1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 15/2018

120 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 15/2018 trình bày các nội dung chính sau: Nghiên cứu tỷ lệ và đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính, nghiên cứu hình ảnh cắt lớp vi tính đột quỵ não ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, ước tính nguy cơ bệnh mạch vành theo thang điểm framingham ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có hội chứng chuyển hóa,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết của tạp chí.

Trang 1

4 Siêu âm chẩn đoán dị vật mô mềm

Vưu Bửu Long, Lê Quang Trí

31

5 Nghiên cứu tình trạng đề kháng insulin và chức năng tế bào beta ở

bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát

Đỗ Thanh Huyền, Trương Đình Cẩm

41

6 Một số đặc điểm bất thường siêu âm liên quan đến hội chứng down ở

thai nhi có độ mờ da gáy lớn hơn 2,4mm

Hoàng Nghĩa Hòa, Trần Công Đoàn

49

7 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ AFP, PIVKA-II

ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

Phạm Thanh Bình, Hoàng Thị Minh Nguyễn Quang Duật, Lã Văn Tuấn

60

Trang 2

Nguyễn Thị Huê, Hoàng Văn Quang, Nguyễn Đức Công

9 Nghiên cứu biến đổi lâm sàng, X quang ngực và kết quả điều trị bệnh

nhân lao phổi afb (+) mới tại trung tâm y tế quận Tân Bình, thành phố

Hồ Chí Minh

Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Huy Lực, Hoàng Văn Thắng

76

10 Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát trên

bệnh nhân xơ gan

Trương Tâm Thư, Trần Việt Tú

85

11 Khảo sát vai trò của siêu âm khớp trong bệnh thoái hóa khớp gối tại

bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Lệ Linh, Trần Thị Ngọc Dung, Nguyễn Ngọc Châu

94

12 Kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần với đường mổ bên ngoài

trực tiếp tại Bệnh Viện Quân Y 103

Trần Hoài Nam, Vũ Nhất Định

101

13 Đặc điểm rối loạn trầm cảm chủ yếu ở bệnh nhân ung thư đại trực-tràng

Đinh Vũ Ngọc Ninh, Bùi Chí Viết Ngô Tích Linh, Dương Xuân Minh

109

Trang 3

SỐ 14 - 6/2018 CONTENTS

1 Study the rate and characteristics of metabolic syndrome in patients with chronic ischemic heart disease

Dang Van Tuan, Truong Dinh Cam, Nguyen Manh Kien

Nguyen The Hung, Truong dinh Cam

Tong Duc Minh, Le Tuan Anh

22

4 Ultrasonography for diagnostic of soft tissue foreign bodies

Vuu Buu Long, Le Quang Tri

Trang 4

Nguyen Thi Hue, Hoang Van Quang, Nguyen Duc Cong

9 Research on clinical change, chest X-ray and result of treatment for

new tuberculosis patients AFB (+) at Tan Binh Medical Center, Ho Chi

11 The role of ultrasound on knee osteoarthritis patients at rheumatology

department in Hospital for Traumatology and Orthopaedics

Nguyen Thi Le Linh, Tran Thi Ngoc Dung, Nguyen Ngoc Chau

94

12 Outcomes of total hip arthroplasty surgery with direct lateral approach

Tran Hoai Nam, Vu Nhat Dinh

101

13 Characteristics of major depressive disorder in colorectal cancer

Dinh Vu Ngoc Ninh, Bui Chi Viet Ngo Tich Linh, Duong Xuan Minh

109

Trang 5

1 Bệnh viện Quân y 175

2 Bệnh viện Quân y 7A/QK7

Người phản hồi (Corresponding): Đặng Văn Tuấn (dangtuan1701@ygmail.com)

Ngày nhận bài: 20/07/2018, ngày phản biện: 25/08/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở BỆNH NHÂN BỆNH TIM

Kết luận: HCCH ở bệnh nhân BTTMCBMT chiếm tỷ lệ cao, nữ cao hơn nam, dạng HCCH kết hợp 3 thành phần gặp phổ biến

*Từ khóa: Hội chứng chuyển hóa; Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính

STUDY THE RATE AND CHARACTERISTICS OF METABOLIC SYNDROME IN PATIENTS WITH CHRONIC ISCHEMIC HEART DISEASE

Trang 6

Hospital 175, from November 2016 to December 2017 The metabolic syndrome was determined by the 2004 NCEP-ATP III standard.

Results: The prevalence of metabolic syndrome in patients with chronic ischemic heart disease was 56,7% The incidence of metabolic syndrome in women (71,9%) was higher than that of men (51,1%) Reduced high –density lipoprotein cholesterol (HDL- cholesterol) was the most frequently observed marker, followed by increased fasting blood glucose, blood pressure and triglyceride Forms of metabolic syndrome with 3 components was 61,8%; 4 components was 27,9% and 5 components accounted for only 10,3%.

Conclusion: Metabolic syndrome in patients with chronic ischemic heart disease accounted for a high proportion; metabolic syndrome rate in women is higher than men, Metabolic syndrome with 3-component combination was common.

*Keywords: Metabolic syndrome, Chronic ischemic heart disease.

y tế trong cộng đồng không chỉ ở các nước

phát triển mà cả ở Việt Nam và các nước

đang phát triển

Tại Mỹ năm 2015 có 16,8 triệu

người mắc bệnh ĐMV, dự đoán đến năm

2035 số BN mắc BMV tăng thêm 7,2

triệu người Chi phí y tế trực tiếp và gián

tiếp cho điều trị BMV dự đoán năm 2035

khoảng 215 và 151 tỷ USD Tại Việt Nam

BTTMCB chiếm 3,5 % dân số Tại Viện

Tim mạch Việt Nam, khảo sát từ năm 2003

– 2007 cho thấy bệnh tim mạch nói chung

bao gồm cả BTTMCB có xu hướng tăng từ

11,2 % năm 2003 lên 24% năm 2007

Sự gia tăng của bệnh lý tim mạch

được lý giải bởi sự gia tăng của rất nhiều

yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tăng

huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì

Các yếu tố này thường kết hợp với nhau

tạo thành một phức hợp yếu tố nguy cơ

tim mạch gọi là hội chứng chuyển hóa (HCCH) Trên thế giới cũng như ở Việt nam đã có một số nghiên cứu về HCCH trên những đối tượng có nguy cơ cao bị bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid…Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy bệnh nhân mắc HCCH sẽ có nguy cơ mắc bệnh mạch vành với tần suất cao hơn và mức độ bệnh trầm trọng hơn Chúng tôi tiến hành nghiên

cứu này nhằm mục tiêu: “Đánh giá tỷ lệ và đặc điểm HCCH theo tiêu chuẩn NCEP- ATP III ở bệnh nhân BTTMCBMT”.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu:

Gồm 120 bệnh nhân được chẩn đoán BTTMCBMT điều trị tại khoa Tim mạch tại BVQY 175 từ tháng 11/2016 đến tháng 12/2017

- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhânBệnh nhân được xác định có BTTMCBMT dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng, điện tim và chụp động mạch vành có

Trang 7

hẹp ≥ 50% đường kính lòng mạch ít nhất 1

nhánh chính động mạch vành

- Tiêu chuẩn loại trừ:

Hội chứng vành cấp, hẹp ≤ 50%

đường kính lòng mạch, bệnh van tim, bệnh

tim bẩm sinh, viêm cơ tim, suy giáp, bệnh

nội khoa nặng: nhiễm trùng nặng, suy gan,

suy thận…, bệnh nhân đã điều trị rối loạn

lipid máu trên 1 tháng

2 Phương pháp nghiên cứu

+ Thiết kế nghiên cứu: Nghiên

cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện

+ Thu thập số liệu: khai thác tiền

sử, bệnh sử, đo huyết áp, vòng bụng, chiều

cao, cân nặng bệnh nhân lúc nhập viện

Lấy máu xét nghiệm sinh hóa: buổi sáng

lúc đói (sau bữa ăn cuối ít nhất 6-12h ) Các xét nghiệm cận lâm sàng: Huyết học, sinh hóa, điện tâm đồ, chụp động mạch vành qua da

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán BTTMCBMT: theo ACC/AHA (1999)

+ Đánh giá tổn thương động mạch vành (mức độ hẹp, số nhánh hẹp) qua kết quả chụp mạch vành: theo ACC/AHA (1999) và Khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam (2008)

+ Chẩn đoán HCCH: theo NCEP - ATP III (2004) áp dụng cho người Châu Á

+ Xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm phân tích thống kê y sinh học: phần mềm SPSS for window 22.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm của đối tương nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm về tuổi và giới tính

Bảng 2 Đặc điểm về phân bố tuổi theo giới tính

Đặc điểm < 50 tuổi 50 – 59 tuổi 60 – 69 tuổi ≥ 70 tuổi pNam 11 (12,5%) 28 (31,8%) 31 (35,2%) 18 (20,5%)

Trang 8

Bảng 3 Tần suất các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân nghiên cứu

Yếu tố nguy cơ Số lượng (n = 120) Tỷ lệ (%)

Yếu tố nguy cơ thường gặp là tiến sử tăng huyết áp với 83,3%, giảm HDL-C 69,2%, tăng triglyceride 63,3%, tăng glucose máu 53,3%, ít gặp hơn là tình trạng tăng huyết áp tại thời điểm nghiên cứu với 45,8% và tỷ lệ tăng chỉ số vòng bụng là 35%

Bảng 5 Tần suất các thành phần HCCH ở bệnh nhân BTTMCBMT mắc HHCH

Thành phần HCCH Số lượng (n = 68) Tỷ lệ (%)

Trang 9

Ở bệnh nhân BTTMCBMT có HCCH (+), tình trạng giảm HDL-C gặp với tần suất cao nhất (86,8%), tăng triglycerid máu, tăng glucose máu và tăng huyết áp cũng là yếu tố thường gặp với tần suất từ 61,8 – 77,9%, ít gặp hơn là yếu tố tăng vòng bụng với 45,6%.

