1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giới thiệu SAP và ứng dụng

99 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu SAP và ứng dụng Giới thiệu về hệ xí nghiệp, hình thành và phát triển, định nghĩa, các đặc trưng và hướng phát triển. Gói phần mềm tích hợp xí nghiệp SAP. Ngôn ngữ lập trình ABAP. Ứng dụng của SAP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2007

Nguyễn Trần Tuyển

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cam đoan

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 6

MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1 HỆ XÍ NGHIỆP 10

1.1 Cơ sở hình thành và sự phát triển 10

1.1.2 Thời kỳ tính toán phân tán 10

1.1.3 Yêu cầu về tích hợp ứng dụng 10

1.1.4 Gói phần mềm hoạch định tài nguyên xí nghiệp 11

1.1.5 Các hệ thống hoạch định tài nguyên 11

1.1.6 Đi tìm định nghĩa hệ xí nghiệp (ES) 12

1.2 Định nghĩa hệ xí nghiệp 13

1.2.1 Các thuộc tính của hệ xí nghiệp 14

1.2.2 Cá c vấn đề của xí nghiệp 15

1.2.3 Phân loại hệ xí nghiệp 15

1.3 Các đặc trưng của hệ xí nghiệp 16

1.3.1 Tích hợp thành một hệ thống đồng nhất 16

1.3.2 Công cụ hỗ trợ triển khai 16

1.4 Hướng phát triển của hệ xí nghiệp 17

1.4.1 Mở rộng gói ES 17

1.4.2 Phát triển theo các chuẩn công nghệ mới 19

1.4.3 Phát triển công cụ kết xuất báo cáo thông minh 19

1.4.4 Phát triển phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ 20

1.5 Hệ hoạch định tài nguyên xí nghiệp (ERP) 20

CHƯƠNG 2 GÓI PHẦN MỀM TÍCH HỢP XÍ NGHIỆP SAP 23

2.1 Lịch sử phát triển 23

2.1.1 Giới thiệu SAP AG 23

2.1.2 Các phiên bản của phần mềm SAP 23

2.2 Lợi ích của phần mềm tích hợp xí nghiệp SAP 24

2.2.1 Giảm chi phí 24

2.2.3 Tích hợp xí nghiệp 25

2.2.4 Thông tin thời gian thực 26

2.2.5 Triển khai đa quốc gia 26

2.2.6 Tính linh hoạt 26

2.3 Phần mềm tích hợp xí nghiệp R/3 26

2.3.1 Các đặc điểm 26

2.3.2 Kiến trúc 33

2.3.3 Các loại ứng dụng SAP 48

2.3.4 Công cụ triển khai SAP R/3 51

2.3.5 Các vấn đề của R/3 52

Trang 4

2.4 Nền tảng công nghệ SAP Netweaver 53

2.4.1 Tích hợp con người 53

2.4.2 Tích hợp thông tin 54

2.4.3 Tích hợp quy trình 54

2 4.4 Nền tảng ứng dụng 55

CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH ABAP 57

3.1 Lịch sử phát triển của ABAP 57

3.2 Đặc tả ngôn ngữ lập trình ABAP 57

3.2.1 Cú pháp 57

3.2.2 Dữ liệu và kiểu dữ liệu 59

3.2.3 Các lệnh ABAP 64

3.2.4 Khối xử lý 67

3.2.5 ABAP Objects 72

3.4 Các đặc trưng của ABAP 73

3.2.1 R/3 Repository 73

3.2.2 Phần mềm cơ sở 74

3.2.3 Giao dịch 74

3.2.4 ABAP Objects 77

3.2.5 Giao diện lập trình BAPI 78

3.2.6 ABAP Workbench 79

3.2.7 Từ điển ABAP 80

CHƯƠNG 4 ỨNG DỤNG CỦA SAP 82

4.1 Tình hình ứng dụng thực tế 82

4.1.1 Tình hình ứng dụng SAP tại Việt Nam 82

4.1.2 Tình hình ứng dụng SAP trên thế giới 82

4.2 Phát triển ứng dụng SAP cho bài toán cụ thể 83

4.2.1 Giới thiệu 83

4.2.2 Hoạt động của chương trình 83

4.2.3 Các thành phần được sử dụng trong chương trình 84

4.2.4 Các bước cài đặt 86

KẾT LUẬN 89

TÓM TẮT 90

ABSTRACT 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

CÁC THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN VĂN 93

PHỤ LỤC 94

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ABAP Advanced Business Application

Programming

Lập trình ứng dụng kinh doanh tiên tiến

ABAP

DW ABAP Development Workbench Môi trường phát triển ABAP

B2B Business to Business Giữa các doanh nghiệp

BAPI Business Application Program

Interfaces

Giao diện lập trình ứng dụng

kinh doanh

BI Business Intelligence Kết xuất báo cáo thông minh

CIM Computer Integrated

Manufacturing Sản xuất có ứng dụng máy tính

CRM Customer Relationship

Management Quản lý quan hệ khách hàng

DSS Decision Support System Hệ trợ giúp quyết định

Dynpro Dynamic programs Chương trình động

EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử

EP Enterprise Platform Nền tảng xí nghiệp

ERP Enterprise Resource Planning Hệ hoạch định tài nguyên xí

nghiệp

ES Enterprise System Hệ xí nghiệp/ Hệ tổ chức kinh

doanh

ESA Enterprise Software Architecture Kiến trúc phần mềm xí nghiệp

ESFT Enterprise Software Phần mềm xí nghiệp

IDoc Intermediate Document Tài liệu trung gian

MRP Material Requirements Planning Hoạch định nhu cầu nguyên liệu

MRPII Manufacturing Resource Planning Hoạch định tài nguyên sản xuất

OLAP Online Analysis Processing Xử lý phân tích trực tuyến

OLE Object Linking and Embeding Công nghệ liên kết và nhúng

RFC Remote Function Calls Lời gọi hàm từ xa

RPC Remote Procedure Calls Lời gọi thủ tục từ xa

SCM Supply Chain Management Quản lý dây chuyền cung cấp

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Hình 2.1 SAP là hệ thống mở 29

Hình 2.2 Các chuẩn giao tiếp của SAP 31

Hình 2.3 Kiến trúc SAP R/3 34

Hình 2.4 Phần mềm R/3 cơ sở 36

Hình 2.5 SAPGUI - SAP Front End 38

Hình 2.6 Tiến trình xử lý (Work process) 39

Hình 2.7 Bộ xử lý tác vụ (Task handler ) 40

Hình 2.8 Vai trò của bộ điều phối (Dispatcher) 41

Hình 2.9 Các tiến trình Work process và Dispatcher 43

Hình 2.10 Bước xử lý (dialog step) 44

Hình 2.11 Giao dịch cập nhật dữ liệu (LUW) 45

Hình 2.12 Tiến trình xử lý hàng đợi 46

Hình 2.13 Tiến trình cập nhật dữ liệu 47

Hình 2.14 Gateway server 47

Hình 2.15 Các loại ứng dụng SAP 49

Hình 2.16 Hướng phát triển của SAP 53

Hình 2.17 Kiến trúc SAP Netweaver 55

Hình 2.18 Nền tảng công nghệ mở của SAP Netweaver 55

Hình 3.119 Cấu trúc chương trình ABAP 68

Hình 3.220 Khối xử lý 68

Hình 3.321 Khối xử lý sự kiện 69

Hình 3.422 Khối xử lý sự kiện cho danh sách liệt kê 69

Hình 3.523 Chương trình con 71

Hình 3.624 Module hàm 71

Hình 3.7 25 Phương thức của lớp 72

Hình 3.826 R/3 Repository 74

Hình 4.127 Tạo file đính kèm 85

Hình 4.2 28 Tạo bảng cơ sở dữ liệu từ giao dịch SE11 86

Hình 4.329 Đối tượng ZFRIENDS 87

Hình 4.430 ABAP Editor 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Các loại tiến trình 42

Bảng 3.1 2 Các kiểu dữ liệu tiền định 60

Bảng 3.2 3 Ví dụ kiểu dữ liệu có cấu trúc 64

Bảng 3.4 Một số giao dịch 76

Bảng 3.5 Một số hàm BAPI 78

Bảng 4.16 Các giao dịch sử dụng trong chương trình 84

Trang 8

MỞ ĐẦU

Để gia tăng giá trị sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, điều tiên quyết

là hệ thống các công ty xí nghiệp phải ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển tốt các mối quan hệ với khách hàng, sử dụng nguồn lực hiệu quả và tối

ưu Mặt khác, để có được các chỉ thị điều hành xí nghiệp hiệu quả thì thông tin về toàn bộ hoạt động của xí nghiệp (nhân công, nguyên liệu, sản phẩm, kế toán, khách hàng, ) là tối quan trọng Do đó, hệ thống ứng dụng phần mềm xí nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc cập nhật thông tin hoạt động của xí nghiệp, từ đó cung cấp thông tin trợ giúp việc điều hành các hoạt động của xí nghiệp Với mong muốn tìm hiểu về phần mềm cho xí nghiệp và ứng dụng phần mềm xí nghiệp, trong luận văn này sẽ nghiên cứu về gói phần mềm tích hợp xí nghiệp rất thành công SAP - hiện đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Mục đích là có được hiểu biết

về SAP và cách ứng dụng, tùy biến SAP để triển khai trong thực tế Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là gói phần mềm SAP và ứng dụng cũng như cách tùy biến SAP phục vụ toàn bộ các hoạt động của xí nghiệp Kết quả nghiên cứu sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu và phát triển SAP để đưa vào ứng dụng phục vụ cho các ngành kinh tế

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn gồm có các nội dung

chính sau:

Chương 1: Hệ xí nghiệp

Chương này nghiên cứu tổng quan về bối cảnh hình thành và phát triển của

hệ xí nghiệp Tìm hiểu về hệ xí nghiệp, các đặc trưng của hệ xí nghiệp cùng sự xuất hiện hệ hoạch định tài nguyên xí nghiệp (ERP) cho nhu cầu tích hợp xí nghiệp đồng thời cũng lĩnh vực phát triển của phần mềm SAP

