định của người đưa ra đề nghị, trước hoặc vào đúng thời điểm mà bên nhận đề nghị nhận được đề nghị ban đầu
- Huỷ bỏ đề nghị giao kết Điều 390 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Bên
đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi
người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”.[12]
Trang 34Việc một đề nghị có thể được phép huỷ bỏ hay không là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong việc giao kết hợp đồng Vì ở đây không có sự hoà hợp giữa hai cách nhìn của hai bên tham gia ký kết hợp đồng, việc quy định như vậy sẽ dẫn tới một số trường hợp không được phép huỷ bỏ, và chỉ trong một số ngoại tệ nó mới được phép được huỷ bỏ
+ Các đề nghị có thể bị huỷ bỏ trên nguyên tắc
Ta suy luận ra rằng, các đề nghị được phép huỷ bỏ cho đến khi hợp đồng được giao kết Tuy nhiên, pháp luật quy định việc huỷ bỏ một đề nghị có thể được thực hiện khi bên nhận đề nghị vẫn chưa tuyên bố chấp nhận đề nghị Nghĩa là kể cả khi một đề nghị bằng văn bản được chấp nhận bằng miệng, hoặc khi người nhận thực hiện theo đề nghị mà chưa thông báo cho người đưa ra đề nghị, thì bên đề nghị vẫn có quyền huỷ bỏ đề nghị cho đến trước thời điểm giao kết hợp đồng Khi một bên đề nghị được chấp nhận bằng văn bản, thì hợp đồng được giao kết từ khi lời chấp nhận đề nghị được truyền đạt đến người đưa ra đề nghị đó Tuy nhiên, quyền của bên đề nghị về việc yêu cầu huỷ bỏ đề nghị sẽ chấm dứt sớm hơn, nghĩa là khi bên nhận đề nghị gửi lời chấp nhận đề nghị Cách giải quyết ngược lại như vậy có thể gây nhiều bất tiện cho bên nhận đề nghị vỡ bên này không phải lúc nào cũng biết được liệu đề nghị đó bị huỷ bỏ hay chưa Do đó, trong một số trường hợp nên theo cách giải quyết này, có nghĩa là phải thu hẹp thời gian được quyền rút lại đề nghị của bên đề xuất
Trong thực tế, việc hủy bỏ hợp đồng và không hủy bỏ hợp đồng luôn luôn gắn liền với nhau: Nếu hủy bỏ có lợi cho bên A thì không hủy bỏ thường có lợi cho bên B và như vậy sẽ diễn ra việc tranh chấp trong việc ký kết hợp đồng của hai bên
Một trường hợp khác mà Bộ luật Dân sự 2015 chưa đề cập tới đó là hợp đồng xuất phát từ những đề nghị không thể hủy bỏ bao gồm hai trường hợp là: Bản
đề nghị ghi rõ không thể hủy bỏ và sự tin tưởng của đề nghị không thể hủy bỏ
Trong bản đề nghị ghi rõ không thể huỷ bỏ
Việc ghi rõ rằng đề nghị không thể huỷ bỏ có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, cách rõ ràng và trực tiếp nhất là ghi thẳng vào bản đề nghị (ví
dụ, "đây là bản chào hàng có giá cố định"; "chúng tôi sẽ giữ nguyên đề nghị này cho đến khi chúng tôi nhận được trả lời của quý ngài")
Tuy vậy, cũng có thể đơn giản là bên nhận đề nghị chứng minh rằng mình
đã hành động đúng khi cho rằng đề nghị này không thể huỷ bỏ, bằng cách viện dẫn
Trang 35những điều khoản khác, hoặc bằng hành vi của bên đề nghị Việc ghi rõ thời hạn chấp nhận đề nghị cố định có thể, tuy không nhất thiết, gián tiếp ngụ ý nó là một đề nghị không thể huỷ bỏ Lời giải đáp sẽ được tìm thấy trong mỗi trường hợp thông qua việc giải thích đúng các điều khoản của đề nghị theo những tiêu chuẩn khác nhau được trình bày trong phần những quy tắc chung về giải thích hợp đồng Nói chung, nếu luật áp dụng quy định rằng: một đề nghị là không thể bị huỷ bỏ khi bên
