Xác lập tuyên bố vấn đề nghiên cứu Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu tham khảo vàthực tiễn áp dụng pháp luật tại đơn vị thực tập, khóa luận này sẽ đưa ra
Trang 1TÓM LƯỢC
Mua bán hàng hóa là một hoạt động đã được hình thành từ lâu đời, nó xuất phát
từ nhu cầu trao đổi để thỏa mãn những mong muốn cá nhân của con người Và ngàynay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động mua bán hàng hóa càng trở nênphổ biến và trở thành một trong những hoạt động thương mại chủ yếu của thươngnhân
Trong phạm vi khóa luận, em sẽ tập trung đi sâu làm rõ một số vấn đề pháp lý vềgiao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, và thực tế áp dụng tại Công ty Cổ phần hệ thống1-V - địa điểm em chọn để thực tập tốt nghiệp Khóa luận của em gồm có ba phầnchính:
Chương 1: Khóa luận nghiên cứu một cách chi tiết những lý luận cơ bản về phápluật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời, làm rõ được các vấn
đề có liên quan Bao gồm: một số khái niệm cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa; cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng muabán hàng hóa và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa
Chương 2: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa Qua đó, rút ra được những bất cập của pháp luật hiệnhành, những khó khăn mà Công ty Cổ phần hệ thống 1-V còn tồn tại trong giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 3: Qua việc nghiên cứu lý luận pháp luật về vấn đề giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần hệ thống 1-V , đưa ra một
số kiến nghị nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại, hoàn thiện pháp luật, xây dựngkhung pháp lý hoàn chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng như trong tình hình hội nhập ngàycàng sâu và rộng của nước ta thì hiểu biết pháp luật vừa là công cụ vừa là phương tiệngiúp các các doanh nghiệp nói riêng, các cá nhân, pháp nhân nói chung có thể thựchiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong cuộc sống cũng như trong kinhdoanh
Tìm hiểu về vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là một vấn đề hết sức có
ý nghĩa không chỉ đối với các nhà làm luật mà còn đối với các nhà kinh doanh, cácdoanh nghiệp và những ai quan tâm đến sự thay đổi và phát triển của luật pháp Việccác sinh viên chuyên ngành Luật Thương Mại, Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại họcThương Mại đi thực tập tại các cơ sở kinh doanh cũng không ngoài mục đích nêu trên Được Trường Đại học Thương Mại, Khoa Kinh tế - Luật, Thạc sĩ Phùng BíchNgọc , Công ty Cổ phần Hệ thống 1-V tạo điều kiện, giúp đỡ nên em đã có cơ hội tìmhiểu về hoạt động kinh doanh của một đơn vị kinh doanh trên thực tế, qua đó có cơ hộilàm quen với môi trường pháp lý mà công ty đang hoạt động để vận dụng những hiểubiết đã được tích lũy trong quá trình đào tạo của Khoa và Nhà trường
Do những hạn chế về thời gian và kinh nghiệm,khóa luận tốt nghiệp của emkhông tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp vàchỉnh sửa quý giá từ phía quý Công ty và các thầy cô trong Khoa Kinh tế - Luật,Trường Đại học Thương Mại
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1, Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2
3 Xác lập tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5
CHƯƠNG 1 : NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 6
1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 6
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 6
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 6
1.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hơp đồng mua bán hàng hóa. 8 1.3 Nguyên tắc điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 16
1.3.1 Nguyên tắc tự do kinh doanh 16
1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật 17
1.3.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu 17
1.3.4 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 18
1.3.5 Nguyên tắc tự nguyện 18
1.3.6 Nguyên tắc cùng có lợi 19
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HỆ THỐNG 1-V 20
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vần đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 20
Trang 42.1.1 Tổng quan tình hình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 20
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 20
2.1.1.1 Nhân tố kinh tế 20
2.2 Phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 22
2.2.1 Về chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 22
2.2.2 Về đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 22
2.2.3 Về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 25
2.2.4 Về hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 25
2.2.5 Về nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 25
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty cổ phần hệ thống 1-V 26
2.3.1 Khái quát về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty cổ phần hệ thống 1-V 26
2.3.2 Những kết quả đạt được trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 27
2.3.3 Những hạn chế rủi ro công ty gặp phải trong quá trình giao kết 29
2.3.4 Phân tích, đánh giá và so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đề ra đầu năm 2015 30
2.3.5 Các kết luận 30
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 33
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 33
3.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 33