Chương 2: Phần mềm tích hợp SAP

Nội dung nghiên cứu hệ tích hợp xí nghiệp SAP R/3, tìm hiểu các đặc trưng của SAP R/3 về kiến trúc, hoạt động phục vụ các yêu cầu tích hợp xí nghiệp đã được đặt ra trong chương 1

Chương 3: Ngôn ngữ lập trình ABAP

Trang 9

Trên cơ sở nắm được kiến trúc và hoạt động của SAP, chương này đi sâu nghiên cứu về ngôn ngữ lập trình ABAP - công cụ xây dựng và phát triển SAP Cùng với phát triển ứng dụng SAP là việc cấu hình SAP cho các yêu cầu tích hợp

cụ thể của từng xí nghiệp về lĩnh vực ứng dụng và quy mô của xí nghiệp cũng là vấn đề được bàn tới Để đáp ứng yêu cầu tích hợp cũng sự phát triển của các xí nghiệp ngày nay, chương này cũng trình bày khả năng tích hợp giữa các hệ thống

SAP với nhau cũng như giữa hệ thống SAP với các hệ thống phần mềm xí nghiệp

và các bạn

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2007

Trang 10

xí nghiệp cũng tiếp tục phát triển để đáp ứng các yêu cầu đó

1.1 Cơ sở hình thành và sự phát triển

1.1.1 Thời kỳ tính toán tập trung

Việc ứng dụng máy tính trong xí nghiệp chỉ bắt đầu từ những năm 50 và đầu những năm 60 với sự phát triển của tính toán máy tính lớn (mainframe) Hệ thống

máy tính lớn dựa trên một máy đơn được sử dụng chủ yếu cho xử lý dữ liệu

Đến những năm 70, xuất hiện máy vi tính làm tăng khả năng tính toán phi tập trung cùng với việc chuẩn hóa các gói phần mềm Trong suốt những năm 70, các xí nghiệp đã nhận thức được tiềm lực chiến lược của công nghệ thông tin, khả năng của công nghệ thông tin trong việc thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của các xí nghiệp

1.1.2 Thời kỳ tính toán phân tán

Đến những năm 80, sự xuất hiện của tính toán phân tán trên cơ sở máy tính

cá nhân trợ giúp việc phổ biến thông tin trong toàn bộ xí nghiệp Trong những năm

90, các quy trình kinh doanh trong xí nghiệp được xem xét lại và ngườ ta tin tưởng

rằng hệ xí nghiệp và quy trình xí nghiệp sẽ cùng với nhau giải quyết nhiều thách thức tích hợp mà các xí nghiệp đang phải đối mặt

1.1.3 Yêu cầu về tích hợp ứng dụng

Tóm tắt lịch sử công nghệ thông tin cho thấy bản chất của cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin là chuyển từ tính toán tập trung sang tính toán phân tán Hệ thống thông tin tập trung ban đầu từ những năm 60 đến các năm 70

Trang 11

được triển khai chỉ hỗ trợ chức năng ứng dụng đơn, như hệ thống kế toán hay hệ thống sản xuất Tuy nhiên từ những năm 80, đòi hỏi và áp lực lên hệ thống công nghệ thông tin tăng nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai các chiến lược của xí nghiệp tốt hơn và tăng khả năng cạnh tranh Thuật ngữ “islands of automation” để chỉ các ứng dụng chạy riêng rẽ Trong thời gian này, các ứng dụng riêng rẽ thường được đặt chung vào một hệ thống để quản lý và tập trung dữ liệu tốt hơn Sự tích hợp theo cách này chỉ là tích hợp về mặt kỹ thuật mà còn được gọi là “spaghetti

integration”-tích hợp công cụ

Kiểu tích hợp công cụ sinh ra các vấn đề của chính nó Việc kết nối giữa các lĩnh vực có các chức năng khác nhau trong xí nghiệp là không dễ và đòi hỏi một lượng lớn mã máy tính để cho phép các chức năng khác nhau có thể "nói chuyện" được với nhau Hơn nữa, khối mã lệnh cần bổ sung này sẽ phát sinh các lỗi hệ thống, luồng thông tin không nhất quán và cần một nguồn tài nguyên lớn để làm việc này Do đó, cuối những năm 80 đầu những năm 90, các tổ chức đã có kinh nghiệm trong vấn đề tích hợp hệ thống công nghệ thông tin Cần thiết có một sự đổi mới để việc tích hợp hệ thống công nghệ thông tin chi phí giảm và tốn ít công sức hơn

1.1.4 Gói phần mềm hoạch định tài nguyên xí nghiệp

Nhằm đáp ứng yêu cầu tích hợp của các xí nghiệp, các nhà cung cấp phần mềm đã cho ra các ứng dụng đơn có thể đáp ứng một số lĩnh vực khác nhau qua việc chia sẻ cơ sở dữ liệu Các gói phần mềm mới này được gọi là Hệ hoạch định tài nguyên xí nghiệp Gói phần mềm mới này hứa hẹn một sự tích hợp “nguyên một khối”

Lĩnh vực đầu tiên là xử lý dữ liệu Xử lý dữ liệu cho phép các tổ chức cải thiện hiệu quả hoạt động bằng cách tự động các quy trình thông tin Lĩnh vực thứ hai là Hệ thông tin quản lý Trong những năm 70, hệ thông tin quản lý cho phép các

xí nghiệp tăng hiệu quả quản lý bằng cách thỏa mãn các yêu cầu thông tin Cuối cùng, với sự phát triển của tính toán phân tán, trong những năm 80 sự xuất hiện của

hệ thống thông tin chiến lược Mục tiêu của giai đoạn này là cải thiện tính cạnh tranh bằng cách thay đổi bản chất và cách quản lý kinh doanh

1.1.5 Các hệ thống hoạch định tài nguyên

Trang 12

Người ta đưa ra giả thuyết là gói hệ xí nghiệp là mở rộng của gói Hoạch định yêu cầu nguyên liệu (MRP) và gói Hoạch định tài nguyên sản xuất (MRPII) với sự nâng cao chức năng tốt hơn Để xác định vị trí của các hệ thống này, chúng ta tìm hiểu về gói MRP trong những năm 60 Theo thuật ngữ đơn giản nhất, hệ thống MRP liên quan đến tính toán khối lượng vật liệu và số lần yêu cầu để cải tiến hoạt động trong một tổ chức sản xuất Hệ thống MRPII được mở rộng dựa trên khái niệm này trong suốt những năm 70 và các chức năng mới được hoàn thành như: kế hoạch bán hàng, khả năng quản lý và lập lịch Tuy nhiên, trong suốt những năm 80 các công ty bắt đầu nhận ra rằng lợi nhuận và thỏa mãn khách hàng mới là mục tiêu của toàn bộ công ty Mở rộng sản xuất, hoàn thiện các chức năng như: tài chính, bán hàng, phân phối và nguồn lực con người Từ đó sinh ra khái niệm sản xuất tích hợp tính toán (CIM) là bước cách mạng tiếp theo tiến đến hệ xí nghiệp Vào đầu những năm 90, với sự phát triển của các chức năng gói và yêu cầu tích hợp tổ chức tốt hơn, gói Hệ xí nghiệp bắt đầu xuất hiện

1.1.6 Đi tìm định nghĩa hệ xí nghiệp (ES)

Để hiểu hệ xí nghiệp một cách rõ ràng, chúng ta cần hiểu định nghĩa của hệ xí nghiệp Davenport [6] cho rằng ES là các gói phần mềm hứa hẹn sự tích hợp một khối cả xí nghiệp và nhà cung cấp và khách hàng Có nhiều nghiên cứu sử dụng thuật ngữ ERP để định nghĩa hệ xí nghiệp Davenport cho rằng các gói phần mềm này được đề cập đến như là hệ kinh doanh mà không phải là hệ thống kỹ thuật hay sản xuất, do đó ông ta đưa ra thuật ngữ “enterprise system” Ý tưởng này cũng được Markus [6] ủng hộ, ông ta cho rằng lĩnh vực cần phải chuyển từ khái niệm sản xuất ban đầu của những năm 70, 80 và các năm đầu 90 thành tư tưởng tích hợp xí nghiệp rộng

Tuy nhiên, việc định nghĩa ES không dừng lại ở đó Với sự phát triển của công nghệ mới và yêu cầu điều chỉnh quy trình kinh doanh tốt hơn, định nghĩa mới được đưa ra: gói Hệ xí nghiệp hướng Internet (Internet-oriented ES), gói Hệ xí nghiệp mở rộng (Extended ES) và Hệ thống quản lý thông tin xí nghiệp mở rộng (Enterprise-Wide Information Management Systems) Do đó mỗi lĩnh vực khi đó có một định nghĩa ES khác nhau

Trang 13

Thực ra, một số người chỉ rõ rằng gói ES không có điểm chung với các hệ thống trước đó (là MRP và MRPII) khác với lời hứa hẹn tích hợp các quy trình xí nghiệp bằng một hệ thống phần mềm đơn Thuật ngữ ES có thể là định nghĩa phù hợp nhất cho đến nay

Gói ES nên được định nghĩa bằng khả năng tích hợp các quy trình và thông tin

xí nghiệp liền một khối

Năm 1998, xấp xỉ 40% các công ty với lợi tức hàng năm hơn 1 tỷ đôla đã triển khai hệ thống ES (Caldwell & Stein, 1998) Trong một cuộc khảo sát được thực hiện bởi AMR Research [6], kết quả khảo sát từ 800 công ty ở Mỹ cho thấy 43% ngân sách của các công ty được sử dụng cho gói ES và hơn một nửa trong số các công ty này đã triển khai hệ thống ES Ước lượng công nghiệp ES có giá trị khoảng trên 66 tỷ đô la năm 2003 (AMR Research, 1999a) ES nhanh chóng trở thành phần chính yếu của đầu tư IT thường xuyên

Lý do cho sự quan tâm của các tổ chức và sự lớn mạnh của ES bắt nguồn từ sự chuẩn bị để thay thế các hệ thống cũ để đối phó với vấn đề Y2K, tạo cho công ty cạnh tranh tốt hơn và khả năng cho phép công ty cạnh tranh ở phạm vi toàn cầu

