Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 14/2018 trình bày một số nội dung chính sau: Đánh giá kết quả điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phẫu thuật nội soi qua niệu đạo sử dụng năng lượng Laser Thulium, khảo sát liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Quân y 175,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết của tạp chí.
Trang 2MỤC LỤC
1 Đánh giá kết quả điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phẫu thuật nọi soi qua niệu đạo sử dụng năng lượng Laser Thulium
Nguyễn Thành Đức, Trần Hoài Nam, Nguyễn Văn Khẩn
Hoàng Mạnh Hải, Hoàng Vũ Hiên
4 Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ gây thóat vị đĩa đệm cột sống cổ
Nguyễn Thị Ánh Hồng, Nguyễn Ngọc Toàn
Trang 3điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng
Hoàng Tiến Ưng, Hà Hoàng Kiệm Bùi Văn Tuấn, Hoàng Văn Thắng
9 Cải thiện chức năng đường tiểu dưới và chất lượng cuộc sống trong
điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phẫu thuật nội soi qua
niệu đạo sử dụng năng lượng laser thulium
Nguyễn Thành Đức, Trần Hoài Nam, Nguyễn Văn Khẩn
Hoàng Trung Nghĩa, Hoàng Vũ Hiên
74
10 Nghiên cứu hình thái, chức năng động mạch cảnh đoạn ngoài sọ ở bệnh
nhân nhồi máu não
Huỳnh Kim Liễu, Võ Duy Ân
14 Ruột thừa đôi - Báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp
Trịnh Văn Thảo, Nguyễn Văn Mạnh, Phan Văn Hậu
116
Trang 4SỐ 14 - 6/2018 CONTENTS
1 Evaluation of endoscopic treatment using the thulium laser for benign prostatic hyperplasia
Nguyen Thanh Duc, Tran Hoai Nam, Nguyen Van Khan
Hoang Manh Hai, Hoang Vu Hien
4 Study at some of the risk factors causing cervical disc herniation
Nguyen Thi Anh Hong, Nguyen Ngoc Toan
Pham Ngoc Phuoc
Trang 5and physiotherapy to treat frozen shoulder
Hoang Tien Ung, Ha Hoang Kiem Bui Van Tuan, Hoang Van Thang
9 Improverment of prostate symptom and quality of life after endoscopic
treatment using thulium laser for benign prostatic hyperplasia
Nguyen Thanh Duc, Tran Hoai Nam, Nguyen Van Khan
Hoang Trung Nghia, Hoang Vu Hien
74
10 Study of the morphology and function of the external carotid artery in
patients with cerebral infarction
Huynh Kim Lieu, Vo Duy An
14 Double appendix - Case report: duplication of the vermiform appendix
Trinh Van Thao, Nguyen Van Manh, Phan Van Hau
116
Trang 61 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thành Đức (bsnguyenthanhduc@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 20/05/2018, ngày phản biện: 25/05/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG PHẪU THUẬT NỌI SOI QUA NIỆU ĐẠO SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG LASER THULIUM
Nguyễn Thành Đức 1 , Trần Hoài Nam 1 , Nguyễn Văn Khẩn 1
Hoàng Mạnh Hải 1 , Hoàng Vũ Hiên 1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tính hiệu quả, độ an toàn và biến chứng của nguồn năng lượng Laser Thulium trong phẫu thuật nội soi qua niệu đạo cắt u tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 60 trường hợp u tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (UTSLTTTL) được phẫu thuật cắt đốt nội soi qua niệu đạo bằng năng lượng Laser Thulium tại khoa Ngoại tiết niệu - Bệnh viện quân y 175 Nghiên cứu mô
tả, cắt ngang, theo dõi dọc, không đối chứng Kết quả phẫu thuật đánh giá các yếu tố: thời gian phẫu thuật, lượng dịch rửa trong phẫu thuật, thời gian tưới rửa bàng quang, thời gian đặt thông niệu đạo, tai biến trong phẫu thuật Hiệu quả của phẫu thuật được đánh giá qua: bảng điểm quốc tế đánh giá triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS: Interna- tional Prostate Symptom Score), bảng điểm chất lượng cuộc sống (QoL: Quality of Life Index), lưu lượng nước tiểu trung bình (Qmean: mean of urinary flow rate), biến chứng sau phẫu thuật tại thời điểm 1 tháng, 3 tháng sau phẫu thuật.
Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình 52,08 ± 11,62 (25 - 95) phút Lượng dịch rửa trong phẫu thuật trung bình: 21,92 ± 4,88 (15 - 35) lít Không có trường hợp nào bị hội chứng cắt đốt nội soi Thời gian tưới rửa sau phẫu thuật trung bình: 1,78 ± 0,42 (1 - 3) ngày Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình 1,78 ± 0,42 (2-5) ngày Không
có trường hợp nào tử vong, 1 trường hợp chảy máu phải truyền máu Điểm IPSS trước phẫu thuật là 31,35 ± 4,86 (8-35), sau phẫu thuật 1 tháng 7,93 ± 3,07 (8-16), sau phẫu thuật 3 tháng 6,52 ± 0,90 (6-15), Điểm QoL trước phẫu thuật là 4,58 ± 0,81 (2-6), sau
Trang 7phẫu thuật 1 tháng 2,45 ± 0,62 (1-3), sau phẫu thuật 3 tháng 2,45 ± 0,62 (1 - 3) Qmean trung bình trước mổ 8,15 ± 0,97 (5-10) mL/s, sau phẫu thuật 1 tháng là 14,67 ± 1,45
(9-21,6), sau phẫu thuật 3 tháng là 16,28 ± 2,34 (12,5-25,3)
Kết luận: Sử dụng Laser Thulium trong phẫu thuật nội soi cắt u tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là an toàn, hiệu quả và ít biến chứng
Từ khóa: u lành tuyến tiền liệt, laser, Thulium, cắt đốt nội soi.
EVALUATION OF ENDOSCOPIC TREATMENT USING THE THULIUM LASER FOR BENIGN PROSTATIC HYPERPLASIA
Results: vaporesection time was 58.03 ± 22.63 (20-120) min 1/60 (1,67%) of the patients required a blood transfusion.The mean catheter time was 2.6 ± 1.3 (1-7) days The mean Qmean
was 5.42 ± 1.74 (1.8-8.9) mL/s, after the 1st- month Qmean was 15.2 ± 3.25 (9-1.6) mL/s, after the 3rd - month was 17.63 ± 2.62 (12.5-25.3) mL/s The preoperative IPSS is 30.57 ± 3.25 (18-35), after 1st- month the IPSS was 12.14 ± 1.68 (8-16), after 3rd- month the IPSS wass 9.96 ± 1.93 (6-15) The preoperative QoL 5.29 ± 0.62 (1-6), after 1st- month the QoL was 2.19 ± 0.42 (1-3), after 3rd- month the QoL was 1.88± 0.44 (1-3) respectively (P<0.05).
Conclusion: Thulium laser for the treatment of BPH is a safe and effective technique, reducing the complication.