Bảng 6 Phân bố HCCH theo số lượng các thành phần.

Trong số bệnh nhân BTTMCBMT mắc HCCH dạng rối loạn phối hợp 3 thành phần chiếm tỷ lệ cao là: tăng Glucose + tăng TG + giảm HDL-C (23,8%), tăng HA + tăng Glucose + giảm HDL-C (19%) và tăng HA + tăng TG + giảm HDL-C (14,3%)

Trang 10

Bảng 8 Tỷ lệ các dạng rối loạn phối hợp 4 thành phần ở bệnh nhân HCCH (+)

Dạng HCCH phối hợp 4 thành phần Số lượng(n = 19) Tỷ lệ (%)Tăng HA+Tăng Glucose +Tăng TG+Giảm HDL-C 11 57,9

Tăng HA+Tăng TG+Giảm HDL-C+Tăng vòng bụng 1 5,3Tăng HA+Tăng Glucose+Giảm HDL-C+Tăng vòng bụng 2 10,5

Tăng Glucose+Tăng TG+Giảm HDL-C+Tăng vòng bụng 4 21,1

Các dạng HCCH rối loạn phối

hợp 4 thành phần có tỷ lệ cao là: tăng HA +

tăng Glucose + tăng TG + giảm HDL-C với

57,9% và tăng Glucose + tăng TG + giảm

HDL-C + tăng vòng bụng với 21,1%

BÀN LUẬN

1 Về đặc điểm của đối tượng

nghiên cứu

1.1 Đặc điểm về tuổi và giới

Kết quả thống kê về tuổi trung

bình của chúng tôi cũng tương tự với kết

quả nghiên cứu trước đây về tuổi bệnh

nhân BTTMCBMT của các tác giả trong

nước Nguyễn Quốc Thái (2017) ghi nhận

tuổi trung bình của bệnh nhân là 60,52 ±

10,18 tuổi; Đỗ Thị Thu Hà (2008) là 59 ±

12 tuổi và Nguyễn Trọng Nghĩa (2014) là

65 ± 9 tuổi [3] Nghiên cứu của Solymoss

BC (2003) cũng ghi nhận tuổi trung bình

của bệnh nhân BTTMCBMT là 59 ± 10

tuổi [7] Tỷ lệ bệnh nhân ở độ tuổi từ 50

tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao (90%; 108/120

BN) (Bảng 2) Kết quả này cũng phù hợp

với kết quả nghiên cứu về tỷ lệ bệnh nhân

BTTMCB ở độ tuổi ≥ 50 của một số tác giả

như Nguyễn Trọng Nghĩa là 95,94%, Trần

Diệp Khoa là 89,74% và của Lê Thị Bích

Thuận là 86,5% [3] Các kết quả trên góp

phần minh chứng tuổi là một yếu tố nguy

cơ độc lập, có liên quan chặt chẽ với sự phát triển bệnh lý tim mạch nói chung và của BTTMCBMT nói riêng Sự phát triển của

xơ vữa động mạch gia tăng đáng kể theo độ tuổi từ 50 đến khoảng 65 tuổi, không phụ thuộc vào giới tính và chủng tộc

Kết quả thống kê tỷ lệ giới tính ở nhóm bệnh nhân BTTMCB cho thấy nam gặp nhiều hơn nữ Nghiên cứu của Đỗ Thị Thu trên 146 bệnh nhân BTTMCB điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy, tỷ lệ này ở nam là 75,3% và nữ là 34,7%; tỷ lệ nam/nữ

là 110/36 = 3,06 Nghiên cứu của Solymoss

BC (2003) trên 1008 bệnh nhân bệnh động mạch vành cũng cho thấy, nam chiếm 78,7% và nữ chiếm 21,3%; tỷ lệ nam/nữ

là 793/ 315 = 2,52 [7] Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nữ là: 67 ± 9 tuổi, cao hơn so với nhóm bệnh nhân nam (61 ± 10 tuổi), khác biệt có ý thống kê với p < 0,001 (Bảng 1)

Tỷ lệ bệnh nhân BTTMCB mạn tính cao nhất ở độ tuổi 60-69 tuổi ở cả nam và nữ, đặc biệt ở độ tuổi từ 60 tuổi trở lên tỷ lệ này

ở nữ cao hơn ở nam Điều này cho thấy nam giới nguy cơ mắc BTTMCB có độ tuổi trẻ hơn so với nữ, và xu hướng mắc bệnh tăng dần theo độ tuổi ở cả nam và nữ Kết quả

Trang 11

này phù hợp với kết luận được nêu trong

y văn về nguy cơ mắc BTTMCB mạn tính

theo tuổi và giới tính Với nam từ 45 tuổi trở

lên và nữ từ 55 tuổi trở lên được coi là có

nguy cơ cao mắc bệnh và gia tăng tỷ lệ biến

chứng của bệnh động mạch vành Phụ nữ <

50 tuổi nguy cơ bệnh mạch vành thấp hơn

do được bảo vệ bởi Oestrogen Tuy nhiên, ở

độ tuổi mãn kinh nồng độ của hormon này

giảm sút, dẫn đến có sự rối loạn chức năng

nội mạc, tạo điều kiện cho sự hình thành

mảng xơ vữa và là nguyên nhân góp phần

gia tăng tỷ lệ mắc BTTMCB Nghiên cứu

của Michos và cộng sự (2006) nhận thấy ở

phụ nữ bị cắt buồng trứng trước mãn kinh

có tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao

hơn so với nam giới cùng độ tuổi

Khảo sát về các nguy cơ tim mạch,

kết quả bảng 3 cho thấy yếu tố thường gặp

là tiến sử tăng huyết áp với 83,3%, tăng

glucose máu 53,3%, ít gặp hơn là tình trạng

tăng huyết áp tại thời điểm nghiên cứu với

PM (2004) ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp là

61% Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân có tăng

glucose máu trong nhóm nghiên cứu của

chúng tôi là 53,3%, cao hơn so với tác giả

Đỗ Thị Thu Hà 45,2%, Phạm Tú Quỳnh

27,3%nhưng thấp hơn của Phạm Văn Cuộc

là 80,2% [1] Trong nghiên cứu của chúng

tôi, số bệnh nhân có giảm HDL-C và tăng

triglyceride chiếm tỷ lệ khá cao (69,2% và

63,3%) Kết quả này tương tự Đỗ Thị Thu

Hà (62,3%), cao hơn Nguyễn Trọng Nghĩa

(44,71%), Phạm Văn Cuộc (38,8%) [1][2]

[3] Nghiên cứu của Gorter PM cũng cho thấy tỷ lệ tăng triglycerid là 46,0% và giảm HDL-C là 51,0% [6]

2 Tỷ lệ và đặc điểm HCCH ở bệnh nhân BTTMCBMT

2.1 Tỷ lệ và phân bố HCCH theo nhóm tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân BTTMCBMT mắc HCCH theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III

2004 là khá cao (56,7%) (Bảng 4) Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu trong nước như Phạm Văn Cuộc 2014 là 58,6%,

Đỗ Thị Thu Hà 2008 là 57,5% và Cao Đình Hưng 2011 là 65,28% Nghiên cứu của Farzaneh M (2016) cho thấy tỷ lệ HCCH ở bệnh nhân bệnh ĐMV là 49,5% [6], Tariq Ashraf (2011) tỷ lệ này là 54,95%.Các kết quả nghiên cứu trên đều nhận định tỷ lệ khá cao mắc HCCH ở bệnh nhân BTTMCBMT [8]

Bên cạnh đó, kết quả thống kê

về tỷ lệ bệnh nhân có HCCH theo độ tuổi

và giới tính ở nhóm bệnh nhân BTTMCB trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy (Bảng 4):

- Tỷ lệ bệnh nhân có HCCH cao nhất ở độ tuổi 60-69 tuổi chiếm 63,0% (29/46 BN), có xu hướng tăng dần theo độ tuổi Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

- Tỷ lệ bệnh nhân có HCCH ở nữ chiếm 71,9%, cao hơn so với tỷ lệ này ở nam là 51,1% (p = 0,011)

Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung Đức Sơn (2010) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân

Trang 12

bệnh ĐMV có HCCH cao nhất ở nhóm tuổi

60-69 tuổi (25,8%) và tăng dần theo độ tuổi

Tuổi trung bình của bệnh nhân có HCCH

trong nghiên cứu của Solymoss BC là 58

± 10, của Faraneh M là 58,4 ± 9,7 [5], của

Nguyễn Trọng Nghĩa là 65 ± 9 tuổi và của

Phạm Văn Cuộc là 66 ± 10 tuổi [1] Điều

này theo nhận định của các tác giả là do quá

trình tiến triển của đề kháng Insulin song

hành với độ tuổi, tuổi càng cao thì sự tích

lũy các yếu tố cấu thành HCCH càng tăng

Độ tuổi của người bệnh có mối liên quan

chặt chẽ với sự đề kháng Insulin, tăng vòng

bụng, rối loạn chuyển hóa glucose, lipid và

Quỳnh (2006) cũng thấy HCCH trên bệnh

nhân bệnh ĐMV ở nữ là 70,34% cao hơn

tăng huyết áp, tăng glucose máu và tăng

triglycerid máu, lần lượt theo thứ tự là:

61,8%, 77,9% và 75,0%

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài: Solymoss BC (2003), ghi nhận bệnh nhân bệnh mạch vành có HCCH có vòng eo, mức huyết áp, glucose máu lúc đói và triglycerid cao hơn và HDL-C thấp hơn so với nhóm bệnh nhân không có HCCH; Gorter PM (2004) cũng thấy tỷ lệ tăng HA là 61%, giảm HDL-C là 51% và tăng TG là 46%, Farzaneh Montazerifar thấy giảm HDL-C

là 84,8%, tăng đường máu lúc đói là 77,8%

và tăng vòng bụng là 75,8% [5].