đề nghị giới hạn thời hạn chấp nhận hợp đồng, thì việc đưa ra một thời hạn cố định như vậy là có ý nghĩa là bên đề nghị đưa ra một đề nghị không thể huỷ bỏ Mặt khác, nếu như luật áp dụng quy định rằng: việc ấn định thời hạn chấp nhận hợp đồng không đủ để coi một đề nghị là đề nghị không thể huỷ bỏ, thì phải tuân theo quy định trên
Ví dụ:
1 Công ty du lịch A quảng cáo với khách hàng về một chuyến du lịch nhân dịp năm mới A hối thúc khách hàng đặt chỗ trước trong vòng ba ngày tới, và nói thêm rằng có thể sẽ không còn chỗ trống nữa sau ba ngày tới Câu văn như vậy không thể được xem là đề nghị này không thể huỷ bỏ trong vòng ba ngày tới
2 A mời B cung cấp một đề nghị bằng văn bản, trong đó có ghi các điều khoản mà B đó chuẩn bị để xây dựng một toà nhà B trình bày một bản đề nghị chi tiết trong đó có câu "Giá và các điều kiện kèm theo sẽ không được thực hiện sau ngày 1 tháng 9" Nếu A và B cùng hoạt động trong cùng một nước mà hệ thống pháp luật ở đó xem đây là một đề nghị không thể huỷ bỏ cho đến ngày cụ thể nào
đó, thì B có thể hiểu rằng đề nghị đó không thể huỷ bỏ Trường hợp này có thể không được áp dụng nếu pháp luật sở tại của B cho rằng lời đề nghị này chưa được coi là một đề nghị không thể huỷ bỏ
Sự tin tưởng đề nghị không thể huỷ bỏ
Một ngoại lệ thứ hai trong các quy tắc chung liên quan đến việc huỷ bỏ một
đề nghị, nghĩa là khi "việc người nhận có căn cứ để xem đề nghị là một đề nghị không thể huỷ bỏ", và khi "người nhận thực hiện đề nghị này do tin tưởng nó là một
đề nghị không thể huỷ bỏ" Thực chất là sự áp dụng của nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực được trình bày rõ Việc tin tưởng của bên nhận đề nghị có thể xuất phát từ hành vi của bên đề nghị hoặc do tính chất của lời đề nghị đó (ví dụ, một đề nghị mà việc chấp nhận yêu cầu người nhận đó phải được điều tra rộng lớn và tốn kém trong khi chờ đợi giao kết hợp đồng hoặc một đề nghị cho phép bên nhận đề
Trang 36nghị lập một đề nghị khác gửi cho bên thứ ba) Hành vi mà bên nhận đề nghị thực hiện trong khi tin tưởng và hiệu lực lời đề nghị có thể bao gồm việc chuẩn bị sản xuất, mua thuê thiết bị hoặc nguyên vật liệu, chi trả các chi phí phát sinh, v.v miễn
là những hành vi này thường có trong các lĩnh vực thương mại có liên quan, hoặc được bên đề nghị biết hoặc dự liệu trước
Ví dụ: A - nhà buôn bán đồ cổ - yêu cầu B phục chế lại mười bức danh hoạ với
điều kiện là công việc phải được hoàn tất trong vũng ba tháng và giá cả không được vượt quá một số tiền nào đó B thông báo cho A rằng, để biết có nên chấp nhận lời đề nghị này hay không, thì B cần phải bắt đầu phục chế một bức tranh và sẽ trả lời cụ thể trong vòng 5 ngày A đồng ý, và B tin vào lời đề nghị của A và bắt đầu thực hiện công việc ngay lập tức A không thể rút lại lời đề nghị đó trong vòng 5 ngày
A đề nghị B thành lập một tập đoàn để tham gia đấu thầu một dự án sẽ được chỉ định trong một thời gian nhất định B cung cấp một bản đề nghị mà A đó tin tưởng vào dự toán giá đấu thầu Trước khi hết hạn ngày chỉ định đấu thầu, nhưng sau khi A đó lập xong giải trình kinh tế dựa trên bản giải trình của A, B thông báo với A rằng xin được huỷ bỏ lời đề nghị của mình Đề nghị của B là không thể huỷ
bỏ cho đến ngày này vì A đã tin tưởng vào lời đề nghị của B
2.1.3 Ủy quyền ký kết hợp đồng
