1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 12/2017

120 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 12/2017 trình bày các nội dung chính sau: Khảo sát đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ điều trị tại Bệnh viện Quân y 175, khảo sát nồng độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất, bước đầu đánh giá tác dụng điều trị của viên bổ xương khớp trên bệnh nhân giảm mật độ xương,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết của tạp chí.

Trang 1

Thân Hồng Anh, Lâm Mỹ Hằng, Nguyễn Hồng Vũ, Nguyễn Đình Tuấn,

Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Thị Phương Lan, Đoàn Thanh Hải Đặng Văn Thanh, Nguyễn Đặng Phương Kiều, Nguyễn Thị Thu Ngân

Trần Anh Huy, Nguyễn Huy Lực, Đặng Văn Tuấn

Trang 2

quân y 175

Nguyễn Thị Huyền Trang, Trịnh Hồng HạnhHuỳnh Thị Thanh Giang, Nguyễn Văn Hữu Nguyễn Thị Dung, Đặng Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Sơn Hải

9 Đánh giá kết quả điều trị kết hợp xương nẹp vít gãy đầu dưới hai

xương cẳng chân do chấn thương bằng kỹ thuật mipo tại Bệnh viện

Phạm Văn Đoan, Trương Đình Cẩm

83

12 Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân điều trị tại Viện

y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh

Tạ Thị Phước Hòa, Phạm Hữu Văn

89

13 Nhân một trường hợp u tuyến cận giáp cường tiết parahormone biến chứng viêm tuỵ thể nặng được chẩn đoán và điều trị thành công tại Bệnh viện quân y 175

Trần Văn Hiều, Trần Hà Hiếu, Nguyễn Hoàng Khải

Nguyễn Chí Tùng, Trương Đình Cẩm

98

14 Nhân một trường hợp thiếu máu huyết tán miễn dịch mức độ nặng có tổn thương đa cơ quan

Bùi Vinh Quang, Nguyễn Hưng, Hoàng Thị Như Mai

Trương Đình Cẩm, Tạ Anh Hoàng

Trang 3

SỐ 12 - 12/2017 CONTENTS

1 Survey rate and characteristics of dyslipidemia in patients with ischemic heart disease treated at Military Hospital 175

Truong Dinh Cam, Nguyen Quoc Thai

5

2 Examination of postural hypertension in hypertensive elderly (THT) patients who are receiving treatment at the clinic, Military Hospital 175

Than Hong Anh, Lam My Hang, Nguyen Hong Vu, Nguyen Dinh Tuan,

Nguyen Manh Hung, Tran Thi Phuong Lan, Doan Thanh Hai Dang Van Thanh, Nguyen Dang Phuong Kieu, Nguyen Thi Thu Ngan

at Thong Nhat Hospital

Chau Van Vinh, Ho Thuong Dung, Doan Van De

47

Trang 4

hospital 175

Nguyen Thi Huyen Trang, Trinh Hong HanhHuynh Thi Thanh Giang, Nguyen Van Huu Nguyen Thi Dung, Dang Thi Ngoc Hanh, Nguyen Son Hai

9 Evaluation of the results of the treatment of the distal tibial and fibula

by osteosynthesis internal fixation with minimally invasive plate osteosynthesis

Nguyen Ngoc Hieu

65

10 Outcomes of total hip arthroplasty surgery with direct lateral approach

Tran Hoai Nam, Vu Nhat Dinh

76

11 Study the association of plasma hs-CRP levels with coronary artery damage in patients with acute coronary syndrome at Military hospital 175

Pham Van Doan, Truong Dinh Cam

Tran Van Hieu, Tran Ha Hieu, Nguyen Hoang Khai

Nguyen Chi Tung, Truong Dinh Cam

98

14 Report a case: accasion of severe autoimmune hemolytic anemia with multiorgan failure

bui Vinh Quang, Nguyen Hung, Hoang Thi Nhu Mai

Truong Dinh Cam, Ta Anh Hoang

Trang 5

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ và đặc điểm rối loạn lipid máu (RLLPM) ở bệnh nhân (BN) bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) điều trị tại bệnh viện quân y 175.

Phương pháp: Tiến cứu, mô tả cắt ngang.

Đối tượng: 141 bệnh nhân BTTMCB được nhập viện và điều trị tại bệnh viện Quân

Y 175 từ tháng 12/2015 đến 6/2017.

Kết quả: Tỷ lệ BN có RLLPM là 83,7% Tần suất các rối loạn thành phần lipid là: có 66,7% bệnh nhân tăng triglyceride, 37,6% bệnh nhân giảm HDL-C, 32,6% bệnh nhân tăng cholesterol và 31,2% bệnh nhân tăng LDL-C Trong kiểu RLLPM 1 thành phần thì tăng triglycerid đơn thuần gặp nhiều hơn (20,34%) Trong kiểu RLLPM 2 thành phần thì giảm HDL-C và tăng triglycerid gặp đa số (14,9%) Tương tự kiểu RLLPM 3 thành phần thường gặp là tăng triglyceride, tăng cholesterol và tăng LDL-C (12,8%) Nhóm tuổi ≥70 có tỉ lệ rối loạn các thành phần lipid máu thấp hơn nhóm tuổi <60 (p<0,01) Kết luận: Tỉ lệ RLLPM ở BN mắc BTTMCB cao (83,7%), trong đó hay gặp đó là: tăng triglyceride đơn thuần, giảm HDL-C kết hợp tăng triglyceride và tăng kết hợp triglyceride, cholesterol với LDL-C Có sự khác biệt có ý nghĩa về thành phần lipid bị rối loạn giữa nhóm tuổi dưới 60 và nhóm trên 70 tuổi.

Từ khóa: Rối loạn lipid máu, bệnh tim thiếu máu cục bộ.

SURVEY RATE AND CHARACTERISTICS OF DYSLIPIDEMIA IN PATIENTS WITH ISCHEMIC HEART DISEASE TREATED

AT MILITARY HOSPITAL 175

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU

Ở BỆNH NHÂN BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Trương Đình Cẩm 1 , Nguyễn Quốc Thái 2

(1) Bệnh viện Quân 175

(2) Ban Quân y Bộ CHQS Kiên Giang Quân khu 9

Người phản hồi (Corresponding): Trương Đình Cẩm (truongcam1967@gmail.com)

Ngày nhận bài: 12/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 6

Objectives: Survey rate and characteristics of dyslipidemia in patients with ischemic heart disease treated at 175 military hospital.

Methods: Prospective, cross sectional descriptive study.

Subjects: 141 patients with ischemic heart disease were hospitalized and treated at cardiology department, Military Hospital 175 from December 2015 to June 2017 Results: The rate of patients with dyslipidemia is 83.7% The prevalence of lipid disorders was 66.7% for hypertriglyceridemia, 37.6% for decreased HDL-C, 32.6% for hypercholesterolemia, and 31.2% for patients with decreased LDL-C In one-component of dyslipidemia type, hypertriglyceridemia was more common (20.34%) In two-component

of dyslipidemia type, decreased HDL-C and increased hypertriglyceridemia is common (14.9%) Similarly, the three-component of dyslipidemia type, hypertriglyceridemia, increased cholesterol, and increased LDL-cholesterol is common (12.8%) Group with age ≥70 has a lower rate of dyslipidemia than the group with age <60 (p<0.01).

Conclusions: The prevalence of dyslipidemia in patients with ischemic heart disease was high (83.7%) Hypertriglyceridemia, decreased HDL-C, increased triglyceride, increased triglyceride and LDL-cholesterol There was a significant difference in lipid profile between the age group 60 and the age group 70 years.

Key word: dyslipidemia, ischemic heart disease.

ĐẶT VẤN ĐỀ

BTTMCB là bệnh lý tim mạch thường

gặp, tần suất mắc bệnh và hậu quả do bệnh

gây nên ngày càng gia tăng Trong năm

2001, thế giới có 7,2 triệu trường hợp tử

vong do BTTMCB và 59 triệu BN bị tàn

phế Mỗi năm có khoảng 5,8 triệu trường

hợp mắc mới Tại Viện tim mạch Việt Nam

từ năm 2003-2007 tỷ lệ BTTMCB gia tăng

đáng kể theo thời gian, năm 2003: 11,2%,

năm 2004: 13,5%, năm 2005: 18,8%, năm

2006: 20,8 thì năm 2007: 24% []

Liên quan giữa RLLPM và BTTMCB

đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu

trong và ngoài nước Kết luận chung đó là

tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do BTTMCB

gắn liền với tỷ lệ rối loạn các thành phần

lipid máu []

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

“Khảo sát đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ điều trị tại Viện Quân Y 175” nhằm khảo

sát tỷ lệ và đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ điều trị tại bệnh viện quân y 175

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 141 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh tim thiếu máu cục bộ vào điều trị tại Bệnh viện quân y 175 Thời gian từ tháng 12/2015 đến 6/2017

* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu: BN có hẹp ≥50% đường kính nhánh chính ĐMV trên kết quả chụp động mạch

Trang 7

loạn chuyển hóa lipid như: hội chứng thận

hư, bệnh hệ thống, suy tuyến giáp nguyên

phát, đang điều trị rối loạn lipid máu kéo

dài

- Những bệnh có chống chỉ định làm

thủ thuật chụp và can thiệp ĐMV như:

nhiễm trùng nặng, suy gan, suy thận, rối loạn đông máu, suy tim mất bù chưa được kiểm soát, dị ứng thuốc cản quang…

- Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu: Tiến

cứu, mô tả cắt ngang

3 Thu thập và xử lí số liệu: BN vào

viện được xử lí theo tình trạng bệnh Số liệu được lấy theo mẫu nghiên cứu Xử lí

số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm tuổi, giới

Bảng 1 Đặc điểm tuổi, giới

Nhận xét: Tỉ lệ nam giới mắc BTTMCB mạn tính cao hơn nữ giới, Nam/

Nữ=106/35; nhóm tuổi càng cao tỉ lệ mắc bệnh càng cao Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với (p<0,01) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước [1], [2], [8]

Nhận xét: Tỉ lệ RLLP trong nhóm bệnh cao 83,7% Tương tự như kết quả nghiên

cứu trong nước [1], [3]

Trang 8

3 Tần suất rối loạn các thành phần lipid máu.

Bảng 3 Tần suất rối loạn các thành phần lipid máu

Tăng Triglyceride CóKhông có 9447 66,733,3

Nhận xét: Tần suất rối loạn thành phần lipid máu theo thứ tự giảm dần tăng TG à

giảm HDL-c à tăng Cholesterol à tăng LDL-c Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lâm Kim Phượng [1], Trương Quang Bình [3]

4 Các kiểu RLLPM theo phân loại De Gennes.

HDLcCT

LDLcTG

LDLcCT

TGCT

HDL, LDL,TG

CT, TG,LDL

Nhận xét: Trong rối loạn lipid máu 1 thành phần thì tăng triglyceride đơn thuần

chiếm tỷ lệ chủ yếu với 20,34%, kiểu rối loạn cholesterol đơn thuần rất ít gặp (1,7%), đặc điểm này phù hợp với nghiên cứu của Lâm Kim Phượng (2009) [1]

