Tạp chí Tim mạch học Việt Nam: Số 89/2019 trình bày các nội dung chính sau: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tăng cholesterol máu gia đình tại Việt Nam, biến chứng sớm của thay van động mạch chủ qua đường ống thông ở Việt Nam, đánh giá kết quả điều trị bằng tiêu sợi huyết ở bệnh nhân kẹt van tim nhân tạo,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết của tạp chí.
Trang 1Số 89, tháng 9 năm 2019
Trang 2LÊ TRUNG KIÊN
PGS.TS PHẠM QUỐC KHÁNH
TS.BS PHAN ĐÌNH PHONG PGS.TS NGUYỄN NGỌC QUANG TS.BS TRẦN VĂN ĐỒNG GS.TS NGUYỄN QUANG TUẤN TS.BS PHẠM NHƯ HÙNG TS.BS PHẠM THÁI SƠN TS.BS PHẠM TRẦN LINH
Trang 3NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tăng cholesterol máu gia đình tại Việt Nam
PGS.TS Trương Thanh Hương, TS.BS Nguyễn Thị Mai Ngọc, ThS.BS Kim Ngọc Thanh, BS Lê Thanh Tùng, GS.TS Đỗ Doãn Lợi
Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai; Bộ môn Tim mạch, Đại học Y Hà Nội
5
Biến chứng sớm của thay van động mạch chủ qua đường ống thông ở Việt Nam
ThS.BS Đinh Huỳnh Linh, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng
Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội
14
Đánh giá kết quả điều trị bằng tiêu sợi huyết ở bệnh nhân kẹt van tim nhân tạo
BS Phạm Hương Giang, PGS.TS Phạm Thị Hồng Thi, TS.BS Phạm Minh Tuấn
Viện Tim mạch Việt Nam
24
Nhận xét độ an toàn và hiệu quả điều trị rối loạn nhịp thất bằng flecainide
BS Nguyễn Thị Thu Vịnh*, TS.BS Trần Văn Đồng**, TS.BS Phan Đình Phong**
Bệnh viện Đa khoa Vân Đình*, Viện Tim mạch Việt Nam**
30
Đặc điểm lâm sàng, tổn thương động mạch vành và kết quả can thiệp sớm ở bệnh nhân
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hội chứng vành cấp
BS Nguyễn Công Thành*, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng**
Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Đông Đô*
Bộ môn Tim mạch – Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Tim mạch Việt Nam**
37
Giá trị bình thường của các thông số siêu âm phản ánh chức năng tim thai ở ba
tháng cuối của thai kỳ
ThS.BS Nguyễn Thị Duyên*, PGS.TS Trương Thanh Hương**
Viện Tim mạch Việt Nam*
Trường Đại học Y Hà Nội**
45
Đánh giá mức độ canxi hóa động mạch vành trên chụp động mạch vành xâm lấn đối
chiếu với chụp cắt lớp vi tính đa dãy
BS Bùi Thành Đạt*, ThS.BS Phan Tuấn Đạt**, ThS.BS Nguyễn Hữu Tuấn**
ThS.BS Phạm Nhật Minh**, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng**
Bệnh viện Đông Đô*
Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai**
56
Trang 4dụng cụ Ngo’s Femoral Clamp
TS.BS Ngô Minh Hùng, ThS.BS Nguyễn Ngọc Toàn, CNĐD Nguyễn Văn Giáp CNĐD Nguyễn Thanh Phương, CNĐD Hồ Tiến Chức, CNĐD Võ Bùi Vĩnh Tùng
BS Nguyễn Quốc Tuấn, KS Nguyễn Hồng Vũ
Khoa Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Chợ Rẫy
Kỹ thuật khâu đóng mép van điều trị hở van hai lá do sa van vùng mép
BS Vũ Công Hiếu, TS.BS Vũ Anh Dũng, TS.BS Dương Đức Hùng
Đơn vị Phẫu thuật Tim mạch - Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội
68
Hiệu quả điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim cấp bằng phương pháp cấy ghép tế
bào gốc
ThS.BS Phan Tuấn Đạt, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng
Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai
Bộ môn Tim mạch – Trường Đại học Y Hà Nội
73
Đánh giá hiệu quả ngắn hạn điều trị suy mạn tính tĩnh mạch hiển lớn bằng Laser nội
mạch với bước sóng 1470nm
BS Nguyễn Thị Bích Hằng*, PGS.TS Đinh Thị Thu Hương**, ThS.BS Nguyễn Tuấn Hải**
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc*
Bộ môn Tim mạch - Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Tim mạch Việt Nam**
82
CA LÂM SÀNG
Ca lâm sàng: Xử trí nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân có tiền sử ghép thận
ThS.BS Văn Đức Hạnh*, BS Phạm Đình Vụ**
BS Trần Việt Dũng**, TS.BS Phan Đình Phong*
Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh Viện Bạch Mai*
Trường Đại học Y Hà Nội**
88
Trang 5Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh tăng cholesterol máu gia đình tại Việt Nam
TÓM TẮT
Bệnh tăng cholesterol máu gia đình (bệnh FH)
là bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu di truyền, đặc
trưng bởi LDL-C máu tăng cao và bệnh mạch vành
sớm Tại Việt Nam, hiểu biết về bệnh lý này còn hạn
chế Do đó, Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện
Bạch Mai đưa ra hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh FH Đây là hướng dẫn đầu tiên về bệnh FH
tại Việt Nam Hướng dẫn này nhằm cải thiện chẩn
đoán và điều trị bệnh FH tại Việt Nam
Từ khóa: Tăng cholesterol máu gia đình, chẩn
đoán, điều trị
Bệnh tăng cholesterol máu gia đình (Familial
hypercholesterolemia, viết tắt: FH) là bệnh lý rối
loạn chuyển hóa lipid máu di truyền, đặc trưng bởi
lipoprotein cholesterol tỉ trọng thấp (low density
lipoprotein cholesterol: LDL-C) trong máu tăng