Key words: Laser Thulium, vaporesection, benign prostatic hyperplasia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt
(TSLTTTL), là một bệnh thường gặp ở
nam giới cao tuổi Bệnh ngày càng được
quan tâm do tuổi thọ dân số ngày càng
tăng cao, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi[3],[5] TSLTTTL gây ra rối loạn tiểu tiện và các biến chứng ảnh hưởng tới chất lượng sống của bệnh nhân Nhằm tìm các phương pháp can thiệp có hiệu quả
Trang 8mà hạn chế được các biến chứng và khó
chịu cho bệnh nhân các nhà khoa học đã
cố gắng tìm các phương pháp can thiệp ít
xâm lấn, tuy nhiên một số biện pháp cũng
chỉ giải quyết tạm thời hoặc một phần
tình trạng tắc nghẽn đường tiểu và có một
số phương pháp thất bại ngày sau một
thời gian nghiên cứu và cần thêm những
kỹ thuật khác hiệu quả hơn Phẫu thuật
nội soi (trasurethral resection
prostate-TURP) được coi là tiêu chuẩn vàng trong
can thiệp ngoại khoa, giảm thiểu nhiều tai
biến nguy hiểm; tuy nhiên vẫn có một số
biến chứng, khó chịu cho bệnh nhân và
một số bệnh nhân có nhiều bệnh mắc kèm
có thể gây khó khăn cho quá trình can
thiệp [6].Từ những năm 80 của thế kỷ 20
nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu
áp dụng các thiết bị sử dụng tia Laser để
điều trị TSLTTTL Các kỹ thuật sử dụng
năng lượng laser áp dụng trong điều trị
TSLTTTL khác nhau về: nguồn phát tia,
bước sóng, công suất phát tia laser, hoặc
khác nhau về nguyên lý dẫn truyền tia
laser đến vị trí can thiệp, sự khác nhau
trong chức năng, kỹ thuật ứng dụng và
độ xuyên mô Việc ứng dụng loại Laser
nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau như: kết quả chức năng ngắn hạn
và dài hạn, độ an toàn của phương pháp,
biến chứng, chi phí [11] Laser Thulium
là loại Laser mới, có nhiều đặc tính ưu
việt, có khả năng phát sóng liên tục dành
cho các ứng dụng phẫu thuật nội soi trong
môi trường nước Được đánh giá có tác
dụng lớn trong việc làm bốc hơi, cắt mô
có mạch máu và không mạch máu góp
phần cầm máu tốt và ít làm tổn thương
mô xung quanh [4],[7],[9],[11].Tại bệnh
viện 175, Laser Thulium được áp dụng trong điều trị ngoại khoa UTSLTTTL, đặc biệt phẫu thuật này có thể thực hiện trên bệnh nhân lớn tuổi, suy kiệt có các bệnh
lý mãn tính kèm theo hoặc bệnh nhân có rối loạn đông máu Tuy nhiên, chúng tôi cũng ghi nhận một vài tỉ lệ, các tai biến
và biến chứng của phẫu thuật Nhằm góp phần nâng cao kết quả điều trị, hạn chế các tai biến, biến chứng, chúng tôi đã tiến hành đề tài này nhằm: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi qua niệu đạo sử dụng năng lượng laser thulium, tính hiệu quả, khả thi khi sử dụng, đánh giá độ an toàn
và biến chứng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng cộng 60 trường hợp UTSLTTTL có chỉ định phẫu thuật, được điều trị phẫu thuật nội soi qua niệu đạo
sử dụng năng lượng Laser Thulium từ tháng 3 năm 2015 tới tháng 10 năm 2016 tại khoa Ngoại tiết niệu bệnh viện Quân
Y 175 Các bệnh nhân được thăm khám đầy đủ trước phẫu thuật bao gồm bệnh sử, thăm hậu môn trực tràng, tổng phân tích nước tiểu, creatinine huyết thanh, PSA huyết thanh Triệu chứng đường tiểu dưới được đánh giá bằng bảng điểm quốc tế đánh giá triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS: International Prostate Symptom Score), bảng điểm chất lượng cuộc sống (QoL: Quality of Life Index) Siêu âm qua ngả bụng giúp đánh giá thể tích tuyến tiền liệt (VTTL) Bệnh nhân được đo niệu động
đồ để đánh giá lưu lượng dòng tiểu trung bình (Qmean: the mean of urinary flow rate) Tất cả bệnh nhân có nghi ngờ bướu
Trang 9ác qua các thông số (PSA, thăm khám hậu
môn trực tràng hay siêu âm) đều được tiến
hành sinh thiết tuyến tiền liệt Nếu kết quả
là ác tính thi sẽ bị loại khỏi nghiên cứu
Năng lượng Laser Thulium phát liên tục
sử dụng để cắt nhỏ, bốc hơi u Nước được
sử dụng trong phẫu thuật là nước muối
sinh lý Quá trình phẫu thuật được tiến
hành như sau: Nong niệu đạo nhẹ nhàng
trình tự từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn Đặt máy,
soi bàng quang, xác định và đánh dấu giới
hạn vùng phẫu thuật so với ụ núi, đánh
giá tình trạng bàng quang (mức độ bàng
quang chống đối), sỏi bàng quang, u bàng
quang kèm theo, dung tích bàng quang, 2
lỗ niệu quản, hình ảnh tuyến tiền liệt Tiến
hành cắt theo phương pháp Barnes: cắt
theo từng thùy và thường bắt đầu bằng cắt
thùy giữa Khởi đầu bằng cắt từ sàn tuyến
tiền liệt, sau đó cắt vòng qua hai bên đến
4 giờ và 8 giờ, cắt tuần tự cổ bàng quang
đến ụ núi, cắt sâu dần cho đến khi thấy các thớ vỏ của tuyến Tiếp tục cắt thùy phải, thùy trái đến 2 giờ và 10 giờ, sau đó cắt trần tuyến tiền liệt sau cùng Kiểm tra tổng quát lỗ tuyến, hoàn thiện quá trình cắt và cầm máu Hút sạch các mảnh cắt, đặt ống thông Foley 3 nhánh, rửa bàng quang liên tục bằng dung dịch NaCl 0,9% Sau phẫu thuật xác định các yếu tố: thời gian phẫu thuật, tai biến biến chứng, tỷ lệ truyền máu, thời gian đặt thông niệu đạo, Qmean, IPSS, QoL Bệnh nhân được theo dõi sau 1 tháng và 3 tháng
KẾT QUẢ
Tổng cộng 60 trường hợp UTSLTTL được phẫu thuật nội soi qua niệu đạo sử dụng nguồn năng lượng Laser Thulium từ tháng 3 năm 2015 tới tháng
10 năm 2016 tại khoa Ngoại tiết niệu bệnh viện Quân y 175, chúng tôi thu được những kết quả sau:
Bảng 1: Các yếu tố trước, trong và sau phẫu thuật (n = 60)
Thể tích tuyến tiền liệt (ml) 59,81 + 20,92 (22 - 138)
Thời gian phẫu thuật (phút) 52,08 ± 11,62 (25 - 95)
Số lượng dịch rửa trong mổ (lít) 21,92 ± 4,88 (15 - 35)
Thời gian dòng rửa bàng quang (ngày) 1,78 ± 0,42 (1 - 3)
Thời gian lưu sond niệu đạo (ngày) 2,48 ± 0,72 (2 - 5)
Trang 10Bảng 2: Tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ (n=60)
Bảng 3: Mức độ cải thiện chức năng
Chỉ tiêu
nghiên cứu Trước phẫu thuật
Sau phẫu thuật
1 tháng Sau phẫu thuật 3 thángIPSS (điểm) 31,35 + 4,86 7,93 ± 3,07 6,52 ± 0,90
Qmean (ml/phút) 8,15 ± 0,97 14,67 ± 1,45 16,28 ± 2,34
BÀN LUẬN
Điều trị UTSLTTTL có nhiều
phương pháp như điều trị nội khoa, điều
trị bằng các phương pháp ít xâm hại, điều
trị ngoại khoa CĐNS vẫn là tiêu chuẩn
vàng trong điều trị phẫu thuật đối với
UTSLTTTL Tuy nhiên các biến chứng
bao gồm: những tai biến và biến chứng
như: chảy máu cần phải truyền máu
chiếm 8%, hội chứng CĐNS chiếm 1-3%
[12],[14] Hiện nay, phẫu thuật nội soi
qua niệu đạo sử dụng năng lượng Laser
được các tác giả đề cao và lựa chọn trong
điều trị bệnh UTSLTTTL Với những
tính năng vật lý vượt trội của laser như
khả năng cầm máu tốt, ít gây tổn thương
mô xung quanh, sử dụng dịch rửa sinh
lý không gây rối loạn nước điện giải Có
nhiều loại laser đã được áp dụng trong
điều trị ngoại khoa UTSLTTTL như laser phát xung ngắt quãng Holmium (HoLEP), laser KTP với ánh sáng xanh (green light), Laser KTP có bước sóng là 532 nm, co ái lực với haemoglobin Độ xuyên mô của các loại Laser này phụ thuộc vào lượng mạch máu hay mao mạch trong mô, vì vậy lượng mạch máu hay mao mạch giảm thì
độ xuyên mô của laser cũng giảm, do đó hạn chế khả năng phẫu thuật [10] Laser Thulium là loại laser chất rắn bơm điốt
có bước sóng 2013 nm hay 2 μm và có ái lực với nước Sử dụng laser Thulium góp phần việc cắt và bốc hơi (vaporesection)
mô tuyến tiền liệt (TTL) an toàn và hiệu quả [11] Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn đánh giá hiệu quả khi ứng dụng laser Thulium có bước sóng liên tục 2 μm trong phẫu thuật nội soi qua niệu đạo cắt
Trang 11u tăng sản lành tính tuyến tiền liệt Ưu
điểm chính của laser Thulium là khả năng
cắt mô chính xác mà không cần kiểm soát
độ tổn thương mô và khả năng cầm máu
tốt góp phần cho phẫu trường luôn sáng
Laser Thulium với bước sóng liên tục tăng
độ cắt chính xác Ở chế độ phát sóng liên
tục, sự di chuyển của dây dẫn truyền ánh
sáng (fiber) giúp tăng khả năng bốc hơi
và giảm nhiệt độ gây xuyên thấu mô Kỹ
thuật này ít gây hại đến mô xung quanh
Bước sóng 2 μm la bước sóng gần nhất
so với bước sóng của nước (1,94 μm) nên
Laser Thulium dễ dàng hấp thụ bởi nước
và giữ cho nhiệt độ luôn ổn định Sự hấp
thụ của nước con giúp cho các tia laser
phát ra đạt đến điểm soi va bắt đầu cắt
nhỏ và làm bay hơi mô u tuyến tiền liệt
Nhờ có bước sóng ngắn, độ xuyên mô
nông khoảng < 2 mm, các vùng cầm máu
sau cắt hay làm bốc hơi nhỏ nên mức độ
tổn thương mô rất ít Các nghiên cứu sử
dụng laser Thulium để cắt TTL cho tỷ lệ
cắt mô là 0,83 (0,11) g/phut với vùng cầm
máu là 500- 2000 μm [9],[11] Nhờ vậy,
các mô sau khi được cắt vẫn không thay
đổi về mặt mô học và hiệu quả trong suốt
quá trình phẫu thuật Nhờ vào sự phát tán
của tia laser nên đông cầm máu dễ dàng,
các mô còn lại sau khi tia laser đi qua
được phủ bởi một lớp mô cầm máu mỏng
góp phần cho sự đông cầm máu và vùng
phẫu thuật luôn rõ ràng Khả năng cắt
nhỏ va bốc hơi bướu cho thấy sự tương
đồng như cắt đốt nội soi tiêu chuẩn và
không có biến chứng nghiêm trọng [8]