Trong rối loạn lipid máu 2 thành

phần thì giảm HDL-C và tăng triglyceride

chiếm chủ yếu với 14,9%, tỉ lệ rối loạn

2 thành phần khác chiếm tỉ lệ thấp hơn

(0,7-5%) Chúng tôi không gặp kiểu

giảm HDL-C kết hợp tăng cholesterol

Sự chiếm ưu thế trong kiểu rối loạn giảm HDL-C và tăng triglycerid phù hợp với đặc điểm rối loạn lipid trong nghiên cứu của Lâm Kim Phượng [1] Đặc điểm này cũng phù hợp với kết quả trong nghiên cứu của một số tác giả ngoài nước như

Trang 9

Brinton EA và cs (2004) [7] Tăng nồng

độ triglycerid huyết tương là một YTNC

tim mạch và bệnh động mạch vành Bệnh

động mạch vành xảy ra ngay cả khi nồng

độ cholesterol và LDL-C ở mức bình

thường nhưng nếu tăng triglycerid và

giảm HDLc huyết tương thì nguy cơ xảy

ra nhồi máu cơ tim tăng cao gấp 2 lần [7]

Điều trị rối loạn lipid máu làm giảm tỉ lệ

tử vong ở các bệnh lý tim mạch, tần suất

các biến cố liên quan đến động mạch vành

giảm 24% khi nồng độ triglycerid huyết

tương giảm 31% kết hợp với tăng HDL-C

6% với mức LDL-C ổn định [4]

Trong rối loạn lipid máu 3 thành phần

thì tăng cholesterol, tăng triglyceride và tăng LDL-C chiếm chủ yếu với 12,8%

Tỉ lệ này trong nghiên cứu của Lâm Kim Phượng là 21,5% [1] Một đặc điểm trùng hợp nữa là trong nghiên cứu về rối loạn 3 thành phần thì kiểu rối loạn tăng cholesterol, tăng triglycerid và LDL-C

và tăng cholesterol – tăng LDL-C - giảm HDL-C chiếm ưu thế trong đó tăng cholesterol – tăng LDL-C – tăng triglycerid chiếm tỉ lệ cao nhất Theo Rubins HB và cộng sự (1999) ở bệnh nhân bênh ĐMV nếu kiểu rối loạn lipid có tăng

2 thành phần là triglycerid và cholesterol thì nguy cơ tử vong cao hơn [6]

5 Số lượng thành phần lipid bị rối loạn và nhóm tuổi

Bảng 5 Số lượng thành phần lipid bị rối loạn và nhóm tuổi

<60 (1) 60-69 ≥70 (2)

Tăng Cholesterol

Có(n,%)

Nhận xét: Nhóm tuổi <60 có tần suất rối loạn thành phần lipid máu cao hơn nhóm

>70 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Trong cơ thể sống, chuyển hoá các chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong đó là tuổi Sự tồn tại của cơ thể sống qua

Trang 10

thời gian được phân ra giai đoạn phát triển trưởng thành và giai đoạn thoái hoá, đây là qui luật tự nhiên Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Quang Bình [3], Lâm Kim Phượng (2009) [1], Namita Mahalle và cộng sự (2014) [5].

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 141 bệnh nhân mắc

bệnh tim thiếu máu cục bộ điều trị tại

Bệnh viện quân y 175, thời gian từ tháng

12/2015 đến 6/2017, chúng tôi rút ra một

số kết luận như sau:

Tỷ lệ BN có RLLPM là 83,7%

Tần suất các rối loạn thành phần lipid

là: có 66,7% bệnh nhân tăng triglyceride,

37,6% bệnh nhân giảm HDL-C, 32,6%

bệnh nhân tăng cholesterol và 31,2% bệnh

nhân tăng LDL-C

Trong kiểu RLLPM 1 thành phần

thì tăng triglycerid đơn thuần gặp nhiều

hơn (20,34%) Trong kiểu RLLPM 2

Nhóm tuổi ≥70 có tỉ lệ rối loạn các

thành phần lipid máu thấp hơn nhóm tuổi

<60 (p<0,01)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lâm Kim Phượng (2009), “Nghiên

cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân bệnh

động mạch vành”, Luận văn chuyên khoa

2

2 Nguyễn Lân Việt, Phạm Việt Tuân

(2010), “Nghiên cứu mô hình bệnh tật

ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện tim

mạch Việt Nam trong thời gian

2003-2007”, tạp chí tim mạch học Việt Nam, số

52, trang 11- 18

3 Trương Quang Bình (2001),

“Nghiên cứu rối loạn lipid, Lipoprotein ở

bệnh nhân động mạch vành” Luận văn tốt nghiệp tiến sĩ Y học, 4 Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

4 Meigh JB, Larson MG, D,Agostino

RB, Levy D et all (2002), “Coronary artery calcification in type 2 diabetes and insulin resistance”, Diabetes Care, 25, pp 1313-1319

5 Namita Mahalle, M K Garg, Sadanand S Naik, Mohan V Kulkarni (2014), “Study of pattern of dyslipidemia and its correlation with cardiovascular risk factors in patients with proven coronary artery disease”, Indian Journal

of Endocrinology and Metabolism, 18, 48-55

6 Rubins HB, Robins SJ, Collins, D et

al (1999), “Gemfibrozil fo the secondery prevention of coronary heart disease in men with low levels of hight – density lipoprotein cholesterol Veterans Affairs High- Density lipoprotein cholesterol Intervention Trial Study Group”, N Engl

J Med, 341, pp 410-418

7 Sposito AC, Lemos PA, Santos

RD, Hueb W et al (2004), "Impaired intravascular triglyceride lipolysis constitutes marker of clinical outcome in patients with stable angina undergoing secondary prevention treatment”, J Am Col Cardiol, 43, pp.2225-2232

8 Thom T, Haase N, Rosamond

W, et al (2006), Heart disease and stroke statistics- 2006 up date: a report from the American Heart Association statistics Committee and Stroke statistics Subcommittee Circulation, 113 (25), pp e85- 151

Trang 11

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tình trạng hạ huyết áp tư thế ở người cao tuổi ( NCT) có tăng huyết áp (THA) đang điều trị Phòng khám - Bệnh viện Quân Y 175 và khảo sát liên quan giữa kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu và hạ huyết áp tư thế.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 390 bệnh nhân cao tuổi THA đang điều trị ngoại trú tại Khoa Điều trị cán bộ cao cấp Quân đội- Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 10/2015 đến tháng 3/2016.

Kết quả: Tỷ lệ hạ huyết áp tư thế là 14,4%; tỷ lệ này tăng cao có ý nghĩa ở nhóm từ

80 tuổi trở lên là 22,2% và chỉ có 51,8% những bệnh nhân hạ huyết áp tư thế có triệu chứng đi kèm Bệnh nhân bị hạ huyết áp tư thế khó có khả năng kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu hơn những bệnh nhân không hạ huyết áp tư thế (OR=0,456; 95% CI= 0,26 – 0,81; p=0,007).

EXAMINATION OF POSTURAL HYPERTENSION IN HYPERTENSIVE ELDERLY (THT) PATIENTS WHO ARE RECEIVING TREATMENT AT THE

CLINIC, MILITARY HOSPITAL 175

SUMMARY

Objectives: Examination of postural hypertension in hypertensive elderly (THT) patients who are receiving treatment at the clinic, Military Hospital 175 and related studies between control of target blood pressure and postural hypotension.

Subjects and methods of research: Study method is cross sectional description with

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG HẠ HUYẾT ÁP TƯ THẾ Ở NGƯỜI CAO TUỔI CÓ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI PHÒNG KHÁM KHOA

CÁN BỘ CAO CẤP BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Thân Hồng Anh 1 , Lâm Mỹ Hằng 1 , Nguyễn Hồng Vũ 1 , Nguyễn Đình Tuấn 1

Nguyễn Mạnh Hùng 1 , Trần Thị Phương Lan 1 , Đoàn Thanh Hải 1 Đặng Văn Thanh 1 , Nguyễn Đặng Phương Kiều 1 , Nguyễn Thị Thu Ngân 1

(1) Bệnh viện Quân 175

Người phản hồi (Corresponding): Thân Hồng Anh (thanhonganh175@gmail.com)

Ngày nhận bài: 11/8/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/8/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 12

390 hypertensive elderly patients treated for hypertension in the department of treating senior- Military Medical Hospital 175 from 10/2015 to 3/2016.

Result: The prevalence of orthostatic hypotension is 14,4%; this rate in the old group was 22.2% significantly higher than that of the younger; 51,8 % of postural hypotensive pateints with symptoms Patients with postural hypotension are less likely

80-year-to achieve target blood pressure control than those without postural hypotension (OR = 0.456; 95% CI = 0.26 - 0.81; p = 0.007).

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Hạ huyết áp tư thế theo Hội Thần

Kinh và tự chủ Hoa Kỳ và Viện Thần

Kinh Hoa Kỳ là tình trạng lâm sàng với

huyết áp tâm thu giảm ít nhất 20 mmHg

và/hoặc huyết áp tâm trương giảm ít nhất

10 mmHg khi đứng trong vòng 3 phút Hạ

huyết áp tư thế chiếm một tỷ lệ đáng kể ở

NCT có THA khoảng từ 5 - 30% [6] Đây

là một trong những rào cản trong kiểm

soát huyết áp ở NCT và được cho là yếu

tố nguy cơ độc lập cho té ngã, suy yếu và

tử vong

Các công trình nghiên cứu về hạ

huyết áp tư thế ở người cao tuổi ở Việt

nam còn hạn chế: nghiên cứu của Nguyễn

Văn Trí tại cộng đồng phía Nam và

ng-hiên cứu của Vũ Mai Hương tại Bệnh viện

Lão khoa Trung Ương [3],[2] Việc điều

trị THA từ trước tới nay thường chỉ chú

ý đạt huyết áp mục tiêu theo các khuyến

khảo sát mối liên quan giữa kiểm soát

huyết áp đạt mục tiêu và hạ huyết áp tư

thế

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Những bệnh nhân THA ≥ 60 tuổi đang điều trị THA ngoại trú THA từ 1 tháng trở lên tại phòng khám Khoa Điều trị cán bộ cao cấp Quân đội bệnh viện quân y 175 từ tháng 10/2015 đến tháng 3/2016

Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính (nhiễm trùng, đột quỵ cấp, nhồi náu cơ tim cấp, ); bệnh nhân không hợp tác (giảm thính lực, không hợp tác, ) và không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, có phân tích

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

tương ứng với độ tin cậy 95%;

p = 16,4%: tỉ lệ người cao tuổi bị THA có hạ huyết áp tư thế theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trí năm 2016[3] d: sai số 5% ta được n = 211 ngườiCác tiêu chuẩn chẩn đoán:

Hạ huyết áp tư thế: Theo tiêu chuẩn của Hội Thần Kinh Hoa Kỳ

Kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu:

Trang 13

Theo tiêu chuẩn của JNC 8.

