Các giải pháp tài chính để phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc trong điều kiện hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đang trong tiến trình hình thành, quá trình đó sẽ có nhiều tác động mạnh mẽ và tích cực, song bên cạnh đó những khó khăn, thách thức cũng xuất hiện và cản trở đến sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam nói chung, các tỉnh biên giới phía Bắc nói riêng
Trong những năm qua, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học, luận
án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp tài chính để phát triển kinh tế ở các địa phương và tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như: đề tài
nghiên cứu “Các giải pháp tài chính để phát triển kinh tế các tỉnh miền
núi, lấy Lào Cai làm địa bàn nghiên cứu” - Luận án tiến sĩ của tác giả
Nguyễn Hữu Vạn nghiên cứu ở các tỉnh miền núi, nhưng thời kỳ nghiên
cứu chưa có sự hình thành AFTA hoặc ACFTA; đề tài nghiên cứu “Cơ sở
lý luận và thực tiễn của quá trình hội nhập quốc tế về tài chính ở Việt Nam” – Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Huy Tuấn nghiên cứu hội nhập kinh
tế quốc tế đối với các lĩnh vực thuế, bảo hiểm, kế toán và kiểm toán đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, chưa hình thành
ACFTA; đề tài nghiên cứu “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế Xuất
nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam” – Luận án tiến
sĩ của tác giả Nguyễn Danh Hưng nghiên cứu về thuế Xuất nhập khẩu trong điều kiện hình thành AFTA, phạm vi của đề tài giới hạn về thuế Xuất nhập khẩu Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Các giải pháp tài chính để phát
triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc trong điều kiện hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc” là cần thiết và độc lập với các đề tài
đã nghiên cứu nêu trên
Trang 22 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm kiếm các giải pháp tài chính để phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cụ thể là trong quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nhận thức về tài chính và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Không gian nghiên cứu bao gồm 7 tỉnh biên giới phía Bắc là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên, song luận án xác định tỉnh là đối tượng nghiên cứu chính Do các tỉnh trong phạm vi nghiên cứu có nhiều nét tương đồng nên việc nghiên cứu đề xuất cho một tỉnh có thể được ứng dụng cho những tỉnh khác
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong thời gian từ năm 1998 (thời
điểm hình thành AFTA) đến nay; một số nội dung được xem xét trong giai
đoạn từ năm 2004 đến nay, đây là thời kỳ tiến trình ACFTA bắt đầu hình thành với việc cắt giảm thuế quan theo cam kết Những giải pháp đề xuất
được xác định cho đến năm 2015 và những năm tiếp theo
4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa những nhận thức cơ bản về hình thức và nội dung cơ bản của liên kết kinh tế quốc tế; tác động và những ảnh hưởng của ACFTA đối với sự phát triển triển kinh
tế Việt Nam và các tỉnh biên giới phía Bắc, phương thức tác động của các công cụ tài chính trong nền kinh tế hội nhập, tham gia vào các liên kết kinh
tế quốc tế
Trang 3Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu đưa ra các giải pháp cơ bản về tài chính để thúc đẩy phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc khi ACFTA
đang trong tiến trình hình thành và hiện thực hóa Từ đó góp phần tận dụng cơ hội phát huy lợi thế để phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc trong thời gian tới
5 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận án gồm 141 trang, được chia thành 3 chương, sau đây là nội dung chính của các chương
Chương 1
tμi chính với hội nhập kinh tế quốc tế vμ tác động của khu vực mậu dịch tự do asean - trung quốc
đối với việt nam
1.1 tμi chính với hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế - xu thế lớn của kinh tế thế giới