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 34
KẾT LUẬN 36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hoá trong nước đã trở thành lĩnh vực kinhdoanh chủ đạo và đem lại nguồn doanh thu lớn cho các công ty Tuy nhiên, để hoạtđộng mua bán hàng hoá của công ty đi vào chiều sâu thì đòi hỏi doanh nghiệp phải tìmhiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thương mại theo đúng luật, nhằmhạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có Hợp đồng mua bán hàng hoá rất phongphú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt động kinhdoanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Trong hệ thống pháp luật nước ta đã cónhững quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồngkinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997… và cho đếnnay là các văn bản pháp luật mới được ban hành: Luật Thương mại 2005, Bộ Luật dân
sự nay hay là Bộ luật dân sự 2015 sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2015
Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, giữa các doanhnghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng Vấn đề đặt ra trong việc nâng cao hiệuquả của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, là liệu các doanh nghiệp có được sựchủ động trong vấn đề giao kết, làm thế nào để hợp đồng được xác lập nhanh chóng,đảm bảo hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm túc đưa đến lợi nhuận tối ưu,tránh các thiệt hại không đáng có Do đó, giai đoạn giao kết hợp đồng là rất quantrọng, điều này phụ thuộc trước hết vào hệ thống pháp luật hiện hành, đồng thời phụthuộc nhiều vào khả năng nhận biết cũng như trình độ áp dụng pháp luật của từngdoanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết về pháp luật của các doanh nghiệp cònbộc lộ nhiều hạn chế Hiện nay pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa đang đượchoàn thiện theo hướng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và pháp luật hợp đồng củathế giới
Công ty cổ phần Hệ thống 1-V là công ty đầu tiên ở Việt Nam đi tiên phongtrong lĩnh vực triển khai hệ thống giải pháp phần mềm thế hệ mới của hãng 1C (Liênbang Nga), chuyên sâu trong lĩnh vực tạo dựng, hỗ trợ và phân phối các giải pháp ứngdụng tự động hóa quản trị doanh nghiệp… Công ty cổ phần hệ thống 1-V hàng năm kýkết rất nhiều hợp đồng, chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hóa
Nhận thức được vai trò to lớn của hợp đồng mua bán hàng hóa, nên việc tìm hiểupháp luật hợp đồng là điều cần thiết đối với công ty Hơn nữa việc nghiên cứu ápdụng pháp luật hợp đồng trên khía cạnh giao kết, hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công
ty cổ phần hệ thống 1-V là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa với riêng công ty mà cònđối với nhiều doanh nghiệp khác Đây chính là lí do để em chọn đề tài “ Pháp luật về
Trang 7giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần hệthống 1-V “ để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Những vấn đề pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồngmua bán hàng hóa nói riêng đã được đề cập trong Giáo trình Luật Thương mại của một
số trường như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội(2013) … hay Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, Đại học kinh
tế quốc dân Nhưng các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các kiến thức
cơ bản Ngoài ra, vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được nghiên cứu theo khíacạnh hợp đồng trong thương mại với nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong đó có thể
kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh đăng tại Tạp chí luật học số 3/2003
- “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư- Những vấn đề pháp lý cơbản” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội do Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung chủ biên năm 2009
đã nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về các loại hợp đồng trong thương mại,trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Lê MinhHùng, luận án Tiến sĩ Đại học Luật – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
đã nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụngpháp luật về hiệu lực hợp đồng ở Việt Nam
- “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn ThịHường, luận văn Thạc sỹ năm 2010, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã nghiêncứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tự do giao kết hợp đồng Bên cạnh đó, luậnvăn còn phân tích những khía cạnh cơ bản của nguyên tắc quyền tự do giao kết hợpđồng và các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị cụ thểnhằm hoàn thiện pháp luật về tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
- Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho phápluật Việt Nam” của Trương Thị Bích, luận văn Thạc sỹ năm 2012, Chuyên ngành LuậtQuốc Tế, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội luận giải những vấn đề lý luận vàpháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và phântích một cách có hệ thống về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam vềgiao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài So sánh pháp luậtViệt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa vớithương nhân nước ngoài và đề xuất các khuyến nghị những định hướng hoàn thiện cho
Trang 8pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nướcngoài.