+ Bệnh nhân ≥ 60 tuổi huyết áp đạt

dưới 150/90 mmHg

+ Bệnh nhân đái tháo đường và/hoặc

bệnh thận mạn huyết áp đạt dưới 140/90

mmHg với bất kỳ lứa tuổi

Đái tháo đường: Bệnh nhân mới được

chẩn đoán theo tiêu chuẩn của hiệp hội đái

tháo đường Hoa Kỳ năm 2009; bệnh nhân

đã được chẩn đoán và đang điều trị đái

tháo đường

Bệnh thận mạn: Bệnh nhân mới được

chẩn đoán theo tiêu chuẩn của KDOQI-

Hội thận học Hoa Kỳ năm 2002; BN đã

được chẩn đoán bệnh thận mạn và có mức

lọc cầu thận ước đoán < 60 ml/p/1,73m2

Rối loạn lipid máu: được chẩn đoán

theo tiêu chuẩn của ESH/ESC 2013; đã

được chẩn đoán và đang điều trị rối loạn

lipid máu

Thừa cân - Béo phì: dựa vào tiêu

chuẩn dành cho người châu Á theo đề

nghị của WHO năm 2000

Các bước tiến hành trên bệnh nhân:

Bệnh nhân được giải thích quá trình thực

hiện nghiên cứu và đều tự nguyện tham

Làm các xét nghiệm cận lâm sàng: nhóm mỡ, đường máu, định lượng creati-nine huyết thanh, albumin niệu

Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo phần mềm thống kê y học SPSS 20.0Vấn đề y đức:

Đây là nghiên cứu quan sát, thực hiện bằng cách phỏng vấn, hỏi bệnh và khám bệnh và hoàn toàn tôn trọng quyền không tham gia nghiên cứu của đối tượng

Nghiên cứu nhằm phát hiện các vấn

đề sức khỏe mà không can thiệp vào quá trình điều trị và người bệnh hoàn toàn được bảo mật thông tin

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu có 390 bệnh nhân thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh

Trang 14

Bảng 1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %

Bảng 2: Tình trạng hạ huyết áp tư thế

Tỷ lệ hạ huyết áp tư thế ở bệnh nhân THA đang điều trị tương đối cao: 14,4% và trên 50% bệnh nhân có triệu chứng đi kèm như: chóng mặt, choáng váng, hoa mắt, đau đầu, tối sầm và có tới 48,2% không có triệu chứng đi kèm

Trang 15

Bảng 3: Đặc điểm hạ huyết áp tư thế

Nhóm bệnh nhân

Thừa cân – Béo phì

Nhóm bệnh nhân có tuổi từ 80 trở lên có tỷ lệ hạ huyết áp tư thế là 22% cao hơn có

ý nghĩa so với bệnh nhân THA dưới 80 tuổi l2,3%

Bảng 4 Liên quan giữa kiểm soát huyết áp và hạ huyết áp tư thế

Hạ huyết áp

Tỷ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu ở nhóm hạ huyết áp tư thế là 39,3% thấp hơn

có ý nghĩa so với nhóm không hạ huyết áp tư thế là 58,7%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với OR = 0,456; 95% CI = 0,26 – 0,81; p = 0,007

BÀN LUẬN

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu hầu

hết là nam giới: 98,7%; đây cũng là đặc

điểm bệnh nhân tại khoa cán bộ cao cấp

Quân đội bệnh viện 175 Trong mẫu

ng-hiên cứu, có 14,4% bệnh nhân có hạ

huyết áp tư thế đứng và trong số đó chỉ

có 51,8% bệnh nhân xuất hiện các triệu

chứng như: đau đầu chóng mặt, choáng

váng và không có trường hợp nào ngất

Tỷ lệ hạ huyết áp tư thế đứng ở NCT tại

cộng đồng tỉnh Bến Tre trong nghiên cứu

của Nguyễn Văn Trí trong nhóm có THA

là 16,4%, có 59,5% bệnh nhân có các triệu chứng đi kèm [3] Nghiên cứu của Vũ Mai Hương cho thấy tỷ lệ hạ huyết áp tư thế ở bệnh nhân THA tại Viện Lão Khoa Trung Ương là 35,6% và khoảng 70% bệnh nhân

có triệu chứng [1] Như vậy, tỷ lệ hạ huyết

áp tư thế đứng ở NCT có THA trong các nghiên cứu trong nước khoảng từ 16% đến 35% [2]

Trên thế giới tỷ lệ, ở NCT có THA, tỷ lệ hạ huyết áp tư thế trong nghiên cứu SHEP là 17,3%; nghiên cứu HYVET

Trang 16

ở những bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên là

8,3% [9], [5] Một nghiên cứu của

Valbu-sa ở NCT tại nhà dưỡng lão có THA thì tỷ

lệ này là 18% [10]]

Hạ huyết áp tư thế đứng tăng dần theo

tuổi, đặc biệt nhóm tuổi từ 80 trở lên có tới

22,2% bị hạ huyết áp tư thế cao hơn có ý

nghĩa so với nhóm tuổi ít hơn 80 Nghiên

cứu của Vũ Mai Hương và Phạm Thắng

tại Viện Lão khoa Trung Ương nhận thấy

tỷ lệ hạ huyết áp tư thế ở nhóm bệnh nhân

từ 75 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ khoảng 30%

cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh

nhân ít tuổi hơn[1],[2] Nghiên cứu của

Barochiner J và cộng sự trên những bệnh

nhân THA đang điều trị nhận thấy, tỷ lệ hạ

huyết áp tư thế ở nhóm người dưới 65 tuổi

là 3,6%; từ 65 đến 79 tuổi là 12,2% và

từ 80 tuổi trở lên là 16,7%[4] Người cao

tuổi đặc biệt nhậy cảm với tình trạng hạ

huyết áp tư thế do giảm sút lúc tuổi cao về

độ nhậy của các thụ thể áp lực, về trương

lực phó giao cảm, về khả năng co mạch

của các thụ thể α1, về độ giãn nở của tim

và hệ tĩnh mạch, làm ảnh hưởng đến khả

năng bù trừ bình thường với tình trạng

biến đổi thể tích lòng mạch ở tư thế đứng

Người cao tuổi cũng hay có suy giảm cảm

giác khát, giảm khả năng giữ muối/nước,

làm tăng nguy cơ mất nước và giảm thể

tích tuần hoàn, tất cả góp phần thúc đẩy

hạ huyết áp tư thế Ngoài ra, rối loạn hệ

thần kinh tự động cũng góp phần thúc đẩy

hạ huyết áp tư thế do ảnh hưởng đến khả

năng co mạch và các đáp ứng thần kinh thể

dịch, bình thường vốn hỗ trợ duy trì huyết

áp khi đứng Các bệnh lý hay gặp ở NCT

như: THA, đái tháo đường, xơ cứng rải

rác, suy thận mạn, bệnh gan mạn, bệnh đa

dây thần kinh thoái hóa myelin là nguyên

nhân gây hạ huyết áp tư thế do rối loạn hệ

thần kinh tự chủ Trong nghiên cứu của chúng tôi, hạ huyết áp tư thế trong nhóm THA không có đái tháo đường và bệnh thận mạn chỉ chiếm 10,7%, nhưng tỷ lệ này tăng lên 16,7% ở nhóm có đái tháo đường và 21,4% ở nhóm có bệnh thân mạn Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ kiểm soát huyết áp ở nhóm hạ huyết áp

tư thế đứng chỉ có 39,3% thấp hơn so với nhóm không hạ huyết áp tư thế là 58,7%

và khả năng kiểm soát huyết áp của nhóm

hạ huyết áp tư thế chỉ bằng 0,456 lần so với nhóm không bị hạ huyết áp tư thế với

p = 0,007 Như vậy hạ huyết áp tư thế đứng là một rào cản đối với việc kiểm soát tốt huyết áp ở NCT

Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định của Shen SS và cộng

sự khi nghiên cứu mối liên quan giữa việc không kiểm soát huyết áp và hạ huyết áp

tư thế đứng với việc đứng thăng bằng của bệnh nhân cao tuổi có THA nhận thấy, tỷ

lệ không kiểm soát của nhóm hạ huyết áp

tư thế là 63,9% cao hơn đáng kể so với nhóm không hạ huyết áp tư thế là 27,9% với p < 0,001[8]

Valbusa trong nghiên cứu về NCT của mình cũng cho rằng hạ huyết áp tư thế xảy

ra thường xuyên hơn ở nhóm bệnh nhân

có huyết áp không được kiểm soát Tác giả cho rằng, bệnh nhân không kiểm soát được huyết áp thường có tình trạng lợi tiểu về đêm do huyết áp cao dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn và làm trầm trọng hơn tình trạng hạ huyết áp tư thế đứng [10] Nghiên cứu của Barochiner J và Sáez T cũng nhận thấy có sự liên quan giữa kiểm soát huyết áp và hạ huyết áp tư thế đứng [4],[7]

Trang 17

Đối với NCT có THA, hạ huyết áp

tư thế thường khiến người bệnh tự dừng

uống thuốc hạ huyết áp để hạn chế cơn

hạ huyết áp tư thế, giảm chóng mặt và té

ngã Mặt khác các thầy thuốc cũng được

khuyến cáo dùng thuốc nên điều chỉnh

phù hợp với mức huyết áp thấp và đây có

lẽ là các lý do khiến cho kiểm soát huyết

áp ở bệnh nhân có hạ huyết áp tư thế khó

khăn hơn

KẾT LUẬN

Quan nghiên cứu 390 bệnh nhân cao

tuổi THA đang điều trị ngoại trú tại Phòng

khám khoa Điều trị cán bộ cao cấp Quân

Đội bệnh viện quân y 175 chúng tôi nhận

thấy:

Tỷ lệ hạ huyết áp tư thế ở bệnh nhân

cao tuổi THA là 14,4%; tỷ lệ này tăng cao

có ý nghĩa ở nhóm tuổi từ 80 trở lên là

22,2%; chỉ có khoảng trên 50% bệnh nhân

hạ huyết áp tư thế là có triệu chứng đi

kèm như chóng mặt, choáng váng, buồn

nôn,…

Bệnh nhân bị hạ huyết áp tư thế

khó có khả năng kiểm soát huyết áp đạt

mục tiêu hơn những bệnh nhân không

hạ huyết áp tư thế (OR=0,456; 95% CI=

0,26 – 0,81; p=0,007)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Vũ Mai Hương (2003), Tìm hiểu tỷ

lệ hạ huyết áp tư thế đứng một số yếu tố

nguy cơ ở người cao tuổi tại một thị xã

và tại Viện Lão khoa, Luận án tốt nghiệp

chuyên khoa 2, Đại học Y Hà nội

2.Phạm Thắng và cs (2003), “Tìm

hiểu tỷ lệ hạ huyết áp tư thế ở người già

sống tại cộng đồng”, Tạp chí nội khoa, 3,

tr 6-11

3.Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Trần Tố

Trân và cs (2016), “Tình hình hạ huyết áp

tư thế ở người cao tuổi trong cộng đồng

xã Vĩnh Thạch, tỉnh Bến Tre”, Chuyên đề tim mạch học; 2, tr: 7-10

4.Barochiner J et al, (2012)

“Orthstatic hypotension in Treated hypertension patients” Rom.J Intern.Med, 50 (3), pp 203 – 209

5.Beckett NS, Ruth Peters et al (2008),

“Treatment of Hypertension in Patients

80 Years of Age or Older”, N Engl J Med,

358, pp: 1887-1898 (HYVET)

6.Lahrmann H, Cortelli P, et al (2006),

“EFNS guidelines on the diagnosis and management of orthostatic hypotension” European journal of neurology, 13, pp 930-6

7.Sáez T, Suárez C et al (2000),

“Orthostatic hypotension in the aged and its association with antihypertensive treatment”, Med Clin (Barc), 114(14), pp: 525-9

8.Shen SS, He T, et al, (2015),

“Uncontrolled hypertension and orthostatic hypotension in relation to standing balance in elderly hypertensive patients”, Journal List Clin Interv Agingv,

in nursing home: the PARTAGE study” Hypertens, 30, pp 53-60

Trang 18

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với các chỉ điểm sinh học tổn thương cơ tim và các thang điểm tiên lượng TIMI, GRACE và điểm lượng giá tổn thương động mạch vành GENSINI.