cao, gây xơ vữa mạch máu sớm, đặc biệt là bệnh
Trương Thanh Hương, Nguyễn Thị Mai Ngọc, Kim Ngọc Thanh, Lê Thanh Tùng, Đỗ Doãn Lợi
Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai; Bộ môn Tim mạch, Đại học Y Hà Nội
mạch vành, hẹp trên van động mạch chủ và xơ vữa mạch não Tỉ lệ bệnh lưu hành trong cộng đồng là 1/200-1/250, tương đương 300-500 nghìn người mắc bệnh tại Việt Nam [1] Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân không được chẩn đoán và điều trị [2] Tại Việt Nam, hiểu biết về bệnh lý này còn hạn chế [3-5] Trước tình trạng này, Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai đưa ra Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tăng cholesterol máu gia đình Đây là hướng dẫn đầu tiên về bệnh lý này tại Việt Nam, được xây dựng dựa trên các nghiên cứu cập nhật về bệnh lý này, bao gồm Khuyến cáo quản lý rối loạn lipid máu Châu Âu ESC/EAS 2019, nhằm mục đích cải thiện chẩn đoán
và điều trị bệnh tăng cholesterol máu gia đình tại Việt Nam
DẤU HIỆU LÂM SÀNG ĐẶC TRƯNG
Khuyến cáo: Chẩn đoán bệnh FH nên được xem xét ở bệnh nhân có tăng LDL-C kèm theo xơ vữa mạch máu sớm
(nam <55 tuổi, nữ <60 tuổi), u vàng, vòng giác mạc trước 45 tuổi
Khuyến cáo: Xét nghiệm gen nên được thực hiện ở bệnh nhân nghi ngờ FH, trong đó tập chung vào gen LDLR, APOB
và PCSK9
Trang 6Bệnh FH là bệnh di truyền trội nhiễm sắc thể
thường, biểu hiện lâm sàng là tăng LDL-C trong
máu, xơ vữa mạch máu sớm, u vàng (xanthomas)
và vòng giác mạc
Tăng LDL-C trong máu
Tăng LDL-C máu là dấu hiệu chính với bệnh
FH Ở người Việt Nam, nghiên cứu gần đây của
tác giả Trương Thanh Hương ghi nhận bệnh nhân
đồng hợp tử (HoFH) có LDL-C >13 mmol/l, và dị
hợp tử (HeFH) có LDL-C là 5.22±1.30 mmol/L,
cao hơn nhiều so với người không FH là 2.49±0.67
mmol/L Hầu hết bệnh nhân FH có mức HDL-C
và triglyceride bình thường [6]
Xơ vữa mạch máu sớm
Những người có tăng LDL-C máu kèm theo
xơ vữa xuất hiện sớm (nam <55 tuổi, nữ <60 tuổi)
nhiều khả năng mắc bệnh FH là dấu hiệu gợi ý cho
bệnh FH Các tổn thương xơ vữa mạch máu ghi
nhận là bệnh mạch vành, xơ vữa mạch cảnh, hẹp trên
van động mạch chủ và bệnh động mạch chi dưới [7]
Trong đó, bệnh mạch vành là biến chứng nguy
hiểm của bệnh FH, gặp ở 60% các bệnh nhân FH,
thường gây tử vong <35 tuổi ở HoFH và <60 tuổi
ở HeFH nếu không được chẩn đoán và điều trị hạ
lipid máu sớm Chụp động mạch vành qua da, chụp
cắt lớp vi tính động mạch vành nên được chỉ định ở
bệnh nhân được chẩn đoán FH
Hẹp trên van động mạch chủ thường gặp ở những trường hợp HoFH và HeFH có LDL-C tăng rất cao Siêu âm tim là công cụ hữu ích nên được sử dụng để phát hiện hẹp trên van động mạch chủ
Xơ vữa động mạch cảnh gặp ở khoảng 30% bệnh nhân FH Do đó, siêu âm động mạch cảnh nên được chỉ định cho các bệnh nhân FH Độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh chung có giá trị theo dõi tiến triển tình trạng xơ vữa mạch máu, dự báo biến cố tim mạch ở bệnh nhân FH
U vàng
U vàng (xanthomas) là dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của bệnh FH, thường gặp ở HoFH và HeFH
có mức LDL-C rất cao U vàng do cholesterol LDL
dư thừa được lắng đọng, thường gặp ở vị trí trong
mí mắt, lưng, ngực, mông, mặt sau cánh tay, mặt sau đùi U vàng có thể dạng các mảng màu vàng nhạt
gờ lên trên mặt da hoặc các nốt trong da hoặc dây chằng (tendinous xanthomas) Nhiều bệnh nhân
có u vàng ở vị trí khó quan sát Do đó, khi nghi ngờ bệnh FH, thầy thuốc cần thăm khám cẩn thận
Vòng giác mạc
Vòng giác mạc là vòng cung màu trắng xung quanh mống mắt, do cholesterol máu lắng đọng Vòng giác mạc xuất hiện <45 tuổi là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán FH
Hình 1 Vòng giác mạc và u vàng tại mắt (A), u vàng ở bàn tay-ngón tay (B), u vàng ở bàn chân (C) Nguồn: Trương Thanh Hương [6]
Trang 7XÉT NGHIỆM GEN
Khuyến cáo: Xét nghiệm gen nên thực hiện cho gen LDLR, APOB, PCSK9
Phát hiện ra đột biến gen là tiêu chuẩn vàng xác
nhận bệnh FH Nhưng chú ý là, chỉ có khoảng 80%
bệnh nhân có kiểu hình FH phát hiện được đột
biến gen
Đa số bệnh nhân (90-95%) có đột biến gen ở gen
mã hóa thụ thể LDL (LDLR), trong khi có khoảng
5% bệnh nhân có đột biến ở gen mã hóa apoliprotein
B (APOB) và <1% ở gen mã hóa proprotein convertase
subtilisin/kexin type 9 (PCSK9) Đột biến ở gen
LDLRAP1 rất hiếm gặp [8] Trong nghiên cứu của
tác giả Trương Thanh Hương, đột biến gen LDLR đã được phát hiện ở các bệnh nhân Việt Nam, bao gồm các dạng đột biến thường gặp và đột biến mới [6]
Kĩ thuật xét nghiệm gen cơ bản được sử dụng là
kĩ thuật giải trình tự Sanger và kỹ thuật Multiplex Ligation Probe Amplification (MLPA) Hiện nay, một số trung tâm đã chuyển sang phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) cho bệnh FH CHẨN ĐOÁN
Khuyến cáo: Tiêu chuẩn DUTCH nên được sử dụng để chẩn đoán FH tại Việt Nam.