Nếu dây truyền ánh sáng đầu tiếp xúc
với UTSLTTTL thì mô UTSLTTTL sẽ
bị cắt Nếu có một khoảng cách giữa dây
truyền ánh sáng và UTSLTTTL, thì mô UTSLTTTL sẽ bị bốc hơi, các mô u được cắt phải ước chừng chúng để có thể rút ra bằng bơm hút thủy tinh một cách dễ dàng Nếu có dụng cụ xay nhỏ u ta có thể ứng dụng kỹ thuật Thulep để bóc các u có kích thước lớn giúp giảm thời gian phẫu thuật [8],[11],[13]
Trong nghiên cứu này, thời gian phẫu thuật trung bình 56,81 ± 32,71 (30-60) phút Nguy cơ tổn thương đến các
mô xung quanh là tối thiểu, bởi vì bước sóng 2µm được nước muối sinh lý hấp thu mạnh và độ xuyên mô < 2mm Nền tảng của phẫu thuật nội soi bằng Laser Thulium chính là sự cải thiện từ phẫu thuật CĐNS tiêu chuẩn Chính vì thế bất
cứ phẫu thuật viên Niệu Khoa nào có khả năng thực hiện CĐNS tiêu chuẩn, đều
có thể thực hiện phẩu thuật nội soi bằng Laser Thulium
Về tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ: Chảy máu trong mổ là biến chứng thường gặp nhất và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của phẫu thuật viên Theo Trần Ngọc Sinh, đây là biến chứng quan trọng nhất và là nhược điểm của cắt đốt nội soi, biến chứng này chiếm tỷ lệ
là 4,26% [2] Số lượng máu chảy trong
và ngay sau mổ phụ thuộc chủ yếu vào kích thước khối UTSLTTTL, thời gian phẫu thuật và tay nghề của phẫu thuật viên [1] Trong nghiên cứu của chúng tôi
có 1 trường hợp (1,67%) chảy máu lớn trong mổ, trường hợp này bệnh nhân có
u lớn, bí tiểu phải đặt thông tiểu lâu ngày Theo Gross.A và cộng sự (2013), chảy máu lớn trong mổ là biểu hiện có nhiều
Trang 12mạch máu cùng chảy, máu đỏ làm mờ và
tối trường mổ, khi đang mổ phải dừng
lại nhiều lần đề bơm rửa [8] Trong quá
trình phẫu thuật, có thể cùng một lúc có
nhiều mạch máu cùng chảy và phun theo
các hướng khác nhau, nếu phẫu thuật viên
không kiểm soát tình trạng cầm máu thì
phẫu trường sẽ bị che lấp bởi màu đỏ của
máu, thời gian mổ sẽ kéo dài và có thể
không cắt hết u Các nguyên nhân chủ yếu
của chảy máu trong mổ là do cắt phải các
xoang mạch lớn, cắt sâu quá vỏ, khối u có
kích thước lớn, trước mổ có tình trạng bí
tiểu phải đặt ống thông lưu lâu gây viêm,
làm tăng sinh mạch máu dẫn đến mỗi nhát
cắt có rất nhiều mạch máu chảy, có nhiều
mạch máu chảy mà phẫu thuật viên cầm
máu không kịp hay chủ quan không cầm
ngay Ngoài ra khi thời gian mổ kéo dài
có thể gây rối loạn đông máu
Ngoài ra tai biến đáng lưu ý với
phẫu thuật nội soi cắt u tuyến tiền liệt qua
niệu đạo là hội chứng nội soi, nặng nề
có thể gây tử vong cho bệnh nhân Với
CĐNS tiêu chuẩn trước đây, việc nghiên
cứu tìm ra dịch rửa phù hợp hoặc phát
triển máy cắt đốt lưỡng cực là một vấn đề
được nhiều nhà nội soi niệu quan tâm Tuy
nhiên, sử dụng năng lượng Laser Thulium
với dịch rửa là nước muối sinh lý đã khắc
phục được nhược điểm này [8],[12]
Cải thiện chức năng đường tiểu
dưới và cải thiện chất lượng cuộc sống:
Theo Saredi.G và cộng sự (2015), sau
mổ 3 tháng đa số bệnh nhân đều đã có sự
cải thiện đáng kể, về các triệu chứng lâm
sàng và tình trạng lâm sàng, tiên lượng
tình trạng của bệnh nhân vào các tháng
6, 9 và 12 sau mổ [13] Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo dõi sau 1 tháng và 3 tháng, có sự cải thiện rõ rệt về các chỉ số IPSS, QoL Sau phẫu thuật 3 tháng: chức năng đường tiểu dưới cải thiện rõ rệt với IPSS giảm từ 31,35 ± 4,86 (8 - 35) đến 6,52 ± 0,90 (6 - 15) (P<0,05), 98,83% kết quả tốt, chất lượng cuộc sống bệnh nhân cải thiện tốt QoL giảm từ 4,58 ± 0,81 (2-6) đến 2,45 ± 0,62 (1-3) (P<0,05)
KẾT LUẬN
Sử dụng laser Thulium trong phẫu thuật nội soi qua niệu đạo điều trị UTSLTTTL là một tiến bộ trong niệu khoa, đặc biệt phẫu thuật này có thể thực hiện trên các bệnh nhân lớn tuổi suy kiệt,
có các bệnh lý mạn tinh kèm theo hoặc bệnh nhân có rối loạn đông máu Đây là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Quang Oánh, Nguyễn Hoàng Đức (2002), “Tổng quan về các kỹ thuật cắt tiền liệt tuyến qua ngã niệu đạo”,
Y học TP Hồ Chí Minh, tập 6, 19-24
2 Trần Ngọc Sinh và cộng sự (1998), “Làm bốc hơi nội soi điều trị bướu lành tiền liệt tuyến bằng điện siêu tần”, Ngoại koa, XXXI(4), 17-23
3 Blankstein U., Van Asseldonk B., Elterman D S (2016), “BPH update: medical versus interventional management”, Can J Urol, 23(Suppl 1), 10-5, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26924590
4 Bozzini G., et al (2017),
“Thulium laser enucleation (ThuLEP)
Trang 13versus transurethral resection of the
prostate in saline (TURis): A randomized
prospective trial to compare intra and
early postoperative outcomes”, Actas
Urol Esp, 41(5), 309-315, http://www
ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28062085
5 Braeckman J., Denis L (2017),
“Management of BPH then 2000 and now
2016 - From BPH to BPO”, Asian J Urol,
4(3), 138-147, http://www.ncbi.nlm.nih
gov/pubmed/29264222
6 Cornu J N (2016), “Bipolar,
Monopolar, Photovaporization of the
Prostate, or Holmium Laser Enucleation
of the Prostate: How to Choose What’s
Best?”, Urol Clin North Am, 43(3),
377-84, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/
pubmed/27476130
7 Deng Z., et al (2018), “Thulium
laser VapoResection of the prostate versus
traditional transurethral resection of the
prostate or transurethral plasmakinetic
resection of prostate for benign prostatic
obstruction: a systematic review and
meta-analysis”, World J Urol, http://www
ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/29651642
8 Gross A J., et al (2013),
“Complications and early postoperative
outcome in 1080 patients after thulium
vapoenucleation of the prostate: results
at a single institution”, Eur Urol, 63(5),
859-67, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/
pubmed/23245687
9 Lerner L B., Rajender A
(2015), “Laser prostate enucleation
techniques”, Can J Urol, 22 Suppl 1,
11 Nair S M., Pimentel M A., Gilling P J (2016), “A Review of Laser Treatment for Symptomatic BPH (Benign Prostatic Hyperplasia)”, Curr Urol Rep, 17(6), 45, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/27053186
12 Rieken M., et al (2010),
“Complications of laser prostatectomy:
a review of recent data”, World J Urol, 28(1), 53-62, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20052586
13 Saredi G., et al (2015),
“Evaluation of the learning curve for thulium laser enucleation of the prostate with the aid of a simulator tool but without tutoring: comparison of two surgeons with different levels of endoscopic experience”, BMC Urol, 15, 49, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26055885
14 Xie T., et al (2016), “The Effectiveness and Safety of Transurethral (Bipolar) Plasmakinetic Resection of Prostate Combined with Thulium Laser for Large Benign Prostatic Hyperplasia (>80ml)”, Urol J, 13(6), 2889-
2892, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/27928808
Trang 141 Bệnh viện Quân y 103
2 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Phạm Thanh Bình (thanhbinh412ld@gmail.com)
Ngày nhận bài: 14/5/2018, ngày phản biện: 25/5/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
KHẢO SÁT LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ ACR VÀ MLCT VỚI
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
Phạm Thanh Bình 1 , Nguyễn Song Hài 1
Hoàng Trung Vinh 1 , Hà Thọ Minh Huyền 2 , Lã Văn Tuấn 2
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát mối liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ĐTĐ typ 2 Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 173 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện nội tiết trung ương Các bệnh nhân được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm sinh hóa máu và nước tiểu Kết quả: Nhóm đang điều trị có tỷ lệ ACR tăng và nồng độ ACR trung bình cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm chẩn đoán lần đầu Nhóm bệnh nhân có thời gian điều trị
> 10 năm có tỷ lệ giảm MLCT cao hơn và MLCT trung bình thấp hơn so với nhóm bệnh nhân có thời gian điều trị < 10 năm Tỷ lệ bệnh nhân giảm MLCT và ACR tăng ở nhóm bệnh nhân có BMI tăng, THA và tăng kích thước vòng bụng cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm có BMI bình thường, không có THA và không tăng vòng bụng Tỷ lệ tăng ACR và giảm MLCT ở bệnh nhân có glucose máu lúc đói và HbA1c cao cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0.05) so với nhóm có glucose máu lúc đói và HbA1c đạt mục tiêu ACR trung bình của nhóm glucose máu lúc đói > 7 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm ≤ 7 Kết luận: Nhóm bệnh nhân đang điều trị có tổn thương thận nặng hơn so với nhớm bệnh nhân mới được chẩn đoán BMI và THA làm tăng mức độ tổn thương thận
ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 Kiểm soát đường máu càng kém thì mức độ tổn thương thận càng nặng.