Phương pháp: Tiến cứu, mô tả cắt ngang.

Đối tượng: 44 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được nhập viện và điều trị tại khoa tim mạch, bệnh viện quân y 175 từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2017.

Kết quả: Nồng độ NT-proBNP huyết tương trung bình lúc nhập viện là 1499,1± 2799,7 (pg/ml), sau 72 giờ là 4382,9±5861,5 (pg/ml) Nồng độ NT-proBNP huyết tương thời điểm nhập viện tương quan thuận khá chặt với nồng độ Troponin T huyết tương với r=0,572, p<0,001 Nồng độ NT-proBNP sau 72 giờ tương quan thuận với Troponin

T (r=0,334, p<0,05), với các thang điểm tiên lượng TIMI (r=0,403, p<0,01); GRACE (r=0,338, p<0,01) và với điểm GENSINI (r=0,321, p<0,05)

Kết luận: Nồng độ NT-proBNP huyết tương thời điểm nhập viện tương quan thuận với nồng độ Troponin T huyết tương Đồng thời, nồng độ NT-proBNP sau 72 giờ tương quan thuận với Troponin T, các thang điểm tiên lượng TIMI; GRACE và với điểm Gensini.

Từ khóa: NT-proBNP, nhồi máu cơ tim cấp

INVESTIGATE THE CORRELATION OF NT-PROBNP CONCENTRATIONS WITH BIOCHEMICAL CARDIOMYOPATHY

SUMMARY

Objectives: To investigate the correlation of NT-proBNP concentrations with biochemical cardiomyopathy and TIMI, GRACE score and GENSINI score

Methods: Descriptive, cross sectional descriptive study.

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ NT-proBNP HUYẾT TƯƠNG

Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Đào Quốc Tuấn 1 , Trương Đình Cẩm 2

(1) Bệnh viện Quân y 16, Binh Đoàn 16

(2) Bệnh viện Quân 175

Người phản hồi (Corresponding): Đào Quốc Tuấn (daoquoctuan1976@gmail.com)

Ngày nhận bài: 12/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 19

Subjects: 44 patients with acute myocardio infarction were hospitalized and treated

in the cardiology department, hospital 175 from January 2016 to May 2017.

Results: Plasma NT-proBNP concentration was 1499.1±2799.7 pg/ml, after 72 hours was 4382.9±5861.5 pg/ml Plasma NT-proBNP plasma concentrations were relatively well correlated with serum Troponin T concentrations with r=0.572, p<0.001 The NT- proBNP concentration after 72 h was positively correlated with Troponin T (r=0.334, p<0.05), with TIMI scores (r=0.403, p <0.01); GRACE score (r=0.338, p<0.01) and with GENSINI score (r = 0.321, p<0.05)

Conclusions: The plasma NT-proBNP plasma concentration was significantly correlated with serum Troponin T levels At the same time, NT-proBNP concentrations after 72 h were positively correlated with Troponin T, TIMI prognostic scores; GRACE and with Gensini points.

Key word: NT-proBNP, acute myocardio infarction (AMI)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhồi máu cơ tim cấp (NMCT) là một

cấp cứu tim mạch rất nặng Thống kê tại

Mỹ, trung bình mỗi năm có khoảng 1,5

triệu người bị NMCT Tỉ lệ tử vong do

NMCT cấp còn khá cao, trên thế giới mỗi

năm có khoảng 2,5 triệu người chết vì

NMCT, trong đó 25% BN chết trong giai

đoạn cấp tính Chẩn đoán xác định, đánh

giá phân tầng nguy cơ sớm và lựa chọn

phương pháp điều trị tối ưu sẽ đem lại lợi

ích sống còn, giảm, tỉ lệ biến chứng, tàn

phế và tử vong cho người bệnh [1]

NT-proBNP, một chỉ điểm sinh học

mới được tiết ra từ cơ thất khi có thiếu

máu cơ tim và tăng áp lực thành tim, có

vai trò trong chẩn đoán, tiên lượng và

phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân NMCT

[3], [5], [9]

Hiện nay nồng độ NT-proBNP huyết

tương được sử dụng rộng rãi trong thực

hành lâm sàng vì có nhiều ưu điểm: xét

nghiệm cho kết quả nhanh, độ nhạy và độ

đặc hiệu cao, giá cả hợp lý nên nó thực sự

cần thiết và hữu ích trong chẩn đoán, tiên

lượng và xử trí NMCT cấp

Chính vì những lý do trên chúng tôi

tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu nồng

độ NT-proBNP huyết tương ở bệnh nhân NMCT cấp” nhằm mục tiêu tìm hiểu mối

liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương và nồng độ Troponin T, các thang điểm tiên lượng TIMI, GRACE và điểm GENSINI

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng: Gồm 44 bệnh nhân

NMCT cấp chẩn đoán theo định nghĩa toàn cầu lần thứ 3 về nhồi máu cơ tim của ESC/ACCF/AHA/WHF Phân tầng nguy cơ theo thang điểm TIMI, GRACE

và lượng hoá tổn thương ĐMV theo thang điểm GENSINI Tiêu chuẩn loại trừ khi bệnh nhân đồng mắc các bệnh gây thiếu oxy cơ tim và/hoặc gây căng giãn thành tim Các BN được định lương nồng độ NT-proBNP huyết tương lúc nhập viện và sau 72 giờ

2 Phương pháp nghiên cứu: Tiến

cứu, mô tả cắt ngang

3 Thu thập và xử lí số liệu BN vào

viện được xử lí theo qui trình cấp cứu

Trang 20

NMCT cấp Số liệu được lấy theo mẫu

nghiên cứu Xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm về tuổi và giới

Bảng 1 Đặc điểm về tuổi, giới.

Nhận xét: Tuổi trung bình 58,5±12,8; tuổi trung bình nam giới cao hơn nữ giới, tỉ

lệ Nam/Nữ =3,9/1 Đặc điểm này tương tự một số tác giả khác trên thế giới [3], [7], [9]

2 Tương quan NT-proBNP huyết tương và các dấu ấn sinh học

Bảng 2: Tương quan NT-proBNP thời điểm nhập viện và các dấu ấn sinh học.

Thời điểm nhập viện n Tương quan Spearman

Nhận xét: Có sự tương quan thuận tương đối chặt giữa nồng độ NT-proBNP huyết

tương và nồng độ Troponin T (TnT) thời điểm nhập viện Kết quả này phù hợp với hiên cứu của Durak-Nalbantic và cs (2012) [3]

ng-3 Tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương sau 72 giờ và các dấu ấn sinh học

Bảng 3 Tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương sau 72 giờ với các dấu

Nhận xét: Trong NMCT dấu ấn CK

và CK-MB tăng từ giờ thứ 6, đạt đỉnh sau

24-36 giờ và trở lại bình thường sau 3-5

ngày Creatinin Kinase và CK-MB là 2

men tăng sớm nhưng không chuyên biệt

cho cơ tim, nó hữu ích cho chẩn đoán độ rộng của NMCT hơn là chẩn đoán sớm Nồng độ NT-pro BNP huyết tương vào ngày thứ 3 sau khi nhập viện tương ứng với kích thước nhồi máu cấp tính, nồng

Trang 21

độ NT-proBNP huyết tương kết hợp với

CK-MB trong 3 ngày đầu của bệnh dự

báo tái cấu trúc thất trái trong NMCT cấp

[4] Theo Luiz Ricardo A (2011) có tương

quan thuận giữa NT-proBNP huyết tương

và nồng độ CK-MB với r=0,387, p<0,001

[2] Trong 44 BN nghiên cứu của chúng

tôi không có tương quan có ý nghĩa giữa

nồng độ NT-proBNP huyết tương lúc

nhập viện và nồng độ CK hoặc CK-MB

huyết tương cùng thời điểm, nhưng nồng

độ NT-proBNP sau 72 giờ có tương quan

thuận với nồng độ CK-MB huyết tương

với r=0,310, p=0,040 Như vậy sự phản

ánh độ rộng của vùng nhồi máu có lẽ là

nguyên nhân của tương quan thuận giữa

nồng độ NT-proBNP sau 72 giờ với nồng

độ CK-MB huyết tương ở giai đoạn sau

của NMCT cấp Sau NMCT cấp tái cấu

trúc thất trái diễn ra theo hai giai đoạn,

giai đoạn sớm xảy ra trong thời kỳ cấp

tính ở vùng cơ tim tổn thương và giai

đoạn muộn ở vùng cơ tim lành làm phì

đại cơ tim [1] Nồng độ NT-proBNP huyết

tương ở thời điểm sau 72 giờ nhập viện

tương quan thuận với nồng độ CK-MB

huyết tương có lẽ phản ánh được sự liên

quan giữa “độ rộng” của vùng nhồi máu

và tình trạng rối loạn tái cấu trúc thất trái sau NMCT

Liên quan NT-proBNP và TnT:

Has-san Namazi và cs (2016) nghiên cứu 100

BN bị HCVC kết quả nồng độ BNP ở bệnh nhân HCVC tương quan thuận với nồng độ troponin I (r = 0,779) [5] Trong nghiên cứu chúng tôi kết quả