- “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005” của TrầnThị Huệ (2013), tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng 6 (255) đã nghiên cứu,chỉ rõ một số bất cấp về vấn đề hợp đồng trong Bộ luật dân sự và đưa ra một số đềxuất hoàn thiện chúng
Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quý báu giúp em có thêmnhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu bài khóa luận tốt nghiệp Bởivậy, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thựctiễn thực hiện tại Công ty cổ phần hệ thống 1-V ” sẽ đi sâu phân tích cụ thể vấn đềgiao kết hợp đồng theo Luật hiện hành và áp dụng cụ thể vào Công ty Cổ phần Hệthống 1-V Từ đó, chỉ ra các bất cập và đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng caohiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng
3 Xác lập tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu tham khảo vàthực tiễn áp dụng pháp luật tại đơn vị thực tập, khóa luận này sẽ đưa ra các cơ sở pháp
lý làm tiền đề để đi sâu vào phân tích lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, thực thi phápluật tại đơn vị, từ đó có những kiến nghị cần thiết nhằm hoàn thiện các quy định củapháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa cũng như việc đảm bảothực thi pháp luật tại đơn vị nói riêng và các thành phần kinh tế tham gia vào hoạtđộng thương mại nói chung Khóa luận đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về giao kết hợp đồng muabán hàng hóa
- Phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng muabán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Hệ thống 1-V theo quy định của pháp luật hiệnhành
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định về giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005
và thực tiễn áp dụng những quy định này tại Công ty Cổ phần Hệ thống 1-V để từ đó,đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hànghóa và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán
Trang 9hàng hóa vào thực tiễn Việc xác định đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọngtrong việc triển khai nghiên cứu, đảm bảo cho khóa luận tốt nghiệp đi đúng hướng.
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận sự cần thiết phải có một hệ thống pháp luật thốngnhất và chặt chẽ để quản lí hoạt đông mua bán và trao đổi hàng hóa trong bối cảnhnước ta đã ra nhập WTO, sự hội nhập kinh tế đứng trước rất nhiều cơ hội và tháchthức
- Phản ánh thực trạng tình hình pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóahiện nay ở nước ta Tìm ra những ưu điểm đồng thời nhìn nhận lại những điểm cònhạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành
- Nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động giao kết mua bán hànghóa của Công ty Tin Cổ phần hệ thống 1-V
- Những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình áp dụng phápluật về hợp đồng mua bán hàng hóa Từ đó đề xuất những giải pháp để giải quyết cácvấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, phạm vi nghiên cứu nên khóa luận chỉ tập trung làmsáng tỏ một số vấn đề chính Cụ thể phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn nhưsau:
- Về nguồn tư liệu: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng muabán hàng hóa kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 banhành cho đến nay
- Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ vấn đề giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa tại Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Hệ thống 1-V
5 Phương pháp nghiên cứu
Dưới đây là các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài:
- Phương pháp liệt kê: Phương pháp sẽ được áp dụng trong chương I của bàikhóa luận, phương pháp sẽ hệ thống, liệt kê tất cả các văn bản pháp luật có liên quan
để tiện theo dõi và phân tích, làm căn cứ cho phần lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp được áp dụng trong chương IIcủa bài khóa luận là phần thực tiễn liên hệ tại Công ty Trên cơ sở giải thích các kháiniệm, quy phạm pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, người nghiêncứu sẽ đi phân tích vai trò của các yếu tố này tới hoạt động của công ty Ngoài ra, trên
cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được và hạn chế của hành lang pháp lý hợp đồng,
Trang 10người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng quan, qua đó có phương hướng để giải quyếtnhững hạn chế phát sinh.