Khuyến cáo: Tiêu chuẩn Starr nên được sử dụng để chẩn đoán bệnh FH cho họ hàng các ca bệnh chỉ điểm, đặc biệt là
trẻ em
Tiêu chuẩn DUTCH (Dutch Lipid Network Criteria) được sử dụng phổ biến để chuẩn đoán FH Tiêu
chuẩn này có ưu điểm là đơn giản và có độ chính xác cao Tiêu chuẩn này áp dụng cho người trên 16 tuổi [2] Các nghiên cứu gần đây ghi nhận tiêu chuẩn DUTCH là phù hợp để chẩn đoán FH ở Việt Nam [6, 9]
Bảng 1 Tiêu chuẩn DUTCH chẩn đoán FH
Tiền sử gia đình
Người thân trực hệ (họ hàng bậc 1) có: Sớm mắc bệnh mạch vành hoặc bệnh động mạch khác (nam trước 55
tuổi, nữ trước 60 tuổi) HOẶC
Đã từng có kết quả LDL-C cao > 95% phân bố theo tuổi và giới
1
Họ hàng bậc 1 có hình ảnh u mỡ bám gân và/hoặc vòng giác mạc
HOẶC Trẻ <18 tuổi có LDL-C cao > 95% phân bố theo tuổi và giới 2
Trang 8Hình 2 Tiêu chuẩn Starr cho chẩn đoán bệnh FH Điểm cutoffs cho chẩn đoán FH ở họ hàng bậc 1 của các ca bệnh chỉ điểm (A) LDL-C ở nữ, (B) LDL-C ở nam Màu đỏ là khả năng cao mắc FH, màu xám là nghi ngờ mắc
FH, màu xanh là khả năng thấp/không phải FH.
Tiêu chuẩn chẩn đoán FH thể đồng hợp tử [11]
- Xác nhận đột biến ở 2 allen với gen LDLR,
APOB, PCSK9, LDLRAP1 Hoặc
- Mức LDL-C máu khi chưa điều trị >13
mmol/L hoặc sau khi điều trị ≥8 mmol/L kèm u
vàng xuất hiện trước 10 tuổi hoặc cả bố và mẹ đều
là dị hợp tử
Tiêu chuẩn chẩn đoán FH ở trẻ em
Dựa vào tình trạng tăng LDL-C kèm theo tiền
sử gia đình có tăng LDL-C, bệnh mạch vành sớm, và/hoặc phát hiện đột biến gen Mức LDL-C huyết tương đặc hiệu theo tuổi và giới cần được sử dụng
để chẩn đoán lần đầu cho FH Mức LDL-C huyết tương đơn độc có độ phân biệt rất rõ ràng giữa các
Chẩn đoán chắc chắn mắc FH nếu tổng điểm >8;
Chẩn đoán có thể mắc FH nếu tổng điểm 6-8
Chẩn đoán nghi ngờ mắc FH nếu tổng điểm 3-5;
Chẩn đoán không phải FH nếu tổng điểm <3
Tiêu chuẩn Starr dựa trên LDL-C dùng để chẩn đoán FH cho họ hàng (người lớn và trẻ em) của ca bệnh chỉ điểm dựa trên xét nghiệm lipid máu, tuổi, giới [10]
Trang 9Khuyến cáo: Sàng lọc chọn lọc nên được lựa chọn để phát hiện ca bệnh chỉ điểm.
Khuyến cáo: Sàng lọc toàn bộ nên xem xét thực hiện nếu điều kiện thực tế cho phép.
Khuyến cáo: Sàng lọc theo phả hệ nên được thực hiện để phát hiện bệnh FH cho họ hàng của ca bệnh chỉ điểm.