Về dạng kết hợp các thành phần của HCCH ở 68 bệnh nhân BTTMCBMT mắc HCCH trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân có HCCH rối loạn

3 thành phần chiếm đa số (61,8%), rối loạn

4 thành phần là 27,9% và 5 thành phần chỉ chiếm 10,3% (Bảng 6) Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu trước đây trong

và ngoài nước Đỗ Thị Thu Hà (2008) ghi nhận trong số 84 bệnh nhân bệnh ĐMV có HCCH, có 50% số bệnh nhân có rối loạn

3 thành phần, 4 thành phần là 36,9% và 5 thành phần là 13,1% Nghiên cứu của Phạm

Tú Quỳnh (2006) trong số 192 bệnh nhân bệnh ĐMV có HCCH, nhóm có rối loạn 3 thành phần chiếm tỷ lệ là 53,65%, 4 thành phần 35,42% và 5 thành phần là 10,93% Nghiên cứu của Birhan Yilmaz M (2005) ghi nhận trong số 150 bệnh nhân bệnh ĐMV có HCCH, dạng có rối loạn 3 thành phần chiếm tỷ lệ 29,7%, kế đến là 4 thành phần chiếm 17,0% và ít gặp nhất là 5 thành phần chỉ chiếm 2,3%

Bên cạnh đó, kết quả phân tích các dạng HCCH rối loạn phối hợp 3 thành phần chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu của chúng tôi là: tăng glucose + tăng triglycerid

Trang 13

+ giảm HDL-C (23,8%); tăng HA + tăng

glucose + giảm HDL-C (19,0%) và tăng HA

+ tăng triglycerid + giảm HDL-C (14,3%)

(Bảng 7) Tác giả Đỗ Thị Thu Hà (2008)

cho thấy, dạng HCCH “tăng HA+tăng

glucose máu+giảm HDL-C” chiếm tỷ lệ

23,8%; “tăng HA + tăng vòng bụng + tăng

triglycerid” (19,04%) Kết quả nghiên

cứu của Trần Diệp Khoa (2005), cũng cho

thấy tỷ lệ dạng HCCH: “tăng HA+tăng

glucose máu+giảm HDL-C” và “tăng

HA+tăng vòng bụng +tăng triglycerid” lần

lượt là 27,8% và 16,7% [18] Girman CJ

(2004) khảo sát HCCH và nguy cơ xảy ra

các biến cố mạch vành từ thử nghiệm 4S

(Scandinavian Simvastatin Survival Study)

Tác giả nghiên cứu 1.991 bệnh nhân có tiền

sử cơn đau thắt ngực hoặc NMCT, nhưng

không có đái tháo đường Kết quả cho thấy:

hai dạng phối hợp thường gặp trong HCCH

là “tăng HA + tăng TG + giảm HDL-C”

chiếm tỷ lệ 28,3% và “tăng HA + tăng

glucose máu + tăng TG” chiếm tỷ lệ 12,4%

Phân tích các dạng HCCH rối

loạn phối hợp 4 thành phần trong nghiên

cứu này cho thấy, các dạng: “tăng huyết áp

+ tăng glucose + tăng triglycerid + giảm

HDL-C”, “tăng glucose + tăng triglycerid

+ giảm HDL-C + tăng vòng bụng” và “tăng

HA + tăng glucose + giảm HDL-C+tăng

vòng bụng” chiếm tỷ lệ cao, lần lượt là:

57,9%; 21,1% và 10,5% (Bảng 8) Kết

quả của chúng tôi phù hợp với Đỗ Thị Thu

Hà (2008), cho thấy dạng HCCH 4 thành

phần “tăng glucose + tăng triglycerid +

giảm HDL-C + tăng vòng bụng” chiếm tỷ

lệ 29,03% Tác giả Trần Diệp Khoa (2005)

- Tỷ lệ mắc HCCH ở BTTMCBMT (theo tiêu chuẩn NCEP ATP III, 2004, áp dụng cho người Châu Á) là 56,7%; cao nhất

ở độ tuổi 60-69 (63,0%) Tỷ lệ mắc HCCH

ở nữ cao hơn so với nam giới (71,9% vs 51,1%; p = 0,011)

- Tỷ lệ rối loạn các thành phần trong HCCH lần lượt là: giảm HDL-C máu

là 86,8%, tăng Glucose máu: 77,9%, tăng Triglycerid máu 75,0%, tăng huyết áp là 61,8% và tăng vòng bụng là 45,6%

- Tỷ lệ HCCH rối loạn 3 thành phần chiếm 61,8% (42/68 BN), rối loạn 4 thành phần chiếm 27,9% và 5 thành phần chỉ chiếm 10,47%

- Dạng HCCH phối hợp 3 thành phần thường gặp là: “tăng glucose + tăng triglycerid + giảm HDL-C” (23,8%) và

“tăng HA + tăng glucose + giảm HDL-C” (19,0%) Dạng HCCH phối hợp 4 thành phần thường gặp là “tăng huyết áp + tăng glucose + tăng triglycerid + giảm HDL-C” (57,9%) và “tăng glucose + tăng triglycerid + giảm HDL-C + tăng vòng bụng” (21,1%)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Văn Cuộc, Lê Thị Ngọc Hân, Nguyễn Duy Toàn, et al (2014),

“Nghiên cứu đặc điểm HCCH theo NCEP ATP III ở bệnh nhân BTTMCB mạn tính “, Tạp chí dược học quân sự, 3/2014, tr 77

- 84.

Trang 14

2 Cao Đình Hưng, Hồ Thượng

Dũng (2011), “Nghiên cứu một số đặc điểm

HCCH trên bệnh nhân mắc bệnh mạch

vành mạn”, Y Học Tp Hồ Chí Minh, Phụ

bản số 1 (tập 15), tr 148-154.

3 Nguyễn Trọng Nghĩa, Lê Thị

Bích Thuận (2014), “Nghiên cứu đặc điểm

(2016), “The Prevalence of Metabolic

Syndrome in Coronary artery disease

patients”, Cardiol Res, 7(6), pp 202-208.

6 Fruchart J.C, Nierman M.C,

Stroes E.S.G, et al (2004), “New risk

factors for atherosclerosis and patient risk assessment”, Circulation, 109 (suppl 3),

pp 15-19.

7 Solymoss BC, MG Bourassa (2003), “Incidence and clinical characteristics of the metabolic syndrome

in patients with coronary artery disease”, Coronary Artery Disease, 14 (3), pp 207- 212.

8 Tariq Ashraf, Muhammad AM,

MS Talpur (2011), “Frequence of metabolic syndrome in patients with ischaemic heart disease”, JPMA, 61, pp 729-732.

9 Varun S, Anith KM, C’ Yoganathan, et al (2017), “Prevalence

of metabolic syndrome in patients with premature coronary artery disease proven

by coronary angiogram”, International Journal of Research in Medical Science, 5 (11), pp 5021-24.

Trang 15

1 Phân viện phía Nam/ HVQY

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Văn Chương (chuong@live.com)

Ngày nhận bài: 14/8/2018, ngày phản biện: 25/8/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘT QUỴ NÃO

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Nguyễn Văn Chương, Phạm Ngọc Thái

Kết luận: Đột quỵ não ở BN đái tháo đường có hình thái phức tạp Cần điều trị kiểm soát đường máu và các bệnh lý đi kèm để phòng ngừa đột quỵ não.

Từ khóa: Đột quỵ não, Đái tháo đường típ 2.

TO STUDY THE IMAGES OF CEREBRAL STROKE ON COMPUTERIZED TOMOGRAPHY IN PATIENTS WITH DIABETES

MELLITUS ABSTRACT

Objectives: Describe imaging characteristics of cerebral stroke in diabetes litus patients on CT-scan.

Trang 16

Methodology: Prospective and described study We studied in 73 diabetes litus patients with cerebral stroke taken CT-scan of the brain

mel-Results: Numbers of lesion ≥ 2 was 46,6% The average: 1,58±0,72 of lesions The rate of cerebral infarction were 83,6%; cerebral hemorrhage: 12,3%; both of them: 4,1% The volume of the cerebral stroke was 13,24 ± 40,33 cm 3 cm 3 The rate of hurt middle cerebral artery was 57,5%

Conclusions: Charater of cerebral stroke is complex in diabetes mellitus tients To prevent cerebral stroke requiring blood glucose control and other disease

pa-Keyword: cerebral stroke, diabetes mellitus.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ là một bệnh lý thường

gặp ở người lớn tuổi, là nguyên nhân gây

tử vong đứng hàng thứ ba sau ung thư và

bệnh tim mạch và là nguyên nhân hàng

đầu gây tàn phế Tác động của đột quỵ rất

lớn, gây giảm, mất khả năng sống độc lập

của cá nhân người bệnh và tạo một gánh

nặng kinh tế đáng kể cho xã hội [4]

Người bị đái tháo đường có nguy

cơ mắc đột quỵ não cao gấp 2 đến 4 lần

so với bình thường, làm nguy cơ tử vong

tăng lên 6 lần ở người có thêm bệnh mạch

vành Đái tháo đường làm phá huỷ toàn

bộ hệ thống mạch máu Nó làm giảm quá

trình tổng hợp PGI2 (yếu tố giãn mạch)

Tỷ lệ tăng huyết áp cao gấp 1,5 – 3 lần

so với người bình thường Đồng thời gây

ra các rối loạn chuyển hoá như làm tăng

triglyceride, tăng LDL, giảm HDL, làm

đẩy nhanh tiến trình xơ vữa động mạch

Đây chính là những nguyên nhân khiến

bệnh nhân đái tháo đường dễ bị đột quỵ

não [3], [4], [9]

Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh đột quỵ não ở bệnh nhân có đái tháo đường típ 2 trên chụp CT-scan

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện trên

73 đối tượng được chẩn đoán xuất huyết đồi thị do tăng huyết áp nhập viện điều trị tại Đơn vị đột quỵ khoa Nội thần kinh tại Bệnh viện Nguyễn Trãi TP Hồ Chí Minh,

từ 12/2013 đến 12/2014

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ não bằng lâm sàng và CT-scan não được thăm khám trong vòng 72 giờ kể từ khi khởi phát bệnh, bệnh nhân hoặc thân nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trứ: Đột quỵ não không do đái tháo đường, mổ sọ não cũ, bệnh nhân hoặc thân nhân không đồng ý

Trang 17

tham gia nghiên cứu.