Quá trình toàn cầu hóa nổi lên xu hướng hình thành các liên kết kinh
tế quốc tế và sự ra đời của các tổ chức kinh tế, thương mại và tài chính trên phạm vi khu vực cũng như trên toàn thế giới
Liên kết kinh tế quốc tế có những tác động tích cực: thúc đẩy tự do hóa thương mại, gia tăng các luồng vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ, làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế các nước trong khối và tăng trưởng tổng sản phẩm mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới Tuy nhiên,
liên kết kinh tế quốc tế cũng nảy sinh một số vấn đề sau: Thứ nhất, sự gắn
kết lợi ích giữa các quốc gia với nhau, một mặt hạn chế những mâu thuẫn
và tăng cường hợp tác, mặt khác là sự phụ thuộc lẫn nhau, đặc biệt là sự lệ
Trang 4thuộc của những nước kém phát triển vào các nước phát triển; Thứ hai, các
quốc gia phát triển thường thu lợi nhiều hơn trong kinh tế và thương mại,
điều đó dẫn đến gia tăng khoảng cách giàu nghèo, mức sống và trình độ
phát triển; Thứ ba, trong một chừng mực nhất định, sự thao túng về kinh tế
của các nước phát triển, các tập đoàn xuyên quốc gia có thể làm hạn chế vai trò kiểm soát về kinh tế của Chính phủ các nước đang phát triển
Về nội dung, liên kết kinh tế quốc tế bao gồm: Ưu đãi thuế quan đặc biệt, Mậu dịch tự do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung và Liên minh kinh tế- tiền tệ
1.1.2 Tài chính với phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập
Luận án nghiên cứu những nhận thức cơ bản về tài chính, cơ chế,
chính sách và các công cụ tài chính cùng với phương thức tác động của
chúng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế:
Những nhận thức cơ bản về tài chính: Luận án phân tích bản chất,
chức năng của tài chính và nội dung, hình thức của nguồn lực tài chính Trong điều kiện hội nhập, nguồn lực tài chính phong phú về hình thức biểu hiện và có quy mô lớn bởi có sự tham gia của dòng vốn đầu tư nước ngoài và sự phát triển của các quan hệ tiền tệ cấu thành lĩnh vực tài chính
quốc tế
Các công cụ tài chính và phương thức tác động của nó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Gắn với các chính sách tài khóa có hai
công cụ chủ yếu là thuế và chi ngân sách, gắn với các chính sách tiền tệ có
2 công cụ chủ yếu là lãi suất và tỷ giá hối đoái
- Phương thức tác động của thuế: Theo lộ trình cắt giảm thuế quan, vai trò bảo hộ sản xuất trong nước của thuế Nhập khẩu suy giảm nhưng không hoàn toàn mất đi, mà vẫn tiếp tục được phát huy trong một chừng mực nhất
định Chính sách thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu và hạn chế
Trang 5xuất khẩu nguyên liệu thô Các chính sách thuế khác tạo môi trường bình
đẳng và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Thuế còn là công cụ để điều hành
vĩ mô nền kinh tế
- Chi ngân sách nhà nước là một công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định nền kinh tế thông qua chính sách tài khóa mở rộng hoặc thu hẹp Ngân sách hạn chế đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh để mà tập trung cho đầu tư kết cấu hạ tầng và các dịch vụ công để phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế, xã hội
- Lãi suất chịu ảnh hưởng bởi chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ
và các yếu tố kinh tế - xã hội khác Lãi suất cũng là một công cụ để Chính phủ điều tiết nền kinh tế vĩ mô Chính sách lãi suất được các quốc gia thực hiện theo hai hướng: can thiệp của Chính phủ và tự do hóa
- Tỷ giá hối đoái hình thành do cung cầu ngoại tệ và có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng đối với việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô của Nhà nước thông qua tác động thúc đẩy hoặc hạn chế xuất, nhập khẩu
Vai trò của tài chính đối với phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế:
Một là, tài chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy các quan hệ quốc tế và
đẩy nhanh tiến trình hội nhập