Khuyến cáo: Sàng lọc theo phả hệ cần thực hiện tuần tự bằng phát hiện ca bệnh chỉ điểm, lập cây phả hệ, kết nối nhân viên
y tế với họ hàng ca bệnh chỉ điểm, sàng lọc bệnh cho các họ hàng ca bệnh chỉ điểm
Mô hình sàng lọc bệnh FH bắt đầu bằng tìm
kiếm ca bệnh chỉ điểm (case index)
Sàng lọc chọn lọc (opportunistic screening) là
phương pháp hiệu quả để phát hiện các ca bệnh chỉ
điểm Trong đó, nhóm bệnh nhân mắc bệnh mạch
vành sớm (nam <55 tuổi, nữ < 60 tuổi) nên được
sàng lọc bệnh FH Trong các nghiên cứu gần đây, tỉ
lệ bệnh FH ở nhóm bệnh nhân có bệnh mạch vành
sớm khoảng 2-7% [9, 13] Sàng lọc FH cũng nên
thực hiện cho các bệnh nhân có dấu hiệu u vàng và
vòng giác mạc
Sàng lọc toàn bộ (universal screening) cho tất
cả người dân người với xét nghiệm lipid máu cơ
bản nên được xem xét thực hiện, nếu thấy có thể dễ
dàng thực hiện nhằm tăng số lượng bệnh nhân được
phát hiệnvà điều trị, giúp giảm biến cố tim mạch
Sàng lọc toàn bộ bằng xét nghiệm lipid máu nên
thực hiện cho mọi người dân đến khám tại cơ sở y
tế, cho trẻ em tùy khả năng thực hiện [14, 15]
Bước tiếp theo của mô hình sàng lọc FH là sàng
lọc theo phả hệ (cascade sceening) cho các
thành viên gia đình của ca bệnh chỉ điểm
Sàng lọc theo phả hệ là phương pháp rất hiệu
quả trong phát hiện mới các ca bệnh FH [16] Sàng lọc bắt đầu từ ca bệnh chỉ điểm, tiếp đó là sàng lọc bệnh FH cho họ hàng của ca bệnh chỉ điểm Do xác suất phát hiện các thành viên trong gia đình mắc bệnh tuân theo quy luật Menden Sàng lọc theo phả hệ nên được thực hiện với xét nghiệm lipid máu cơ bản Nếu có thể, xét nghiệm đột biến gen nên được thực hiện cho các họ hàng [17] Trong sàng lọc theo phả hệ, thiết lập sự tin tưởng giữa gia đình bệnh nhân và nhân viên y tế thực hiện sàng lọc là rất quan trọng, giúp thực hiện thành công và tối đa hiệu quả sàng lọc Một
số chú ý khi sàng lọc theo phả hệ là phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho họ hàng nguy cơ mắc FH của họ, giáo dục sức khỏe cho họ hàng
về hệ quả FH trên sức khỏe Các họ hàng được sàng lọc cần được thảo luận về về quy trình khám lâm sàng, xét nghiệm lipid máu và xét nghiệm di truyền Việc lập cây phả hệ và sàng lọc phả hệ nên theo trình tự bắt đầu từ họ hàng bậc 1 (cha mẹ, anh em, con đẻ) rồi sau đó mở rộng ra tới họ hàng bậc 2 (ông, bà, cô, dì, chú, bác) và bậc 3 (anh chị
em họ) giúp tăng khả năng phát hiện bệnh [6]
bệnh nhân FH và người không bị FH ở độ tuổi dưới
10 tuổi Tuy nhiên, vì tình trạng biến thiên sinh học
cho nên cần lấy trị số trung bình của ít nhất là 2 lần
xét nghiệm LDL-C lúc đói để chẩn đoán FH Cần
tính đến tác động của các bệnh lý cấp tính làm hạ
thấp LDL-C và xét nghiệm lại nếu thấy cần thiết
Tiêu chuẩn chẩn đoán FH ở trẻ em bao gồm [12]:
- Mức LDL-C ≥5 mmol/L sau 3 tháng dùng
chế độ ăn giảm cholesterol, ngay cả khi không có
tiền sử gia đình tăng cholesterol máu và bệnh mạch vành sớm
- Mức LDL-C ≥4.0 mmol/L kèm tiền sử gia đình tăng cholesterol máu hoặc bệnh mạch vành sớm
- Nếu cha mẹ trẻ được xác nhận có đột biến gen gây bệnh FH, thì ngưỡng LDL-C máu để chẩn đoán bệnh FH cho trẻ là ≥3.5 mmol/L
MÔ HÌNH SÀNG LỌC BỆNH FH
Trang 10Khuyến cáo: Mục tiêu điều trị trong FH hàng đầu là đạt đích LDL-C.
Khuyến cáo: Tất cả các bệnh nhân FH cần phải điều chỉnh lối sống, loại bỏ các yếu tố nguy cơ tim mạch.
Khuyến cáo: Statin mạnh liều cao nên là điều trị đầu tay cho bệnh nhân FH.
Khuyến cáo: Ezetimibe nên được sử dụng phối hợp với statin trong điều trị FH.
Khuyến cáo: Thuốc ức chế có thể được sử dụng cho các trường hợp HoFH và HeFH để đạt mục tiêu LDL-C.
Khuyến cáo: Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C có thể được sử dụng cho các trường hợp HoFH và HeFH để đạt mục tiêu
LDL-C
Khuyến cáo: Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C có thể được sử dụng ở phụ nữ có thai.