- Phương pháp suy luận từ thực trạng để đưa ra các giải pháp hoàn thiện phápluật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung của bài khóa luận bao gồm 3 chương
Chương 1: Những lí luận cơ bản về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở ViệtNam
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hànghóa tại Công ty cổ phần hệ thống 1-V
Chương 3 : Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thipháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1 : NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo khoản 8 điều 3 LTM 2005: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại,theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua
và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng vàquyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” Ta có thể hiểu mua bán hàng hóa là sự đầu
tư tiền của, công sức của một cá nhân hay một tổ chức vào việc trao đổi hàng hóa đểkiếm lời Đó là hoạt động cốt lõi để doanh nghiệp có thể duy trì và phát triển Về cơbản hoạt động mua bán hàng hóa được diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu đó là muabán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất pháp lýchung là hợp dồng Hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên vềmột hay một số vấn đề nhất định trong xã hội nhằm phát sinh, thay đổi hay chấm dứtcác quyền hay nghĩa vụ của các bên Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Hợpđồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự” Luật Thương mại 2005 quy định mua bán hàng hóa trong thươngmại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụthanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” DùLuật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, song
có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mạidựa trên cơ sở hợp đồng dân sự về hợp đồng mua bán tài sản Nên có thể khẳng địnhhợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng giao kết giữa các thươngnhân với nhau hoặc thương nhân với bên khác không phải là thương nhân trong việcmua bán tất cả các động sản, kể cả động sản được hình thành trong tương lai.Hợp đồngmua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Chủ thể
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thươngnhân Theo quy định tại Khoản 1- Điều 6 LTM 2005: “ Thương nhân bao gồm tổ chứckinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách đôc lập và
Trang 12thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Thương nhân có thể là thương nhân ViệtNam hoặc thương nhân nước ngoài Ngoài ra, các tổ chức – cá nhân không phải làthương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa và khi chủthể lựa chọn Luật Thương mại để áp dụng thì các hoạt động của các bên chủ thể trongquan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại Hợp đồng thương mại cóthể được giao kết giữa các chủ thể bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp,hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.Cácthương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địaphương, dưới các hình thức và theo phương thức mà pháp luật không cấm Ngoài rahợp đồng thương mại còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác có hoạt độngliên quan đến thương mại Một bên chủ thể giao kết hợp đồng có thể không phải làthương nhân Nếu căn cứ vào mục đích sinh lời thì nhiều trường hợp tổ chức, cá nhânkhông phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.Chủ thể không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi
để tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định hoặckhông có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt độngthương mại như một nghề
- Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Nếu hiểu theo nghĩathông thường hàng hóa là những sản phẩm lao động do con người tạo ra nhằm mụcđích thỏa mãu nhu cầu của con người Nhưng theo quy định của pháp luật Việt Namtại Khoản 2- Điều 3 LTM 2005:
“ Hàng hóa bao gồm:
- Tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai
- Những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, có thể thấy đối tượng hàng hóa mà pháp luật Việt Nam quy định baogồm: các động sản được lưu thông trên thị trường hoặc bất động sản có thể kể đếnnhư: nhà cửa, đất đai, ruộng vườn… Các động sản hoặc bất động sản có thể đã hìnhthành hoăc sẽ hình thành trong tương lai đều được coi là hàng hóa Khái niệm này tuy
đã khắc phục được một số những bất cập trong quy định về hàng hóa của LTM 1997khi quy định hàng hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dưới hìnhthức cho thuê hoăc mua bán nhưng vẫn là khá hẹp so với định nghĩa chung về hànghóa, đôi khi làm hạn chế các đối tượng hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường
- Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 13Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa vụ các bêntrong quan hệ mua bán hàng hóa, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyểnquyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hànghóa và trả tiền cho bên bán Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bánhàng hóa là hành vi có tính chất thương mại và nhằm mục đích sinh lời
Hợp đồng mua bán hàng hóa mang đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản đó là
sự chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu và quyền định đoạt Khác với hợp đồngcho thuê tài sản chỉ chuyển giao quyền sử dụng chứ không chuyển giao quyền sở hữu