2.2 Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, cắt

ngang

Các dữ liệu được thu thập ngay

lúc bệnh nhân nhập viện, bao gồm: các dữ

liệu từ lâm sàng (tuổi, giới, tiền căn cao

huyết áp và điều trị cao huyết áp, thời gian

khởi bệnh, nhịp tim, nhiệt độ, huyết áp

trung bình, nhịp thở, kiểu thở, mức độ hôn

mê theo thang điểm Glasgow, kích thước

đồng tử, dấu hiệu mắt búp bê, bên liệt và

mức độ liệt, tình trạng rối loạn cảm giác

và dấu hiệu Babinski) và các dữ liệu từ CT

Scan não (vị trí hình thái đột quỵ tình trạng

phù não, chèn ép não thất hay xuất huyết

- Kích thước vùng nhồi máu

+ Nhồi máu lỗ khuyết:

Các ổ kích thước nhỏ, đậm độ thấp

- Xác định vị trí ổ nhồi máu

- Kích thước ổ nhồi máu

Số liệu thu được xử lý theo các thuật toán thường dùng trong thống kê y sinh học Phân tích dữ liệu sử dụng phần mềm SPSS 23.0 Tỉ lệ phần trăm dùng mô

tả cho các biến định tính, trung bình và độ lệch chuẩn dùng cho các biến định lượng

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu trên 73 trường hợp Nam giới chiếm tỷ lệ 34,2%; Nữ giới chiếm 65,8% Tuổi thấp nhất 40 cao nhất 93 ≤ 60 tuổi 37% > 60 tuổi 63% Tuổi trung bình

Trang 18

Bảng 1 Số lượng ổ tổn thương ở đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1 Phân bố hình thái đột quỵ ở đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tỷ lệ nhồi máu ở đối tượng nghiên cứu là 83,6%; trong đó nhồi máu

lỗ khuyết là 9,6% và nhồi máu là 74% 12,3% đột quỵ não do xuất huyết và 4,1% đột quỵ não do xuất huyết và nhồi máu não kết hợp

Bảng 2 Kích thước trung bình ổ đột quỵ não

Trang 19

Bảng 3 Phân bố động mạch tổn thương ở đối tượng nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu của các tác giả

trong và ngoài nước đều cho kết quả là

khoảng 10-15% các trường hợp đột quỵ là

xuất huyết Nghiên cứu của chúng tôi cũng

cho kết quả phù hợp với các tác giả khác

Tỷ lệ nhồi máu não là 83,6%; tỷ lệ xuất

huyết não là 12,3% và tổn thương kết hợp

cả hai hình thái nhồi máu và xuất huyết

là 4,1% Tổn thương hệ thống mạch máu

trong bệnh lý đái tháo đường là tổn thương

sớm nhất và thường có biểu hiện lâm sàng

muộn Đặc trưng của quá trình tổn thương

này đó là quá trình vữa xơ động mạch và

độc tế bào do sự gia tăng đường huyết Các

mạch máu nhỏ bị tổn thương trước tiên và

trong hệ thống thần kinh nhất là não bộ thì

có rất nhiều mạch máu nhỏ vì thế mà tỷ lệ

tổn thương não do nhồi máu ổ khuyết cũng

thường cao hơn ở nhóm không bị đái thào

đường [5] Nghiên cứu của Phan Thanh Vũ

trên 68 bệnh nhân có 48 BN nhồi máu não chiếm tỷ lệ 70,6% và 20 BN xuất huyết não chiếm tỷ lệ 29,4%; phù não trên CLVT scanner não là 32,4% [8]

Số lượng tổn thương ≥ 2 ổ ở đối tượng nghiên cứu chiếm 46,6% Trung bình số lượng ổ tổn thương trên một đối tượng nghiên cứu là 1,58±0,72 Có thể do

cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ

vì thế sự khác biệt cũng chưa rõ ràng ở hai nhóm Lê Văn Thính và cộng sự (1996) [29] cho thấy NMN 1 ổ là 81,0% và NMN nhiều ổ 19,0% Nghiên cứu của Mai Hữu Phước (2006) [6] NMN 1 ổ là 77,47% và NMN ≥ 2 ổ là 26,53% Theo Nguyễn Duy Bách (2009) [1] cho kết quả NMN 1 ổ là 61,6% NMN 2 ổ 27,7% và NMN ≥ 3 ổ 10,7% Một nghiên cứu khác của Nghiêm Thị Thùy Giang và cộng sự (2013) [2] cho kết quả NMN ổ khuyết ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa thì tổn thương đa ổ

Trang 20

chiếm cao 70,9%, NMN 1 ổ chỉ có 29,1%

Ở bệnh nhân có đái tháo đường và RLLP máu thì có liên quan chặt

chẽ đến vữa xơ động mạch, sự tạo thành

các mảng vữa xơ ở nhiều nơi của hệ thống

mạch máu não sẽ làm tăng nguy cơ nhiều ổ

tổn thương xảy ra ở bênh nhân bị đột quỵ

Sự tổn thương nặng nhẹ vùng tổn

thương thường thấy kích thước của ổ tổn

thương, vùng tổn thương lớn thường liên

quan đến động mạch chính gây nên nhất là

động mạch não giữa [2], [3], [10] Trong

nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận kích

thước dọc nhóm đái tháo đường là 2,05

± 1,81 (cm) Mai Hữu Phước (2006) [6]

thấy NMN có kích thước nhỏ chiếm ưu thế

với 73,47% Kết quả của nghiên cứu phù

hợp với nhiều nhận định của các nghiên

cứu trên thế giới khi có THA, ĐTĐ, RLLP

máu thì sẽ có nguy cơ tổn thương não diện

rộng, những bệnh nhân này nguy cơ tử

vong và tàn phế lâu dài cao do biến chứng

của THA, ĐTĐ và bệnh tim mạch kết hợp

Trong nghiên cứu của chúng tôi

Qua nghiên cứu trên 73 đối tượng

bị đột quỵ não có đái tháo đường típ 2 kết

quả hình ảnh tổn thương trên CT-scan như

sau:

- Số lượng tổn thương ≥ 2 ổ chiếm 46,6% Trung bình số lượng ổ tổn thương trên một đối tượng nghiên cứu là 1,58±0,72

- Tỷ lệ nhồi máu là 83,6%; (nhồi máu lỗ khuyết là 9,6% và nhồi máu là 74%) 12,3% đột quỵ não do xuất huyết

và 4,1% đột quỵ não do xuất huyết và nhồi máu não kết hợp

- Thể tích trung bình ổ tổn thương máu là 13,24 ± 40,33 cm3

- Tỷ lệ tổn thương động mạch não giữa cao nhất ở hai nhóm với 57,5%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Duy Bách, Bùi Văn Vĩ

và CS (2009), “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp

vi tính sọ não ở bệnh nhân tai biến mạch máu não cấp tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới”, Tạp chí khoa học – Đại học Y Huế, 52, tr 5-12.

2 Nghiêm Thị Thùy Giang, Nguyễn Minh Hiện, Hoàng Vũ Hùng (2013), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

và hình ảnh nhồi máu não ổ khuyết ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa”, Y Dược học Quân sự, 2, tr 73-8

3.Lê Đức Hinh và cộng sự (2007),

“Đề xuất quy trình chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng của nhồi máu não”, Kỷ yếu công trình khoa học Hội Thần Kinh Việt Nam – 10 năm gia nhập ASNA, Dec 2007.

Trang 21

4 Nguyễn Minh Hiện (2013),

“Dịch tễ học đột quỵ não”, Đột quỵ não,

Nhà xuất bản y học, tr 11-40.

5 Vũ Anh Nhị (2004), “Sổ tay đột

quỵ”, NXB Đại học Quốc Gia, TP Hồ Chí

Minh.

6 Mai Hữu Phước (2006),

“Nghiên cứu tương quan đặc điểm lâm

sàng và chụp cắt lớp vi tính ở bệnh nhân

nhồi máu não hệ cảnh giai đoạn cấp”, Tạp

chí Y học thực hành, 12, tr 20-30.

7 Trịnh Viết Thắng (2011),

“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học

đột quỵ não và hiệu quả bài tập phục hồi

chức năng tại nhà ở tỉnh Khánh Hòa”,

Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân y.

8 Phan Thanh Vũ (2011), “Nghiên cứu sự biến đổi khí máu động mạch ở bệnh nhân đột quỵ não trong 24 giờ đầu”, Luận văn Bác sỹ chuyên khoa cấp II, Học viện Quân y.

9 Beller A George (2001),

“Coronary heart disease in the first 30 years of the 21 st century: Challenges and opagesortunities Circulation”, Circulation, 103, pp 2428-2435

10 Wintermark M, Albers G.W, Alexandrov A, V, et al (2013), “Acute stroke imaging reseach roadmap II”, Stroke 2013, 44:2628-2639.