Khuyến cáo: Trao đổi huyết tương, tạo shunt tĩnh mạch cửa – tĩnh mạch chủ dưới, ghép gan có thể được chỉ định cho các
trường hợp HoFH và HeFH để đạt mục tiêu LDL-C
Mục tiêu điều trị
- Bệnh nhân FH không có bệnh mạch máu do
xơ vữa (bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch
ngoại vi), không có yếu tố nguy cơ tim mạch nghiêm
trọng, mức LDL-C cần giảm ≥50% so với giá trị ban
đầu và đích LDL-C <1.8 mmol/L [18]
- Bệnh nhân FH có bệnh mạch máu do xơ vữa
(bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại
vi) hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch nghiêm trọng,
mức LDL-C cần giảm ≥50% so với giá trị ban đầu
và đích LDL-C <1.4 mmol/L [18]
- Bệnh nhân FH có bệnh mạch máu do xơ vữa
(bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại
vi) với biến cố tim mạch tái phát lần 2 trong vòng 2
năm gần đây mà đã dùng statin liều cao nhất có thể
dung nạp được thì mức LDL-C cần điều trị giảm
xuống <1.0 mmol/L [18]
- Với trẻ 8-10 tuổi, mức LDL-C cần giảm ≥ 50%
so với giá trị ban đầu Trong khi với trẻ >10 tuổi,
mức LDL-C cần đạt <3.5 mmol/L [12, 18]
Điều chỉnh lối sống, loại bỏ các yếu tố nguy cơ
tim mạch
Thay đổi lối sống và kiểm soát các yếu tố nguy
cơ tim mạch cần được thực hiện ngay khi chẩn đoán
- Tăng hoạt động thể lực: trung bình duy trì
3.5-7 giờ hoạt động thể lực mỗi tuần hoặc 30-60 phút mỗi ngày
- Kiểm soát cân nặng, vòng bụng: BMI duy trì 20-25 kg/m2, vòng bụng <94 cm (nam) và <80 cm (nữ)
- Kiểm soát chỉ số huyết áp <140/90 mmHg
- Kiểm soát chỉ số HbA1c <7%
Điều trị hạ LDL-C
Statin mạnh
Điều trị thuốc statin cần được thực hiện sớm nhất và duy trì đều đặn ở bệnh nhân FH, ưu tiên lựa chọn statin mạnh như rosuvastatin, atorvastatin [7, 19] Đa số bệnh nhân cần duy trì statin mạnh ở liều cao nhất mà có thể dung nạp Trẻ em mắc FH có thể cần sử dụng statin từ 8-10 tuổi, với khởi đầu ở liều ĐIỀU TRỊ
Trang 11thấp và tăng dần liều cho ngưỡng tối đa có thể dung
nạp để đạt mục tiêu LDL-C [12]
Ezetimibe
Ezetimibe có thể dùng phối hợp với statin để đạt
LDL-C mục tiêu [18] Liều ezetimibe 10 mg/ngày
phối hợp với statin giúp giảm thêm 10-20% mức
LDL-C [20, 21]
Thuốc ức chế PCSK9
Thuốc ức chế PCSK9 nên được dùng cho bệnh
nhân thể đồng hợp tử hoặc thể dị hợp tử có biến cố
tim mạch nếu không đạt được đích LDL-C sau khi
điều trị bằng statin liều tối đa >6 tháng hoặc không
dung nạp với statin [18, 19] Thuốc ức chế PCSK9
có thể làm giảm tới 50-70% mức LDL-C ở các bệnh
nhân FH [22, 23] Điều trị hạ LDL-C bằng thuốc
ức chế PCSK9 có hiệu quả với FH có đột biến gen
tăng hoạt động của PCSK9
Lomitapide
Lomitapide được FDA chấp thuận sử dụng cho
bệnh nhân HoFH ≥18 tuổi
Mipomersen
Mipomersen được FDA chấp thuận sử dụng
cho bệnh nhân HoFH ≥12 tuổi
Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C
Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C giúp cải thiện
kết cục tử vong và giảm biến cố tim mạch cho bệnh
nhân FH Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C nên được
dùng cho bệnh nhân thể đồng hợp tử nếu không đạt
được đích LDL-C sau khi điều trị bằng statin liều tối
đa > 6 tháng hoặc không dung nạp với statin [11] Lọc máu đặc hiệu cho LDL-C có thể được chỉ định ở phụ nữ có thai [11, 24, 25]
Trao đổi huyết tương
Trao đổi huyết tương xem xét chỉ định cho bệnh nhân HoFH khi không có lọc máu đặc hiệu cho LDL-C và thuốc ức chế PCSK9 [26]
Tạo shunt tĩnh mạch cửa – tĩnh mạch chủ dưới
Tạo shunt tĩnh mạch cửa – tĩnh mạch chủ dưới có thể hiệu quả cho bệnh nhân HoFH ở nơi không thể thực hiện được lọc máu đặc hiệu cho LDL-C [11]
Ghép gan
Ghép gan có thể hiệu quả cho bệnh nhân HoFH
ở nơi không thể thực hiện được lọc máu đặc hiệu cho LDL-C [11, 27]
Điều trị bệnh động mạch vành
Bệnh động mạch vành do xơ vữa là biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất trong bệnh FH Nhiều bệnh nhân FH cần được điều trị bằng can thiệp động mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành [6, 28] Can thiệp động mạch vành có thể là giải pháp hữu ích với trẻ em Một số báo cáo ca lâm sàng ghi nhận can thiệp động mạch vành sử dụng stent phủ thuốc có khung tự tiêu (Bioresorbable Vascular Scaffold: BVS) khả thi cho trẻ nhỏ mắc HoFH [29, 30]
SUMMARY
Guideline for the diagnosis and treatment of familial hypercholesterolemia in Vietnam: update of
2019 esc/eas guidelines for the management of dyslipidaemias
Familial hypercholesterolemia (FH) is an autosomal dominant-inherited genetic disorder that leads to elevated levels of plasma LDL-C and premature coronary heart disease In Vietnam, knowledge about FH
is still limited Therefore, Vietnam National Heart Institute, Bach Mai Hospital proposes the guideline for the diagnosis and treatement of FH This is the first guideline for FH in Vietnam, aims to improve status of the diagnosis and treatment of FH in Vietnam
Keyword: familial hypercholesterolemia, diagnosis, treatment.