và quyền định đoạt Quyền sở hữu và quyền định đoạt vẫn thuộc về người có tài sảnđem đi cho thuê
Đồng thời hợp đồng mua bán hàng hóa cũng khác với hợp đồng tặng cho tài sản.Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, mang tính đền bù Giá của hànghóa luôn được xác định cụ thể Việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa luôn kèm theoyêu cầu đền bù tương ứng với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận, qua đó thể hiện quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán, bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; bên mua có nghĩa vụ nhậnhàng hóa và trả tiền cho bên bán Mục đích thông thường của các bên là lợi nhuận.Trong khi đó ở hợp đồng tặng cho tài sản, bên tặng cho tài sản giao tài sản và giaoquyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho mà không cần thiết lập bất cứ một yêu cầuđền bù nào
- Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng mua bán hướng các bên tậptrung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi đểthực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợpđồng Một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận vềđối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhận giaohàng
- Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi nhữngđiều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định củapháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên không thỏathuận trong hợp đồng Và các quy định được các bên quy định trong hợp đồng khôngđược trái với pháp luật hiện hành đang điều chỉnh
1.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hơp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng trong thương mại nên đối vớicác hoạt động mua bán hàng hóa trong nước, trước hết nó chịu sự điều chỉnh trực tiếpcủa luật chuyên ngành là LTM 2005 Nhưng để xác định bản chất pháp lý về hợp đồng
Trang 14mua bán hàng hóa trong thương mại thì đều cần dựa trên cơ sở quy định của BLDS
2005 về định nghĩa giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa , nên giao kết hợp đồng muabán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005
Như vậy, với hợp đồng mua bán hàng hóa, LTM 2005 đóng vai trò là luật riêng
áp dụng, BLDS 2005 là luật chung áp dụng Trình tự áp dụng luật được tuân theo quyđịnh chung, áp dụng luật riêng trước, nếu luật riêng không có những quy định có liênquan thì sẽ áp dụng đến Luật chung tức là áp dụng LTM trước, khi LTM không quyđịnh những vấn đề có liên quan thì mới áp dung BLDS Và vấn đề định nghĩa giao kếthợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ được phân tích theo quan điểm của Bộluật dân sự
Bên cạnh LTM và BLDS là hai văn bản pháp luật chính điều chỉnh hoạt độngmua bán hàng hóa trong nước thì hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnhcủa nhiều Nghị định, Thông tư như là:
- Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổsungdanh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP
- Nghị định số 54/2009/NĐ-CP ngày 05/06/2009 của Chính phủ Quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm,hàng hoá
- Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại muabán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán gia công và quá cảnh hàng hóavới nước ngoài
Đối với các hoạt động mua bán bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Bên cạnhluật quốc gia, các chủ thể còn phải chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế màđiển hình là Công ước Viên 1980, các tập quán quốc tế khác về thương mại và hànghải
Theo Khoản 1 – Điều 6 Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005 về Điều ước quốc tế và quy định của pháp luật trong nước
“ 1 Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.”
Như vậy, nếu như trong trường hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế cùngquy định một vấn đề thì điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng trước
1.2.1.1 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình mà trong đó các bênbảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc cùngnhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau Thực chất, đó là quá trình mà
Trang 15hai bên “mặc cả” với nhau về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng mua bánhàng hóa Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
Thứ nhất: Bên đề nghị đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.Thứ hai: Bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa và đi đến giao kết hợp đồng
1.2.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý định giao kếthợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xácđịnh cụ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa
Thực chất, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc một bên biểu lộ ýchí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham giagiao kết với người đó một hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo điều 390, BLDS về Đề nghị giao kết hợp đồng thì
“1 Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng vàchịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể
2 Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên
đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trảlời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợpđồng nếu có thiệt hại phát sinh.”