Theo Stefanou [6], hiện tượng mở rộng toàn cầu như thuê ngoài, liên danh, liên minh, và hợp tác giữa các công ty tạo ra một dạng tổ chức mới được gọi là “virtual enterprise” Vấn đề Y2K cũng đóng vai trò là lý do để triển khai ES cho phép các tổ chức sử dụng thách thức Y2K xác nhận việc tích hợp xí nghiệp và triển khai ES Với sự hứa hẹn tích hợp một khối, các tổ chức có thể khẳng định đầu tư cho ES, tin tưởng rằng hệ thống là câu trả lời cho vấn đề tích hợp hệ thống thông tin Để đáp lại, các công ty phần mềm cung cấp nhiều công cụ ứng dụng hứa hẹn tích hợp cho các loại hình công ty Nhận thức được bản chất của các gói của các nhà cung cấp cùng những hứa hẹn mà các gói này mang lại đòi hỏi sự xem xét các đặc tính chung tạo nên sự khác biệt của gói ES

1.2 Định nghĩa hệ xí nghiệp

Theo định nghĩa của P5EE [10], hệ xí nghiệp gồm có Phần mềm tích hợp xí nghiệp (Enterprise Software) chạy trên Nền tảng xí nghiệp (Enterprise Platform) Phần mềm tích hợp xí nghiệp là phần mềm giải quyết các vấn đề của xí nghiệp Phần mềm này được viết theo Kiến trúc phần mềm xí nghiệp (Enterprise Software

Trang 14

Architecture) ESA là kiến trúc phần mềm cho phép phần mềm thể hiện các thuộc tính của ES khi chạy trên nền tảng xí nghiệp Do đó, có thể hiểu định nghĩa hệ xí nghiệp như sau:

Hệ xí nghiệp = Nền tảng xí nghiệp + Phần mềm xí nghiệp

Hệ xí nghiệp = Nền tảng xí nghiệp + (Phần mềm giải quyết các vấn đề của xí nghiệp + Kiến trúc phần mềm xí nghiệp)

Nền tảng xí nghiệp gồm các tài nguyên mạng và tài nguyên tính toán cho

phép phần mềm xí nghiệp thực hiện đầy đủ các thuộc tính của hệ xí nghiệp

1.2.1 Các thuộc tính của hệ xí nghiệp

Có thể định nghĩa hệ xí nghiệp là hệ thống có các thuộc tính sau đây:

Thuộc tính Ý nghĩa

Tính sẵn sàng Đảm bảo dịch vụ, tài nguyên luôn sẵn sàng phục vụ

Khả năng mở rộng Khả năng đảm bảo chất lượng dịch vụ khi yêu cầu phục vụ tăng

Độ tin cậy

Đảm bảo tính toàn vẹn và nhất quán của ứng dụng và tất cả các giao dịch của ứng dụng Khả năng cung cấp dịch vụ tin cậy đòi hỏi phụ thuộc vào phần cứng, mạng, hệ điều hành, hệ thống lưu trữ và ứng dụng phần mềm

Tính bảo mật Khả năng phân quyền người dùng truy cập vào các dữ liệu và chức

năng của ứng dụng

Tính tương tác Khả năng chia sẻ dữ liệu và giao tiếp với hệ thống khác

Tính bảo quản Khả năng lưu trữ dữ liệu và tài nguyên hệ thống sẵn sàng phục vụ

truy cập bất mọi nơi trong xí nghiệp

Khả năng bảo trì Khả năng sửa lỗi mà không làm ảnh hưởng đến hệ thống khác hoặc

thành phần khác

Tính mở rộng Khả năng thêm hoặc sửa các chức năng mà không làm ảnh hưởng

đến các chức năng hiện tại

Tính quản lý

Khả năng quản lý hệ thống đảm bảo hệ thống liên tục hoạt động tốt

và đảm bảo scalability, reliability, availability, performance và security

Tính khả chuyển Khả năng của phần mềm chạy trên nhiều nền tảng phần cứng và hệ

điều hành khác nhau

Khả năng truy cập Khả năng truy cập các chức năng hệ thống qua các user agent khác

nhau bằng ngôn ngữ khác nhau

Bảng 1.1 Các thuộc tính của hệ xí nghiệp

Trang 15

1.2.2 Các vấn đề của xí nghiệp

Trong quá trình sản xuất và kinh doanh Các xí nghiệp thường gặp các vấn đề về

hệ thống thông tin điều hành toàn bộ hoạt động của xí nghiệp Các vấn đề quan trọng mà các xí nghiệp lớn cần phải giải quyết gồm có:

- Vấn đề tương tác giữa các hệ thống hiện có của các phòng ban khác nhau

- Vấn đề tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống có công nghệ lưu trữ và hệ thống tính

toán khác nhau hoàn toàn

- Nhu cầu truy cập dữ liệu bất kỳ tại bất cứ vị trí nào trong xí nghiệp

- Truy cập vào bất cứ chức năng chương trình tại bất cứ đâu trong xí nghiệp

- Hỗ trợ phân tán về mặt địa lý trên cơ sở người dùng

- Hỗ trợ nhiều giao dịch lớn, số lượng lớn và lưu trữ dữ liệu lớn

- Hỗ trợ thay đổi trong quy trình kinh doanh

- Tự động các quy trình kinh doanh giữa các đơn vị trong xí nghiệp

- Duy trì bảo mật dữ liệu

1.2.3 Phân loại hệ xí nghiệp

Trong xí nghiệp lớn có nhiều kiểu hệ thống, việc phân loại các kiểu hệ thống giúp cho việc lựa chọn hệ tích hợp thích hợp cho từng kiểu hệ thống:

- Hệ giao dịch: người dùng nhập dữ liệu vào hệ thống hướng giao dịch và tất cả

người dùng khác thấy kết quả ngay lập tức Các hệ thống này phải có khả năng kiểm soát giao dịch cục bộ và phân tán mạnh để đảm bảo nhiều thay đổi trên có thể thực hiện hoặc hủy bỏ toàn bộ Hệ này còn được gọi là xử lý giao dịch trực tuyến(OLTP)

- Hệ báo cáo: hệ phục vụ người dùng cần xem số liệu báo cáo của xí nghiệp ở

dạng văn bản hoặc đồ họa theo yêu cầu Hệ có công cụ phía server và khả năng

hỗ trợ kho chứa dữ liệu để thực hiện chuyển đổi, nhập hoặc xuất dữ liệu, cập nhật thời gian thực hoặc cập nhật theo lô, khả năng đồng bộ 2 chiều với các kho chứa nhỏ hơn (data-warehouse => data-mart) Các hệ báo cáo gồm: xử lý phân tích trực tuyến (OLAP), hệ thông tin điều hành (EIS), hệ trợ giúp quyết định (DSS), kho chứa dữ liệu (Data Warehouse), Data Mart

- Hệ lô: Các hệ này thường chạy theo lịch được định sẵn phụ thuộc vào các sự

kiện bên ngoài và các tác vụ khác Các hệ này thường phải xử lý một số lượng

Trang 16

lớn dữ liệu Các Tiến trình xử lý lô (batch processes) được phân tán để tối đa lượng dữ liệu được đưa vào hoặc để truy cập tài nguyên phân tán Hệ lô thường

là thành phần của hệ báo cáo hoặc hệ giao dịch

- Hệ thời gian thực (hoặc hệ thống tựa thời gian thực): thường được sử dụng để

điều khiển, giám sát hoặc liên lạc với các thiết bị hoạt động trong thời gian thực

Hệ thời gian thực yêu cầu đảm bảo thời gian đáp ứng rất nghiêm ngặt Các ví dụ

về hệ tựa thời gian thực: "inetd","named", và "snmpd" được viết bằng C, và

"lbnamed" được viết bằng Perl Hệ tựa thời gian thực thường là thành phần của

hệ thống lớn hơn như hệ báo cáo hay hệ giao dịch Hệ thời gian thực còn được gọi là hệ hướng sự kiện

1.3 Các đặc trưng của hệ xí nghiệp

Theo một nghiên cứu do Markus và Tanis [6] thực hiện, có một số đặc tính của ES cụ thể phân biệt với các gói phần mềm khác Các đặc tính phân biệt này gồm có: sự tích hợp, bản chất của gói ES, thực tiễn kinh doanh, yêu cầu đóng gói,

và bản chất sự tiến triển của các hệ thống này Chúng ta sẽ xem xét qua một số đặc

tính

1.3.1 Tích hợp thành một hệ thống đồng nhất

Nhìn từ góc độ tích hợp, một trong các chức năng chính của ES để so sánh với tất cả các tích hợp công nghệ trước đó là sự hứa hẹn "tích hợp thành một khối đồng nhất" tất cả thông tin của toàn bộ tổ chức ES là gói phần mềm thương mại được mua từ thị trường các nhà cung cấp Chúng khác các công cụ tích hợp trước

đó theo cách là chúng không được phát triển bởi các xí nghiệp mà được tùy biến theo yêu cầu cụ thể của xí nghiệp

1.3.2 Công cụ hỗ trợ triển khai

Một đặc tính khác duy nhất của ES là bộ các “thực tiễn kinh doanh tốt nhất” giúp xí nghiệp triển khai hệ xí nghiệp ES được xây dựng để hỗ trợ các quy trình kinh doanh chung mà về cơ bản có thể khác cách tổ chức điều hành công việc kinh doanh trong thực tế ES được xây dựng để đáp ứng yêu cầu chung của nhiều xí nghiệp Theo khía cạnh kỹ thuật thì thuật ngữ “tích hợp liền một khối” là khó được đảm bảo khi xem xét ES Markus và Tanis tin rằng phần mềm được tích hợp nhưng mục tiêu của xí nghiệp đối với gói ES có thể là không Ví dụ, một số công ty có thể

Trang 17

sử dụng sự pha trộn sản phẩm của các nhà cung cấp ES khác nhau để nhận được phiên bản tích hợp của họ Cuối cùng, giống như tất cả các hệ thống IT, ES luôn phát triển và thay đổi Trong suốt những năm 80, hệ thống MRP được phát triển để chạy trên kiến trúc mainframe trong khi gói ES hiện tại thì chạy trên kiến trúc client/server Trong tương lai, ES sẽ tập trung vào đặc tính tích hợp giữa các xí nghiệp