Trang 22

1 Bệnh viện Quân y 175

2 Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thế Hùng (bsnguyenhung175@gmail.com)

Ngày nhận bài: 10/09/2018, ngày phản biện: 14/09/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

ƯỚC TÍNH NGUY CƠ BỆNH MẠCH VÀNH THEO THANG ĐIỂM FRAMINGHAM Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN

PHÁT CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

Nguyễn Thế Hùng 1 , Trương Đình Cẩm 1

Tống Đức Minh 2 , Lê Tuấn Anh 2

TÓM TẮT

Tổng quan: Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hội chứng chuyển hóa (HCCH)

có mối liên quan mật thiết với bệnh động mạch vành (ĐMV) Thang điểm Framingham cho phép dự báo nguy cơ mắc bệnh ĐMV trong 10 năm tới và phân tầng nguy cơ

Mục tiêu: Đánh giá ước tính nguy cơ bệnh ĐMV 10 năm tới theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân THA nguyên phát có HCCH

Phương pháp và kết quả: Trong nghiên cứu này, 260 bệnh nhân THA nguyên phát được khảo sát các yếu tố nguy cơ bệnh ĐMV (tuổi, hút thuốc lá, bệnh đái tháo đường) và đo vòng bụng, huyết áp, cholesterol toàn phần, HDL-C và TG máu lúc đói Chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn ATPIII thuộc chương trình giáo dục về Cholesterol quốc giả của Hoa Kỳ (NCEP – National Cholesterol Education Program) Ước tính nguy cơ bệnh ĐMV theo thang điểm Framingham Kết quả của nghiên cứu cho thấy:

- Tỉ lệ nguy cao bệnh ĐMV nhóm THA có HCCH (52,5%) cao hơn so với nhóm THA không có HCCH (27,4%) với OR = 2,9 (CI: 1,6-5,5), p < 0,001

- Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm bệnh nhân THA có béo bụng (55,9%) cao hơn so với nhóm THA không béo bụng (43,8%) với OR = 1,6 (CI: 1,1-2,9), p < 0,05

- Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm THA có giảm HDL-C (65,4%) cao hơn

so với nhóm THA không giảm HDL-C (33,3%) với OR = 3,8 (CI: 2,2-6,4), p < 0,001

- Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm THA có tăng TG (53,3%) cao hơn so với nhóm THA không tăng TG (41,8%) với OR = 1,6 (CI: 1,0-2,6), p < 0,05

Kết luận: Có mối liên quan chặt chẽ giữa HCCH và các yếu tố của HCCH với nguy cơ cao bệnh ĐMV 10 năm tới theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân THA nguyên phát

Trang 23

Từ Khóa: hội chứng chuyển hóa, bệnh động mạch vành, thang điểm Framingham.

THE AIM OF THIS STUDY ESTIMATED RISK TEN YEARS CAD ACCORDING TO FRAMINGHAM SCORE IN ESSENTIAL HYPERTENSIVE

PATIENTS WITH MS AND CHARACTERIZATION OF MS

SUMMARY

Backgrounds: Several previous studies showed metabolic syndrome (MS) was strong related coronary artery disease (CAD) The Framingham risk score allows forecasting the risk of coronary heart disease in the next 10 years and risk stratification.

Objectives: The aim of this study estimated risk ten years CAD according to Framingham score in essential hypertensive patients with MS and characterization of

MS

Methods and results: In this study, 341 essential hypertensive patients who had been found risk factors of CAD (age, smoking and diabetes) and measured waist circumference, blood pressure, total cholesterol and high density lipoprotein cholesterol (HDL-C) and triglyceride (TG) Diagnosis MS according to ATPIII criteria of the National Cholesterol Education Program (NCEP) Estimated risk ten years CAD according to Framingham score The results as below:

- Prevalence percentage of high risk CAD in MS group (52.5%) was higher than that Non-MS group (27.4%) with OR = 2.9 (CI: 1.6-5.5), p < 0.001

- Prevalence percentage of high risk CAD in abdominal obesity group (55.9%) was higher than that without abdominal obesity group (43.8%) with OR = 1.6 (CI: 1.1- 2.9), p < 0.05

- Prevalence percentage of high risk CAD in decrease HDL-C group (65.4%) was higher than that normal HDL-C group (33.3%) with OR = 3.8 (CI: 2.2- 6.4), p

<0.001

- Prevalence percentage of high risk CAD in increase TG group (53.3%) was higher than that normal TG group (41.8%) with OR = 1.6 (CI: 1.0-2.6), p<0.05

Conclusion: There was a close relationship between MS and characterization of

MS and high risk of CAD according to Framingham score in the essential hypertensive patients

Keywords: metabolic syndrome, coronary artery disease (CAD), Framingham score.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gần đây tỉ lệ bệnh ĐMV đang có

xu hướng gia tăng ở Việt Nam Thống kê

tại Viện Tim mạch quốc gia, tỷ lệ bệnh

ĐMV tăng lên qua từng năm từ

1994-1996 lần lượt là: 3,4%; 5,0% và 6,1%

(Phạm Gia Khải và CS 2000) Mặc dù, ở các nước phát triển đã có những kế hoạch phòng chống bệnh rất tích cực nhưng do

sự tích lũy về dân số, tuổi và tỷ lệ mắc bệnh mới nên bệnh suất và tử suất do bệnh ĐMV vẫn chiếm một tỉ lệ hàng đầu trong

Trang 24

mô hình bệnh tật [1], [10] Tăng huyết áp

(THA) và hội chứng chuyển hóa (HCCH)

là một trong những nguyên nhân hàng

đầu gây tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong

do bệnh ĐMV Đánh giá nguy cơ bệnh

ĐMV ở bệnh nhân THA có HCCH là một

việc làm rất cần thiết trong thực hành lâm

sàng Nancy RC (2012) nghiên cứu 1722

bị bệnh tim mạch (752 nhồi máu cơ tim,

754 đột quỵ não và 216 bệnh nhân chết do

bệnh tim mạch) thấy nguy cơ BMV ước

tính theo thang điểm Framingham chiếm

đến 41% Thang điểm này đã được nhiều

nghiên cứu áp dụng rộng rãi trên thế giới

cũng như ở Việt Nam Chính vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục

tiêu:

1 Đánh giá nguy cơ bệnh ĐMV

10 năm tới theo thang điểm Framingham

ở bệnh nhân THA nguyên phát có HCCH.

2 Liên quan giữa nguy cơ bệnh

ĐMV với các đặc điểm của HCCH ở bệnh

nhân THA nguyên phát

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

02/2018 Chẩn đoán THA nguyên phát

theo tiêu chuẩn của JNC VII (2003) khi:

HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm

trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị THA [1]

2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên

cứu tiến cứu, mô tả, cắt ngang

2.2 Nội dung nghiên cứu: Các

bệnh nhân nghiên cứu được hỏi về tuổi, tiền sử, bệnh sử, các YTNC bệnh ĐMV như: hút thuốc lá, đái tháo đường (ĐTĐ); khám lâm sàng toàn điện và được ghi chép đầy đủ vào mẫu bệnh án nghiên cứu

+ Đo huyết áp: theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam 2010 [1]

+ Đo vòng bụng (VB): đo theo phương pháp nhân trắc học thông thường Chẩn đoán béo bụng theo tiêu chuẩn của

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organization) áp dụng cho khu vực châu á-Thái Bình Dương khi VB ≥ 90 cm

ở nam và ≥ 80 cm ở nữ [1], [9]

+ Định lượng nồng độ glucose, cholesterol toàn phần, HDL-C và triglyceride (TG) lúc đói: mẫu máu bệnh nhân xét nghiệm được lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng (qua một đêm không ăn sau

ít nhất 8 giờ) Glucose, cholesterol toàn phần, HDL-C và TG được định lượng bằng phương pháp enzyme trên máy hóa sinh bán tự động của Nhật Bản, tại khoa Hóa sinh-Bệnh viện Quân y 175

+ Chẩn đoán rối loạn glucose máu lúc đói (RLGMLĐ) và ĐTĐ theo

Trang 25

tiêu chuẩn của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA:

American Diabetes Association) năm

2011 [5]

+ Chẩn đoán rối loạn lipid máu

từng thành phần: giảm HDL-C (< 0,9

mmol/L), tăng TG (≥ 2,3 mmol/L) theo

khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt

Nam (2010) [1]

* Chẩn đoán HCCH ở bệnh nhân

THA: Dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán

HCCH của Tiêu chuẩn của ATPIII thuộc

chương trình giáo dục về cholesterol

quốc gia của Hoa Kỳ (NCEP- National

Cholesterol Education Program) bệnh

nhân có THA kèm 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:

1 Glucose máu lúc đói trên 6,1

là bao nhiêu phần trăm Từ đó, đánh giá mức độ nguy cơ như sau:

Nguy cơ cao ≥ 20%

Nguy cơ trung bình 10 - 19%.Nguy cơ thấp < 10%

2.3 Xử lý số liệu: số liệu được

thống kê theo phương pháp y sinh học bằng phần mềm SPSS 22.0 trên máy vi tính cá nhân [3]

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 1 Đặc điểm tuổi và độ tuổi ở bệnh nhân THA nguyên phát.

Trang 26

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tuổi và phân độ tuổi giữa hai nhóm (p > 0,05)

Bảng 2 Các đặc điểm biểu hiện của HCCH ở bệnh nhân THA nguyên phát

Biểu đồ 1 Nguy cơ bệnh ĐMV 10 năm tới theo thang điểm Framingham đối

tượng nghiên cứu

Bảng 3 Tần suất nguy cơ cao 10 năm BMV ở nhóm bệnh nhân THA nguyên

– 5,5) p < 0,001Nhận xét: tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm THA có HCCH (52,5%) cao hơn

so với nhóm THA không có HCCH (27,4%) có ý nghĩa thống kê p< 0,001 với OR = 2,9 (CI: 1,6-5,5), p<0,001

Trang 27

Bảng 4 Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm bệnh nhân THA có béo bụng.