Ta thấy rằng theo điều 390, BLDS 2005 thì :
Thứ nhất, đề nghị đó phải được xác định cụ thể Thông thường một đề nghị đượccoi là xác định nếu có chứa các nội dung của hợp đồng tương lai Bất kỳ sự không xácđịnh nào liên quan đến nội dung của hợp đồng tương lai, quyền và nghĩa vụ cũng nhưđối tượng của hợp đồng đều có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau về nội dung của
đề nghị gia kết hợp đồng và điều này có thể làm cho đề nghị giao kết hợp đồng mất đichức năng, mục đích của một đề nghị
Thứ hai, Về nguyên tắc, khi đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị sẽ
bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình trong một thời hạn nhất định.Tuy nhiên, đây mớichỉ là trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba cùng với một nộidung, một điều kiện với nội dung đề nghị với người được đề nghị mà không giao kếthợp đồng Điều luật không khẳng định rõ mức độ ràng buộc của bên đề nghị với lời
đề nghị Tuy nhiên cũng thể hiểu rằng khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghịgiao kết hợp đồng, theo đúng nội dung, điều kiện và thời gian mà bên đề nghị đưa rathì bên đề nghị không bắt buộc phải thực hiện việc giao kết hợp đồng vì hợp đồngchưa được ký kết giữa các bên nên chưa có cơ sở pháp lý để bắt buộc các bên thựchiện nghĩa vụ, và bên đề nghị vẫn có quyền lựa chọn đối tác của mình Mặc dù đã đưa
Trang 16ra lời đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nhưng bên đề nghị vẫn có quyền lựa chọn kýkết hoặc không ký kết hợp đồng Tuy nhiên, bên đề nghị cũng không thể tùy tiện thayđổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, mà tuân theo quy định tại điều 392,
393 Bộ luật dân sự năm 2005
Thứ ba Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình bằnglời đề nghị giao kết hợp đồng với một chủ thể nào đó Đề nghị đó phải là chủ định đíchthực, mong muốn xác lập quan hệ hợp đồng với mục đích làm phát sinh các quyền vànghĩa vụ dân sự.Sự đề nghị có thể riêng cho một hoặc nhiều chủ thể, như một ngườimuốn bán một tài sản nào đó đề nghị cụ thể với người muốn mua với những điều kiện
cụ thể của vật đem bán, giá cả, v.v
Đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng để người được đề nghị biết dược ý muốncủa người đề nghị Trong đề nghị phải nêu ra những nội dung cơ bản của hợp đồng đểngười được đề nghị có thể đồng ý ngay hoặc tiếp tục đưa ra những yêu cầu của họ đểhai bên cùng thảo luận.Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện một các trựctiếp giữa hai người, đề nghị này được gọi là đề nghị trực tiếp Hai người trao đổi vớinhau qua điện thoại cũng được coi là đề nghị trực tiếp Đề nghị giao kết hợp đồng còn
có thể thực hiện bằng hình thức gián tiếp như thông qua thư, điện tín, v.v
Trên thực tế, việc xác định đâu là đề nghị giao kết hợp đồng, đâu là đề nghịchuẩn bị bàn bạc để thỏa thuận giao kết hợp đồng là một công việc vô cùng khó khăn,phức tạp, cần phải xem xét thận trọng căn cứ vào các hình thức khách quan, chủquan trong từng vụ cụ thể
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực:
Căn cứ theo Điều 391 BLDS 2005, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệulực được xác định là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệulực do bên đề nghị ấn định Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợpđồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó Điều 391,BLDS
2005 quy định về Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
“ 1 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a, Do bên đề nghị ấn định;
b, Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từkhi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó
2 Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; đượcchuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b, Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
Trang 17c Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua cácphương thức khác “
Ta thấy theo như điều 391, BLDS 2005 nêu trên thì
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực trước tiên do bên đề nghị ấnđịnh Nếu bên đề nghị không ấn định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệulực được xác định từ thời điểm bên đề nghị nhận được đề nghị đó
Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú của cá nhân, hoặc trụ sở của pháp nhân.Đây là hình thức được thực hiện bằng văn bản được chuyển theo cách thông thường
mà bên đề nghị tự mình hoặc cử người mang đến hoặc chuyển qua bưu điện đến nơi cưtrú của cá nhân, hoặc trụ sở của pháp nhân Trong trường hợp đề nghị giao kết hợpđồng được thực hiện trực tiếp, bên đề nghị trực tiếp trao đổi ( gặp mặt hoặc qua điệnthoại) thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định từ thời điểm
có cuộc điện thoại đó, hoặc buổi làm đó Tất nhiên, trong thực tế, có trường hợp xácđịnh được chính xác giờ, phút trao đổi, nhưng cũng có trường hợp không thể xác địnhđược chính xác, trong trường hợp này thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lựcđược tính bằng ngày có cuộc trao đổi để bên đề nghị đưa ra trả lời đề nghị
Điểm a khoản 2 Điều 391 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: được coi là đãchấp nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi đè nghị được chuyển đến trụ sở củapháp nhân Tuy nhiên, trên thực tế có những tổ chức có trụ sở riêng tại một địa điểm
cố định không phải là pháp nhân nhưng vẫn có tư cách chủ thể tham gia ký kết hợpđồng dân sự
- Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005 quy định về Thay đổi, rút lại đề nghị giao kếthợp đồng thì “ Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kếthợp đồng trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đềnghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị
có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh
2 Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đềnghị mới.”