Từ khóa: Chỉ số ACR, MLCT, glucose máu lúc đói.
Trang 15INVESTIGATING OF RELATION BETWEEN ACR INDEX AND GFR WITH CLINICAL AND SUBCLINICAL FEATURES ON TYPE 2 DIABETES
MELLITUS PATIENTS
ABSTRACT
Purpose: Investigating of relation between ACR index and GFR with clinical and subclinical features in diabetes mellitus patients Subject and method: Study on 173 patients with type 2 diabetes mellitus treated at the National Hospital of Endocrinology Patients has been taken exam and makes blood and urine test Results: Proportion of increasing ACR and mean of ACR level of treated group are statistically significantly higher than those of the other Patient with duration of treatment over 10 years has higher proportion of decreasing GFR and lower mean of GFR than those with duration
of treatment under 10 years Proportion of decreasing GFR and increasing ACR on patients with increasing BMI, blood pressure and waist circumference are statistically significantlly higher than those of patients with normal BMI, blood pressure and waist circumference Proportion of increasing ACR and decreasing GFR of patients with high fast glucose level and HbA1c are statistically significantly higher than those of patients with fast plasma glucose and HbA1c achieving goal Mean of ACR of group with FPG over 7 mmol/l is statistically significantlly higher than that of the other Conclusion: renal injury level of treated group is more serious than that of the other BMI, blood pressure and waist circumference make increasing renal injury level in type 2 diabetes mellitus patients The less the plasma glucose control is, the more serious the renal injury level is.
Keyword: ACR index, GFR, FPG
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường gây ra nhiều
biến chứng cấp và mạn tính, để lại nhiều
di chứng nặng nề cho người bệnh và là
một trong những nguyên nhân chính gây
tử vong cho người bệnh Đặc biệt, ĐTĐ
typ 2 thường được phát hiện muộn, khi
phát hiện thì đã có biến chứng Trong số
các biến chứng của bệnh ĐTĐ, tổn thương
thận là xuất hiện sớm hay gặp và hậu quả
nặng nề Biểu hiện tổn thương thận ở BN ĐTĐ đó là xuất hiện albumine niệu và hoặc giảm MLCT, hậu quả cuối cùng là suy thận mạn tính Thời gian từ lúc phát hiện ĐTĐ týp 2 đến khi xuất hiện tổn thương thận và suy thận, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Do đó chúng tôi tiến hánh nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: khảo sát mối liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm lâm
Trang 16sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ĐTĐ typ 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 173 BN không phân biệt
giới tính, tuổi từ 30 được chẩn đoán đái
tháo đường typ 2 theo tiêu chuẩn của Tổ
chức y tế thế giới điều trị tại Bệnh viện
Nội tiết Trung ương từ tháng 10/2016 đến
tháng 5/2017
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
nhóm nghiên cứu: BN được điều trị nội
trú, được chẩn đoán xác định ĐTĐ týp 2
theo IDF năm 2012, tuổi ≥ 30, tự nguyện
tham gia NC, hồ sơ bệnh án đầy đủ
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng
khỏi nghiên cứu: ĐTĐ týp 1 và ĐTĐ
thai kỳ, Bệnh nhân bị ĐTĐ thứ phát (ĐTĐ
trong hội chứng Cushing, Basedow, ĐTĐ
do sỏi tụy), mắc các bệnh nội tiết kèm
theo (bệnh to đầu chi, Basedow, u tủy
thượng thận…), đã được chẩn đoán bệnh
thận mạn tính tiên phát, không đồng ý
tham gia nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên
cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang
- Bệnh nhân vào viện, được hỏi bệnh, khám lâm sàng, làm các xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu
- Ước lượng MLCT dựa vào creatinin theo công thức 4 điểm MDRD: MLCTcrc (mL/phút/l1,73) = 186 x ([Pcr]/88,4) – 1,154 x (tuổi) – 0,203 x (0.742 nếu là nữ) x (1,21) nếu là người gốc Phi
- Tính tỉ số albumin/creatinin (ACR: albumin creatinin ratio), đơn vị tính là mg/mmol
- Tiến hành phân chia giai đoạn bệnh thận theo phân loại của KDIGO 2012
- Xử lí số liệu bằng phần mềm EPI- INFO 6.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN
LUẬN
Độ tuổi trung bình của nghiên cứu là 61,96 ± 11,59, trong đó nhóm tuổi
từ 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất (34,10%), thấp nhất là nhóm tuổi từ 30 – 50 tuổi (14,45%) Nam chiếm 39,31%, nữ chiếm 60,69%
Trang 17Bảng 1: Sự khác biệt giữa ACR và MLCT giữa nhóm ĐTĐ mới được chẩn đoán và đang điều trị.
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Bảng 2: Mối liên quan giưa ACR, MLCT và thời gian phát hiện bệnh
Chỉ số
Số lượng
(n)
≤ 10 năm 112
> 10 năm 61
P
Tỷ lệ (%)
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
có thời gian bị bệnh < 10 năm
Trang 18Bảng 3: Mối liên quan giữa ACR, MLCT với 1 số chỉ số lâm sàng
huyết áp
p < 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân giảm MLCT và ACR tăng ở nhóm bệnh nhân có BMI tăng, THA và tăng kích thước vòng bụng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có BMI bình thường, không có THA và không tăng vòng bụng
Bảng 4: So sánh tỉ lệ ACR, MLCT với các chỉ số kiểm soát đường máu (n = 173)
glucose máu lúc đói và HbA1c cao có
tăng ACR và giảm MLCT cao hơn có ý
nghĩa thống kê (p<0.05) so với nhóm có
glucose máu lúc đói và HbA1c đạt mục
tiêu ACR trung bình của nhóm glucose
máu lúc đói > 7 cao hơn có ý nghĩa thống
Trang 19như biến chứng mắt, biến chứng thận
Theo nghiên cứu của Nelson và cộng
sự ở giai đoạn chẩn đoán ĐTĐ týp 2 có
khoảng 10% có microalbumin niệu và
tiến triển tới suy thận giai đoạn cuối trong
vòng 10 năm [1] Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi thấy rằng có 6.36% bệnh nhân
có microalbumin niệu và 1.16 bệnh nhân
có giảm MLCT ở thời điểm chẩn đoán,
phù hợp với các nghiên cứu ở trên Theo
thời gian phụ thuộc vào mức độ kiểm soát
đường máu và các yếu tố nguy cơ của
bệnh nhân, tổn thương thận sẽ xuất hiện
theo từng giai đoạn Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi thấy rằng, bệnh nhân đang
điều trị có tỷ lệ có microalbumin niệu,
nồng độ microalbumin niệu trung bình,
tỷ lệ giảm MLCT cũng như MLCT trung
bình cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán Thời
điểm xuất hiện tổn thương thận sớm hay
muộn phụ thuộc vào việc kiểm soát đường
máu và các yếu tô nguy cơ của bệnh nhân
Relimpio khảo sát mức thải trừ
albumin niệu và bệnh tim mạch trên BN
ĐTĐ typ 2 ở Tây Ban Nha cho thấy: Thời
gian bị bệnh ở nhóm MAU (-) là 12,6 ±
9,6 năm, nhóm MAU(+) là 13,5 ± 9,6
năm, nhóm tiểu đạm đại thể là 13,5 ± 9,6
năm sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê (p < 0,01) [10] Điều này cho thấy
BN có thời gian phát bệnh càng lâu thì
khả năng xuất hiện albumin niệu càng
rất lớn Trần Thị Ngọc Thư nghiên cứu
72 BN được chẩn đoán bị ĐTĐ typ 2 khi
so sánh GTTB ACR với thời gian bị bệnh
cho thấy có mối liên quan giữa ACR và
thời gian phát hiện bệnh (p < 0,05) [8]
Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng có
kết quả tương tự GTTB ACR nhóm bị bệnh >10 năm 24,83 mg/mmol cao hơn nhóm bị bệnh ≤ 10 năm 9,28 mg/mmol,
sự khác biệt này co ý nghĩa thống kê (p
< 0,05)
Khi xét MLCT với thời gian bị bệnh chúng tôi nhận thấy, tỉ lệ BN ở các MLCT với thời gian bị bệnh khác nhau có
ý nghĩa thông kê (p < 0,05), GTTB MLCT
ở nhóm có thời gian bị bệnh ≤ 10 năm
là 79,92% cao hơn nhóm có thời gian bị bệnh > 10 năm là 65,85, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này giống với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa, Lê Tuyết Hoa, nghiên cứu cho thấy MLCT có xu hướng giảm dần theo thời gian mắc bệnh [4],[6]
Béo bụng dẫn đến sự tích tụ quá mức các mô mỡ trong nội tạng Chính các
tế bào mỡ trong nội tạng cơ thể làm thay đổi các chất cytokines trong cơ thể và hậu quả làm tăng tryglyceride và glucose trong máu Điều này đồng nghĩa với việc người béo bụng sẽ phải đối mặt với nguy
cơ tai biến mạch máu não hay nhồi máu
cơ tim và bệnh thận cao gấp 3 lần so với người không có hội chứng chuyển hóa Nghiên cứu của nghiên cứu của Dụng Thị Kim Hạnh ghi nhận VB là yếu tố nguy
cơ tương quan thận với albumin niệu[2].Nghiên cứu của Hồ Hữu Hóa cho thấy những trường hợp vòng bụng tăng nguy
cơ MAU (+) cao gấp 3,3 lần những trường hợp vòng bụng ở ngưỡng bình thường[3] Đây chính là yếu tố ảnh hưởng tới những khó khăn trong kiểm soát glucose máu cũng như làm tăng tỉ lệ tăng HA và biến chứng thận ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ở Việt
Trang 20Nam Nhận định này của chúng tôi cũng
giống như nhiều tác giả trong nước và
nước ngoài khác Trong nghiên cứu của
chúng tôi khi so sánh tỉ lệ người có và
không béo phì (BMI ≥ 25) với nhóm có
ACR (+) và ACR (-) cho thấy sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc
Thư cho thấy nhóm BMI ≥ 23 có giá trị
trung bình ACR cao hơn nhóm có BMI
< 23, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
< 0,05) [8] Nghiên cứu chúng tôi cũng
cho kết quả tương tự, thấy nhóm béo phì
có giá trị trung bình ACR cao hơn nhóm
không co béo phì, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05)
Theo Batty Stult ở BN ĐTĐ typ2
tỉ lệ THA là 50 % thời điểm khởi phát
bệnh, tăng lên 80% khi có microalbumin
niệu và tới hơn 90% khi có macroalbumin
niệu[12] Nguyễn Thị Thanh Nga cho
thấy bệnh ĐTĐ kèm THA làm gia tăng tỉ
lệ tổn thương thận (p < 0,05) [7] Nguyễn
Đức Phát cho thấy THA là nguy cơ có ý
nghĩa biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2
[5] Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi
so sánh tỉ lệ THA ở nhóm có ACR (+) và
nhóm có ACR (-) thấy sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê.Trong ĐTĐ tình trạng
xuất hiện MAU thường phối hợp với
kháng insulin ,nhảy cảm mối THA và
ĐTĐ làm tăng nặng nhau góp phần tạo
vòng xoáy tiến triển THA, bệnh thận và
bệnh thận mạn Ở BN ĐTĐ, THA vừa là
yếu tố thúc đẩy sự tiến triển của bệnh lý
cầu thận Do vậy việc kiểm soát huyết áp
ở BN ĐTĐ có vai trò quan trọng trong
việc làm giảm biến chứng thận Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng điều trị các thuốc UCMC, UCTT angiotensin có thể làm chậm tiến triển bệnh thận vì điều
có tác dụng giảm protein niệu và kiểm soát huyết áp
Khi xem xét MLCT với THA chúng tôi nhận thấy GTTB MLCT ở nhóm
có THA cao hơn nhóm không THA (p < 0,05) So sánh tỉ lệ BN giữa các MLCT với THA thấy có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này giống với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa, MLCT ở BN THA thấp hơn nhóm không THA, sự khác nhau này có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05) [6] Nghiên cứu của Dụng Thị Kim Hạnh cũng ghi nhận nhóm THA
có nguy cơ biến chứng cầu thận cao gấp 2,15 lần nhóm không có THA [2]
Nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đã chứng minh hiệu quả kiểm soát glucose máu trên các biến chứng mạch máu lớn và vi mạch [11] Nghiên cứu Hashim R và cộng sự (2004) cho thấy nồng độ glucose máu
ở BN ĐTĐ có MAU (+) cao hơn có ý nghĩa so với BN MAU (-) (p < 0,001).Tuy nhiên, nồng độ glucose máu lúc đói của BN chỉ phản ánh ở một thời điểm nhất định Chỉ số giá trị hơn cả, phản ánh sự kiểm soát đường huyết đạt tiêu chuẩn hay không là HbA1c Nghiên cứu DCCT trên 1441 BN ĐTĐ typ 1 thấy ở nhóm điều trị tích cực (glucose máu 8,2 mmol/L, HbA1c 7,2%) giảm trên 70% nguy cơ phát triển bệnh võng mạc, 39% nguy cơ xuất hiện microalbumin niệu, 64% nguy cơ bệnh thần kinh, 46% nguy
cơ các biến chứng mạch máu lớn so với
Trang 21nhóm điều trị thông thường (glucose máu
12,8 mmol/L, HbA1c 9,1%) [9] Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp
với các nghiên cứu ở trên khi thấy rằng,
nhóm các bệnh nhân kiểm soát glucose và
HbA1c đạt mục tiêu có tỷ lệ tăng ACR và
giảm MLCT thấp hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm kiểm soát không đạt mục
tiêu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Trung Quân (2007), Đái
tháo đường và điều trị Nhà xuất bản y
hoc.
2 Dụng Thị Kim Hạnh, Nghiên
cứu biến chứng cầu thận ở bệnh nhân
đái tháo đường Tuýp 2 mới phát hiện, in
Bệnh viện đa khoa Bình Thạnh 2015
3 Hồ Hữu Hóa (2009), “Chẩn
đoán sớm biến chứng thận bằng xét
nghiệm Microalbumin niệu ở bệnh
nhân đái tháo đường týp 2 điều trị
ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung
Ương Thái Nguyên”, Luận Văn Thạc
sĩ y học, Đại học y Thái Nguyên.
4 Lê Tuyết Hoa (2014), “Tỉ lệ
giảm độ lọc cầu thận ở người bệnh đái
tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại
bv Nguyễn Tri Phương”, Y học TP Hồ
Chí Minh, 18(6), 91-98.
5 Nguyễn Đức Phát, Hoàng
Trung Vinh (2012), “Tỷ lệ, đặc điểm
biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo
đường typ 2”, Y học thực hành, 6,
52-54.
6 Nguyễn Thị Kim Hoa
(2010), “Nghiên cứu mức lọc cầu thận
ở bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện trung ương Huế”, Y học thực hành, 1(696), 16-19.
7 Nguyễn Thị Thanh Nga, Hoàng Trung Vinh (2009), “Tỷ lệ và đặc điểm tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện Nguyễn Trãi thành phố Hồ Chí Minh”, Y học thực hành, 1-4.
8 Trần Thị Ngọc Thư (2013),
“Nghiên cứu microalumin niệu và một
số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”, binhdinhhospital, available.
9 Control Diabetes, Trial Complications, Interventions Epidemiology of Diabetes, et al (2000), “Retinopathy and nephropathy
in patients with type 1 diabetes four years after a trial of intensive therapy”, The New England journal of medicine, 342(6), 381.
10 Relimpio F, Pumar A, Losada F, et al (1997), “Urinary albumin excretion rate and cardiovascular disease in Spaniard type 2 diabetic patients”, Diabetes research and clinical practice, 36(2), 127-134.
11 Ritz Eberhard, Stefanski Adam (1996), “Diabetic nephropathy
in type II diabetes”, American Journal
of Kidney Diseases, 27(2), 167-194.