Thông thường chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là người trực tiếp ký kết hợp đồng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cá nhân hay người đứng đầu pháp nhân không thể tham gia trực tiếp vào hợp đồng Vì vậy, pháp luật cho phép họ uỷ quyền cho người thứ ba thay mặt mình giao kết hoặc thực hiện hợp đồng
Đối với tổ chức, quan hệ uỷ quyền thường xuất hiện giữa cấp trên đối với cấp dưới Ví dụ giám đốc uỷ quyền cho trưởng phòng kinh doanh đàm phán ký kết hợp đồng đại lý của công ty…trong trường hợp này, uỷ quyền thường gắn với trách nhiệm quyền và nghĩa vụ hai bên Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc uỷ quyền
và việc phân công công việc nhiệm vụ lại tương đối giống nhau và Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 chưa phân biệt rõ ràng
Trong thực tế còn rất nhiều công việc khác thường xuyên được uỷ quyền, pháp luật cũng đã quy định và uỷ quyền khá rõ ràng Luật cũng không quy định về hình thức của hợp đồng ủy quyền phải bằng văn bản, mọi hợp đồng đều có thể uỷ quyền và cho phép uỷ quyền lại Đối với việc cho phép uỷ quyền không phải lập thành văn bản, đây là điểm hợp lý, vì rằng không thể lúc nào vấn đề uỷ quyền cũng
Trang 37phải lập thành văn bản Trong những trường hợp mà ngay cả hợp đồng chính cũng chỉ là hợp đồng bằng lời nói, thì việc uỷ quyền cũng chỉ nên dừng lại ở lời nói hay chỉ một thông báo đơn giản (như gọi điện…)
Đặc điểm pháp lý của hợp đồng uỷ quyền thường gắn với từng loại hợp đồng Với hợp đồng song vụ Bên được uỷ quyền thực hiện đúng phạm vi uỷ quyền Với hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù, bên được uỷ quyền thường được nhận thù lao hoặc uỷ quyền trong tính chất giúp đỡ, tương trợ…
Tóm lại,một số điểm mới trong Bộ luật Dân sự 2015 về giao kết hợp đồng Dân sự 2005 như: về khái niệm hợp đồng (Điểu 385 BLDS 2015), theo điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồnglà sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” trong khi Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005:
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Điểm mới là BLDS hiện hành đã chọn cụm từ “hợp đồng” thay vì “ hợp đồng dân sự” trong BLDS 2005 Điều này có ý nghĩa không chỉ
là sửa đổi về kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện tính minh bạch mà còn phù hợp với thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh: Hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm,…
Về đề nghị giao kết hợp đồng (Khoản 1 điều 386 BLDS 2015) Theo Khoản
1 Điều 386 BLDS 2015: Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)” Điểm mới là, mở rộng và rõ hơn về bên được đề nghị giao kết hợp đồng, có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết hợp đồng Điều này có ý nghĩa khi phù hợp với thực tiễn áp dụng
Về thông tin giao kết hợp đồng (Điều 387 BLDS 2015) quy định: Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết; Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác; Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Đây là điều khoản hoàn toàn mới nhằm quản lý chặt chẽ thông tin trong quá trình giao kết hợp đồng và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh
Trang 38Về thời điểm giao kết hợp đồng (Khoản 1 điều 388 BLDS 2015): Thời điểm
đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
+ Do bên đề nghị ấn định;
+ Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác
Điểm mới là nó bổ sung thêm chế định loại trừ “Trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” Có ý nghĩa phù hợp với thực tiễn áp dụng,tránh mâu thuẫn giữa các luật, ưu tiên áp dụng Luật chuyên ngành
2.2 Khái quát chung về các các công ty chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) và thực tiễn kinh doanh tại công ty
2.2.1 Khái quát chung về các công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV)
Công ty chế biến và kinh doanh than Quảng Ninh thành lập ngày 28/12/1999 theo quyết định số 2669/QĐ-TCNS của Tổng công ty Than Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Chi nhánh Công ty chế biến & kinh doanh than Miền Bắc
Ngày 10/10/2003 Tổng công ty Than Việt Nam ban hành quyết định 1696/QĐ-TCCB v/v chuyển Công ty chế biến & kinh doanh than Quảng Ninh từ trực thuộc Công ty chế biến & kinh doanh than Miền Bắc sang trực thuộc Công ty TNHH một thành viên chế biến và kinh doanh than Miền Bắc kể từ ngày 14/10/2003
Ngày 19/12/2006 Hội đồng quản trị Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc - TKV ban hành quyết định 1993/QĐ-HĐQT v/v đổi tên Công ty chế biến và kinh doanh than Quảng Ninh trực thuộc Công ty TNHH một thành viên chế biến và kinh doanh than Miền Bắc thành Công ty kinh doanh than Quảng Ninh trực thuộc Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc-TKV kể từ ngày 01/01/2007
Ngày 18/12/2013 Tập đoàn Công nghiệp than Khoáng sản Việt Nam căn cứ vào đề án tái cơ cấu được phê duyệt theo Quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 2366/QĐ-VINACOMIN v/v thành lập Công ty Chế biến than Quảng Ninh – TKV kể từ ngày 01/01/2014 Công ty được thành lập trên cơ sở chuyển giao Công ty kinh doanh than Quảng Ninh – Công ty Cổ phần kinh doanh than Miền Bắc – Vinacommin
Nhiệm vụ của Công ty qua các thời kỳ:
Trang 39+ Thời kỳ 1995-2000: Do tình hình các đơn vị tiêu dùng trực tiếp quan hệ
mua bán than với đơn vị sản xuất than nên tình hình thị trường thời kỳ này rất lộn xộn các đơn vị sản xuất cạnh tranh nhau nhằm thu hút người tiêu dùng đến với mình
đã giảm giá thành bằng cách thuê thủ công khai thác những vùng có than lộ thiên dễ khai thác (gọi là khai thác than thổ phỉ) Từ tình hình trên năm 1995 Tổng công ty than Việt Nam ra đời trực thuộc Chính phủ đây là thời kỳ mà ngành than Việt Nam
đã làm được một số việc mà trước đây chưa làm đựơc Cụ thể đưa ra nhiều biện pháp thúc đẩy sự phát triển của ngành than, sắp xếp lại mô hình sản xuất đồng thời thay đổi lại bộ máy quản lý của một số đơn vị thành viên Trong đó ngành cung ứng than cũng có sự thay đổi đáng kể: Tổng Công ty cung ứng than đổi thành Công ty chế biến và kinh koanh than Miền Bắc và Công ty quản lý thu mua và cung ứng than Quảng Ninh đổi thành Chi nhánh Công ty CB&KD than Miền Bắc
+ Thời kỳ 2001 đến 2012: Đây là thời kỳ Công ty chế biến và kinh doanh than
Quảng Ninh phát triển không ngừng lớn mạnh, thực hiện quy chế điều hành tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu của Tổng công ty than Việt Nam, doanh nghiệp đã vươn ra mở rộng thị trường tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu than đi thị trường Trung Quốc mang lại hiệu quả kinh tế cao, đời sống của CBCNV được đảm bảo Công ty chế biến và kinh doanh than Quảng Ninh cùng với Công ty mẹ là Công ty chế biến và kinh doanh than Miền Bắc vươn lên là doanh nghiệp lớn đứng đầu trong khối kinh doanh than của Tổng công ty than Việt Nam