Thứ nhất để đi đến bước ký kết hợp đồng, không chỉ đơn giản là một bên đưa ralời đề nghị và bên kia trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhân; cũng không phải chỉ cóbên được đề nghị mới có quyền trả lời lại, trong đó đưa ra điều kiện mới ( đề nghịmới); mà ngay cả bên đề nghị cũng có thể thay đổi mới, rút lại lời đề nghị của mình
Trang 18Thứ hai Điều 392 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định bên đề nghị có thể thay đổihay rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp;
Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghịtrước do đó việc thay đổi, rút lại đề nghị không ảnh hưởng đến lợi ích của bên được đềnghị Quy định bên đề nghị có thể thay đổi hay rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trongtrường hợp nhận được đề nghị giao kết và đề nghị thay đổi hoặc rút lại đề nghị giaokết cùng một lúc là quy định mới được bổ sung vào Bộ Luật dân sự năm 2005 so vớiquy định tại Bộ luật dân sự năm 1995 Trên thực tế phát sinh nhiều trường hợp, bên đềnghị gửi thư đường dài đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng sau đó lại thay đổi hoặc rútlại đề nghị bằng thư điện tử nên bên được đề nghị nhận được hai thông tin này cùngmột lúc
Bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị, thì điều kiện
đó phát sinh bên đề nghị có quyền thay đổi hoặc rút lại đề nghị Pháp luật không cóquy định bắt buộc về đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng hình thức nào, thì
sự thay đổi, hoặc rút lại lời đề nghị phải thực hiện bằng hình thức ấy Khi bên đề nghịthay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới
- Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 393 BLDS 2005 quy định về Hủy bỏ đề nghị giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa thì : “Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thựchiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báocho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhậnđược thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng “
Về điều kiện, đối với rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị có quyềnthay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp: 1 Bên được đềnghị chưa nhận được đề nghị hoặc nhận được đề nghị trùng với thời điểm nhận đượcthông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị; 2 Bên đề nghị nêu rõ điều kiện thayđổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện này phát sinh Đối với hủy bỏ đề nghị giao kếthợp đồng, bên đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng
Về thời điểm nhận được thông báo, bên được đề nghị có thể nhận được thôngbáo rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghịgioa kết Còn trong trường hợp hủy bỏ hợp đồng, bên được đề nghị phải chấp nhậnđược thông báo hủy bỏ đề nghị trước thời điểm nhận được đề nghị giao kết
Về hậu quả pháp lý, sau khi rút lại đề nghị, bên đề nghị có thể không giao kếthợp đồng với bên được đề nghị nữa hoặc bên đề nghị thay thế đề nghị ban đầu bằng
Trang 19một đề nghị mới Còn sau khi hủy bỏ đề nghị, bên đề nghị không tiếp tục đề nghị giaokết với bên được đề nghị này nữa.
- Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Chấm dứt đề nghị giaokết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
“ 1 Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
2 Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
3 Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
4 Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
5 Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờbên được đề nghị trả lời.”