Trang 12TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Akioyamen, L.E., et al., Estimating the prevalence of heterozygous familial hypercholesterolaemia: a
systematic review and meta-analysis BMJ Open, 2017 7(9): p e016461.
2 Vallejo-Vaz, A.J., et al., Overview of the current status of familial hypercholesterolaemia care in over
60 countries - The EAS Familial Hypercholesterolaemia Studies Collaboration (FHSC) Atherosclerosis,
2018 277: p 234-255.
3 Watts, G.F., et al., Translational Research for Improving the Care of Familial Hypercholesterolemia: The
"Ten Countries Study" and Beyond J Atheroscler Thromb, 2016 23(8): p 891-900.
4 Pang, J., et al., An enquiry based on a standardised questionnaire into knowledge, awareness and
preferences concerning the care of familial hypercholesterolaemia among primary care physicians in the Asia-Pacific region: the "Ten Countries Study" BMJ Open, 2017 7(10): p e017817.
5 Pang, J., et al., Comparative aspects of the care of familial hypercholesterolemia in the "Ten Countries
Study" J Clin Lipidol, 2019 13(2): p 287-300.
6 Truong, T.H., et al., Homozygous familial hypercholesterolaemia in Vietnam: Case series, genetics and
cascade testing of families Atherosclerosis, 2018 277: p 392-398.
7 Harada-Shiba, M., et al., Guidelines for Diagnosis and Treatment of Familial Hypercholesterolemia
2017 J Atheroscler Thromb, 2018 25(8): p 751-770.
8 Soutar, A.K and R.P Naoumova, Mechanisms of disease: genetic causes of familial hypercholesterolemia
Nat Clin Pract Cardiovasc Med, 2007 4(4): p 214-25.
9 Kim Ngọc Thanh, Trần Trung Thành, Trần Đức Huy, Lê Hồng An, Trương Thanh Hương, Nghiên
cứu bước đầu về tình trạng bệnh tăng cholesterol máu có tính gia đình ở các trường hợp mắc bệnh mạch vành sớm Journal of Vietnamese Cardiology Journal of Vietnamese Cardiology, 2018 81: p 33-37.
10 Starr, B., et al., Development of sensitive and specific age- and gender-specific low-density lipoprotein
cholesterol cutoffs for diagnosis of first-degree relatives with familial hypercholesterolaemia in cascade testing Clin Chem Lab Med, 2008 46(6): p 791-803.
11 Cuchel, M., et al., Homozygous familial hypercholesterolaemia: new insights and guidance for clinicians
to improve detection and clinical management A position paper from the Consensus Panel on Familial Hypercholesterolaemia of the European Atherosclerosis Society Eur Heart J, 2014 35(32): p
2146-57
12 Wiegman, A., et al., Familial hypercholesterolaemia in children and adolescents: gaining decades of
life by optimizing detection and treatment European heart journal, 2015 36(36): p 2425-2437.
13 Li, S., et al., Familial hypercholesterolemia in very young myocardial infarction Scientific Reports,
2018 8(1): p 8861.
14 Groselj, U., et al., Universal screening for familial hypercholesterolemia in children: The Slovenian
model and literature review Atherosclerosis, 2018 277: p 383-391.
15 Klancar, G., et al., Universal Screening for Familial Hypercholesterolemia in Children J Am Coll
Cardiol, 2015 66(11): p 1250-1257.
16 Lazaro, P., et al., Cost-effectiveness of a cascade screening program for the early detection of familial
Trang 13hypercholesterolemia J Clin Lipidol, 2017 11(1): p 260-271.
17 Leren, T.P., et al., Diagnosis of familial hypercholesterolemia in general practice using clinical diagnostic
criteria or genetic testing as part of cascade genetic screening Community Genet, 2008 11(1): p 26-35.
18 Mach, F., et al., 2019 ESC/EAS Guidelines for the management of dyslipidaemias: lipid modification
to reduce cardiovascular risk: The Task Force for the management of dyslipidaemias of the European Society of Cardiology (ESC) and European Atherosclerosis Society (EAS) European Heart Journal, 2019
19 Brunham, L.R., et al., Canadian Cardiovascular Society Position Statement on Familial
Hypercholesterolemia: Update 2018 Can J Cardiol, 2018 34(12): p 1553-1563.
20 Gagne, C., D Gaudet, and E Bruckert, Efficacy and safety of ezetimibe coadministered with
atorvastatin or simvastatin in patients with homozygous familial hypercholesterolemia Circulation, 2002
105(21): p 2469-75.
21 Menzin, J., et al., Ezetimibe Use and LDL-C Goal Achievement: A Retrospective Database Analysis
of Patients with Clinical Atherosclerotic Cardiovascular Disease or Probable Heterozygous Familial Hypercholesterolemia J Manag Care Spec Pharm, 2017 23(12): p 1270-1276.