Trên đây là các đặc tính chung giúp chúng ta hiểu bản chất của ES Các đặc tính của gói ES cũng giúp chúng ta xác định gói ES sẵn có trên thị trường

1.4 Hướng phát triển của hệ xí nghiệp

1.4.1 Mở rộng gói ES

Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu AMR, thị trường hệ xí nghiệp năm

1998 có giá trị 16 tỷ đô la, và đến cuối năm 2003, giá trị của thị trường này tăng lên trên 60 tỷ đô la Động lực phát triển của sự tăng trưởng này là bắt nguồn từ việc mở rộng phạm vi họat động, ứng dụng tăng chức năng của gói sản phẩm Theo ước tính của Viện nghiên cứu AMR, doanh số bán hàng hàng năm của công cụ mở rộng của

hệ xí nghiệp sẽ tăng khoảng 70% đến cuối năm 2003 và đến gần 14 tỷ đô la

Lý do chính cho việc mở rộng hệ xí nghiệp liên quan đến bản chất của gói hệ

xí nghiệp truyền thống Với sự thay đổi không ngừng trong quy tắc tiêu chuẩn kinh doanh, gói ES tiếp tục tăng trưởng vế sự đa dạng và chức năng để phù hợp với yêu cầu phát sinh của các xí nghiệp Việc mở rộng này cần phải được xảy ra một cách hữu cơ để đảm bảo tính toàn vẹn tích hợp của gói ES được duy trì Có 4 loại mở rộng:

(1) Quản lý quan hệ khách hàng (CRM),

(2) Quản lý dây chuyền cung cấp (SCM),

(3) Kinh doanh trên mạng (e-business)

(4) Kết xuất báo cáo thông minh (BI)

Theo Greenberg, hệ quản lý quan hệ khách hàng "gồm toàn bộ các tập quy trình và công nghệ cho việc quản lý các mối quan hệ với các khách hàng hiện tại và các khách hàng tiềm năng và các đối tác kinh doanh thông qua tiếp thị, bán hàng và dịch vụ không kể các kênh thông tin Mục đích của CRM là tối ưu sự thỏa mãn của các khách hàng và đối tác bằng cách xây dựng các mối quan hệ có thể tốt nhất"

Trang 18

Nhiều nhà cung cấp gói ES đã bắt đầu nhận ra rằng việc thỏa mãn khách hàng là nhân tố cốt lõi hoặc là chức năng của toàn bộ gói ES Davenport dự báo rằng các nhà cung cấp ES hàng đầu đang thêm các chức năng và phần mềm dịch vụ khách hàng vào gói phần mềm của họ Theo viện nghiên cứu AMR, thị trường CRM tiến đến con số 1,4 tỷ đô la vào năm 1997 và tiến đến 16,8 tỷ đô la vào năm 2003 là minh chứng rõ ràng cho thấy các nhà cung cấp ES tiếp tục tích hợp khả năng CRM vào trong gói phần mềm của họ

Mục tiêu của SCM là để "cắt giảm chi phí bằng cách giảm thời gian dư thừa, giảm hàng hóa tồn kho, để cải thiện dịch vụ bằng cách đem lại cho khách hàng nhiều lựa chọn, phân phối hàng nhanh hơn, minh bạch và rõ ràng hơn trong đặt hàng" Gói ES khi được thêm công cụ SCM có thể mở rộng hệ thống nội bộ ra khâu cung cấp hàng của tổ chức Theo Norris et al [6], gói ES với chức năng quản lý dây chuyền cung cấp có khả năng mở rộng tốt hơn cho xí nghiệp Các thành phần này gồm:

(1) Sự thay thế dây chuyền cung cấp bằng sự tích hợp sản phầm và tiến trình phân phối sử dụng thời gian thực để cải thiện sự hồi đáp khách hàng

(2) Hệ thống mua hàng điện tử (e-procurement dựa) trên công nghệ web để

hỗ trợ quy trình mua sẵm hàng hóa chính như: tiêu chuẩn yêu cầu, nguồn hàng, hợp đồng, đặt hàng, và thanh toán

(3) Kế hoạch cộng tác là luồng công việc B2B qua nhiều xí nghiệp để đồng

bộ kế hoạch sản xuất, luồng sản xuất và tối ưu tài nguyên

(4) Phát triển sản phẩm cộng tác liên quan đến việc ứng dụng kinh doanh điện tử để đảm bảo sự thành công của sản phẩm và thời gian đưa ra thị trường

(5) Hậu cần điện tử (E-logistics) dựa trên công nghệ web được sử dụng để hỗ trợ kho hàng và quản lý quy trình vận chuyển

(6) Cung cấp qua web (supply webs): Mục đích của thành phần này là để tích hợp dây chuyền cung cấp của nhiều người mua và người bán để tạo nên cộng đồng thương mại ảo trong toàn bộ hệ thống dây chuyền cung cấp Nhiều nhà cung cấp gói ES và SCM ngày nay đã hợp thành tổ chức đã kết hợp các chức năng SCM và các quy trình kinh doanh

Trang 19

1.4.2 Phát triển theo các chuẩn công nghệ mới

Không chỉ có công nghệ web cho phép gói ES tích hợp với SCM và CRM

mà còn cho phép sự cộng tác giữa các xí nghiệp để tích hợp dây chuyền có giá trị lớn hơn Gói ES với công nghệ web cho phép các tổ chức có hệ thống kinh doanh qua mạng Hai công nghệ khác, hứa hẹn chức năng tốt hơn và phong phú hơn cho gói ES cũng đã xuất hiện như là kết quả của công nghệ web Đó là (1)

componentisation và (2) bolt-on tools Nhiều tổ chức đang sử dụng công cụ thành phần với cố gắng đưa ra sự mềm dẻo hơn cho gói ES Nghĩa là họ phát triển lại các gói sử dụng công cụ phát triển đối tượng, giao thức giao diện thành phần như CORBA, chuẩn tích hợp như là XML Các xí nghiệp có thể tùy biến gói đề phù hợp với nhu cầu của họ, chứ không chấp nhận các gói chuẩn và tập các “best practices”

có sẵn Do đó các tổ chức không phải mua toàn bộ gói mà có thể chỉ một phần của gói phù hợp với gói của các nhà cung cấp khác Một cách tiếp cận khác để tích hợp

ES là thông qua các công cụ bolt-on Có các công cụ lớp giữa hay các công cụ của hãng thứ 3 thay đổi gói ES cuả họ với các công nghệ khác để có được sự tích hợp tốt hơn

1.4.3 Phát triển công cụ kết xuất báo cáo thông minh

Một trong những vấn đề của ES được đưa ra là ES không có khả năng cung cấp cho người quản lý dữ liệu có thể hỗ trợ ra quyết định và phân tích phán đoán Nếu thiếu các công cụ hỗ trợ ra quyết định có nghĩa là các gói ES truyền thống không khác gì các cơ sở dữ liệu tập trung lớn Theo Davenport, "Hầu hết các công

ty ngày nay cố gắng trích xuất dữ liệu từ gói của họ và chuyền cho công cụ báo cáo

và truy vấn, quản lý kho dữ liệu hoặc công cụ phân tích thống kê của hãng thứ 3."

Để có cách xử lý vấn đề này, các cố gắng đang được thực hiện để thêm các chức năng này vào gói ES trong tương lai Callaway nói về một số gói ES sử dụng công

cụ kinh doanh thông minh như Xử lý phân tích trực tuyến (OLAP) và Hệ trợ giúp quyết định (DSS) để chuyển dữ liệu thành kiến thức và cho phép các nhà điều hành

có quyết định tốt hơn Theo viện nghiên cứu AMR, lĩnh vực BI sẽ đáng giá hàng triệu đô la đến cuối năm 2003, và sẽ sinh lợi tức lớn cho các nhà cung cấp ES thông qua việc cấp phép các phần mềm mới Davenport mong đợi lĩnh vực quản lý tri thức

sẽ trở thành một thành phần của gói ES Kho tri thức dưới dạng kho chứa dữ liệu

Trang 20

và khai phá dữ liệu sẽ trở thành một phần của gói ES để hỗ trợ tốt hơn việc xây dựng chiến lược và lợi thế cạnh tranh

Gói ES trong tương lai cần phải luôn chú ý đến cải tiến công nghệ và yêu cầu của các công ty Sự quan tâm đó sẽ tăng các chức năng của gói và tiếp tục mở rộng

ES Các nhà cung cấp cũng phải xác định mở rộng ra các lĩnh vực thị trường mới là cấp thiết để bảo đảm cho ES tiếp tục lớn mạnh và thịnh vượng

1.4.4 Phát triển phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các xí nghiệp vừa và nhỏ là một phần của thị trường Khoảng vài năm trước đây, các tổ chức triển khai ES thường là các công ty lớn có các cơ sở sản xuất như các công ty dược phẩm, dầu mỏ Cùng với sự xuất hiện của Internet, khó khăn trong triển khai nâng cấp hệ thống và giá thành giảm đi đáng kể Với Internet, từng người dùng đơn lẻ có thể truy cập vào dữ liệu và quy trình ES mà không cần đến ES client hay hỗ trợ kỹ thuật cho các client này Portal cũng giúp giảm giá thành của gói bằng cách cho phép người dùng thiết lập các "trung tâm" để trao đổi trực tuyến (ví dụ mySAP.com) Một giải pháp cơ bản khác cho vấn đề khó khăn trong triển khai nâng cấp và giá thành cao là ứng dụng hosting Và giá thành được tính theo cách là giá thành trên một đơn vị giao dịch

Các công ty vừa và nhỏ với số vốn nhỏ là lĩnh vực lý tưởng cho các nhà cung cấp và triển khai ES Tương lai của gói ES do đó liên quan đến cấu thành công nghệ

để đáp ứng yêu cầu thay đổi trong các xí nghiệp Với sự tập trung vào tích hợp dây truyền cung cấp từ lợi ích của công nghệ mang lại, việc tích hợp giữa các xí nghiệp hứa hẹn là phần thưởng tiếp theo Gói ES được mong đợi như là kho dữ liệu tri thức, hỗ trợ ra quyết định và thông minh Gói ES sẽ không còn là riêng của các tập doàn lớn Thị trường các xí nghiệp vừa và nhỏ hứa hẹn mang lại lợi nhuận lớn nhất trong thời gian tới