Đề nghị giao kết hợp đồng ràng buộc người đề nghị trong thời hạn đã nêu trong
đề nghị Vì vậy, pháp luật cũng quy định khi nào thì coi đề nghị được chấm dứt vàngười đềnghị giao kết hợp đồng được giải phóng khỏi trách nhiệm ràng buộc trongquan hệ với người được đề nghị, Quy định này không những tạo điều kiện cho bên đềnghị giao kết hợp đồng có thể đề nghị với chủ thể khác mà còn bảo về quyền lợi cho
cả bên được đề nghị giao kết hợp đồng
Theo Điều 394 Bộ luật dân sự năm 2005 thì đề nghị được coi là chấm dứt trongcác trường hợp sau:
Khi bên được đề nghị trả lời không chấp nhận, đề nghị giao kết hợp đồng dân sựđương nhiên chấm dứt:
Hết thời hạn trả lời chấp nhận Đây là trường hợp bao hàm cả bên được đề nghịchậm trả lời hoặc bên được đề nghị im lặng không trả lời Nếu việc trả lời được thựchiện trực tiếp thì việc xác định thời gian trả lời dễ dàng Còn nếu trả lời được chuyểnqua bưu điện bằng thư tín, hoặc chuyển qua internet trong trường hợp mạng internet bịlỗi.v.v mà sự trả lời đó còn đến sau thời hạn trả lời, thì phải lấy mốc thời gian màngười gửi thư tín đi theo dấu bưu điện hoặc thời điểm gửi thư đi được xác định theophương tiện điện tử để xác định sự trả lời đó có đúng thời hạn hay không đúng thờihạn Nếu ngày gửi trong thời hạn trả lời thì không được coi là chậm trả lời
Ngoài hai trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 nêu trên của Điều 394, Bộ luậtdân sự năm 2005 còn quy định rõ một số căn cứ khác làm chấm dứt đề nghị giao kếthợp đồng Đó là trường hợp theo ý chí của bên đề nghị giao kết hợp đồng hoặc theo ýchí của cả hai bên được đề nghị và bên đề nghị
1.2.1.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thực chất là việc bên được đềnghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành giao
Trang 20kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng muabán hàng hóa đó
- Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thìviệc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đềnghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận nàyđược coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý dokhách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báochấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngaykhông đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoạihoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhậnhoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời
- Rút lại thông báo trả lời chấp nhận:
Căn cứ theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thểrút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùngvới thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
1.2.1.4 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết hợpđồng Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật chophép
Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp vớihình thức hợp đồng mua bán hàng hóa LTM 2005 không quy định hình thức giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005 về hìnhthức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng muabán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi
cụ thể Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập dưới ba hìnhthức: lời nói, văn bản hoặc hành vi
- Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lờinói (hay còn gọi là hình thức miệng), các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng Giaokết hợp đồng dưới hình thức này rất thuận tiện, nhanh chóng và thường áp dụng cho
Trang 21những trường hợp mà các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa đã quenbiết và có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa ngaysau khi giao kết sẽ thực hiện và chấm dứt ngay
- Đối với giao kết hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản, các bên khitham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ghi nhận nội dung giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa bằng một văn bản chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản của hợpđồng và có chữ ký xác nhận của các bên Hình thức này tạo ra chứng cứ pháp lý chắcchắn hơn so với hình thức miệng Thông thường theo hình thức này, hợp đồng đượclập thành nhiều bản mỗi bên giữ một bản làm bằng chứng chứng minh quyền của mỗibên Căn cứ vào văn bản hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên dễ dàng xác định đượcquyền và nghĩ vụ Đặc biệt, các bên còn dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đốivới bên kia Hình thức này thường được áp dụng trong các quan hệ mua bán hàng hóa
mà việc thực hiện hợp đồng không cùng lúc với việc giao kết, các giao dịch mua bánhàng hóa quan trọng, có giá trị lớn hay các hợp đồng mua bán hàng hóa có độ nhạycảm cao
Ngoài hai hình thức nói trên, hợp đồng mua bán hàng hóa còn có thể được giaokết bằng một hình thức khác đó là hình thức hành vi Theo đó, hợp đồng mua bán hànghóa sẽ được giao kết miễn các hành vi đó chứa đựng những thông tin mà các bên trongquan hệ mua bán hàng hóa đó hiểu và thực hiện trên thực tế Giống với hình thứcmiệng, hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết bằng hình thức hành vi có giá trịpháp lý không cao, dễ xảy ra tranh chấp
1.3 Nguyên tắc điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1 Nguyên tắc tự do kinh doanh.
Quyền tự do kinh doanh tồn tại như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế,
xã hội Quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành đóng vai trò quan trọng trong
hệ thống các quyền tự do của con người Giá trị của quyền tự do kinh doanh được thểhiện ở chỗ, mọi chủ thể trong nền kinh tế đều được tự do hoạt động kinh doanh củamình theo khuôn khổ của pháp luật
Dưới góc độ chủ thể, quyền tự do kinh doanh là khả năng hành động có ý thứccủa các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong quá trình tồn tại
và phát triển Quyền tự do kinh doanh bao gồm các khả năng mà cá nhân, pháp nhân
có thể xử sự như: Tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn mô hình
tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh doanh, tự do cạnhtranh, tự do lựa chọn giải quyết phương thức tranh chấp trong kinh doanh,