22 Stein, E.A., et al., Effect of a monoclonal antibody to PCSK9, REGN727/SAR236553, to reduce
low-density lipoprotein cholesterol in patients with heterozygous familial hypercholesterolaemia on stable statin dose with or without ezetimibe therapy: a phase 2 randomised controlled trial Lancet, 2012 380(9836):
p 29-36
23 Gouni-Berthold, I., et al., Systematic review of published Phase 3 data on anti-PCSK9 monoclonal
antibodies in patients with hypercholesterolaemia 2016 82(6): p 1412-1443
24 Blaha, M., et al., Pregnancy in homozygous familial hypercholesterolemia-Importance of LDL-apheresis
Atheroscler Suppl, 2015 18: p 134-9.
25 Ogura, M., et al., Lipoprotein apheresis is essential for managing pregnancies in patients with
homozygous familial hypercholesterolemia: Seven case series and discussion Atherosclerosis, 2016 254:
p 179-183
26 Thompson, G.R., et al., Assessment of long-term plasma exchange for familial hypercholesterolaemia
British Heart Journal, 1980 43(6): p 680-688.
27 Martinez, M., et al., Effects of Liver Transplantation on Lipids and Cardiovascular Disease in Children
With Homozygous Familial Hypercholesterolemia Am J Cardiol, 2016 118(4): p 504-10.
28 Kawasuji, M., et al., Coronary artery bypass surgery with arterial grafts in familial hypercholesterolemia
J Thorac Cardiovasc Surg, 2000 119(5): p 1008-13; discussion 1013-4.
29 Nazif, T.M., et al., Percutaneous Coronary Intervention With Bioresorbable Scaffolds in a Young Child
JAMA Cardiol, 2017 2(4): p 430-434
30 Ravat, H., S Garekar, and V Changela, Left Main coronary angioplasty of a 9-year-old child with
bioresorbable vascular scaffold [corrected] Catheter Cardiovasc Interv, 2017 89(5): p 867-871
Trang 14Biến chứng sớm của thay van động mạch chủ
qua đường ống thông ở Việt Nam
Đinh Huỳnh Linh, Phạm Mạnh Hùng
Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Đặt vấn đề Thay van động mạch chủ (ĐMC)
qua đường ống thông (TAVI) đã được chứng minh
có hiệu quả và tính an toàn không kém phẫu thuật
tim hở Tuy nhiên đây là kỹ thuật mới triển khai ở
Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu các biến chứng
sớm của thủ thuật TAVI ở bệnh nhân Việt Nam
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Từ
tháng 7/2013 đến tháng 7/2019, 48 bệnh nhân hẹp
chủ khít có triệu chứng được tiến hành làm TAVI
tại 5 trung tâm tim mạch trong cả nước Chúng tôi
thống kê các biến chứng trong thủ thuật và trong
thời gian 30 ngày sau thủ thuật, sử dụng bảng phân
loại VARC-2
Kết quả Trong thời gian theo dõi 30 ngày, có
4 trường hợp tử vong, tỉ lệ 8,3% Các biến cố khác
của thủ thuật bao gồm rơi dụng cụ (6,3%), nhiễm
khuẩn huyết (6,3%), xuất huyết nhẹ (21,3%), xuất
huyết đe doạ tính mạng (6,3%), bloc nhĩ thất cấp 3
bền bỉ cần cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn (10,6%), hở
cạnh chân van mức độ vừa (8,5%)
Kết luận Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
tương tự các tác giả khác trên thế giới, cho thấy
TAVI là một thủ thuật an toàn, với tỉ lệ biến cố
chung không kém hơn phẫu thuật thay van ĐMC
Từ khoá: TAVI, biến chứng.
ĐẶT VẤN ĐỀ Hẹp van động mạch chủ (ĐMC) là bệnh van tim mắc phải phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi Phẫu thuật thay van ĐMC là chỉ định tuyệt đối cho những bệnh nhân hẹp chủ khít có triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên khoảng một phần ba số bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật do các bệnh lý kèm theo như bệnh mạch vành, suy tim trái nặng, suy thận, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường [1] Thay van ĐMC qua đường ống thông (Transcatheter Aortic Valve Implantation, viết tắt: TAVI) là một hướng đi mới, đem lại giải pháp thay van tim cho những bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật, hoặc có nguy cơ cao khi phẫu thuật Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh TAVI có hiệu quả không kém phẫu thuật thay van ĐMC, trong khi tỉ lệ biến chứng lại thấp hơn [2]
Tại Việt Nam, TAVI là một kỹ thuật mới được triển khai, chưa có nhiều trung tâm thực hiện thủ thuật này Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục
tiêu: Tìm hiểu các biến chứng sớm của thủ thuật TAVI ở bệnh nhân Việt Nam.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại các khoa/trung tâm tim mạch tại một số bệnh viện đa khoa trên
Trang 15toàn quốc trong thời gian từ tháng Bảy năm 2013
đến tháng Bảy năm 2019 Các địa điểm được lựa
chọn tham gia nghiên cứu thoả mãn các tiêu chuẩn
sau: (1) đơn vị tim mạch can thiệp có khả năng thực
hiện kỹ thuật TAVI, và (2) đồng ý tham gia nghiên
cứu Với hai tiêu chuẩn này, nghiên cứu đã được