Hai là, tài chính quốc tế phát huy tiềm năng thế mạnh của quốc gia
Ba là, tài chính quốc tế giải quyết nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội, cung cấp nguồn lực để đào tạo nhân lực có trình độ cao
Bốn là, tài chính thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành
nghề và cơ cấu nhân lực
1.2 tiến trình hình thμnh khu vực mậu dịch tự do asean - trung quốc vμ ảnh hưởng đối với kinh tế Việt Nam
Trang 6Luận trình bày khái quát tiến trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc và phân tích ảnh hưởng của nó đối nền kinh tế Việt Nam nói chung, tác động riêng có đối với các tỉnh biên giới phía Bắc
Tác động chung đối với nền kinh tế Việt Nam:
Những tác động tích cực:
Thứ nhất, phát triển thương mại cho các nước trong ACFTA nói
chung và Việt Nam nói riêng
Thứ hai, ACFTA thúc đẩu tăng thu hút đầu tư nước ngoài
Thứ ba, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng sản xuất công
nghiệp và dịch vụ
Những khó khăn, thách thức:
Thứ nhất, gia tăng sức cạnh tranh về thị trường tiêu thụ hàng hóa
Thứ hai, cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư
Thứ ba, nguy cơ nhập siêu và mất cân bằng cán cân thương mại
Thứ tư, khó khăn về nhân lực
Tác động riêng với các tỉnh biên giới phía Bắc:
ACFTA và những cơ hội đối với các tỉnh Biên giới phía Bắc:
Một là, cơ sở hạ tầng sẽ được đầu tư, cải thiện - là một nhân tố hết sức
quan trọng đối với thúc đẩy phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc
Hai là, cùng với triển vọng về hợp tác thương mại hàng hóa, các
ngành dịch vụ khác sẽ có thêm cơ hội để phát triển và thu hút đầu tư
Ba là, tăng khả năng thu hút đầu tư vào các tỉnh trong khu vực
Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xóa đói giảm nghèo khu
vực biên giới
Năm là, phát triển thương mại theo thông lệ quốc tế
Những khó khăn và thách thức với các tỉnh biên giới phía Bắc:
Trang 7Thứ nhất, sự đòi hỏi một mức độ nhất định về cơ sở hạ tầng nói
chung, đặc biệt là về giao thông, trong khi đó, điều kiện như hiện nay còn quá thấp so với yêu cầu
Thứ hai, chưa có chính sách đặc thù gắn với việc thực hiện ACFTA để
thúc đẩy phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc
Thứ ba, do thiếu nguồn lực và các yếu tố và điều kiện khác chưa thuận
lợi nên trong giai đoạn trước mắt các tiềm năng chưa khai thác được nhiều
Thứ tư, trong quan chương trình hợp tác xây dựng hai hành lang, một
vành đai kinh tế chưa có Hiệp định cụ thể được ký kết giữa hai nước
1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế khu vực biên giới của trung quốc
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong chính sách
biên mậu và chương trình “hưng biên phú dân”, từ đó rút ra một số bài học
để phát triển kinh tế khu vực biên giới của Việt Nam
Đối với phát triển kinh tế khu vực biên giới:
Thứ nhất, phát triển thương mại biên mậu là một giải pháp quan trọng
để phát triển kinh tế khu vực biên giới
Thứ hai, Nhà nước cần có chính sách phù hợp để phát triển mậu dịch
biên giới đảm bảo lợi ích của cả hai bên
Thứ ba, có chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc thù về đầu tư vào khu
vực biên giới nhằm khai thác tốt các tiềm năng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân khu vực biên giới
Đối với công tác xóa đói, giảm nghèo khu vực miền núi, biên giới:
Một là, đầu tư cho xóa đói nghèo là nhiệm vụ cấp bách, phải được đặt
lên hàng đầu ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng biên giới
Trang 8Hai là, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả, trong điều kiện nguồn lực có
hạn cần tập trung xóa đói nghèo có trọng điểm và bền vững, xóa đâu được
đấy theo “kiểu cuốn chiếu”, không dàn trải, tránh tình trạng tái nghèo
Ba là, xoá đói giảm nghèo phải giải quyết tận gốc căn nguyên của đói
nghèo, không áp dụng một “công thức” chung, một “khuôn mẫu” chung
Bốn là, khai thác nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế, huy