+ Từ năm 2013 đến nay: Xuất phát từ quy hoạch phát triển ngành than Việt
Nam đến năm 2020 có xét triển vọng đến năm 2030, đã xác định sản lượng khai thác than toàn Ngành cần tăng nhanh theo các giai đoạn, đồng thời với nhu cầu tiêu thụ than tăng nhanh trong nước, dự kiến đến năm 2018 sẽ dừng việc xuất khẩu than
và phải nhập khẩu than với khối lượng lớn, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam phải tăng cường công tác chế biến nâng cấp chất lượng than, đặc biệt với than có chất lượng thấp do không có thị trường tiêu thụ và tận thu tối đa tài nguyên từ các sản phẩm ngoài than Trên cơ sở định hướng đó, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã xây dựng đề án tái cơ cấu Tập đoàn, trong
đó thành lập Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản việt Nam - Công
ty chế biến than Quảng Ninh - TKV và được phê duyệt theo Quyết định số TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ Căn cứ vào đề án tái cơ cấu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã triển khai thành lập Công
Trang 40314/QĐ-ty Chế biến than Quảng Ninh tại văn bản số 6148/VINACOMIN-TCCB ngày 20/11/2013, theo đó Công ty chế biến than Quảng Ninh - TKV được thành lập mới trên cơ sở chuyển giao Công ty Kinh doanh than Quảng Ninh - Công ty Cổ phần kinh doanh than Miền Bắc - Vinacommin Với nội dung chính cụ thể là:
- Chuyển giao toàn bộ kho bãi chế biến, thiết bị máy móc, phương tiện phục
vụ chế biến, lao động, bộ máy điều hành, sản phẩm dở dang tồn cuối kỳ tính đến thời điểm 31/12/2013 của Công ty Kinh doanh than Quảng Ninh về Công ty Chế biến than Quảng Ninh - TKV
- Chuyển giao trụ sở Văn Phòng Khu đô thị mới Cao Xanh của Công ty than
Hạ Long - Vinacomin về Công ty Chế biến than Quảng Ninh - TKV
- Thực hiện chức năng nhiệm vụ chính: Chế biến, kinh doanh than, Giao nhận than và khai thác tận thu than
Ngay sau khi thành lập, Công ty đã sớm thực hiện ổn định tổ chức, sắp xếp lại lao động phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, kết quả ngay trong năm
2014 Công ty đã hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu, trong đó lợi nhuận đạt vượt mức, đảm bảo thu nhập người lao động, đầu tư mở rộng sản xuất, khai thác mở rộng nguồn nguyên liệu trong và ngoài nước, thực hiện nhập khẩu thử nghiệm than chất lượng tốt từ Nga để chế biến pha trộn với nguồn than trong nước đã mở ra hướng đi mới trong công tác chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm của khách hàng
Qua bốn mươi năm hoạt động sản xuất kinh doanh, một chặng đường có nhiều khó khăn thử thách mới, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam của Ban giám đốc Công ty và sự quyết tâm của toàn thể cán bộ công nhân viên trong đơn vị Công ty Chế biến than Quảng Ninh - TKV đã vượt qua những khó khăn, phấn đấu thực hiện hoàn thành tốt các mục tiêu sản xuất, chế biến và kinh doanh than đã đề ra
Hiện nay trụ sở chính của Công ty Chế biến than Quảng Ninh – TKV đặt tại:
Khu Đô thị mới - Phường Cao Xanh - Thành Phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh
*Chức năng và nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh
Công ty Chế biến than Quảng Ninh - TKV có chức năng và nhiệm vụ chính: + Chức năng và ngành nghề kinh doanh: Chế biến, kinh doanh than, Giao nhận than và khai thác tận thu than; Kinh doanh vận tải đường thủy, đường bộ, bốc xúc hàng hóa