NT-Pro-là có sự tương quan thuận giữa nồng độ NT-proBNP và nồng độ TnT huyết tương Ở thời điểm nhập viện tương quan thuận giữa 2 giá trị này tương đối chặt với r=0,572 và p<0,001 Sau 72 giờ nồng độ NT-proBNP huyết tương cũng tương quan thuận mức độ vừa với nồng độ Troponin T lúc nhập viện r=0,334, p<0,05 Troponin T huyết tương phản ánh tổn thương thực thể

cơ tim và NT-proBNP huyết tương phản ánh rối loạn tái cấu trúc , rối loạn chuyển hoá và rối loạn chức năng tim Sự tương quan giữa nồng độ Troponin T và nồng độ NT-proBNP phản ánh sự tương quan nhân quả của tổn thương cấu trúc dẫn đến rối loạn chức năng tim Đặc điểm này hoàn toàn phù hợp với y văn và các nghiên cứu trong và ngoài nước

4 Tương quan nồng độ NT-proBNP huyết tương và các thang điểm tiên lượng

Bảng 4 Tương quan nồng độ NT-proBNP huyết tương và các thang điểm tiên lượng

NT-proBNP nhập viện 44 r = -0,19 r = 0,388 r =0,141 p=0,360

NT-proBNP sau 72 giờ 44 p=0,903 p=0,009 r=0,403 p=0,004 Nhận xét: Có sự tương quan thuận giữa nồng độ NT-proBNP sau 72 giờ và điểm

số GRACE và điểm số TIMI

- Liên quan NT-proBNP và thang

điểm TIMI: Nồng độ NT-proBNP huyết

tương có giá trị tiên lượng ngắn hạn và dài

hạn bệnh nhân NMCT [10] Theo Khan

SQ và cs (2008) nồng độ NT-proBNP

huyết tương là yếu tố tiên lượng tử vong

tốt hơn và độc lập hơn thang điểm TIMI trong NMCT cấp có đoạn ST chênh lên [9] Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

có sự tương quan thuận mức độ vừa giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương sau 72 giờ và điểm nguy cơ TIMI với r=0,403 và

Trang 22

p=0,004

- Liên quan NT-proBNP huyết

tương và thang điểm GRACE:

Ng-hiên cứu của chúng tôi nhận thấy có sự

tương quan thuận mức độ vừa (r=0,388)

giữa nồng độ NT-proBNP sau 72 giờ với

điểm GRACE với p<0,01 Dirk AAM

Schellings và cs (2016) nghiên cứu so

sánh giá trị tiên lượng trong 30 ngày ở

bệnh nhân hội chứng vành cấp (HCVC) không ST chênh lên của NT-proBNP huyết tương, điểm GRACE và điểm TIMI kết luận giá trị tiên lượng của nồng độ NT-proBNP huyết tương tương tự giá trị dự tiên lượng của điểm GRACE, phân tích hồi qui đa biến logictic tác giả thấy NT-proBNP có giá trị tiên lượng độc lập với p=0,003 [8]

5 Liên quan NT-proBNP và tổn thương ĐMV.

Bảng 5: Tương quan với điểm Gensini

n Điểm Gensini

Nhận xét: Nghiên cứu 2014 của Hanan Radwan và cs kết luận số lượng các mạch

vành bị ảnh hưởng, mức độ nghiêm trọng của hẹp và tổn thương động mạch vành trái (LAD) ở nhóm BN HCVC có nồng độ NT-proBNP lúc nhập viện ≥474 pg/ml cao hơn nhóm còn lại [6] Nồng độ NT-proBNP huyết tương ở bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên và điểm Gensini có tương quan chặt với r=0,96 (p<0,001), và ở nhóm NMCT không ST chênh lên r=0,92, p<0,001 [5]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

tìm thấy tương quan thuận mức độ vừa

giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương

sau 72 giờ và điểm số Gensini với

quả này phù hợp với vai trò tiên lượng của

nồng độ NT-proBNP huyết tương đối với

sự trầm trọng của tổn thương ĐMV được

chứng minh bởi nhiều nghiên cứu trong

và ngoài nước [6]

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 44 BN nhồi máu cơ

tim cấp điều trị tại khoa Tim Mạch- Bệnh

Viện Quân Y 175 chúng tôi rút ra một số

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Tuấn (2015), Nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên, Hà Nội, Nhà xuất bản Y học

2 Luiz Ricardo A, 2 Castro1, 3, Maria Clara N Alencar, 3 Márcia M Barbosa1, 5, 2 Maria do Carmo P Nunes1,

5, José Ronaldo ,Antonio Luiz P Ribeiro1 Cardoso4, 2 (2011), “NT-proBNP Levels in Patients with Non-ST-segment

Trang 23

Elevation Acute Coronary Syndrome”,

Arquivos Brasileiros de Cardiologia, 97,

pp 454=461

3 Azra Durak-Nalbantić, Alen

Džubur, Mirza Dilić, Žana Pozderac,

Alma Mujanović-Narančić, Mehmed

Kulić, Enisa Hodžić, Nerma Resić,

Snežana Brdjanović ,Faris Zvizdić (2012),

“Brain natriuretic peptide release in acute

myocardial infarction”, Bosnian Journal

of Basic Medical Sciences, 12, 164-168

4 Jen-Te Hsu, Chang-Min Chung,

Chi-Ming Chu, Yu-Shen Lin, Kuo-Li Pan,

Jung-Jung Chang, Po-Chang Wang,

Shih-Tai Chang, Teng-Yao Yang, Shih-Jung

Jang, Tsung-Han Yang ,Ju-Feng Hsiao

(2017), “Predictors of Left Ventricle

Remodeling: Combined Plasma B-type

Natriuretic Peptide Decreasing Ratio and

Peak Creatine Kinase-MB”, International

Journal of Medical Sciences, 14, 75-85

5 Mohammad Hassan Namazi,

Hossein Vakili, Mahsa Charkhkar, Latif

Gachkar ,Isa Khaheshi (2016), “The

Correlation between Serum Level of

N-Terminal Pro-B-type Natriuretic

Peptide and Gensini Score in Patients with

Acute Coronary Syndrome”, International

Journal of Cardiovascular 1(2), pp 36-40

6 Hanan Radwan, Abdelhakem

Selem ,Kamel Ghazal (2014), “Value of

N-terminal pro brain natriuretic peptide

in predicting prognosis and severity of

coronary artery disease in acute coronary syndrome”, Journal of the Saudi Heart Association, 26(4), Pages 192–198

7 Faheem Abd EL Azim Rageb, Dalia Mohammed Rageb, Ahmed Hossam Moafy, Amr Mohammed Essmat ,Ahmed Fathy Mohammed Mahmoud (2017),

“Detection of severity of Acute Coronary Syndrome using N Terminal PRO-BNP and as a prognostic marker”, Journal of American Science 13(2), pp 43-48

8 Dirk AAM Schellings, Ahmet Adiyaman, Jan-Henk E Dambrink, AT Marcel Gosselink, Elvin Kedhi, Vincent Roolvink, Jan Paul Ottervanger ,Arnoud

WJ van’t Hof (2016), “Predictive value

of NT-proBNP for 30-day mortality in patients with non-ST-elevation acute coronary syndromes: a comparison with the GRACE and TIMI risk scores”, Vascular Health and Risk Management,

12, pp 471-476

9 Khan SQ, Quinn P ,Davies JE and

Ng LL (2008), “N-terminal pro-B-type natriuretic peptide is better than TIMI risk score at predicting death after acute myocardial infarction”, Heart, 94, pp.40–43

10 Omland T ,De Lemos JA (2008),

“Amino-Terminal Pro–B-Type Natriuretic Peptides in Stable and Unstable Ischemic Heart Disease”, Am J Cardiol, 101, pp.61A–66A

Trang 24

TÓM TẮT

Tình hình chung và mục tiêu nghiên cứu: Điều trị ung thư bằng hóa chất độc tế bào thường dẫn đến sự tăng sản xuất acid uric do phân hủy nhanh chóng acid nucleic của tế bào Sự tăng acid uric này dẩn đến kết lắng acid uric ở đường tiết niệu trầm trọng, đôi khi dẩn đến tử vong, tắc đường niệu Vì vậy, đề tài này nhằm: “ Khảo sát nồng độ acid uric máu ở bệnh nhân được hóa trị ung thư ờ bệnh viện Quân y 175”.

Thiết kế nghiên cứu: mô tả hồi cứu và tiến cứu cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu: hồi cứu bệnh án của 158 bệnh nhân được hóa trị ung thư tại bệnh viện Quân y 175, không mắc bệnh gout, suy thận mạn, uống rượu, không sử dụng thuốc khác làm ảnh hưởng đến nồng độ acid uric máu trừ thuốc trong phác đồ hóa trị ung thư, có theo dỏi nồng độ acid uric trước và sau hóa trị.

Kết quả: có 111 nam (70,25%), và 47 nữ (29,75%) được chọn trong nghiên cứu, cho thấy không có sự khác biệt về nồng độ acid uric máu(p>0,05) trong nghiên cứu này Kết luận: trong nghiên cứu này, không có sự thay đổi về nồng độ acid uric ở các bệnh nhân trước và sau hóa trị

Từ khóa: nồng độ acid uric máu, acid nucleotic.

KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ ACID URIC HUYẾT THANH

Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT

Đòan Văn Đệ 1 , Trần Tuấn Khanh 2

(1) Học viện Quân y

(2) Viện Y Dược Học Dân Tộc

Người phản hồi (Corresponding): Trần Tuấn Khanh (bstuankhanh@gmail.com)

Ngày nhận bài: 12/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 25

fatal, urinary obstruction So the aims of this study to survey serum uric acid levels of oncologic patients treated with chemotherapy.

Study design: descriptive research with retrospective and prospective - cross tional analyses.

sec-Subjects and method: Investigate history case files of 158 patients treated with motherapy at the Military hospital 175.These patients all did not have pre-history cases with gout, chronic kidney failure diseases, using alcohol, and other medicines that effect

on serum uric acid levels (Thiazides, Allopurinol, etc., except medicines in cancer motherapy formulas) Especially they were all tested serum uric acid levels before and after each time of chemotherapy treatment.

che-Results: including 111 history case files of males (70,25 %) and 47 the others of females (29,75 %) are selected randomly in this study The difference in serum uric acid levels between before and after chemotherapy treatments is not statistically significant (p>0,05).

Conclusion: There are no differences in serum uric acid levels between before and after chemotherapy treatments in this study.