động sự tham gia của nhiều ngành vào công tác xóa đói giảm nghèo
Chương 2 tμi chính với phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc thời gian qua
2.1 tình hình phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía bắc
2.1.1 Khái quát về các tỉnh biên giới phía Bắc
Luận án nghiên cứu, phân tích về điều kiện tự nhiên bao gồm: Vị trí
địa lý, địa hình, khí hậu; tài nguyên thiên nhiên bao gồm: nguồn thủy năng, tài nguyên khoáng sản, đất đai, tài nguyên rừng và tài nguyên du lịch của các tỉnh biên giới phía Bắc
2.1.2 Thực trạng kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc
Về kinh tế: Luận án phân tích tình hình kinh tế - xã hội các tỉnh biên
giới phía Bắc giai đoạn 2004 - 2008, bao gồm: khái quát về kinh tế, cơ cấu kinh tế và sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế
Về xã hội: Luận án nghiên cứu và phân tích những nội dung chính về lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và mức sống của nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc
Trang 9Quan hệ kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc với Trung Quốc trong thời gian qua có một số nét nổi bật như sau:
Thứ nhất, kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh BGPB tập trung ở
các cửa khẩu của ba tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai chiếm tỷ trọng
91,2% tổng kim ngạch XNK của các tỉnh BGPB với Trung Quốc
Thứ hai, hàng hóa xuất khẩu của địa phương nghèo nàn, chủ yếu là
khoáng sản, hàng nông sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ, các tỉnh còn lại chủ yếu
là khoảng sản
Thứ ba, hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đang đứng trước
những khó khăn và nguy cơ giảm sút trên thị trường Trung Quốc
Thứ tư, buôn bán tiểu ngạch còn chiếm tỷ trọng cao trong xuất nhập
khẩu qua biên giới
Thứ năm, về du lịch: Trung Quốc là thị trường du lịch tiềm năng của
ngành du lịch Việt Nam
Thứ sáu: đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam còn rất hạn chế
2.2 thực trạng tμi chính với phát triển kinh tế các tỉnh biên giới phía bắc
2.2.1 Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế
Thực trạng đầu tư cơ sở hạ tầng: Hạ tầng giao thông Hiện nay, các
tuyến giao thông từ Hà Nội đến Lạng Sơn và Hà Giang cơ bản đáp ứng nhu cầu lưu thông Các tuyến Lào Cai - Hà Nội và Hạ Long - Móng Cái đã xuống cấp và quá tải, chưa được đầu tư kịp thời Nguồn vốn đầu tư hạ tầng kinh tế cửa khẩu rất hạn chế với mức không quá 100 tỷ đồng/1 tỉnh/năm
Hệ thống cấp nước, cấp điện và thông tin liên lạc ở trung tâm tỉnh, huyện
và thành phố, thị xã đảm bảo phục vụ cho sản xuất và đời sống
Thực trạng đầu tư của ngân sách nhà nước: Các tỉnh biên giới phía Bắc
có tỷ trọng chi đầu tư phát triển so với tổng chi ngân sách địa phương khá cao
Trang 10(29,6%), ngoài vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách địa phương, còn có
các nguồn vốn của ngân sách trung ương đầu tư trên địa bàn và chi đầu tư các
chương trình mục tiêu Đây là các nguồn lực quan trọng để thực hiện mục tiêu
xóa đói giảm nghèo và cải thiện điều kiện sống cho nhân dân
2.2.2 Thực trạng huy động các nguồn lực tài chính
Tốc độ tăng thu bình quân giai đoạn này là 21,7%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng thu bình quân của ngân sách nhà nước (17,7%/năm); số thu năm 2008 cao gấp cao gấp 2,2 lần so với năm 2004; một số tỉnh có tốc độ tăng thu bình quân cao như Quảng Ninh, Lào Cai, Điện Biên và Lạng Sơn Tuy nhiên, số bổ sung của trung ương giai đoạn 2004-2008 còn cao, chiếm
tỷ trọng 61,1% số chi của ngân sách các tỉnh (trong đó Quảng Ninh 7,8%, các tỉnh còn lại bình quân 77,5%)
Thu từ kinh tế trung ương có xu hướng tăng cả về quy mô và tốc độ Thu từ kinh tế địa phương thấp hơn so với tốc độ tăng bình quân thu ngân
sách trên địa bàn Trong đó: thu từ kinh tế nhà nước thuộc địa phương có tốc
độ tăng chậm, quy mô của các doanh nghiệp nhà nước ở địa phương rất nhỏ bé; thu từ thuế tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ
ngoài quốc doanh tuy không lớn nhưng có xu hướng tăng trưởng ổn định
Triển vọng nguồn thu nội địa những năm tới sẽ có cơ sở để tiếp tục tăng nhanh Thu từ xuất nhập khẩu chiếm 52% thu ngân sách trên địa bàn, nguồn thu này tập trung ở các tỉnh có kinh tế cửa khẩu phát triển gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn và Lào Cai (chiếm tỷ trọng 96,3% thu từ xuất nhập khẩu của tất cả các tỉnh BGPB) và có triển vọng tiếp tục mang lại nguồn quan
trọng cho các địa phương này
Thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn rất nhỏ do quy mô khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn nhỏ bé
Trang 11Thực trạng các chính sách tài chính trong ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế:
Thứ nhất, chính sách ưu đãi về đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
chưa thu hút được các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này
Thứ hai, ưu đãi về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp chưa phù
hợp về thời gian được áp dụng thuế suất thấp, còn phân biệt cơ sở đầu tư dây truyền mới, mở rộng quy mô và cơ sở mới thành lập
Thứ ba, một số ngành nghề, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển nhưng
chưa được miễn tiền thuê
Thứ tư, các ưu đãi và hỗ trợ khác về tài chính như hỗ trợ kinh phí đào tạo
nhân lực, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng (đường, điện, nước) chưa nhất quán
Thứ năm, đối tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư của ngân hàng Phát
triển còn mang tính cào bằng giữa các khu vực, các ngành nghề và lĩnh vực
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn thấp
Các nguồn vốn đầu tư khác có tốc độ tăng cao nhưng quy mô còn
nhỏ, nguồn vốn huy động trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư
2.2.3 Các chính sách tài chính khác
Đối với thuế nhập khẩu: Thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với hàng
hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để trực tiếp sản xuất hàng hóa xuất khẩu hiện nay là quá lâu, gây tồn đọng về thuế và khó khăn cho công tác quản lý; thất thu về nhập khẩu và thuế Giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đối với hàng miễn thuế cho cư dân biên giới
Đối với thuế xuất khẩu: thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng
khoáng sản các loại còn thấp, là nguy cơ “chảy máu” nguồn tài nguyên
khoáng sản
Thanh toán qua ngân hàng và đồng tiền chủ yếu sử dụng trong thanh toán: Tỷ lệ thanh toán qua ngân hàng ở các cửa khẩu chỉ đạt từ 35% - 50%
Trang 12kim ngạch Đồng tiền thanh toán biên mậu chủ yếu là CNY, nên ảnh hưởng
đến tỷ giá hối đoái
2.3 Đánh giá tác động của tμi chính với phát triển kinh tế
trong thời gian qua
2.3.1 Những kết quả tích cực
Đối với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã có những
chuyển biến rõ nét
Về đầu tư của ngân sách được ưu tiên thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần quan trọng trong cải thiện điều kiện sản
xuất và nâng cao đời sống nhân dân, bộ mặt nông thôn miền núi, vùng cao, vùng biên giới đã có những thay đổi đáng kể
Các chính sách ưu đãi về tài chính nhằm khuyến khích thu hút đầu tư
đã phát huy tác dụng nhất định đối với các tỉnh, góp phần tăng sức hấp dẫn
về môi trường đầu tư, thúc đẩy khai thác các tiềm năng kinh tế ở khu vực này
Về huy động nguồn thu vào ngân sách nhà nước có tốc độ tăng khá
cao (bình quân đạt 21,7 %/năm)
Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế của các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh cũng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân giai
đoạn 2004 – 2008 là 23,2%/năm) và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế
2.3.2 Những hạn chế
Hạn chế về đầu tư phát triển kinh tế:
Một là, đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực
Hai là, chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu chưa
phù hợp, chưa có cơ chế khuyến khích và phân cấp, tạo quyền chủ động cho địa phương