Không RLGMLĐ

(n=69)

Nguy cơ cao (≥ 20%), n (%) 93 (51,3) 41 (59,4)

Nhận xét: Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm THA có giảm HDL-C (65,4%) cao hơn so với nhóm THA không giảm HDL-C (33,3%) với OR = 3,8 (CI: 2,2- 6,4), p

< 0,001

Trang 28

Bảng 7 Tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm bệnh nhân THA có tăng TG

HCCH đang tăng nhanh ở nhiều quốc gia,

ở các nước phát triển cũng như ở các nước

đang phát triển, ở thành phố cũng như ở

vùng nông thôn Sự tăng trưởng của HCCH

thường song hành với bệnh ĐTĐ týp 2 và

bệnh tim mạch đang gia tăng ở khắp mọi

nơi trên thế giới Tử vong do bệnh tim

mạch, những chi phí dành cho bệnh này

đang là gánh nặng kinh tế cho các quốc

gia [6], [7] Lakka H và CS (2002) nghiên

cứu 1209 người đàn ông tuổi từ 42 - 60

(năm 1984 - 1989) không có bệnh ung thư,

bệnh tim mạch và ĐTĐ týp 2; các bệnh

nhân này được theo dõi cho đến 12/1998

Kết quả cho thấy, tỷ lệ chết do bệnh ĐMV

bệnh ĐMV ở người có HCCH gấp 3,77

(95% CI, 1,74 - 8,17) so với người không

có HCCH Để đánh giá nguy cơ bệnh ĐMV

các nghiên cứu thường sử dụng thang điểm

Framingham để ước tính nguy cơ Thang

điểm này dựa vào dựa vào 5 yếu tố (tuổi,

HDL-C, Cholesterol toàn phần, hút thuốc

lá và trị số HATT) để tính ra nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới là bao nhiêu phần trăm Các yếu tố nguy cơ tương đương như: ĐTĐ, vữa xơ động mạch ngoại biên, phình động mạch chủ bụng, bệnh động mạch cảnh có triệu chứng thỡ nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới > 20% THA

là YTNC cao bệnh tim mạch nói chung

và bệnh ĐMV nói riêng Do đó, đánh giá nguy cơ bệnh ĐMV bằng thang điểm Framingham nhằm có hướng theo dõi và điều trị ngăn chặn bệnh ĐMV ở bệnh nhân THA, nhất là THA có HCCH là một việc làm thiết thực trong thực hành lâm sàng Trong nghiên cứu của chúng tôi 260 bệnh nhân THA có tuổi trung bình 62,5 ± 11,7

(năm) được chia hai nhóm THA có HCCH

và THA không có HCCH (có cùng độ tuổi

và phân bố độ tuổi) được tính thang điểm Framingham Kết quả của nghiên cứu cho thấy: tỉ lệ nguy cơ cao bệnh ĐMV ở nhóm THA có HCCH (52,5%) cao hơn so với nhóm THA không có HCCH (27,4%)

Trang 29

có ý nghĩa thống kê p < 0,001 với OR =

2,9 (CI: 1,6-5,5) Nghiên cứu của chúng

tôi phù hợp với nghiên cứu của Danny E

và CS (2009), tổng hợp các nghiên cứu về

mối liên quan HCCH đến BTM và tử vong

của khu vực châu á-Thái Bình Dương,

tác giả thấy ở bệnh nhân THA có HCCH

thấy tỉ lệ mắc bệnh ĐMV là 29,6% so

với đối tượng không có HCCH với tỉ suất

chênh là: 2,29 (Cl:2,46-3,84) [6] Dekker

JM (2010) nghiên cứu hồi cứu HCCH ở

3553 bệnh nhân có độ tuổi từ 50-75 (năm),

theo dõi HCCH liên quan bệnh ĐMV từ

1989-1990 thấy bệnh ĐMV 10 năm theo

Framingham ở người THA có HCCH cao

gấp 2,25 (Cl: 1,16-4,34) so với người THA

không có HCCH [8] Narla V (2009), theo

dõi BTM từ năm 1999-2003 thấy nguy cơ

bệnh ĐMV 10 năm theo Framingham ở

nhóm bệnh nhân có HCCH theo NCEP:

12,4 ± 9,1% cao hơn so với nhóm bệnh

nhân không có HCCH (8,1 ± 6,7%) có ý

nghĩa thống kê p< 0,001 [5] Mặt khác, kết

quả của nghiên cứu cũng thấy ở các nhóm

có biểu hiện của HCCH như béo bụng,

giảm HDL-C và tăng TG thì nguy cơ cao

bệnh ĐMV ở các nhóm này lần lượt gấp

1,6 (CI: 1,1-2,9), p < 0,05; 3,8 (CI:

2,2-6,4), p<0,001 và 1,6 (CI: 1,0-2,6), p<0,05

so với nhóm không béo bụng, HDL-C bình

thường và không tăng TG Wannamethee

SG và CS (2004-2005) thấy ở bệnh nhân

ĐTĐ sau 10 năm theo dõi thì nguy cơ bệnh

ĐMV với RR =3,2 (CI: 2,6 - 3,9) và tác

giả nhân định thang điểm Framingham

dự đoán chính xác bệnh ĐMV với đường cong AUC = 0,73 (CI: 0,71-0,75) ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 Simia M và CS (2005) nghiên cứu thang điểm Framingham ở người thừa cân và béo thấy nguy cơ cao bệnh ĐMV (thang điểm Framingham score >20%) ở nhóm béo và thừa cân cao hơn gấp 14,6 (CI: 6,4-33,4)và 5,2 (CI: 2,2-12,2) lần so với nhóm không thừa cân với p<0,001 Kết quả nghiên cứu trên đã khẳng định nguy cơ tương đối cao bệnh ĐMV ở bệnh nhân THA nguyên phát, nhất

là THA có HCCH Tuy nhiên, các yếu tố cấu thành HCCH và các YTNC của bệnh ĐMV có thể thay đổi được bằng thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng và rèn luyện thể dục hằng ngày Vì vậy, ở bệnh nhân THA nguyên phát có HCCH cần được tính nguy cơ bệnh ĐMV, từ đó có lời khuyên

và hướng dẫn bệnh nhân ngăn ngừa nguy

cơ bệnh ĐMV, giảm nguy cơ tử vong cũng như tàn phế cho bệnh nhân

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đánh giá nguy cơ

10 năm tới bệnh ĐMV ở THA nguyên phát

có HCCH và các đặc điểm của HCCH tại bệnh viện Quân y 175, chúng tôi rút ra kết luận như sau:

- Nguy cơ cao bệnh ĐMV nhóm THA có HCCH (52,5%) cao hơn so với nhóm THA không có HCCH (27,4%) với

OR = 2,9 (CI: 1,6-5,5), p < 0,001

- Nguy cơ cao bệnh ĐMV theo các

Trang 30

đặc điểm triệu chứng của HCCH như: ở

nhóm bệnh nhân THA có béo bụng, THA

có giảm HDL-C và THA có tăng TG lần

lượt gấp 1,6 (CI: 1,1-2,9), p < 0,05; 3,8

(CI: 2,2-6,4), p<0,001 và 1,6 (CI: 1,0-2,6),

p<0,05 so với các nhóm biểu hiện bình

thường của đặc điểm HCCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hội tim mạch học Việt Nam

(2010), “Khuyến cáo về các bệnh lý tim

mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006 -

3 Nguyễn Văn Tuấn (2008),

“Phương pháp ước tính cỡ mẫu”, Y học

5 Campbell CY, Nasir K, Carvalho

JA, Roger SB, Santos RD (2008), “The

metabolic Syndrome Adds Increamental

Value to the Framingham Risk Score in

Identifying Asymptomatic Individuals With Higher Degrees of Inflammation”, J Cardiometab Syndr, 3, pp 7-11

6 Danny E, Girish LK, Nadya M,

et al (2009), “Metabolic syndrome and cardiovascular disease in South Asians”, Vascular Health and Risk Management, 5,

pp 731-43

7 Deepa M, Mohan V (2006),

“The metabolic syndrome in developing coutries”, Diabetes Voice, 51, pp 15-7

8 Dekker JM, Girman V, Rhodes

T, et al (2005), “Metabolic Syndrome and 10-Year Cardiovascular Disease Risk in Hoorn Study”, Circulation, 112, pp 666-

73

9 International Diabetes Ferderation The IDF consensus world wide definition of the metabolic syndrome Part 1: Worldwide definition for use in clinical practice Berlin, 2005 Website: Http://www.idf.org/webdata/docs/IDF_metasyndrome_defi nition.pdf

10 Isomaa B, Almgren P, Tuomi

T, et al (2001), “Cardiovascular morbidity and mortality associated with the metabolic syndrome”, Diabetes Care, 24, pp 683-89

Trang 31

1 Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Tp Hồ Chí Minh

2 Bệnh viện Quân y 7A Quân khu 7

Người phản hồi (Corresponding): Vưu Bửu Long (vuabuulong@gmail.com)

Ngày nhận bài: 12/8/2018, ngày phản biện: 28/8/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN DỊ VẬT MÔ MỀM

Vưu Bửu Long 1 , Lê Quang Trí 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Siêu âm đã nổi lên như là công cụ được lựa chọn để phát hiện các dị vật không cản quang, với các dị vật cản quang siêu âm giúp định vị chính xác hơn Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm: “Đánh giá kết quả siêu âm chẩn đoán dị vật mô mềm”.

Phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 64 bệnh nhân có dị vật

mô mềm, từ 1/2015 đến 4/18 tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố

Hồ Chí Minh Đây là một nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu mô tả cắt ngang.