Keywords: Uric acid, nucleic acid

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự phát triển của các phương pháp

điều trị ung thư nói chung và hóa trị nói

riêng dựa vào những thành tựu khoa học

cơ bản về ung thư

Tuy nhiên các thuốc hóa trị ung thư

đều gây nên những tác dụng phụ bên cạnh

hiệu quả mong đợi là ức chế tăng trưởng

tế bào ung thư Trong đó hóa trị làm tăng

nồng độ acid uric huyết tương đã được đề

cập trong các tài liệu giáo khoa

Khảo sát nồng độ axít uric huyết

tương ở bệnh nhân được điều trị hóa chất

chống ung thư”, với 2 mục tiêu:

Khảo sát đặc điểm dịch tể (tuổi, giới,

thể trạng) ở bệnh nhân ung thư được điều

trị hóa chất tại Trung tâm ung bướu và Y

học hạt nhân - Bệnh viện Quân y 175

Biến đổi nồng độ acid uric huyết

tương của bệnh nhân sau hóa trị

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu:

Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân –Bệnh viện Quân Y 175 tại thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư theo tiêu chuẩn chẩn đoán hiện tại ở Trung tâm Ung bướu và

Y học hạt nhân –Bệnhviện Quân Y 175 TP.HCM.Có chỉ định điều trị hóa trị theo phác đồ tại Trung tâm Ung bướu và

y học hạt nhân –Bệnh viện Quân Y 175 TP.HCM

Cỡ mẫu: Lấy mẫu thuận tiện, gồm

158 hồ sơ bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân uống rượu, bệnh gout

Trang 26

- Dùng thuốc khác ngoài phác đồ hóa

trị chuẩn của Trung tâm Ung bướu và y

học hạt nhân –Bệnh viện Quân Y 175 làm

ảnh hưởng đến nồng độ a.uric huyết tương

như lợi tiểu Thiazide, Allopurinol, hoặc

mắc bệnh thận mạn,…

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu:

- Hồi cứu các bệnh án đã được điều

trị và các bệnh án đang được điều trị tại

Trung tâm Ung bướu và y học hạt nhân –

Bệnhviện Quân Y 175 Các bệnh án chọn

được bốc ngẫu nhiên tại kho lưu bệnh án

và bệnh án đang điều trị tại Trung tâm

- Tiến hành thu thập các số liệu từ

bệnh án, ghi lại các xét nghiệm ngay

trước đợt hóa trị và sau mỗi đợt hóa trị

(xét nghiệm đầu chu kỳ sau).Ghi nhận các yếu tố liên quan đến nồng độ a.uric:tuổi, giới tính, huyết áp, cân nặng, chỉ số (Body Surface Area), chỉ số tổng trạng (Perfor-mance Status) Creatinin máu, nồng độ a.uric huyết tương theo xét nghiệm chuẩn đang áp dụng tại bệnh viện Quân y 175

- Tính trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ

lệ các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu tuổi, giới tính, chỉ số PS

- Dùng test t để kiểm định thống kê với số liệu từng cặp cho chỉ số acid uric trước và sau hóa trị.Với so sánh hai số trung bình theo phương pháp số liệu từng cặp trường hợp mẫu n ≥30, t được tính theo công thức: [8]

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 - Thời gian tiến hành: 1/7/2016 – 30/5/2017

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu:

Đặc điểm về giới:

Biểu đồ 0.1 P hân bố về giới bệnh nhân trong nghiên cứu.

Nhận xét: tỷ lệ nam chiếm ưu thế 70,25% so với nữ 29,75%.

Đặc điểm về tuổi:

Biểu đồ 0.2 Phân bố theo nhóm tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu

Trang 27

Nhận xét:

- Tuổi nhỏ nhất 29, tuổi lớn nhất 81, tuổi trung bình 55,21± 12,04 (tuổi).

- Nhóm tuổi 51 đến 60 chiếm số lượng nhiều nhất với 49 bệnh nhân (31,01%) 126 bệnh nhân từ 41 đến 70 tuổi, chiếm 79,75%

Nhận xét: - Chỉ số tổng trạng của bệnh nhân nghiên cứu chỉ tập trung ở các mức 1

đến 3 điểm, mức 0 điểm và 4 điểm không có bệnh nhân nào Trong đó, bệnh nhân có PS

=1 chiếm số lượng nhiều nhất (71 bệnh nhân, 44,94%)

- Có sự khác biệt về chỉ số PS chung cả 2 giới, giới nam, giới nữ ở nhóm tổng trạng tốt (PS 0 và 1) so với tổng trạng kém (PS 3 và 4), với p < 0,05 Không có sự khác biệt

về giới ở từng chỉ số PS

Trang 28

2 Các phương pháp điều trị được áp dụng:

Bảng 2 Các phương pháp điều trị được áp dụng

- Phương pháp điều trị áp dụng tại thời điểm nghiên cứu có 22,15% phối hợp với xạ trị (35 trường hợp), còn lại là hóa trị đơn thuần

Chỉ số xét nghiệm máu đánh giá chức năng thận và acid uric trước hóa trị

Bảng 3 Chỉ số xét nghiệm máu đánh giá chức năng thận và acid uric trước hóa trị

Trang 29

Bảng 4 Chỉ số xét nghiệm máu đánh giá chức năng thận và acid uric sau hóa trị

- Chỉ số acid uric trung bình sau hóa trị của mẫu nghiên cứu là 337,11 ± 96,32, chỉ

số thấp nhất và cao nhất lần lượt là 107,70 mmol/L và 758,60 mmol/L

- Chỉ số creatinin trung bình là 80,96 ± 18,58, chỉ số thấp nhất là 35,00 µmol/L, và chỉ số cao nhất của creatinin là 164,00µmol/L

- Chỉ số ure huyết thanh trung bình là 4,91 ± 1,70, chỉ số thấp nhất là 2,00 mmol/L,

và chỉ số cao nhất của ure huyết sau hóa trị là 10,20 mmol/L

- Giá trị trung bình Albumin huyết là 37,16 ± 4,59, giá trị thấp nhất 25,00 (g/L) và giá trị cao nhất 47,00 (g/L)

3 Biến đổi acid uric máu sau hóa trị:

Bảng 5: Biến đổi acid uric máu sau hóa trị

nam vượt trội có thể do đặc điểm mô hình

bệnh tật ung thư tại bệnh viện 175, với

chức năng tiền thân là bệnh viện quân y,

hoặc do thế mạnh về điều kiện cơ sở vật

chất – nhân lực tập trung các bệnh ung thư

mà tỉ lệ nam nhiều hơn nữ theo thống kê

do đã có điều trị chuyên biệt trước hóa trị gồm phẫu, xạ trị trước, kể cả hóa trị trước đó đối với các trường hợp ung thư tái phát Ngoài ra thời điểm lấy mẫu xét nghiệm đánh giá lại sau hóa trị cũng kéo dài nên có thể là yếu tố làm cho có sự điều chỉnh của cơ thể như bài tiết acid uric qua thận tăng lên

KẾT LUẬN

Đặc điểm bệnh ung thư và bệnh nhân được hóa trị trong nghiên cứu:

X

Trang 30

Đặc điểm về giới trong nghiên cứu,

nam giới chiếm ưu thế so với nữ, về tuổi

của nhóm bệnh nhân khảo sát trong

ng-hiên cứu từ 29- 81 tuổi, trong đó tuổi 51

đến 60 chiếm số lượng nhiều nhất Với

chỉ số tổng trạng trung bình của đối tượng

nghiên cứu tập trung ở mức 1 đến mức 3,

trong đó không có mức 4 là mức kém, như

vậy càng an toàn cho hóa trị

Biến đổi nồng độ acid uric máu và

một số chỉ số xét nghiệm máu trong hóa

trị:

Qua khảo sát của nghiên cứu này, sự

biến đổi của nồng độ acid uric máu trước

và sau hóa trị không có sự khác biệt Điều

này là ngược với lý thuyết Do yếu tố phối

hợp nhiều phương pháp điều trị trước hóa

trị, và thời gian đánh giá lại dài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Nghiêm Thị Minh Châu (2013), “U

lympho ác tính (Malignant lymphoma)”,

Bài Giảng Học Viện Quân Y, tr 82 – 86

2 Ngô Quí Châu (2015), Bệnh học nội khoa- ĐHY Hà Nội, NXB Y học - tập

1, tr 129-131

3 Nguyễn Đức Công, Nguyễn Cảnh Toàn (2006), “Mối liên quan giữa nồng độ

AU huyết với huyết áp ở bệnh nhân tăng

huyết áp nguyên phát”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam (43), tr 56-60.

4 HồThị Ngọc Dung, Châu Ngọc Hoa (2009),“Nồng độ acid uric huyết thanh ở

bệnh nhân tăng huyết áp”,Y học thành phố

Trang 31

Se-TÓM TẮT: Tiến hành nghiên cứu ở 76 bệnh nhân lao phổi; 54 bệnh nhân lao phổi

mới AFB(+) và 22 bệnh nhân lao phổi tái phát AFB (+) Đến khám và điều trị nội trú, ngoại trú tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2017 Mục đích nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, X quang phổi chuẩn, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao ở bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) và lao phổi tái phát Kết quả: Các triệu chứng lâm sàng hay gặp: sốt: lao mới: 98,68%, lao tái phát 100%, ho 85,53% hội chứng đông đặc : 33,33% ở lao phổi mới, 54,55% ở lao phổi tái phát * Hình ảnh X- quang phổi và CT ngực: thâm nhiễm 100% ở cả hai nhóm lao mới và lao tái phát Phim CT lồng ngực: Hình ảnh đông đặc nhu mô ( 100% ), tiếp đến là xơ 82,89% Hình ảnh hang lao: có 1 hang gặp nhiều nhất: 31,48% ở lao mới, 22,73% ở lao tái phát, hang nhỏ dưới 4cm (lao mới 25,93%, lao tái phát: 18,18% ).

CLINICAL CHARACTERISTICS, STANDARD LUNG X-RAY IMAGING, HIGH-RESOLUTION CT SCANNING IN NEW TB PATIENTS WITH AFB

SPUTUM POSITIVE AND RECURRENT TB

ABSTRACT: The study on 76 patients with pulmonary tuberculosis; 54 new

pulmonary TB patients AFB (+) and 22 pulmonary TB patients recurred AFB (+) To visit and treatment at Pham Ngoc Thach Hospital from December 2015 to March 2017 Purpose of the study: Clinical features) Chest X-ray, high resolution CT scan in new

TB patients with AFB (+) and recurrent pulmonary tuberculosis Results: Common clinical symptoms: fever: new TB: 98.68%, recurrent TB 100%, cough 85.53% Freeze syndroma(33.33% in new tuberculosis, 54.55% in recurrent pulmonary TB.) Chest X-ray

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH XQUANG PHỔI CHUẨN, CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH LỒNG NGỰC ĐỘ PHÂN GIẢI CAO Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI AFB ĐỜM

DƯƠNG TÍNH VÀ LAO PHỔI TÁI PHÁT

Trần Anh Huy 1 , Nguyễn Huy Lực 2 , Đặng Văn Tuấn 3

(1) Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

(2) Học viện Quân y, (3) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Trần Anh Huy (huytrananh101069@gmail.com)

Ngày nhận bài: 10/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 29/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 32

and CT scan image of the chest: 100% infiltration in both new TB and recurrent TB Chest CT scan: The image solidifies the lung tissue 100%, followed by fibroid 82.89% 31,48% in new tuberculosis, 22,73% in recurrent TB, cave less than 4cm (new TB 25,93%, recurrent TB: 18,18%)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lao phổi AFB(+) là nguồn lây chính

trong cộng đồng Việc phát hiện sớm và

điều trị khỏi cho những bệnh nhân này

nhằm cắt đứt nguồn lây là biện pháp tốt

nhất để kiểm soát và thanh toán bệnh lao

Ở Việt Nam, lao phổi mới AFB(+) chiếm

tỉ lệ cao (54%) trong tổng số các trường

hợp lao mới [1],[2], lao tái phát dao động

trong khoảng 7% Chẩn đoán lao thường

gặp nhiều khó khăn và không thể thiếu

được chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là hình

ảnh chụp CT ngực Chụp cắt lớp vi tính

(CLVT) có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, có

thể sử dụng như một công cụ chẩn đoán

nhanh, đặc biệt ở những bệnh nhân có dấu

hiệu lâm sàng nghi lao và đờm âm tính

[7] Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài

này nhằm mục tiêu:

Đánh giá đặc điểm Xquang phổi

chuẩn, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực độ

phân giải cao ở bệnh nhân lao phổi mới

và lao phổi tái phát AFB(+)

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu:

76 bệnh nhân lao phổi (54 bệnh nhân

lao phổi mới AFB(+) và 22 bệnh nhân lao

phổi tái phát AFB +), đến khám và điều

trị nội trú, ngoại trú tại Bệnh viện Phạm

- Một tiêu bản đờm AFB(+) và nuôi cấy dương tính

Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi mới: Người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc

hoặc mới dùng thuốc chống lao chưa quá

1 tháng

Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi tái phát: Người bệnh đã được điều trị lao

khỏi bệnh, nay bị trở lại, có AFB (+)

- Loại trừ các trường hợp không có

đủ tiêu chuẩn tuyển chọn ban đầu hoặc không hợp tác tham gia nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

* Lâm sàng: Nghiên cứu Các triệu

chứng toàn thân, cơ năng, thực thể của 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu

* Cận lâm sàng:- Xét nghiệm AFB

trong đờm: Các mức độ dương tính của AFB trong đờm (AFB dương tính 1+, 2+, 3+ )

- X-quang phổi chuẩn, nghiên cứu chụp cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao: Đặc điểm hình thái tổn thương; Hình ảnh hang

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện

* Nghiên cứu lâm sàng: Các bệnh

nhân được thăm khám lâm sàng, thu thập

số liệu theo mục tiêu nghiên cứu:

Trang 33

* Nghiên cứu cận lâm sàng

Nhuộm, soi đờm trực tiếp tìm AFB

Nhuộm, soi đờm trực tiếp tìm AFB

được thực hiện tại phòng xét nghiệm vi

sinh của khoa xét nghiệm Bệnh viện Phạm

Ngọc Thạch, Tp HCM

- Phương pháp nhuộm Ziehl –

Neelsen

- Đánh giá kết quả: Theo tiêu chuẩn

của Chương trình Chống lao Quốc gia

+ Không có AFB trên 100 vi trường:

Âm tính

+ Có từ 1- 9 AFB trên 100 vi trường:

Dương tính, ghi số AFB cụ thể

Nuôi cấy, định danh vi khuẩn lao

được thực hiện tại labo vi sinh của khoa

xét nghiệm Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Bệnh phẩm được lấy từ mẫu đờm AFB(-)

- Nuôi cấy trên môi trường lỏng

MGIT Đọc kết qủa sau 15 ngày

Chụp xquang phổi chuẩn: Chụp

xquang phổi kỹ thuật số thẳng, nghiêng

được thực hiện tại khoa chẩn đoán hình

ảnh của Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

- Đánh giá hang lao theo các mức độ

[7]:

+ Hang nhỏ: đường kính hang < 2 cm

+ Hang vừa: đường kính hang 2 – 4

+ Đông đặc nhu mô phổi: Hình mờ của nhu mô phổi nhưng che khuất các mạch máu trong hình mờ đó Thường kèm theo hình phế quản hơi hoặc phế nang hơi trong hình đông đặc

+ Nốt trung tâm tiểu thùy: Là các nốt

ở tiểu phế quản phế nang, giới hạn không

rõ ràng, ở trung tâm tiểu thùy, cách màng phổi ít nhất 30 mm,

+ Hang: Là một hình sáng được giới

hạn rõ rệt bởi một bờ liên tục mỏng hoặc hơi dầy, bờ trong của hang thường nhẵn đều, bên trong có thể thấy ít mức dịch – hơi Quanh hang thường có các tổn thương đông đặc nhu mô, xơ co kéo

+ Giãn phế quản: Phế quản giãn rộng,

đường kính trong của phế quản bằng hoặc lớn hơn 1,5 lần so với đường kính của động mạch đi kèm;

3 Xử lý số liệu

- Kết quả nghiên cứu trình bày dưới phân bố đa chiều, tỉ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, mối liên quan giữa một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng

Trang 34

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm lâm sàng

Bảng 1 Đặc điểm tuổi, giới của hai nhóm bệnh nhân

Nhận xét: Sốt, mệt mỏi, ăn kém gặp nhiều nhất, tiếp theo là ra mồ hôi đêm, gầy sút cân Triệu chứng cơ năng gặp nhiều nhất là ho khan (lao mới: 77,27%; lao tái phát: 81,58%), ho ra máu lại gặp ở nhóm lao mới cao hơn lao tái phát (40,91%, so với 17,11%), tuy nhiên khác nhau không có ý nghĩa thống kê Hội chứng đông đặc cũng gặp khá phổ biến ở cả hai nhóm

Trang 35

2 Kết qủa AFB đờm, hình ảnh Xquang phổi và CLVT lồng ngực

Bảng 3 Mức độ AFB dương tính ở hai nhóm bệnh nhân

Bảng 4 Đặc điểm hình thái tổn thương trên X-quang phổi của hai nhóm bệnh nhân

Dấu hiệu tổn thương

Lao phổi mới(n=54)

Lao phổi tái phát(n=22)

Tổng chung(n=76)

Nhận xét: thâm nhiễm gặp ở tất cả các bệnh nhân ở cả hai nhóm chiếm 100% ; tiếp đến gặp tổn thương lan tràn dạng nốt 60,53% ở nhóm lao phổi tái phát

Bảng 5.Hình thái tổn thương trên phim chụp CLVT lồng ngực

Dấu hiệu tổn thương

Lao phổi mới(n=54)

Lao phổi tái phát(n=22)

Tổng chung(n=76)

Nhận xét: tổn thương thâm nhiễm đông đặc gặp nhiều nhất 100%, tiếp đến là tổn thương xơ vôi gặp 82,89%, gặp nhiều thứ 3 là tổn thương dạng nốt trung tâm tiểu thùy

Trang 36

63,16%, dạng hạt kê 36,84%.

Bảng 6 Đặc điểm hang trên phim chụp CLVT lồng ngực

Dấu hiệu tổn thương

Nhận xét: số lượng từ 1 đến 2 hang chiếm nhiều nhất ở cả hai nhóm bệnh nhân

Về kích thước hang: ở nhóm lao mới chủ yếu gặp kích thước hang nhỏ < 4cm, nhóm lao phổi tái phát chủ yếu gặp kích thước hang lớn hơn 4cm (36,36% )

BÀN LUẬN

* Kết quả tuổi, gới ở hai nhóm

bệnh nhân

Trong kết quả nghiên cứu ở bảng 1

cho thấy độ tuổi gặp nhiều nhất là từ 40

đến 80 (88% ), độ tuổi dưới 30 và trên

80 gặp ít hơn Độ tuổi trung bình là 57,09

± 15,59 Độ tuổi của hai giới nam và nữ

cũng tương đương nhau (58,47 và 55,67)

một số tác giả ở lao phổi mới AFB(+)

có kết quả: Nguyễn Thị Hậu 2015 cho thấy

độ tuổi trung bình của các bệnh nhân

ng-hiên cứu của tác giả là 54,15 ± 18,21, đều

gặp bệnh nhân từ 20 tuổi trở lên, tuổi thấp

nhất là 20 và cao nhất là 84 Nhóm tuổi từ

20-59 chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,37%, sau

đó là nhóm tuổi > 60 tuổi chiếm 40,98%

Nhóm <20 tuổi chỉ có 01 bệnh nhân,

chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1,64% [3]

Thân Minh Khương 2016 Trong kết

quả nghiên cứu của tác giả cho thấy nhóm

ở độ tuổi dưới 55 tuổi, có thể là do ở lứa tuổi này thường tham gia các hoạt động

xã hội, học tập lao động nhiều và có nhiều

áp lực trong công việc nên ít quan tâm tới sức khỏe, có nhiều nguy cơ tiếp xúc với nguồn lây nên dễ bị mắc lao

Về tỷ lệ giới: kết quả nghiên cứu của chúng tôi gặp nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ là 4/1 Theo một số tác giả nguy

cơ bị mắc bệnh lao ở nam giới và nữ giới

là như nhau, tỷ lệ BN lao là nữ giới được phát hiện thấp là do còn những rào cản trong việc tiếp cận để phát hiện bệnh lao

ở nữ giới

* Lâm sàng ở lao phổi mới AFB(+) và lao tái phát:

- Triệu chứng toàn thân: Kết quả

nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ các triệu chứng toàn thân hay gặp lần lượt là: Sốt (98,68%), gầy sút cân (82,89), mệt mỏi, ăn kém (97,37%) ra mồ hôi đêm

Trang 37

(80,26%) giữa hai nhóm bệnh nhân lao

phổi mới và lao tái phát không thấy có sự

khác biệt (p>0,05) Thân Minh Khương

nghiên cứu lao phổi tái phát gặp triệu

chứng sốt 53,2%, gầy sút cân gặp 63,53%,

đây cũng là những triệu chứng gặp nhiều

nhất [5] Anton Ponzniak MD và cs

(2013) nghiên cứu ở lao phổi mới AFB(+)

nhận thấy triệu chứng sốt (76,0 - 95,4%),

gầy sút cân (69,3 - 86,0%), kém ăn (73,8

- 84,0%), ra mồ hôi đêm (18,0 - 54,5%)

Tỷ lệ BN có triệu chứng ra mồ hôi đêm

ở nhóm lao phổi người già (18,0%) thấp

hơn rõ rệt so với nhóm lao phổi ở người

trẻ (54,5%) [8]

-Triệu chứng cơ năng: Kết quả

ng-hiên cứu của chúng tôi cho thấy: Triệu

chứng ho gặp ở 81,58% số BN, đau ngực

gặp với tỷ lệ 64,47%, ho ra máu gặp với

tỷ lệ 17,11%,

Nghiên cứu của Đinh Thị Hòa (2010)

cho thấy kết quả: Ho kéo dài (97,91%),

ho ra máu (20,83%) [4] Nguyễn Thị

Hậu (2015), gặp 100% các bệnh nhân có

triệu chứng ho, trong đó triệu chứng ho

khạc đờm 88,5% [3]

Fuge.TG và cs (2016) nghiên cứu

thấy 90,6 % số bệnh nhân lao phổi mới

AFB(+) có triệu chứng ho Khazaei.S và

cs (2016) đã gặp Ho (100%), ho ra máu

(28,0%) [11]