12 Stults Barry, Jones Robert E (2006), “Management of hypertension in diabetes”, Diabetes Spectrum, 19(1), 25-31.
Trang 221 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Đặng trần Khang (bskhangbv175@gmail.com)
Ngày nhận bài: 10/03/2018, ngày phản biện: 24/03/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
KHẢO SÁT NHẬN THỨC CỦA BỆNH NHÂN VÀ NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHÂN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Đặng Trần Khang 1 , Trần Thị Khánh 1 , Lê Thị Hằng 1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Phát hiện những sai lầm trong nhận thức của bệnh nhân tâm thần phân liệt và người chăm sóc về bệnh tâm thần phân liệt, từ đó có cách tiếp cận và tư vấn chính xác, khắc phục hiệu quả những hạn chế trong nhận thức của họ về căn bệnh này góp phần nâng cao chất lượng công tác điều trị và quản lý các bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát 68 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 52 người chăm sóc các bệnh nhân nói trên bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: Sự hiểu biết về bệnh tâm thần phân liệt của chính bệnh nhân và người chăm sóc còn hạn chế Các đối tượng này nhận thức sai về nguyên nhân, triệu chứng, cách thức điều trị quản lý bệnh nhân bệnh tâm thần phân liệt Tuy nhiên người chăm sóc hiểu biết tốt hơn các bệnh nhân bệnh tâm thần phân liệt, thời gian mang bệnh của bệnh nhân càng dài thì sự hiểu biết của người chăm sóc ngày càng cải thiện hơn
INVESTIGATE THE AWARENESS OF PATIENTS WITH SCHIZOPHRENIA AND THEIR CAREGIVERS IN SCHIZOPHRENIA IN
MILITARY HOSPITAL 175
ABSTRACT
Object: The purpose of this study was to explore the misunderstandings of the
Trang 23patients with schizophrenia and their caregivers in schizophrenia, in order to have exactly methods in approaching and giving advices to them, to help them overcome sucessfully about their misunderstandings toward this illness This will take part in enhancing the result of treament and management schizophrenic patients.
Subjects and research method: The study is a descriptive cross-sectional method, which based on 68 patients who diagnosed of schizophrenia and 52 caregivers.
Results: The awareness about schizophrenia of the patients and their caregivers
is still limited They have wrong cognition toward the etiology, symptoms, methods for treatment and manegement schizophrenic patients However, eventualy the caregivers would have a better awareness about schizophrenic than the patients; the longer they are taking care of the patient, the better the awareness the direct caregivers is going to have.
Keyword: Schizophrenia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thần phân liệt là một bệnh
tâm thần nặng, phổ biến căn nguyên chưa
rõ, bệnh có tính chất tiến triển với những
rối loạn đặc trưng về tư duy, tri giác và
cảm xúc, dẫn đến những rối loạn cơ bản
về tâm lý và nhân cách theo kiểu phân liệt,
nghĩa là mất dần tính hài hòa thống nhất
gây ra chia cắt trong các mặt hoạt động
tâm thần[3] Triệu chứng lâm sàng của
bệnh có thể thay đổi theo thời gian và trên
các bệnh nhân khác nhau nhưng tác động
của bệnh luôn nghiêm trọng và thường là
kéo dài[5] Việc điều trị tâm thần phân liệt
vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn do bệnh
nhân và người chăm sóc hay bỏ thuốc
điều trị củng cố Vấn đề này chủ yếu là
do sự hiểu biết rất hạn chế của bệnh nhân
và người chăm sóc về bệnh tâm thần phân
liệt, mỗi khi bệnh tạm ổn định thì các đối
tượng trên thường cho rằng bệnh đã khỏi,
không cần điều trị củng cố nữa Tuy nhiên
nếu bệnh nhân và thân người chăm sóc có nhận thức tốt về căn bệnh này, có sự hợp tác chặt chẽ của họ với thầy thuốc tâm thần thì hiệu quả điều trị bệnh sẽ được cải thiện rõ rệt
Điều tra nhận thức của bệnh nhân
và người chăm sóc bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt giúp chúng ta biết được những sai lầm trong nhận thức của các đối tượng trên về bệnh tâm thần phân liệt, từ
đó có cách tiếp cận và tư vấn chính xác, khắc phục hiệu quả những hạn chế trong nhận thức của họ về căn bệnh này, nâng cao chất lượng công tác điều trị và quản
lý các bệnh nhân tâm thần phân liệt Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
Khảo sát nhận thức của bệnh nhân
và người chăm sóc bệnh nhân về nguyên nhân, triệu chứng và quá trình theo dõi, điều trị bệnh tâm thần phân liệt
Trang 24Tìm hiểu mối tương quan giữa
thời gian mang bệnh của bệnh nhân với
mức độ nhận thức về bệnh tâm thần phân
liệt của các nhóm đối tượng nghiên cứu
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm
bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, đang điều
trị nội trú tại khoa Tâm thần-Bệnh viện
Quân y 175- Bộ Quốc Phòng và người
chăm sóc trực tiếp của các bệnh nhân
này Chúng tôi chia đối tượng nghiên
cứu thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân với
68 bệnh nhân tâm thần phân liệt; nhóm
người chăm sóc trực tiếp bệnh nhân, bao
gồm 52 người (là vợ, chồng, bố, mẹ và
con, của các bệnh nhân trên)
1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
nghiên cứu
Bệnh nhân tâm thần phân liệt
Đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Tâm
thần phân liệt theo tiêu chuẩn chẩn đoán
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, người chăm sóc có sa sút trí tuệ
- Các bệnh nhân đang có rối loạn nhận thức do tác dụng của thuốc an thần
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phương pháp cắt ngang, mô tả từng trường hợp cụ thể
2.2 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Khảo sát nhận thức về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt
Khảo sát nhận thức về triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt
Khảo sát nhận thức về điều trị, quản lý bệnh tâm thần phân liệt
2.3 Công cụ thu thập thông tin
Bệnh án điều trị của bệnh nhân.Phiếu thu thập thông tin qua phỏng vấn của bệnh nhân và người chăm sóc
2.4 Xử lý và phân tích số liệu
Mã hóa dữ liệu thu thập được, nhập số liệu vào phần mềm Epi-info 7.0 Các số liệu được tính theo tỷ lệ phần trăm các triệu chứng lâm sàng So sánh giữa hai tỷ lệ, số liệu bằng test T- student, test χ2, giá trị p được tính để xác định sự khác biệt; phân tích tương quan hồi quy đơn biến
Trang 25KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Đối tượng Nhóm tuổi
Bệnh nhân Người chăm sóc bệnh nhân
Hà (2014)[1], Bùi Quang Huy (2009) khi cho rằng hầu hết các bệnh nhân tâm thần phân liệt nhập viện là đang ở độ tuổi lao động
Biểu đồ 3.1 Thời gian mang bệnh của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 cho thấy: trong số bệnh nhân nghiên cứu, nhóm bệnh nhân TTPL
có thời gian mang bệnh trên 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (38,24%) Nhóm bệnh nhân có thời gian mang bệnh 3-5 năm chiếm tỷ lệ ít nhất (17,65%)
Trang 26Biểu đồ 3.2 Mối quan hệ của người chăm sóc với bệnh nhân tâm thần phân liệt
Biểu đồ 3.2 cho thấy: Trong số người chăm sóc được nghiên cứu, các đối tượng
là bố, mẹ bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (54%) Tỷ lệ người chăm sóc là vợ, chị, em gái chiếm tỷ lệ thấp Điều này theo chúng tôi là phù hợp vì chăm sóc các bệnh nhân TTPL
là một công việc khá vất vả; bố, mẹ bệnh nhân chính là những người nuôi dưỡng trực tiếp nên họ chiếm tỷ lệ cao hơn
3.2 Khảo sát nhận thức về nguyên nhân bệnh tâm thần phân liệt
Bảng 3.2 Nhận thức về nguyên nhân bệnh tâm thần phân liệt
Đối tượng
nghiên cứu Nguyên nhân
Bệnh nhân Người chăm sóc bệnh nhân
Bảng 3.2 cho thấy có 25% bệnh nhân và 38,46% người chăm sóc bệnh nhân nhận thức đúng rằng tâm thần phân liệt là do rối loạn chức năng não gây ra Đa số bệnh nhân và người chăm sóc nhận thức sai rằng tâm thần phân liệt là do chấn thương tâm
lý hoặc do ma quỷ hoặc do vấn đề mồ mả tổ tiên gây ra Nhận thức của 2 nhóm nghiên cứu về vấn đề này không có sự khác biệt (p>0,05) Đây là một lý do khiến cho nhiều gia
Trang 27đình họ chưa tin ngay và những lời khuyên của thầy thuốc, họ thường đưa bệnh nhân tìm gặp thầy cúng.