Kết quả: Khi sử dụng siêu âm phát hiện dị vật 64/64 trường hợp đạt hiệu suất 100%, dù đặc tính của dị vật là gỗ, kim loại hay vật liệu khác Độ nhạy và

độ đặc hiệu của siêu âm so với phẫu thuật chẩn đoán dị vật là 100% So sánh kích thước trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên cận lâm sàng (siêu âm và

X quang) với kết quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác biệt với P > 0,05 (Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P = 0.912)

Kết luận: Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không đắt tiền, cơ động và sẵn có cho các mô mềm bề mặt mà không có nguy cơ bức xạ ion hoá Đối với tất cả các dị vật, siêu âm có thể hỗ trợ đánh giá các mô mềm xung quanh và chứng minh các biến chứng mô mềm liên quan.

ULTRASONOGRAPHY FOR DIAGNOSTIC OF SOFT TISSUE

FOREIGN BODIES ABSTRACT

Trang 32

choice to identify non radio-opaque foreign bodies For radio-opaque foreign bodies, ultrasonography can locate more precisely We conducted this study to evaluate the initial results Ultrasonography for Diagnostic of Soft Tissue Foreign Bodies.

Patients & Methods: The study was conducted on 64 patients with diagnosis off foreign bodies in soft tissues, from January 2015 to April 2018 at Ho Chi Minh City Hospital for Traumatology and Orthopaedics It is a simultaneously retrospective and prospective cross-sectional analysis.

64/64 of foreign bodies with effiency of 100%, nonetheless the material is wood, metal or other Sensitivity and specificity in comparison with operational search for foreign bodies is 100% Comparison on average length and width between paraclinical means ( X-ray and ultrasonography) and post-operative results shows no difference with P > 0.05 ( Width P = 0,810; Length P = 0.912).

Conclusion: Ultrasonography is an inexpensive diagnostic imaging method, mobile and available for superficial soft tissues without the risk of ionizing rays For most foreign bodies, ultrasonography can support the process

of inspecting the local soft tissues and the relating soft tissue complications.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dị vật ở vết thương hở là một

trong những vấn đề xuất hiện nhiều tại

phòng cấp cứu ở mỗi cơ sở y tế Tại Mỹ có

khoảng 5,7 triệu người đến bệnh viện với

các vấn đề liên quan đến vết thương hở,

chiếm 4,5% tổng số ca cấp cứu năm 2010

Trong số đó, dị vật sót lại được tìm thấy từ

7% đến 15% số ca nhập cấp cứu với vết

thương hở Có đến 38% các trường hợp bị

bỏ qua hoặc thiếu sự đánh giá thiết yếu của

nhân viên y tế [1], [4]

X quang luôn là cận lâm sàng đầu

tay và được ưu tiên lựa chọn chẩn đoán

phát hiện dị vật mô mềm Tuy nhiên, X

quang chỉ giúp phát hiện các dị vật mô mềm cản quang Trong khi đó, ngoài kim loại thì gỗ và thủy tinh là hai loại di vật phổ biến và không cản quang do đó rất khó để phát hiện qua X quang Thủy tinh không được phát hiện tới 50% số ca được thực hiện bằng X quang, 7,4% số ca dị vật là gỗ các loại được phát hiện bằng X quang Mặt khác chẩn đoán hình ảnh trong thực hành lâm sàng thì chụp cắt lớpvi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI) có độ nhạy cao tuy nhiên chi phí lại đắt và không mang tính phổ biến [2]

Siêu âm giúp phát hiện dị vật mô mềm không cản quang như gỗ và thủy

Trang 33

tinh Siêu âm được sử dụng để phát hiện

dị vật lần đầu tiên vào năm 1978 Cho đến

nay siêu âm đã được khẳng định là một

biện pháp dễ sử dụng,sãn có, rẻ tiền và ít

gây nguy cơ Trong nhiều nghiên cứu đã

chỉ ra độ nhạy của siêu âm phát hiện dị vật

mô mềm là 95% Trong các báo cáo trước

đây cho thấy tỉ lệ phần trăm các giá trị

tiên đoán dương tính dị vật mô mềm của

X quang số hóa (CR) và Siêu âm lần lượt

Điều này cho thấy, siêu âm tỏ ra vượt trội

về độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán

xác định dị vật mô mềm [3], [4]

Mặc dù siêu âm đã được minh

chứng và công nhận là một biện pháp hiệu

quả phát hiện và điều trị các trường hợp dị vật mô mềm bởi y văn và các nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại chưa tìm thấy nghiên cứu chính thống nào về độ nhạy và độ đặc hiệu, cũng như giá trị của siêu âm trong chẩn đoán dị vật mô mềm đặc biệt là dị vật

mô mềm không cản quang Với những vấn

đề đặt ra nêu trên chúng tôi thực hiện đề

tài: “Đánh giá kết quả của siêu âm trong chẩn đoán dị vật mô mềm tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM”

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Các

bệnh nhân (BN) đến khám và điều trị do các vấn đề liên quan đến dị vật mô mềm tại bệnh viện CTCH TP.HCM từ 1/2014 đến 4/2018

- Cỡ mẫu

Cỡ mẫu ước lượng theo công thức sau đây:

α: Xác suất sai lầm loại I, với α = 0,05;

d

p 1 p Z

Trang 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến

cứu, mô tả cắt ngang

- Máy siêu âm sử dụng trong

nghiên cứu là máy siêu âm màu 3D

LOGIQ F8 do Trung quốc sản xuất tháng

- Cơ sở vật lý của phương pháp

tạo hình bằng siêu âm

Cơ sở của nó chính là sự phản hồi

của tia siêu âm từ các tổ chức trong cơ thể,

sự phản hồi này phụ thuộc vào:

+ Tốc độ truyền của sóng âm trong

Tốc độ truyền của sóng siêu âm

phụ thuộc vào môi trường truyền,Vận tốc

truyền của sóng siêu âm trong những môi

trường khác nhau.Tốc độ trung bình của sóng siêu âm trong các tổ chức phần mềm

v #1540m/s Biêt được vận tốc truyền khi

đo thời gian đi và về của sóng siêu âm ta

có thể định vị rõ được bề mặt phản xạ [10]

- Kỹ thuật siêu âm phát hiện dị vật

mô mềm:

Đầu dò tần số cao (7,5-10 MHz) được dùng với “stand-off pad” hoặc không Dùng “stand-off pad” nhìn rõ đến từng mm trên cấu trúc cần khảo sát Điều này giúp cho việc quan sát mô mềm một cách chính xác hơn Dùng gel siêu âm đổ vào găng tay có thể tạo ra “stand-off pad”

Dị vật thường tăng echo so với

mô mềm xung quanh Dị vật như gỗ hoặc nhựa có khuynh hương tạo bóng lưng (đuôi sao chổi) Dị vật bằng kim loại có khuynh hướng phản quang hay tạo hình ảnh đuôi sao chổi (comet tail artifact) Vùng tăng echo được quét qua mặt phẳng ngang và dọc Qua đó, có thể ước lượng độ sâu, kích thước dị vật cũng như mô và mạch máu xung quanh [5] [10]

3 KẾT QỦA VA BAN LUẬN 3.1 Đặc điểm về lâm sàng vết thương dị vật

Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng vết thương có dị vật khi nhập viện (n=64)

Trang 35

%), 45/64 BN có biểu hiện nhiễm trùng ở vết thương(70,3 %) Tỷ lệ vết thương có dị vật

bị nhiễm trùng còn liên quan tới thời gian nhập viện và đặc tính của dị vật

Theo Tedric D Boyse và cộng sự nhiễm trùng mô mềm là một trong những biến chứng phổ biến nhất của dị vật xâm nhập tính tới thời điểm hiện tại [7]

Bảng 3.2 Tỷ lệ biến chứng, xâm lấn tác động của dị vật (n = 64)

nhiễm trùng và tổn thương mô [6]

Theo Anderson và cộng sự có tới

38% dị vật trong mô mềm đã bị bỏ qua trong lần kiểm tra ban đầu Dị vật phổ biến nhất là gỗ, thủy tinh, hoặc mảnh kim loại Chỉ có 15% hoặc ít hơn các dị vật bằng gỗ được phát hiện bằng chụp X quang Phát hiện dị vật là rất quan trọng bởi vì các dị vật bị giữ lại có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về nhiễm trùng và viêm các

tổ chức lân cận [2]

3.2 Cận lâm sàng phát hiện dị vật mô mềm.

Bảng 3.3 Đặc điểm về cận lâm sàng phát hiện dị vật (n = 64)

Trang 36

Nhận xét: Trong nghiên cứu của

chúng tôi sử dụng cả X-quang và siêu âm

64/64 BN để phát hiện dị vật.Theo Tedric

D Boyse và cộng sự siêu âm phát hiện

một loạt các dị vật của mô mềm, bao gồm

các mảnh vụn bằng gỗ, thủy tinh, kim loại

và nhựa và đánh giá các biến chứng của

mô mềm Siêu âm xác định được chính

xác kích thước, hình dáng và vị trí của các

dị vật mô mềm Phẫu thuật tương quan cho phép xác nhận sự hiện diện dị vật và các biến chứng liên quan đến mô mềm trong tất cả các trường hợp Tất cả các dị vật được phẫu thuật lấy bỏ mà không có biến chứng sau khi định vị với siêu âm [7]

Bảng 3.4 Tỷ lệ CLS phát hiện được dị vật theo đặc tính dị vật (n = 64)

Chỉ số nghiên cứu

Loại dị vật phát hiệnKim loại (22)