1.5 Hệ hoạch định tài nguyên xí nghiệp (ERP)

Xuất hiện từ những năm 1960, hệ thống thông tin tích hợp đã được mở rộng phạm vi từ hệ thống theo dõi thống kê cho đến hệ thống Hoạch định yêu cầu nguyên liệu (MRP) và cuối cùng là đến hệ thống Hoạch định tài nguyên xí nghiệp (ERP) Ngày nay, hầu hết các tổ chức tích hợp một phần hoặc tất cả các chức năng của xí nghiệp để có được hiệu quả và năng suất cao nhất Bắt đầu từ năm 1972, SAP đã trở

Trang 21

thành công ty cung cấp phần mềm ứng dụng xí nghiệp phát triển lớn nhất trên thế giới

ERP là quy trình tích hợp tất cả các chức năng xí nghiệp và các quy trình trong

xí nghiệp Việc tích hợp này mang lại các lợi ích sau:

- Một đầu nhập dữ liệu sẽ giúp giảm dư thừa dữ liệu và tiết kiệm thời gian nhập liệu của nhân viên và do đó giảm được công việc và chi phí (Jacobs &

Whybark, 2000)

- Sự tập trung hóa của thông tin, việc ra quyết định và kiểm soát dẫn đến tăng hiệu quả trong hoạt động và tăng năng suất, cũng như tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong tổ chức Điều này đặc biệt đúng đối với các tập đoàn

đa quốc gia mà với các tập đoàn này, việc tích hợp mang lại sự liên lạc và hợp tác tốt hơn trên khắp thế giới

- Việc chia sẻ một cơ sở dữ liệu tập trung hóa cung cấp cho người quản lý thông tin cập nhật và chính xác để có được các quyết định kinh doanh đúng đắn Hơn nữa giảm được dư thừa dữ liệu sẽ cải thiện sự toàn vẹn của dữ liệu

- Tích hợp chức năng thống nhất tất cả các loại dữ liệu như: dữ liệu về tài chính,

dữ liệu bán hàng, dữ liệu sản xuất từ đó giảm giá thành của sản phẩm bán ra ERP đặc biệt quan trọng đối với các công ty có quan hệ mật thiết với khách hàng và nhà cung cấp Công ty sử dụng dữ liệu điện tử trao đổi để xử lý các giao dịch bán hàng bằng hệ thồng phần mềm Do đó, việc triển khai ERP đặc biệt có ích với các công tác như nhà máy sản xuất sản xuất hàng loạt các sản phẩm với ít thay đổi (Brady, Monk & Wagner, 2001) ERP do đó cung cấp cho xí nghiệp lợi thế cạnh

tranh

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của thương mại điện tử và kinh doanh trên mạng cùng với việc ngày càng phổ biến các khái niệm SCM, CRM, mua hàng điện tử, và thị trường điện tử, ngày càng nhiều xí nghiệp tích hợp hệ thống ERP của họ với các ứng dụng B2B mới nhất Một số nhà cung cấp phần mềm xí nghiệp lớn là: Oracle, PeopleSoft, J.D Edwards, và SAP

Đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của các xí nghiệp, ứng dụng phần mềm trong quản lý hoạt động xí nghiệp cũng phát triển theo hướng tích hợp toàn bộ

Trang 22

các ứng dụng trong xí nghiệp thành một hệ thống phần mềm quản lý thống nhất Hệ thống này quản lý thống nhất các hoạt động của xí nghiệp như: hoạch định tài

nguyên, quản lý dây chuyền cung cấp, quản lý quan hệ khách hàng được gọi là hệ xí nghiệp Hệ xí nghiệp giải quyết các vấn đề của xí nghiệp bằng khả năng tích hợp

ứng dụng “liền một khối” và tùy biến theo yêu cầu triển khai của xí nghiệp Nắm bắt được yêu cầu của thị trường, SAP đã cung cấp ra thị trường gói phần mềm tích hợp xí nghiệp (SAP R/3) đáp ứng yêu cầu cầu tích hợp và tùy biến của xí nghiệp Trong chương tiếp theo sẽ tìm hiểu gói phần mềm tích hợp xí nghiệp R/3 của SAP

Trang 23

CHƯƠNG 2 GÓI PHẦN MỀM TÍCH HỢP XÍ NGHIỆP SAP

Trước nhu cầu tích hợp xí nghiệp ngày càng tăng, SAP đã có sản phẩm phần mềm xí nghiệp đáp ứng được yêu cầu của thị trường Để tìm hiểu tại sao gói phần mềm SAP có thể đáp ứng được yêu cầu tích hợp của xí nghiệp và được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực kinh tế, chương này sẽ giới thiệu gói phần mềm tích hợp SAP R/3 Tiếp theo sẽ tìm hiểu kiến trúc, hoạt động R/3 và nghiên cứu sản phẩm mới nhất của SAP là SAP Netweaver Phần mềm R/3 là sản phẩm rất thành công của SAP nên trong toàn bộ luận văn, thuật ngữ SAP nếu không được dùng để nói đến công ty SAP thì được dùng để nói đến phần mềm SAP R/3

2.1 Lịch sử phát triển

2.1.1 Giới thiệu SAP AG

Công ty cổ phần SAP (SAP AG viết tắt của tiếng Đức SAP Aktiengesellschaft)

do 5 kỹ sư của IBM sáng lập năm 1972 tại Mannheim nước Đức SAP là viết tắt của

“Systemanalyse und Programmentwicklung” tạm dịch là Phân tích hệ thống và phát triển chương trình

Sau đó, công ty được đổi tên thành “Systeme, Anwendungen und Produkte in

der Datenverarbeitung“ nghĩa là Hệ thống, ứng dụng và sản phẩm trong xử lý dữ liệu và trụ sở công ty được chuyển về Walldorf nước Đức

Mục đích của SAP là tích hợp tất cả các chức năng của xí nghiệp trong một

tổ chức để từ đó sự thay đổi trong một quy trình kinh doanh sẽ được tự động lập tức phản ánh bởi các cập nhật trong các quy trình liên quan Gói phần mềm mang tích chất đổi mới và cách mạng triển khai đa ngôn ngữ (hơn 20 ngôn ngữ vào năm 2003 [8]), đa tiền tệ, đa quốc gia đã đưa SAP trở thành nhà cung cấp phần mềm xí nghiệp lớn nhất thế giới

2.1.2 Các phiên bản của phần mềm SAP

SAP R/1

Phần mềm tích hợp xí nghiệp đầu tiên của SAP là hệ thống kế toán có tên là

System RF sau đó được đổi tên là R/1 (R là viết tắt của “realtime data processing”) được phát triển năm 1973 để giải quyết bài toán sản xuất Sau đó, R/1 được thêm

Trang 24

các chức năng nhằm mở rộng sang thị trường gồm: dịch vụ, tài chính và ngân hàng

Ví dụ, module Asset Accounting được thêm vào năm 1977

SAP Netweaver

Phiên bản đầu tiên của SAP NetWeaver 04 có mặt trên thị trường năm 2004 SAP Netweaver ra đời đáp ứng yêu cầu cầu tích hợp trên nền tảng công nghệ mới hướng dịch vụ

2.2 Lợi ích của phần mềm tích hợp xí nghiệp SAP

2.2.1 Giảm chi phí

SAP là phần mềm tùy biến dạng bảng (table drive customization

software)[9] Phiên bản R/3 được triển khai cho khách hàng có các quy trình chuẩn được kích hoạt theo yêu cầu của khách hàng, nhiều tiến trình và tùy chọn khác không được kích hoạt Trong hệ thống SAP R/3 có khoảng hơn 10000 bảng kiểm soát việc thực hiện các quy trình này Do đó việc cấu hình SAP chỉ là tiến trình thay đổi các tham số của các bảng này để ứng dụng chạy đúng theo yêu cầu của khách

hàng

SAP mang đến cho các xí nghiệp khả năng tạo ra sự thay đổi nhanh chóng trong yêu cầu kinh doanh của họ bằng tập các chương trình chung Bảng tùy biến thay đổi các chức năng của chương trình thay vì theo cách cũ là thay đổi mã nguồn của chương trình Do đó khi cần thay đổi hay thêm mới các yêu cầu của xí nghiệp thì triển khai và kiểm thử được tiến hành rất nhanh

Trang 25

Nhiều phần mềm ứng dụng xí nghiệp cũng đã thấy được lợi ích của “tùy biến dạng bảng” nên cũng đang thay đổi phần mềm ứng dụng của họ dựa trên khái niệm

tùy biến dạng bảng này

Để giảm thiểu chi phí nâng cấp, các bảng cấu hình và chương trình chuẩn SAP không nên thay đổi quá nhanh Mục đích chính của việc sử dụng phần mềm ứng dụng xí nghiệp chuẩn của SAP là để giảm thời gian và tiền bạc cho việc phát triển và kiểm thử chương trình Do đó hầu hết các công ty tận dụng các tiện ích sẵn

có do SAP cung cấp

Sự khác nhau giữa cấu hình (configuration) và tùy biến (customization) Cấu hình sử dụng sự mềm dẻo sẵn có của phần mềm xí nghiệp để thay đổi cấu trúc dữ liệu và thay đổi giao diện Cấu hình sử dụng các công cụ có sẵn trong chương trình Tùy biến là việc thay đổi mã nguồn để tạo ra các chức năng không có

sẵn trong quá trình cấu hình Nên tránh tùy biến bằng cách sử dụng cấu hình do tùy biến có chi phí cao và nâng cấp phức tạp

2.2.2 Thực tiễn kinh doanh

Kiến trúc của SAP phản ánh "thực tiễn kinh doanh tốt nhất" (best business practices) Khi một công ty triển khai SAP thì công ty đó cần điều chỉnh các hoạt động của họ để mang lại hiệu quả và sức mạnh

Quá trình điều chỉnh các thủ tục theo mô hình SAP kiên quan đến việc thiết

kế lại quy trình kinh doanh là việc phân tích logic sự kiện và các mối quan hệ trong hoạt động hiện tại của xí nghiệp