Bảng 3.3 Nhận thức về loại bệnh tâm thần phân liệt
(người chăm sóc) Một tỷ lệ khá cao bệnh
nhân và người chăm sóc bệnh nhân nhận
thức sai rằng bệnh tâm thần phân liệt là
bệnh thần kinh hoặc bệnh nội khoa khác Điều này phản ánh trình độ dân trí còn thấp, đôi khi do họ không muốn mang tiếng gia đình mình có người mắc bệnh tâm thần nên họ gọi là bệnh thần kinh để bớt mang tiếng hơn
Bảng 3.4 Nhận thức về khả năng lây nhiễm bệnh tâm thần phân liệt
Kết quả bảng 3.4 cho thấy hầu hết
cả bệnh nhân (91,18%) và người chăm
sóc (88,46%) đều có nhận thức đúng:
Bệnh TTPL không lây lan cho người xung
quanh Có một tỷ lệ nhỏ nhận thức sai
lầm, họ cho rằng bệnh TTPL có khả năng
lây lan cho người xung quanh 11,54%
(người chăm sóc) và 7,35% (bệnh nhân)
Có 1,47% bệnh nhân cho rằng bệnh dễ lây lan cho người xung quanh Nhận định sai lầm này có thể dẫn đến hậu quả là gia đình, xã hội luôn lảng tránh, kỳ thị khi tiếp xúc với người bệnh, đôi khi họ đi đến quyết định nhốt bệnh nhân trong phòng riêng
Trang 283.3 Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt
Bảng 3.5 Nhận thức về triệu chứng khởi phát bệnh tâm thần phân liệt
Các triệu chứng khởi phát được
2 nhóm nghiên cứu ghi nhận không có sự
khác biệt (p>0,05), đa số họ nhận định
mất ngủ là triệu chứng khởi đầu thường
gặp (76,47% bệnh nhân và 80,77% người
chăm sóc) Kết quả này phù hợp với nhận
xét của Bùi Quang Huy (2010) khi cho rằng mất ngủ là triệu chứng rất hay gặp
và có thể là lý do khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh Bệnh nhân thường khó vào giấc ngủ và ngủ không sâu giấc[2]
Bảng 3.6 Triệu chứng giai đoạn toàn phát bệnh tâm thần phân liệt
nhân và 61,54% người chăm sóc ghi nhận
triệu chứng có tiếng người nói chuyện
trong đầu; 39,71% bệnh nhân và 69,23%
người chăm sóc ghi nhận mất ngủ là
những triệu chứng thường gặp trong giai
đoạn toàn phát của bệnh tâm thần phân
liệt Kết quả này phù hợp với nhận xét của Ngô Ngọc Tản (2005) khi cho rằng đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt ở giai đoạn toàn phát than phiền mất ngủ và có tiếng người nói chuyện ở trong đầu mình
Trang 29Biểu đồ 3.3 Nhận thức về tiến triển bệnh tâm thần phân liệt
Biểu đồ 3.3: Có 11,76% bệnh
nhân và 32,69% người chăm sóc nhận
thức đúng bệnh TTPL không thể tự khỏi
và ngày càng nặng thêm Theo Stephen
M.S (2008), tiến triển tự nhiên của bệnh
TTPL như sau: bệnh nhân có chức năng
đầy đủ (100%) trong giai đoạn đầu đời
(Giai đoạn I) Tuy nhiên trong giai đoạn
tiền triệu (Giai đoạn II) bắt đầu ở độ tuổi
thanh thiếu niên có thể có các hành vi kỳ
dị và các triệu chứng âm tính mờ nhạt Các pha cấp tính của bệnh thường khá
rõ rệt ở độ tuổi 20 (Giai đoạn III) Giai đoạn cuối cùng của bệnh có thể bắt đầu
ở độ tuổi 40 hoặc muộn hơn với các triệu chứng âm tính và triệu chứng về nhận thức nổi trội[6]
3.4 Điều trị bệnh tâm thần phân liệt
Bảng 3.72 Nhận thức về cách điều trị bệnh tâm thần phân liệt
Khám và điều trị tại các cơ sở
Trang 30Bảng 3.7 cho thấy hầu hết bệnh
nhân (88,24%) và người chăm sóc
(98,08%) đều cho rằng cách thức điều trị
bệnh TTPL là khám và điều trị tại các cơ
sở chuyên khoa tâm thần Có một tỷ lệ
nhỏ bệnh nhân và cả người chăm sóc tin
rằng điều trị bệnh TTPL bằng cúng bái hoặc phải kế hợp cúng bái mới cho kết quả tốt Điều này phản ánh trình độ dân trí của một bộ phân nhỏ người dân còn thấp,
họ cần được tư vấn, giải thích thấu đáo về căn bệnh này
Biểu đồ 3.4 Nhận thức về số lần uống thuốc ở bệnh nhân tâm thần phân liệt
Biểu đồ 3.5 Nhận thức thời gian điều trị củng cố bệnh tâm thần phân liệt
Trang 31Có 39,71% bệnh nhân và 80,77%
người chăm sóc nhận thức đúng về thời
gian điều trị củng cố của bệnh tâm thần
phân liệt phải kéo dài suốt đời Kết quả
này phản ánh một thực tế rất thường gặp
là mỗi khi người thân của họ được điều trị
đến giai đoạn ổn định, các triệu chứng đã
thuyên giảm, họ lầm tưởng rằng bệnh đã
khỏi hoàn toàn nên họ tự ý cho bệnh nhân ngừng thuốc mà không làm theo hướng dẫn của thầy thuốc Do vậy bệnh sẽ tái phát
3.4 Tương quan giữa nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân với một số triệu chứng bệnh tâm thần phân liệt
Bảng 3.8 Nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt
Trang 32Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa thời gian mang bệnh của bệnh nhân và nhận
thức của người chăm sóc về bệnh tâm thần phân liệt
Biểu đồ 3.7 cho thấy phương
trình tương quan tuyến tính giữa thời gian
mang bệnh của bệnh nhân và nhận thức
đúng về bệnh tâm thần phân liệt của người
TTPL là do rối loạn chức năng não Có
25% bệnh nhân và 11,54% người chăm
sóc nhận thức sai về căn nguyên bệnh
TTPL là do ma quỷ hay vấn đề từ mồ mả
tổ tiên gây ra Tuy vậy hầu hết họ nhận
thức được rằng TTPL là bệnh không lây
lan cho người xung quanh Có 55,88%
bệnh nhân TTPL và 59,62% người chăm
Có 7,35% bệnh nhân và 3,85% người chăm sóc cho rằng điều trị bệnh TTPL chỉ bằng cúng bái Trên 90% bệnh nhân và cả người chăm sóc nhận thức đúng rằng thuốc an thần được uống 1-2 lần/ngày Có 39,71% bệnh nhân và 80,77% người chăm sóc nhận thức đúng điều trị củng cố bệnh nhân TTPL là suốt đời
Nhận thức về bệnh TTPL của người chăm sóc cao hơn chính bản thân các bệnh nhân TTPL trong mẫu nghiên cứu Thời gian mang bệnh của bệnh nhân càng dài nhưng nhận thức của bệnh nhân
về bệnh TTPL cũng không có được sự cải
(Xem tiếp trang 73)
Trang 331 Trung tâm Y khoa MEDIC
2 Phân hiệu phía Nam/Học Viện Quân y
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thị Ánh Hồng (anhhongmd@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 12/5/2018, ngày phản biện: 29/5/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY THÓAT VỊ
Kết quả: Nam > nữ = 79/74 Tuổi trung bình 48,5 ± 9,6; nhóm tuổi cao nhất là 40-49 tuổi Nam giới có thói quen xấu tự vặn và bẻ cổ cao chiếm 78,5%, nam vặn cổ >
10 lần / ngày cao gấp 4 lần nữ ( p< 0.001) Nam giới có nghề nghiệp mang vác nặng cao hơn nữ giới, riêng nhóm mang vác > 50 kg thì nam giới chiếm 55,7%, cao gấp 2,06 lần ở nữ giới ( p<0.001) Tỉ lệ nam giới có hút thuốc là 54,4% Tiền sử chấn thương đầu - cổ không cao.
Kết luận: Tuổi, thói quen vặn – bẻ cổ, nghề nghiệp lao động mang vác nặng, chấn thương đầu – cổ là những yếu tố nguy cơ gây thóat vị đĩa đệm cột sống cổ.
Từ khóa: Thóat vị đĩa đệm cột sống cổ, yếu tố nguy cơ thóat vị đĩa đệm cột sống cổ.
STUDY AT SOME OF THE RISK FACTORS CAUSING CERVICAL DISC
HERNIATION
SUMMARY
Objectives: To investigate some risk factors for cervical disc herniation on
Trang 34magnetic resonance imaging.
Subjects and Methods: This is a prospective, cross-sectional study We conducted
a number of risk factors for cervical disc herniation in patients who performed spinal MRI Results: Male> female = 79/74 The mean age was 48.5 ± 9.6; The highest age group is 40-49 years old Men have a bad habit of twisting and breaking their high collar, 78.5%, male is 10 times higher than female (p <0.001) Men with a weight bearing occupation were higher than women, with men bearing the weight of 50 kg, while men accounted for 55.7%, 2.06 times higher than women (p <0.001) The proportion of male smokers
is 54.4% History of head injury - neck is not high.