-Triệu chứng thực thể: Triệu chứng

thực thể hay gặp nhất ở bệnh nhân lao phổi

mới AFB(+) là nghe phổi có ran nổ (hội

chứng đông đặc), gặp 27,78%, ở lao phổi

tái phát gặp nhiều hơn, 40,91%; hội chứng

hang gặp ở lao phổi mơi chỉ có 3,7% trong

khi gặp ở lao phổi tái phát là 18,18%, khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)Đinh

Thị Hòa (2010), gặp hội chứng đông đặc:

41,66%, hội chứng hang: 8,33%, [14], kết

quả của tác giả cũng tương tự kết quả của chúng tôi Thân Minh Khương (2016), gặp hội chứng đông đặc 48,1%, hội chứng hang 6,3%, biến dạng lồng ngực gặp 5,1% [5]

* Kết quả AFB đờm, Xquang phổi và CT lồng ngực:

- Về Kết quả mức độ dương tính của AFB giữa 2 nhóm bệnh nhân, trong kết qủa bảng 3 của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ AFB dương tính 1+ gặp nhiều nhất (nhóm lao phổi mới là 61,11%, nhóm lao phổi tái phát gặp 45,45%), mức độ AFB dương tính 2+, 3+ gặp ít hơn và tương đương nhau ở hai nhóm bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo 2008: mức độ AFB dương tính 1+ gặp nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân lao phổi mới: 23,7%, nhưng ở nhóm lao tái phát gặp mức độ AFB dương tính 2+, 3+ nhiều hơn (26,7%), tuy nhiên khác nhau không có ý nghĩa [6]

- Kết quả X quang phổi: Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy: Tổn thương thâm nhiễm gặp ở cả hai nhóm bệnh nhân rất cao, lao phổi mới gặp 88,89%, lao tái phát gặp 100%; tổn thương nốt nhỏ ở nhóm lao mới 55,56%, nhóm lao tái phát gặp 72,73%, tổn thương hang ở lao mới gặp 22,22%, lao tái phát gặp 31,82%.tổn thương xơ vôi ở nhóm lao mới gặp 14,81%, trong khi lao tái phát gặp tới 86,35%.Nguyễn Thị Phương Thảo (2008)[ 28 ], gặp tổn thương thâm nhiễm: 65,8% ở nhóm lao tái phát và 96,7% ở nhóm lao mới tỷ lệ có hang ở nhóm lao tái phát gặp 21,1%.Nguyễn Thị Hậu ( 2015 ), nghiên cứu đặc điểm X quang phổi ở lao phổi tái phát cho kết qảu: tổn thương thâm nhiễm gặp 86,9%, hang: 69,01%, xơ vôi

là 96,72% [3].Thân Minh Khương (2016), nghiên cứu đặc điểm Xquang phổi ở bệnh

Trang 38

nhân lao phổi tái phát cũng gặp tổn thương

dạng thâm nhiễm 94,9%, tổn thương nốt:

84,8%, hang: 35,4%, xơ vôi: 94,9%[ 5 ]

phù hợp với kết quả của chúng tôi [4]

- Kết quả chụp cắt lớp vi tính: - Đặc

điểm hình thái tổn thương trên phim chụp

CT lồng ngực chúng tôi gặp: dạng kính

mờ ở lao phổi mới là 48,15%, lao tái

phát là 36,36%; chung cho cả hai nhóm

là 44,74% Tổn thương thâm nhiễm đông

đặc nhu mô: ở cả hai nhóm lao mới và lao

tái phát đều gặp 100%; Nốt trung tâm tiểu

thùy gặp 57,41% 015 lao mới, 77,27% ở

lao tái phát, hình ảnh giãn phế quản ở lao

mới chỉ gặp 7,41%, ở lao tái phát gặp tới

60%, khác nhau giữa hai nhóm có ý nghĩa

thống kê ( p< 0,05 ) (Bảng kết qủa bảng 5)

Bomanji.JB và cs (2015) nghiên cứu

ở BN lao phổi AFB (+): tổn thương nốt

(71%), tổn thương đông đặc phổi (67%),

tổn thương hang (41,6%) [10] Buxi và

cs (2002) nhận xét giá trị chẩn đoán của

CLVT lồng ngực ở BN lao phổi AFB(+)

có độ nhạy 98,5 - 99,3%, độ đặc hiệu 99,7

- 99,9%, giá trị chẩn đoán dương tính 92,2

- 98,6% và giá trị chẩn đoán âm tính là

99,9% [12]

Về đặc điểm tổn thương hang trên

phim chụp CT lồng ngực (Bảng 6) cho

thấy: về số lượng hang chúng tôi gặp số

lượng có một hang là nhiều nhất Kích

thước hang: nhóm lao phổi mới gặp hang

kích thước nhỏ hơn 4cm nhiều hơn kích

thước hang lớn ở nhóm bệnh nhân lao

phổi tái phát gặp chủ yếu là hang có kích

thước lơn hơn 4cm [10] Số lượng hang

nhiều hay ít phụ thuộc vào sự hoạt động

của vi khuẩn lao Ở bệnh nhân lao tái phát

do bệnh tiến triển lâu ngày, tái đi tái lại

nên kích thước hang thường to hơn lao

phổi mới [33]

KẾT LUẬN

1 Các triệu chứng lâm sàng: Nhóm tuối gặp nhiều nhất: 50 – 60 tuổi, tuổi trung bình gặp ở quanh tuổi 57 Tỷ lệ nam/ nữ: 4/1

- Các triệu chứng lâm sàng hay gặp

ở bệnh nhân lao phổi là sốt:98,68%, mệt mỏi ăn kém 97,37%, ở nhóm lao phổi tái phát gặp các triệu chứng sốt 100%, mệt mỏi chán ăn 100% Triệu chứng cơ năng thường gặp là ho 85,53% Triệu chứng thực thể gặp nhiều nhất là hội chứng đông đặc (33,33% ở lao phổi mới, 54,55% ở lao phổi tái phát)

* Đặc điểm hình ảnh X quang phổi

và CT ngực: - Hình thái tổn thương của lao phổi gặp nhiều nhất là thâm nhiễm 100% ở cả hai nhóm lao mới vào lao tái phát, Tổn thương xơ, vôi gặp chủ yếu ở nhóm lao phổi tái phát (86,36%) Mức độ tổn thương vừa gặp nhiều nhất ở cả hai nhóm lao mới và lao tái phát (85,19% và 90,91% ), chung cho hai nhóm là 86,84% Trên phim chụp cắt lớp gặp nhiều nhất là đông đặc nhu mô( 100%), tiếp đến là tổn thương xơ 82,89%

- Tổn thương hang: số bệnh nhân có

số lượng 1 hang gặp nhiều nhất: 31,48% ở lao mới, 22,73% ở lao tái phát, kích thước hang nhỏ dưới 4cm gặp nhiều nhất ở cả hai nhóm bệnh nhân ( lao mới 25,93%, lao tái phát: 18,18% )

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chương trình chống lao quốc gia (2016), “ hướng dẫn quản lý bệnh lao” NXBYH, 325 tr

2 Chương trình chống lao quốc gia (2014) Báo cáo tổng kết Hoạt động trình chống lao năm 2013 và phương hướng hoạt động năm 2014, tr 13

Trang 39

3 Nguyễn Thị Hậu( 2015 ), “Nghiên

cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ

lệ kháng thuốc và kết quả điều trị tấn công

ở bệnh nhân lao phổi tái phát”

Luận văn Thạc sĩ y học, Học viện

Quân Y, Hà Nội, 75tr

4 Đinh Thị Hòa (2010), “ Nghiên cứu

tiến triển của lao phổi mới AFB dương

tính điều tgrị phác đồ 2HRZS(E)/4RH”

Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân

Y, 76tr

5 Thân Minh Khương( 2016 ), nghiên

cứu đặc điểm lâm sàng, kháng Rifampicin

ở Bệnh nhân lao phổi tái phát” Luận văn

thạc sỹ y học, Học viện Quân Y,72tr

6 Nguyễn Thị Phương Thảo (2008)

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng,

cận lâm sàng, tính kháng thuốc của vi

khuẩn lao phổi tái phát, Luận văn thạc sỹ

y học, Học viện Quân Y

7 Tạ Bá Thắng (2012), “Phương

pháp chẩn đoán lao phổi”, Bệnh hô hấp,

HVQY-NXQĐND, pp 329-339

8 Anton Pozniak MD, Reyn MD;

Elinor L Baron M ( 2013 ), “Clinical manifestations and evaluation of pulmonary tuberculosis”, www.uptodate.com ©2013 UpToDate ®

9 Arai, Toru; Inoue, Yoshikazu et al(

2005 ), “ Incipient stage of pulmonary Langerhans-cell histiocytosis complicated with pulmonary tuberculosis was examined by high-resolution computed tomography” Respiratory Medicine99.9 (Sep 2005): 1188-90

10 Bomanji JB, Gupta N, Gulati P, ( 2015 ), “ Imaging in tuberculosis”.Cold Spring Harb Perspect Med 5(6) pii: a017814

11 Khazaei S, Soheilyzad M, Molaeipoor L( 2016 ), “Trend of Smear-positive Pulmonary Tuberculosis in Iran during 1995-2012: A Segmented Regression Model” Int J Prev Med 20;7:86

12 T.B.S Buxi, Seema Sud and Rakesh Vohra( 2002 ), “ CT and MRI in the Diagnosis of Tuberculosis” Indian J Pediatr 2002; 69 (11) : 965-972

Trang 40

Kết quả: Mật độ cổ xương đùi tăng từ 0,684 lên 0,695 g/cm 2 ( p> 0,05) ALP huyết thanh tăng 18% ( 119,35 đến 140,83 U/l, p< 0,0001) , P1NP huyết thanh giảm 23,1% ( 45,11 xuống 34,69 ng/ml,p < 0,0001 Thuốc gây tácdụng không mong muốn nhẹ chiếm tỉ lệ không đáng kể như đầy bụng, khô miệng, táo bón.

Kết luận: Viên bổ xương khớp có làm giảm tốc độ chu chuyển xương, phản ánh tốc

độ mất xương giảm và an toàn khi sử dụng.

ABSTRACT

ARTHRITIS ON PATIENT SUFFERING FROM OSTEOPENIA

Background: Osteoporosis is a major health problem for the elderly population Traditional herbal medicines have been useful for a long time to treat osteoporosis Objectives:Evaluate the beneficial and harmful effects of tonify bone arthritis on patient suffering from osteopenia.

Methods:The design of the clinical trial was prospective cohort without control group A total of 35 patient aged from 40 years over, whose femoral neck bone mineral

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊN BỔ XƯƠNG KHỚP TRÊN BỆNH NHÂN GIẢM MẬT ĐỘ XƯƠNG

Nguyễn Thị Ngọc Diệp 1 , Đoàn Chí Cường 2

(1) Viện Y Dược Học Dân Tộc

(2) Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thị Ngọc Diệp (ngocdiep.ng71@gmail.com)

Ngày nhận bài: 10/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Ngày đăng: 31/10/2020, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w