2.2.3 Tích hợp xí nghiệp

Lợi ích lớn nhất của SAP R/3 so với các giải pháp khác là sự tích hợp thực

sự giữa các chức năng xí nghiệp như tài chính, bán hàng, mua hàng, sản xuất, và nguồn nhân lực

Phần mềm SAP có các tính chất: đơn nguyên, khả năng mở rộng, mở và mềm dẻo cho phép các công ty tùy biến phù hợp với yêu cầu cụ thể của mỗi công

ty SAP gọi cách tiếp cận triển khai này là "cấu hình theo yêu cầu" vì mỗi lần triển khai là khác nhau tùy thuộc vào khách hàng

Tuy nhiên giải pháp của SAP không dừng ở đó Việc tích hợp thông tin là chính yếu trong triết lý của SAP Và SAP coi việc tạo ra các công cụ để thực hiện

Trang 26

tích hợp thông tin thuận tiện là vấn đề tối quan trọng SAP cung cấp công cụ tích hợp và phương pháp để liên kết các hệ đang có với hệ phân tán để thông tin luôn sẵn sàng cho việc sử dụng

Các thành phần của hệ R/3 được tích hợp hoàn toàn với nhau Khi nhập dữ liệu thì dữ liệu đó được lưu tại cơ sở dữ liệu trung tâm và các thành phần R/3 chia

sẻ cơ sở dữ liệu này

2.2.4 Thông tin thời gian thực

SAP cung cấp thông tin thời gian thực được cập nhật từng phút

2.2.5 Triển khai đa quốc gia

Chuyển đổi đa tiền tệ toàn diện Hỗ trợ đa ngôn ngữ Tùy biến báo cáo và tài liệu theo từng quốc gia riêng Có hỗ trợ bản địa cho hầu hết các quốc gia (120 quốc

gia)[8]

2.2.6 Tính linh hoạt

Khách hàng có thể tùy biến chương trình để thực hiện các ”thực tiễn kinh doanh tốt nhất” Hệ thống cung cấp giao diện cần thiết để tích hợp với các phần mềm bên ngoài, cho phép tùy biến báo cáo và màn hình xử lý Hệ thống chạy trên

Cách tiếp cận

Các hệ thống thông tin truyền thống được sử dụng cho công việc kinh doanh ngày nay được phát triển để thực hiện một công việc cụ thể nào đó, cung cấp báo cáo, phân tích các sự kiện đã xảy ra Có một số hệ thống thực hiện trong thời gian thực, cập nhật thông tin và được sử dụng để điều khiển các sự kiện Một công ty thường có nhiều hệ thống riêng biệt để quản lý các quy trình khác nhau như: sản xuất, bán hàng, kế toán Mỗi hệ này có cơ sở dữ liệu riêng và hiếm khi trao đổi thông tin với nhau

Trang 27

SAP có cách tiếp cận khác SAP chỉ có một hệ thống thông tin duy nhất trong xí nghiệp Tất cả các ứng dụng truy cập vào dữ liệu chung Các sự kiện trong hoạt động nghiệp vụ thực tế sẽ khởi tạo các giao dịch Kế toán được thực hiện tự động bởi các sự kiện trong bán hàng Khi hàng được phân phối thì là sự kiện bán hàng Thời gian biểu sản xuất do việc bán hàng chi phối Cả hệ thống được thiết kế hoạt động thời gian thực chứ không mang tính lịch sử

Công nghệ client/server đa lớp

Cùng với sự sự giảm giá thiết bị và sự tiến bộ của công nghệ, năm 1990, SAP phát triển hệ thống R/3 thiết kế cho môi trường client/server Kiến trúc tính toán client/server cho phép người dùng truy cập hệ thống qua bất cứ máy tính nào được nối mạng ngay cả khi người dùng làm việc tại nhà R/3 sử dụng cấu hình phân cấp 3 lớp Lớp giao diện người dùng là giao diện đồ họa của máy client -là phương tiện đầu cuối để kết nối với ứng dụng và cơ sở dữ liệu Lớp quy trình nghiệp vụ là ứng dụng server thực hiện tất cả các chức năng xử lý các yêu cầu từ lớp giao diện người dùng, quản lý in ấn Lớp cuối cùng gồm máy tính trung tâm có cơ sở dữ liệu server Phiên bản cải tiến của kiến trúc 3 lớp là cấu hình client/server 4 lớp với sự bổ sung của lớp dịch vụ Internet

Mức cơ sở dữ liệu

Trang 28

R/3 hỗ trợ nhiều cơ sở dữ liệu quan hệ gồm Oracle, Infomix, Adabas D, DB2

và MS SQL server Truy cập dữ liệu sử dụng chuẩn R/3 cũng như các công cụ chuẩn SQL khác như: ODBC, duyệt SQL, SAP thống nhất chuẩn ANSI-SQL là ngôn ngữ thao tác cơ sở dữ liệu ANSI-SQL cho phép người dùng và chương trình lưu, hiển thị, truy cập dữ liệu các sản phẩm cơ sở dữ liệu khác

Mức desktop

Trong các phiên bản 4.0 đặc biệt là các phiên bản 4.5 và 4.6, R/3 đã sử dụng công nghệ ActiveX và Java để tích hợp vào PC

Mức giao thức truyền thông

SAP sử dụng các chuẩn giao thức truyền thông TCP/IP, SNA-LU6.2, CPIC

và OSF DCE/DME để truyền thông giữa các chương trình cũng như truyền thông mạng và truyền thông dữ liệu

Mức truyền thông bên ngoài

R/3 có giao diện EDI để tự động việc trao đổi dữ liệu giữa R/3 và các ứng dụng khác R/3 cũng sử dụng giao thức MAPI hỗ trợ chuẩn X.400 và giao thức SMTP Các chuẩn này cho phép người dùng R/3 kết nối với hệ thống email và

Internet

Trong phiên bản 3.1 đã đưa vào công nghệ BAPI hỗ trợ công nghệ thương mại điện tử triển khai trên Internet cho phép thực hiện các giao dịch kinh doanh giữa người dùng Internet và R/3

SAP R/3 có công nghệ ALE (Application Link Enabled) cho phép truyền thông giữa các ứng dụng phân tán giữa các hệ thống: R/3-R/3; R/3-R/2; R/3 và các

hệ thống ngoài

Các lập trình viên có thể sử dụng các môi trường phát triển phong phú: ANSI

C, C++, Visual Studio, Java, Delphi hoặc Visual Basic để tích hợp các ứng dụng bên ngoài với hệ thống R/3

Mức giao diện người dùng

Giao diện người dùng của R/3 dễ sử dụng và thân thiện với nhiều đối tượng người dùng Giao diện người dùng của SAP được gọi là SAPGUI tương thích với nhiều hệ điều hành: Windows 9x/NT, Motif, OS/2, Presentation Manager và

Trang 29

Macintosh SAPGUI có giao diện thống nhất và giống nhau và không phụ thuộc và

hệ điều hành cụ thể

SAPGUI có giao diện đồ họa hiện đại, theo các phần tử đồ họa giao diện chuẩn: push button, menu bar, toobar, hypertext links Chức năng và thiết kế đồ họa đồng nhất trong toàn bộ hệ thống nên dễ dàng đào tạo hướng dẫn cho nhiều đối tượng người dùng

Tùy theo ứng dụng của R/3 và công việc cần thực hiện mà màn hình giao diện đơn giản hoặc có nhiều phần tử đồ họa Người dùng cũng có thể tùy biến giao diện bằng công cụ phát triển ABAP DW

Trong phiên bản R/3 4.x giao diện mới có khả năng trình bày nhiều loại thông tin trên cùng một màn hình sử dụng công nghệ ActiveX hoặc JavaBeans

Hình 2.1 SAP là hệ thống mở

ABAP Development Workbench

ABAP/4 là ngôn ngữ lập trình thế hệ thứ 4 của SAP Đến phiên bản 4.0, SAP

đã sửa tên thành ABAP So với ABAP/4, ABAP thêm các đặc điểm của ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng Ngôn ngữ này được sử dụng để phát triển các ứng dụng

xí nghiệp chuẩn của SAP trong bộ R/3

SAP xây dựng phía trên ABAP môi trường phát triển được gọi là ABAP

DW ABAP DW được sử dụng để phát triển các giải pháp riêng cũng như cải thiện hoặc mở rộng khả năng của các ứng dụng hiện có

Trang 30

ABAP DW có tất cả các công cụ cần thiết để phát triển, thiết kế chương trình, gỡ lỗi và đo hiệu năng chương trình Trung tâm của ABAP DW là kho chứa đối tượng ABAP và từ điển ABAP

Kho chứa đối tượng chứa các đối tượng của ABAP DW gồm có: chương trình, từ điển ABAP, chương trình động Dynpro và tài liệu (Dynpro hiểu là màn hình chương trình) Kho chứa được sử dụng để quản lý và kiểm thử sản phẩm trong giai đoạn phát triển

Từ điển ABAP (ABAP Dictionary) chứa các mô tả của cấu trúc dữ liệu được

sử dụng trong chương trình Đây là kho chứa siêu dữ liệu gồm: định nghĩa các bảng, các giá trị cho phép mối quan hệ giữa các bảng

Trong phiên bản 3.0 ABAP DW có Workbench Organizer Workbench

Organizer xử lý chuyển các ứng dụng mới phát triển và chương trình sửa đổi vào hệ thống sản phẩm vận hành chính thức Thông tin quản lý bao gồm: quản lý phiên bản, kiểm soát sửa đổi chương trình, nhóm dự án phát triển Trong phiên bản mới nhất ABAP DW có thêm ABAP Objects

Công nghệ tích hợp

Một trong những lợi ích chính của tập các ứng dụng R/3 là khả năng tạo ra

sự tích hợp hoàn hảo giữa các quy trình kinh doanh khác nhau trong công ty Tích hợp giữa các ứng dụng đảm bảo tất cả các thông tin quản lý và thông tin kinh doanh sẵn sàng cho tất cả các đơn vị trong tổ chức truy cập

Một đặc điểm làm cho việc tích hợp ứng dụng nổi bật lên đó là khả năng đảm bảo thời gian thực Điều này có nghĩa là thông tin được cập nhật tức thời Do