Conclusion: Age, habit of twisting - breaking neck, heavy occupational occupation, head injury - neck are risk factors for disc herniation
Key words: cervical disc herniation, risk factors for disc herniation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý thóat vị đĩa đệm cột
sống cổ đứng thứ hai sau bệnh lý thóat vị
đĩa đệm cột sống thắt lưng, là một trong
những căn bệnh phổ biến của xã hội và
có ảnh hưởng nhiều đến kinh tế - xã hội
Thóat vị đĩa đệm là hậu quả của
quá trình thóai hóa sinh lý hoặc bệnh lý
do đó tuổi cũng là yếu tố nguy cơ Các
yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh như
nghề nghiệp: thợ lặn, khuân vác, lái xe,
các nghệ sĩ piano, đánh trống, xiếc nhào
lộn; lối sống: hút thuốc, chế độ ăn; tư
không đúng: động tác cúi gập quá mức,
Do đó, chúng tôi thực hiện đề
tài: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ
gây bệnh lý thóat vị đĩa đệm cột sống cổ trên hình ảnh cộng hưởng từ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ 05/2017 – 01/2018 trên 153 trường hợp được chụp cộng hưởng từ cột sống cổ tại Trung tâm Y khoa MEDIC, có thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
Trang 35* Tiêu chuẩn lựa chọn :
- Người trưởng thành
- Có hình ảnh thoát vị đĩa đệm trên phim CHT
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ :
- TVĐĐCSC đã phẫu thuật
- TVĐĐCSC kèm u tủy, viêm tủy
- TVĐĐCSC kèm với viêm thân
sống – đĩa đệm, lao cột sống, u nguyên
2 Phương pháp nghiên cứu:
Theo phương pháp tiến cứu, mô
tả cắt ngang
Các dữ liệu được thu thập ngay lúc bệnh nhân vào phòng tiếp nhận MRI, bao gồm: các dữ liệu từ lâm sàng và các
dữ liệu về yếu tố nguy cơ theo bệnh án nghiên cứu, hình ảnh MRI cột sống cổ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm về Giới tính – tuổi
- Giới tính:
Nam giới chiếm 51,6% cao hơn
nữ giới với 48,4% Nam/ Nữ: 79/74
- Tuổi: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 48,5 +_ 9,6, nhóm tuổi thường gặp nhất 40 – 49 tuổi
2 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ
Trang 36là 3/153 (3,8%); p<0,01, khác nhau có ý nghĩa thống kê
Trang 37- Tiền sử chấn thương đầu cổ
Tỉ lệ có tiền sử chấn thương đầu
Đa số các nghiên cứu của các
tác giả đều cho rằng số lượng các bệnh
nhân nam nhiều hơn số lượng các bệnh
nhân nữ Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy Tỉ lệ nam giới chiếm 51,6%
cao hơn nữ giới với 48,4% Tỉ lệ Nam/
Nữ: 79/74
- Tuổi
Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy tỉ lệ độ tuổi 40 - 49 tuổi bị
TVĐĐCSC cao nhất với 38,6% và ở nam
Với nghề nội trợ ở nữ giới chiếm
đa số với 35/153 (43,2%) ở nam giới
là 3/153 (3,8%); khác nhau có ý nghĩa
thống kê, p<0,01
Vũ Viết Lanh tỉ lệ làm ruộng
chiếm 60,4%; hành chính 12,5% [10] Nguyễn Đức Liên lao động chân tay 40,7% và lao động hành chính, nội trợ
là 59,3% Nguyễn Thị Tâm cán bộ văn phòng phải ngồi nhiều chiếm tỉ lệ cao nhất với 33,92%; nông dân và công nhân chiếm tỉ lệ lần lượt là 33,04% và 23,48%
- Thói quen tự vặn cổ, bẻ cổKết quả nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tỉ lệ nam giới có thói quen xấu
tự vặn và bẻ cổ chiếm 78,5% cao hơn nữ giới với 41,9% Tỉ lệ tự vặn và bẻ cổ từ
> 10 lần /ngày ở nam giới cũng cao gấp gần 4 lần ở nữ giới Khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p<0,001 Nam giới có xu hướng có thói quen xấu tự vặn và bẻ cổ
- Mức độ mang vác nặng
Tỉ lệ nam giới có nghề nghiệp mang vác nặng cao hơn nữ giới Ở nam
tỉ lệ mang vác > 10 kg là 75,9% cao hơn nữ giới 43,3% Nếu chĩ tính riêng nhóm mang vác > 50 kg thì nam giới chiếm 55,7% cao gấp 2,06 lần ở nữ giới với 27% Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê, với p<0,001 Nhóm nghiên cứu có 41,8% lao động rất nặng thường xuyên mang vác > 50kg
- Thói quen hút thuốc lá
Tỉ lệ hút thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu là 28,1% Tất cả đối tượng có hút thuốc đều là nam giới, chỉ tính riêng
Trang 38tỉ lệ cho nhóm đối tượng này thì tỉ lệ hút
thuốc lên đến 54,4% Trong khi đó ở nữ
giới tỉ lệ này là 0%, p<0,001
- Tiền sử chấn thương đầu cổ
Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi ghi nhận có 4,6% đối tượng có tiền sử
chấn thương đầu cổ (7/153 trường hợp)
Trong đó ở nam là 6,3% (5/79 trường
hợp) và ở nữ là 2,7% (2/74 trường hợp)
Trong một nghiên cứu của Vũ
Viết Lanh và cộng sự lại cho tỉ lệ có
yếu tố chấn thương rất cao với 54,1%
Nguyễn Thị Ánh Hồng (1999) gặp trong
300 trường hợp hẹp ống sống cổ, có 23%
thoát vị đĩa đệm cột sống cổ mềm xuất
hiện sau chấn thương
- Nam giới có thói quen xấu tự
vặn và bẻ cổ cao hơn nữ giới
- Nam giới có nghề nghiệp mang
vác nặng cao hơn nữ giới Riêng nhóm
mang vác > 50 kg thì nam giới cao gấp
2,06 lần ở nữ giới
- Tỉ lệ nam giới có hút thuốc là 54,4% Tỉ lệ hút thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu là 28,1%
- Tiền sử chấn thương đầu - cổ không cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Viết Lanh, Dương Huy Hoàng (2012), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ trên bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống
cổ điều trị tại phòng khám thần kinh Bệnh viện Đại hoc Y Thái Bình”, Y học Việt Nam, tháng 8, số 1/2012, tr117-121
2 Nguyễn Đức Liên (2006), “Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện Việt Đức”, HNKHCN tuổi trẻ các trường Đại học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII, tr488-494
3 Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Trung Kiên (2010), “Điều trị phẫu thuật thoát
vị đĩa đệm cột sống cổ có hàn liên thân đốt bằng CESPACE và cố định cột sống cổ bằng nẹp SCASPAR”, Y Dược học Quân sự, tr.1 – 4
4 Phan Việt Nga (2017), “Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ chẩn đoán và điều trị nội khoa”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
Trang 395 Bucciero A, Vizioli L, Cerillo A
(1998), “Soft cervical disc herniation
An analysis of 187 cases”, J Neurosurg
Sci, 42(3), pp 125-30
6 Campi A, Pontesilli S, Gerevini
S (2000), “Comparison of MRI
pulse sequences for investigation of
lesions of the cervical spinal cord”,
Neuroradiology 42(9), pp 669-75
7 Matsumoto M, Toyama Y, Ishikawa M (2000), “Increased signal intensity of the spinal cord on magnetic resonance images in cervical compressive myelopathy Does it predict the outcome of conservative treatment?” Spine 15, 25(6), pp 677-82
Trang 401 Bệnh viện Quân y 175
2 Bệnh viện Quân y 4/Quân đoàn 4; 3 Bệnh viện Quân y 13
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Việt Cường (cuongnguyen175@yahoo.com.vn)
Ngày nhận bài: 12/5/2018, ngày phản biện: 27/5/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT TÁN SỎI QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Nguyễn Việt Cường 1 , Nguyễn Văn Khẩn 1 , Trương Văn Thuận 1
Nguyễn Thị Hồng Oanh 1 , Hoàng Mạnh Hải 1 , Trần Hoài Nam 1
Hoàng Trung Nghĩa 1 , Hoàng Vũ Hiên 1 , Phạm Đức Vinh 2 , Phạm Ngọc Phước 3
Fr, chọc dò vào thận dưới hướng dẫn Carm, sỏi thận được tán bằng năng lượng laser Holmium Đánh giá tỷ lệ sạch sỏi và biến chứng sau phẫu thuật.
Kết quả: 39 BN gồm 22 nam(56,41%) và 17 nữ(43,59%) Tuổi trung bình là 44,69±12,40tuổi(15-67) Sỏi bể thận 22(54,41%), sỏi bể thận đài dưới 6(15,38%), sỏi các đài thận: đài trên 1(2,56%), đài giữa 5(12,82%), đài dưới 5(12,82%) Sỏi bên phải 13(33,33%), sỏi bên trái 22(36,41%), 4 BN sỏi thận 2 bên trong đó 1 BN được phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ 2 bên cách nhau 1 tháng Mức độ ứ nước thận: không ứ nước 11(22.21%), độ I 17(43,51%), độ II 10(25,64%), độ III 1(2,56%) Kích thước sỏi trung bình 24,15±5,14mm Thời gian phẫu thuật trung bình 68,59±15,64 phút(45 - 80) Tỷ lệ sạch sỏi ngay sau mổ 87,1%, tỷ lệ sạch sỏi sau 1 tháng 100% Tất cả các trường hợp đều được tán sỏi thành công, không ghi nhân biến chứng lớn, không có