Nhận xét: Khi sử dụng siêu âm

phát hiện dị vật dù đặc tính của dị vật là

gỗ, kim loại hay vật liệu khác thì đều phát

hiện được dị vật, khi sử dụng X-quang

phát hiện dị vật nếu dị vật là kim loại thì

phát hiện 100% Còn nếu đặc tính của dị

vật là gỗ, hay vật liệu khác thì phát hiện

được dị vật khó khăn hơn 10/42 BN

Theo Peter W Bray và cộng sự

[8] siêu âm có độ phân giải cao là một

phương tiện sẵn có, độ nhạy cao để phát

hiện dị vật Độ đặc hiệu cao 99% (CI, 96%

-100%) cho phép sự hiện diện dị vật được

xác nhận cơ bản cho kết quả dương tính

trên siêu âm Giá trị độ nhạy cho tất cả các

phép đo, 94%, so sánh thuận lợi với giá trị

95% báo cáo trong các nghiên cứu in vivo Các vật bằng gỗ đã được phát hiện ở cả đốt ngón và lòng bàn tay, với độ nhạy từ 95% đến 100% Trong các khớp, khoảng tin cậy

từ 80% đến 100%

Trong nghiên cứu của chúng tôi siêu âm phát hiện dị vật 64/64 BN đạt độ nhạy và độ đặc hiệu 100% So với các nghiên cứu trước đây thì tỷ lệ này cao hơn hẳn Theo chúng tôi là do các tác giả trước khi nghiên cứu các máy siêu âm sử dụng thuộc thế hệ trước các thông số kỹ thuật (độ phân giải, tần số đầu dò…) có phần hạn chế so với máy siêu âm sử dụng thuộc thế hệ sau

Trang 37

3.3 Kích thước trung bình của dị vật trên cận lâm sàng và phẫu thuật Bảng 3.5 So sánh kích thước của dị vật trên cận lâm sàng và phẫu thuật (n = 64)

(mm)

Trung bình 12,14 ± 11,59 11,81 ± 11,41 0,912

Nhận xét: So sánh kích thước trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên

siêu âm và Xquang với kết quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác biệt với P

> 0,05 ( Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P = 0.912)

3.4 So sánh khả năng phát hiện dị vật giữa X-quang và Siêu âm

Bảng 3.6 X-quang phát hiện dị vật theo tính chất dị vật (n=64)

Chỉ số nghiên cứu

Tính chất dị vật

TổngKhông cản quang

Tỷ lệ âm tính giả = 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Nhận xét: X-quang phát hiện 92,9% dị vật cản quang: kim loại, xương,

gạch đá (26/28 trường hợp), các trường hợp không phát hiện được do kích thước

dị vật quá nhỏ; và phát hiện 16,7% (6/36 trường hợp) dị vật không cản quang,

do kích thước dị vật lớn Độ nhạy = 92,9%; Độ đặc hiệu = 83,3%; Tỷ lệ âm tính giả

= 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Trang 38

Bảng 3.7 So sánh khả năng phát hiện dị vật X-quang và Siêu âm (n=64)

Chỉ số nghiên cứu Siêu âm phát hiện dị vậtKhông Tổng

viện Nhi ở Tây Nepal (2015) với mục

đích là để đánh giá độ nhạy của siêu

âm phát hiện và mô tả các vị trí khu

trú của dị vật mô mềm ở trẻ em Tất

cả các BN được thực hiện cả chụp X

quang và siêu âm Độ nhạy và độ đặc

hiệu của siêu âm chẩn đoán dị vật là

100% Xquang chỉ phát hiện 15% số dị

vật không cản quang [11]

Kết quả thống kê ở bảng 3.6

cho thấy, khả năng phát hiện theo tính

chất cản quang và không cản quang

của dị vật trên X-quang, cho Độ nhạy =

quang Kết quả này cho thấy sử dụng

X-quang phát hiện dị vật phụ thuộc vào đặc tính cản quang của dị vật mà còn phụ thuộc vào cả kích thước dị vật Với dị vật cản quang kích thước nhỏ cũng làm hạn chế khả năng phát hiện của X-quang, mặt khác, X-quang cũng

có thể phát hiện dị vật khi kích thước

dị vật không cản quang lớn

Kết quả so sánh khả năng phát hiện dị vật giữa Siêu âm và X-quang

ở bảng 3.28 cho thấy, Siêu âm có khả năng phát hiện tới 100% dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Như vậy, có thể thấy Siêu

âm có ưu thế hơn so với X-quang trong phát hiện dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật

4 KẾT LUẬN

- Tỷ lệ dị vật là gỗ có 28/64 BN (43,8 %), kim loại là 22/ 64 BN (34,4 %);

dị vật là gỗ và kim loại là chủ yếu (50/64 BN) chiếm 78,12 % Dị vật là kim loại không có biểu hiện nhiễm trùng khi nhập viện là 11/22 BN (50 %), dị vật là gỗ có biểu hiện nhiễm trùng (ổ áp xe) khi nhập viện là 17/28 BN (60,7 %) Có một dị vật

Trang 39

là 55/64 BN (85,9 %) và số lượng dị vật

phát hiện trên cận lâm sàng và phẫu thuật

là trùng khớp nhau

- Siêu âm phát hiện dị vật 64/64

BN đạt hiệu xuất 100%, dù đặc tính của

dị vật là gỗ, kim loại hay vật liệu khác X

quang phát hiện dị vật nếu dị vật là kim

loại thì X quang phát hiện 22/22 BN đạt

hiệu xuất 100% Còn nếu đặc tính của dị

vật là gỗ, hay vật liệu khác thì phát hiện

dị vật khó khăn hơn cụ thể dị vật là gỗ X

quang phát hiện 1/28 BN (3,57 %), vật

liệu khác (Gạch, đá, thủy tinh nhựa… ) X

quang phát hiện 9/14 BN (64,28 %)

- Kích thước trung bình của dị vật

đo trên hình ảnh cận lâm sàng và sau phẫu

thuật về chiều rộng là 2,68 ± 2,28 và 2,86

± 2,29mm và chiều dài là 12,14 ± 11,59

và 11,81 ± 11,41mm. So sánh kích thước

trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên

cận lâm sàng (siêu âm và X quang) với kết

quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác

biệt ( Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P

= 0.912)

- Khả năng phát hiện theo tính

chất cản quang và không cản quang

của dị vật trên X-quang, cho Độ nhạy =

quang Kết quả này cho thấy sử dụng

X-quang phát hiện dị vật phụ thuộc vào đặc tính cản quang của dị vật mà còn phụ thuộc vào cả kích thước dị vật Với dị vật cản quang kích thước nhỏ cũng àm hạn chế khả năng phát hiện của X-quang, mặt khác, X-quang cũng

có thể phát hiện dị vật khi kích thước

dị vật không cản quang lớn

Kết quả so sánh khả năng phát hiện dị vật giữa Siêu âm và X-quang

ở bảng 3.28 cho thấy, Siêu âm có khả năng phát hiện tới 100% dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Như vậy, có thể thấy Siêu

âm có ưu thế hơn so với X-quang trong phát hiện dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm so với phẫu thuật chẩn đoán dị vật là 100%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Michael Orlinsky MD, Aaron

A Bright MD (2006) “The utility of routine x-rays in all glass-caused wounds,” American Journal of Emergency Medicine , vol 24, p 233–236

2 Mark A Anderson, William L Newmeyer III, Eugene S Kilgore (1982)

“Diagnosis and Treatment of Retained Foreign Bodies in the Hand,” The American Journal of Surgery, vol 144, pp 63-67

3 Joshua Davis, Byron Czerniski, Arthur Au et al (2015) “Diagnostic

Trang 40

Accuracy of Ultrasonography in Retained

Soft Tissue Foreign Bodies: A Systematic

Review and Meta-analysis,” ACADEMIC

EMERGENCY MEDICINE , vol 22, p

777–787

4 Dan Schlager, MD*,Arthur B

Sanders, MD,Donna Wiggins, MD et al

(1991) “Ultrasound for the Detection of

Foreign Bodies,” Annals of Emergency

Medicine , vol 20, pp 189-191

5 MH Aras, O Miloglu, C

Barutcugil et al (2010) “Comparison

of the sensitivity for detecting foreign

bodies among conventional plain

radiography, computed tomography and

ultrasonography,” Dentomaxillofacial

Radiology , vol 39, p 72–78

6 Mark T Steele MD,* Luan V

Tran MD, WilliamaA Watson et al (1998)

Retained Glass Foreign Bodies in Wounds:

Predictive Value of Wound Characteristics,

Patient Perception, and Wound

Exploration,” AMERICAN JOURNAL

OF EMERGENCY MEDICINE , vol 16,

no 7, pp 627-630

7 Tedric D Boyse, MD, David P

Fessell, MD, Jon A Jacobson, MD et al

(2001) US of Soft-Tissue Foreign Bodies and Associated Complications with Surgical Correlation,” RadioGraphics , vol 21, p 1251–1256

8 Peter W Bray, MD, James L Mahoney, MD, Joan P Campbell (1995)

“Sensitivity and Specificity of Ultrasound

in the Diagnosis of Foreign Bodies in the Hand,” The Journal of Hand Surgery , vol 20A, pp 661-666

9 R Crawford, A B Matheson (1989) “Clinical value of ultrasonography

in the detection and removal of radiolucent foreign bodies,” Injury: the British Journal

of Accident Surgery , vol 2O, no 6, pp 341-343

10 Võ Tấn Đức, Nguyễn Quang Thái Dương (biên dịch) (2004) “ Siêu âm chẩn đoán ” Nhà xuất bản Y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh

11 Royal Children’s Hospital Melbourne (2007) Clinical practice guidelines: management of tetanus-prone wounds Accessed April 23, 2007, at:http://www.rch.org.au/clinicalguide/cpg.cfm?doc_id=5221

Ngày đăng: 27/10/2020, 16:19

w