đó khi người quản lý yêu cầu một báo cáo về cân đối hiện thời thì hệ thống cung cấp thông tin tức thời về tình trạng tài chính

Phần mềm lớp giữa SAP cung cấp các công nghệ tích hợp:

- Remote Function Calls (RFC)

- Common Program Interface Communications (CPI-C)

- Electronic Data Interchange (EDI)

- Object Linking and Embedding (OLE)

- Application Link Enabling (ALE)

Trang 31

Hình 2.2 Các chuẩn giao tiếp của SAP

Remote function calls

RFC là hình thức giao tiếp liên lạc thông thường nhất cho phép các chương trình nằm trên các hệ thống khác nhau liên lạc với nhau RFC được sử dụng để liên lạc trong hệ thống SAP và giữa hệ thống SAP với các hệ thống khác (để truyền tham số, xử lý lỗi và điều khiển) RFC được viết bằng ngôn ngữ ABAP/4

Common Program Interface Communications

Đảm bảo giao diện kết nối chuẩn và nhất quán CPI-C là giao thức truyền thông gồm một số luật truyền thông giữa các chương trình Các luật này được chia thành 4 phần: Session setup; Session control; Communication; và End of session

Khác nhau giữa RFC và CPI-C là RFC cho phép các hệ thống khác gọi các hàm của SAP còn CPI-C chỉ cho phép liên lạc và trao đổi giữa các chương trình

Electronic Data Interchang: EDI là giao dịch điện tử EDI cho phép các hệ

thống khác nhau trao đổi thông tin theo khuôn dạng chung

Object Linking and Embedding:: OLE được sử dụng để tích hợp các ứng

dụng OLE cho phép các ứng dụng chia sẻ và trao đổi thông tin

Application Link Enabling:ALE là kỹ thuật để trao đổi dữ liệu giữa các ứng

dụng R/3 do khách hàng của SAP xây dựng ALE cung cấp cho khách hàng SAP công nghệ và mô hình lập trình phân tán cho phép họ kết nối giữa các chương trình

từ nhiều nền tảng và nhiều hệ thống khác Hệ thống ALE có 3 lớp: dịch vụ ứng dụng, dịch vụ phân tán và dịch vụ truyền thông Phương tiện để chuyển dữ liệu là IDoc là nơi chứa dữ liệu ứng dụng được truyền đi Sau khi người dùng thực hiện một giao dịch SAP, các IDoc được tạo ra và chuyển cho lớp truyền thông ALE

Lớp truyền thông thực hiện RFC IDoc sau đó được truyền cho bên nhận là

hệ thống SAP hoặc non-SAP IDoc chuyển thông tin trực tiếp giữa các hệ thống SAP Để truyền thông với các hệ thống non-SAP, IDoc trước tiên được truyền cho

Trang 32

hệ thống trung gian làm nhiệm vụ thông dịch dữ liệu về khuôn dạng mà hệ thống nhận hiểu được Dữ liệu được truyền ngược lại cũng được truyền qua hệ thống thông dịch để đóng gói dữ liệu dạng IDoc

Có 3 loại dữ liệu được truyền qua ALE: Dữ liệu tùy biến và điều khiển: dữ liệu thông số cấu hình, hồ sơ người dùng, mã công ty, dữ liệu kinh doanh Dữ liệu thể hiện các đơn vị trong hệ thống như: nhân viên, bản ghi nhà cung cấp Dữ liệu giao dịch: ghi lại các giao dịch trong hệ thống: đặt hàng, chuyển hàng, mua hàng, bảng lương,

Cấu hình và triển khai SAP

Tùy biến là nền tảng của triển khai hệ thống SAP R/3 Bộ công cụ ban đầu

có tất cả các module với tất cả các quy trình kinh doanh Việc tiếp theo là tùy biến

hệ thống để phù hợp với nhu cầu và thực tiễn kinh doanh Tùy biến là phương pháp triển khai và cải tiến hệ thống R/3 cũng như nâng cấp lên phát hành phiên bản SAP mới

Có một số tác vụ tùy biến dễ triển khai như nhập thông tin về quốc gia Thông tin này tự động có ảnh hưởng đến tiền tệ, tính thuế, yêu cầu pháp lý Tùy biến là một tiến trình dài chiếm nhiều thời gian vì tùy biến không chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia trong công ty mà còn cần sự trợ giúp của các chuyên gia tư vấn am hiểu quy trình kinh doanh của công ty Tùy biến phải phù hợp với tổ chức, quy trình và chức năng của công ty

SAP có một số công cụ chuẩn giúp khách hàng và nhà tư vấn tùy biến và cung cấp một số khuôn mẫu cho việc điều chỉnh các chức năng của R/3 tương ứng với thực tiễn kinh doanh

Để cấu hình SAP cho triển khai theo yêu cầu cụ thể, SAP hỗ trợ 2 giải pháp triển khai AcceleratedSAP và the R/3 Business Engineer để triển khai nhanh chóng,

dễ dàng và hiệu quả ASAP là phương pháp triển khai chuẩn của SAP gồm có: Roadmap, từng bước hướng dẫn từ nhiều năm kinh nghiệm triển khai SAP Đi cùng với ASAP có nhiều công cụ, thông tin hữu ích hỗ trợ triển khai R/3 Việc triển khai gồm nhiều giai đoạn, kết thúc mỗi giai đoạn có kiểm tra chất lượng chặt chẽ để giám sát các yếu tố quan trọng đảm bảo triển khai thành công ASAP là phương

Trang 33

pháp triển khai không cần thiết thực hiện song song với việc triển khai R/3 Nên có thể bắt đầu dự án triển khai trước khi hệ thống R/3 được cài đặt thực sự

R/3 Business Engineer gồm tập các công cụ cấu hình và triển khai cho phép điều chỉnh và cấu hình và điều chỉnh R/3 hiện tại để đáp ứng yêu cầu R/3 Business Engineer là một thành phần của R/3

ASAP và R/3 Business Engineer trợ giúp cấu hình R/3 theo yêu cầu bằng các quy trình và kịch bản cho lĩnh vực ứng dụng cụn thể đã được kiểm chứng ASAP và Business Engineer giúp xác định quy trình nào của R/3 là phù hợp nhất cho nghiệp vụ và giúp cấu hình đáp ứng yêu cầu cụ thể Do đó việc triển khai bằng

2 phương pháp trên có nhiều lợi ích, làm cho hệ thống đi vào vận hành nhanh chóng

có nghĩa là xí nghiệp thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn

Mô hình tham chiếu R/3

R/3 Business Engineer cung cấp công cụ Mô hình tham chiếu R/3 trợ giúp

việc mô tả các quy trình kinh doanh, các khả năng có thể có do hệ thống R/3 đưa ra

và mối quan hệ giữa các quy trình khác nhau và các module ứng dụng khác nhau

Mô hình này rất quan trọng trong dự án R/3 vì nó cho phép khách hàng và nhà tư vấn chọn quy trình nào, lựa chọn nào và thành phần hệ thống nào là cần thiết để đáp ứng yêu cầu việc kinh doanh của công ty cũng như yêu cầu về nền tảng công nghệ

R/3 Business Engineer là công cụ đồ họa được sử dụng để tạo tài liệu quy trình kinh doanh trong hệ thống R/3 cho phép thấy rõ ràng việc tích hợp

Cùng với công cụ tùy biến, mô hình tham chiếu R/3 là một trong những thành phần cần thiết cho triển khai SAP Hình sau cho thấy mối quan hệ và vai trò của mô hình tham chiếu như là lớp giữa thực tiễn kinh doanh và quy trình trong hệ thống R/3 và nhu cầu của công ty

Mô hình tham chiếu cũng có thể được sử dụng cho các dự án SAP khác như đào tạo người dùng, phân tích phạm vi dự án, kiểm thử việc tích hợp,

Trang 34

Hình 2.3 Kiến trúc SAP R/3

Lớp giao diện

Lớp giao diện là chương trình có tên là sapgui.exe được cài đặt trên máy của

người sử dụng Cửa sổ này được gọi là SAPGUI

Lớp server ứng dụng

Server ứng dụng gồm các chương trình ABAP quản lý các đầu vào và đầu ra các chương trình ABAP Khi server ứng dụng được khởi động các chương trình này được chạy liên tục Và khi server ứng dụng dừng thì các chương trình này cũng dừng Số tiến trình được khởi động khi khởi động server ứng dụng được định nghĩa trong một file cấu hình được gọi là hồ sơ server ứng dụng

Mỗi server ứng dụng có một hồ sơ chỉ ra các đặc tính khi server ứng dụng khởi động và khi server ứng dụng đang chạy Ví dụ: hồ sơ server ứng dụng có các thông tin sau: Số các tiến trình và loại các tiến trình; Dung lượng bộ nhớ cấp cho mỗi tiến trình; Khoảng thời gian người dùng không tương tác trước khi tự động đăng xuất

Server ứng dụng có chức năng thông dịch các chương trình ABAP và các chương trình ABAP chạy tại server ứng dụng Một chương trình ABAP có thể khởi động một chương trình chạy trên lớp giao diện nhưng ABAP không thể chạy trên lớp giao diện Khi một chương trình ABAP yêu cầu thông tin từ cơ sở dữ liệu thì server ứng dụng định dạng yêu cầu và gửi cho server cơ sở dữ liệu

Trang 35

Lớp server cơ sở dữ liệu

Server cơ sở dữ liệu là một tập các chương trình nhận yêu cầu về cơ sở dữ liệu từ server ứng dụng Các yêu cầu này được chuyển cho hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Và hệ quản trị cơ sở dữ liệu chuyển dữ liệu trở lại cho server cơ sở dữ liệu sau đó thông tin được chuyển cho server ứng dụng Thường thì server cơ sở dữ liệu được chạy trên một máy tính riêng và hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng được cài đặt và chạy trên máy đó

Cấu hình các server

Trong cấu hình client/server 3 lớp phân tán, lớp giao diện, server ứng dụng

và server cơ sở dữ liệu chạy trên các máy tính khác nhau Đây là cấu hình phổ biến nhất cho các hệ thống lớn vận hành thật Với các hệ thống nhỏ và hệ thống phát triển server ứng dụng và server cơ sở dữ liệu thường được cài đặt chung trên một máy tính và lớp giao diện chạy trên một máy tính khác Khi tất cả các server được cài đặt và chạy trên cùng một máy thì ta có cấu hình tập trung Cấu hình này không phổ biến vì hệ thống R/3 khi đó chỉ có duy nhất một user

T rao đổi dữ liệu giữa server ứng dụng và lớp giao diện

Dữ liệu trao đổi giữa lớp giao diện và server ứng dụng ở khuôn dạng riêng của SAP SAPGUI nhận thông tin màn hình được gửi từ server ứng dụng và định dạng thích hợp với hệ điều hành Điều này cho người dùng với các phần cứng khác nhau đều có thể kết nối đến một server ứng dụng Ví dụ: cả 2 người dùng OS/2 PC

và Windows PC đều có thể kết nối đến cùng một server ứng dụng cùng lúc

Phần mềm R/3 cơ sở

Phần mềm R/3 cơ sở hay còn được gọi là nhân R/3 hoặc phần mềm lớp giữa

R/3 là một tập các giao diện và công cụ giao tiếp với hệ điều hành và cơ sở dữ liệu, mạng, các giao thức truyền thông và các giao tiếp trình diễn Phần mềm này cho phép các ứng dụng R/3 vận hành mà không phụ thuộc vào hệ điều hành và cơ sở dữ

liệu Phần mềm R/3 cơ sở là lớp độc lập đảm bảo việc tích hợp của tất cả các module ứng dụng Bên cạnh chức năng giao tiếp với các thành phần khác thì các thành phần và công cụ của phần mềm R/3 cơ sở còn cung cấp các chức năng về quản trị và giám sát hệ thống

Trang 36

Hình 2.4 Phần mềm R/3 cơ sở

Định nghĩa hệ thống R/3

Hệ thống R/3 đơn giản nhất là "một cơ sở dữ liệu" Trong hệ thống R/3 chỉ

có một cơ sở dữ liệu Để mở rộng định nghĩa R/3 được xem gồm tất cả các thành phần gắn với một cơ sở dữ liệu Một hệ thống R/3 gồm có một server cơ sở dữ liệu truy cập vào một cơ sở dữ liệu duy nhất một hoặc nhiều server ứng dụng và một hoặc nhiều lớp giao diện Theo định nghĩa là tất cả các thành phần gắn với một cơ

sở dữ liệu Trong quá trình triển khai thường một hệ thống (hoặc một cơ sở dữ liệu) được sử dụng để phát triển một hoặc nhiều hệ thống để kiểm thử và một hệ thống vận hành thật

Định nghĩa một thể hiện của R/3

Khái niệm thể hiện (instance) ở đây là nói đến server ứng dụng Thuật ngữ thể hiện trung tâm (central instance) đề cập đến server cơ sở dữ liệu Nếu cả server ứng dụng và server cơ sở dữ liệu đều nằm trên cung một máy thì thuật ngữ thể hiện trung tâm chỉ hệ thống có server ứng dụng và server cơ sở dữ liệu Thể hiện là server gồm một tập các tiến trình cung cấp các dịch vụ cho hệ thống R/3

Kiến trúc server ứng dụng

Tất cả các yêu cầu đến từ lớp giao diện được chuyển hướng đến các Tiến trình phân phối (dispatcher hoặc dispatcher process) Tiến trình phân phối đưa các yêu cầu này vào Hàng đợi phân phối (dispatcher queue) Sau đó Tiến trình phân phối lấy các yêu cầu từ hàng đợi theo thuật toán FIFO Sau đó mỗi yêu cầu được phân phát đến Tiến trình xử lý (work process) rỗi đầu tiên Tại một thời điểm mỗi Tiến trình xử lý chỉ xử lý một yêu cầu

Trang 37

Để có thể xử lý các yêu cầu của người dùng mỗi Tiến trình xử lý cần đánh

địa chỉ 2 vùng nhớ: vùng nhớ user context và program roll area User context là

vùng nhớ chứa các thông tin về người dùng, Program roll area là vùng nhớ chứa các thông tin về thi hành chương trình

Giao dịch

Theo cách hiểu thông thường thì giao dịch là thao tác người dùng thay đổi cơ

sở dữ liệu R/3 có thể được xem là hệ thống xử lý giao dịch Trong hệ thống SAP, một giao dịch là tuần tự các bước liên quan Các bước liên quan đến nhau này được gọi là bước xử lý (dialog steps) Bước xử lý là các màn hình dữ liệu sinh ra các sự kiện khác Tiến trình giám sát các giao dịch được gọi là tiến trình phân phối làm nhiệm vụ xử lý tuần tự các bước đó Bước cuối cùng của giao dịch là sửa đổi thông tin trên cơ sở dữ liệu Chỉ khi giao dịch kết thúc thì cơ sở dữ liệu mới được sửa đổi Nếu giao dịch không hoàn thành thì tất cả các thay đổi bị hủy bỏ và cơ sở dữ liệu không bị thay đổi để bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu

Giao dịch có 2 pha: pha tương tác và pha cập nhật Pha tương tác thường có

ít nhất một bước Trong pha này thực hiện các việc chuẩn bị các bản ghi dữ liệu sắp được ghi vào cơ sở dữ liệu Pha cập nhật có thể có nhiều bước hay đơn giản chỉ là ghi lại các thay đổi vào cơ sở dữ liệu

Do có khả năng có nhiều người đồng thời cùng lúc truy cập cùng thông tin nên kỹ thuật khóa được áp dụng để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu

Mỗi giao dịch trong hệ thống R/3 có một mã giao dịch (transaction code) Do

đó có một cách để chuyển nhanh giữa các chức năng của R/3 là nhập mã giao dịch trực tiếp vào trường lệnh trong cửa sổ R/3

SAP có 3 client chuẩn là: 000, 001,và 066 Client 000 có các tham số cho tất

cả các ứng dụng, các thiết lập chuẩn, cấu hình cho kiểm soát các giao dịch chuẩn

Trang 38

nên 000 được sử dụng trong nhiều hồ sơ ứng dụng xí nghiệp Do đó, 000 là client đặc biệt của R/3

Client 001 là bản sao của client 000 và client này được sử dụng cho các hoạt động chuẩn bị hệ thống cho môi trường chạy thật Khách hàng SAP thường dùng client 001 để tạo các client mới

Client 006 thường được sử dụng cho mục đích dịch vụ khách hàng R/3 có các công cụ để tạo, sao chép, chuyển, xóa, thiết lập và so sánh các client Trong hình sau là ví dụ client đăng nhập vào hệ thống

Hình 2.5 SAPGUI - SAP Front End

Hệ thống giao tiếp trung tâm

Lớp giữa R/3 được cấu tạo bởi các giao tiếp trung tâm Gồm các giao tiếp:

• Giao tiếp với hệ điều hành

• Giao tiếp với cơ sở dữ liệu

• Giao tiếp với phần trình diễn

• Giao tiếp truyền thông

Để đảm bảo tính tương thích và khả chuyển, các giao diện này được nhóm với nhau trong chức năng giao tiếp trung tâm của lõi hệ thống SAP Các giao tiếp của hệ thống SAP là các nhóm phần mềm chạy ở dạng tiến trình chạy nền trong UNIX hoặc ở dạng dịch vụ trong Windows NT

Các dịch vụ

Tiến trình phân phối

Tiến trình phân phối là chương trình điều khiển quản lý các tài nguyên trong ứng dụng R/3 Chương trình này làm việc giống như một tiến trình giám sát giao dịch

Trang 39

thông thường Tiến trình phân phối nhận các màn hình và dữ liệu từ phần lớp giao diện và chuyển cho Tiến trình xử lý tương ứng Hình sau minh họa vai trò của tiến trình phân phối:

Hình 2.6 Tiến trình xử lý (Work process)

Tiến trình xử lý là chương trình đặc biệt thực hiện một số tác vụ đặc biệt Theo thuật ngữ client/server thì tiến trình xử lý là một dịch vụ của server phục vụ client tiến trình phân phối quản lý thông tin trao đổi giữa SAPGUI hoặc giữa các giao tiếp trình diễn và tiến trình xử lý cho phép người dùng chia sẻ các tiến trình xử

lý sẵn có

Tiến trình phân phối có các nhiệm vụ chính:

• Cân bằng tải giao dịch giữa các tiến trình xử lý

• Quản lý bộ đệm trong bộ nhớ chính

• Kết nối với lớp trình diễn

• Tổ chức các tiến trình truyền thông

Các bước xử lý yêu cầu người dùng như sau:

- Người dùng nhập dữ liệu vào SAPGUI, dữ liệu được chuyển thành khuôn dạng SAP và được gửi cho tiến trình phân phối qua giao thức DIAG

• Tiến trình phân phối xếp yêu cầu vào hàng đợi để xử lý lần lượt từng yêu cầu

Trang 40

• Tiến trình phân phối sử dụng tiến trình xử lý đang rỗi để xác định yêu cầu người dùng Việc thực hiện xảy ra bên trong tiến trình xử lý

• Kết thúc thi hành, kết quả của tác vụ tiến trình xử lý được chuyển lại SAGUI qua tiến trình phân phối SAPGUI dịch dữ liệu nhận được và hiển thị ra màn hình

SAP tối ưu hóa luồng dữ liệu giữa lớp giao diện và server ứng dụng Truyền thông giữa lớp giao diện và server ứng dụng được thiết lập qua giao thức TCP/IP chuẩn

Trên mỗi server ứng dụng có một tiến trình phân phối và nhiều tiến trình xử

lý Nếu server ứng dụng chạy nhiều thể hiện SAP thì mỗi thể hiện có một tiến trình phân phối

- Phần giao diện với cơ sở dữ liệu

Tất cả các yêu cầu đều được đưa qua bộ xử lý tác vụ và sau đó được chuyển đến phần phù hợp của tiến trình xử lý Tiến trình xử lý là chương trình thực hiện các tác vụ của ứng dụng R/3 Mỗi Tiến trình xử lý đóng vai trò là một dịch vụ hệ thống Sau đây là hình minh họa các thành phần của một tiến trình xử lý:

Ngày đăng: 01/11/2020, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w