thực hiện tại 5 khoa/trung tâm tim mạch dưới đây:
- Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai;
- Trung tâm tim mạch, Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội;
- Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh;
- Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế
Vinmec Times City;
- Bệnh viện Tim Đông Đô
Lựa chọn toàn bộ các bệnh nhân hẹp van
ĐMC được điều trị bằng kỹ thuật thay van ĐMC
qua đường ống thông tại các khoa/trung tâm tim
mạch tham gia nghiên cứu, thoả mãn tất cả các
điều kiện sau:
a Bệnh nhân hẹp van ĐMC, có chỉ định thay
van ĐMC theo bản cập nhật khuyến cáo của
AHA/ACC về bệnh lý van tim năm 2017 [3]:
- Hẹp van ĐMC khít (chênh áp trung bình qua
van >40mmHg, tốc độ dòng máu qua van >4.0
m/s, diện tích lỗ van < 1 cm2) có triệu chứng lâm
sàng từ NYHA II trở lên (khuyến cáo I, B)
- Hẹp van ĐMC khít không triệu chứng, nhưng
chức năng thất trái LVEF<50% (khuyến cáo I, B)
- Hẹp van ĐMC chênh áp thấp, cung lượng
thấp, đồng thời có triệu chứng lâm sàng (khuyến
cáo IIa, B)
b Bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật
thay van ĐMC, do một trong các nguyên nhân sau:
- Có nguy cơ tử vong cao khi phẫu thuật, đánh
giá theo thang điểm STS [4]
- Có bệnh lý nội khoa kèm theo không thể phẫu
thuật sau khi đã hội chẩn với phẫu thuật viên tim
mạch – lồng ngực
- Bệnh nhân từ chối tiến hành phẫu thuật
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu lâm sàng
Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng trước thủ thuật, đánh giá nguy cơ phẫu thuật theo thang điểm STS Sau đó, người bệnh được thay van ĐMC qua đường ống thông, sử dụng van sinh học tự nở (CoreValve của hãng Medtronic, Hydra của hãng Vascular Innovations, và Evolut R của hãng Medtronic) Bệnh nhân được theo dõi trong thời gian nằm viện và 30 ngày sau thủ thuật
Các biến cố của TAVI đánh giá phân loại theo bảng đồng thuận VARC-2 [5], bao gồm: tử vong, nhồi máu cơ tim (NMCT), tai biến mạch não (TBMN), xuất huyết, biến chứng mạch máu, suy thận cấp, rối loạn nhịp tim, rơi dụng cụ, hở cạnh chân van
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 7.2013 đến tháng 7.2019, có 48 bệnh nhân thoả mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng và siêu âm tim của đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 1 và bảng 2
Bảng 1 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n=48) Giá trị
Tuổi trung bình (năm) 75,3 ± 6,7
Trang 16Nguy cơ phẫu thuật STS 5,8 ± 3,7
Bảng 2 Đặc điểm siêu âm tim của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n=48) Giá trị
Căn nguyên hẹp van ĐMC
Thoái hoá van ĐMC 24 (50,0%)
Van ĐMC hai lá van 23 (47,9%)
Bệnh van tim hậu thấp 1 (2,1%)
Đặc điểm huyết động van ĐMCChênh áp tối đa qua van ĐMC (mmHg) 91,7 ± 26,3Chênh áp trung bình qua van ĐMC
HoHL ≥ 2+ kèm theo 18 (37,5%)HoC vừa – nhiều kèm theo 15 (31,3%)
Các biến chứng trong vòng 30 ngày sau thủ thuật
Biểu đồ 1 Các biến chứng trong vòng 30 ngày sau thủ thuật
Biểu đồ 2 So sánh điểm STS của nhóm tử vong và
BÀN LUẬN
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 7/2013 đến tháng 7/2019, có bệnh nhân TAVI tại 5 trung tâm Tim mạch trên toàn quốc được đưa vào nghiên cứu Các bệnh nhân chủ yếu là người cao tuổi (83,3% có tuổi từ 70 trở lên) Đây là lứa tuổi cao so với tuổi trung bình của các bệnh nhân được phẫu thuật thay van ĐMC [6] HC ở người cao tuổi thường kèm theo nhiều
Trang 17bệnh lý nội khoa nặng nề, làm tăng nguy cơ của
các thủ thuật hay phẫu thuật tiến hành trên bệnh
nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các
bệnh nhân đều có ít nhất một bệnh lý chuyển
hoá phối hợp: 58,3% có THA, 35,4% có đái tháo
đường type 2, 29,2% có bệnh ĐMV, 14,6% có tiền
sử can thiệp ĐMV, 64% có suy thận với mức lọc
cầu thận dưới 60mL/phút, 14,6% có bệnh lý động
mạch ngoại biên Kết quả này tương tự như nhiều
nghiên cứu khác về bệnh lý hẹp van ĐMC [7, 8]
Các biến chứng của thủ thuật
Tử vong
Trong tổng số 48 bệnh nhân làm TAVI, có
4 trường hợp tử vong nội viện, gồm 1 ca tử vong trong thủ thuật, và 3 ca tử vong sau thủ thuật Tỉ
lệ tử vong là 8,3% Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu nước ngoài
về TAVI
Bảng 3 Tỉ lệ tử vong trong các thử nghiệm lâm sàng về TAVI
Nghiên cứu Đối tượng Điểm STS trung bình Số ca tử vong Tỉ lệ %
PARTNER 1B [10] Không thể phẫu thuật 11,2 9/179 5,0%
PARTNER 2 [8] Nguy cơ trung bình 5,8 39/1011 3,9%SURTAVI [12] Nguy cơ trung bình 4,4 38/1746 2,2%
Tỉ lệ tử vong cao có thể do các trung tâm TAVI
ở Việt Nam mới triển khai kỹ thuật, trong khi các
nghiên cứu ở nước ngoài đều được tiến hành ở các
trung tâm hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này, giàu
kinh nghiệm, với số lượng ca TAVI hàng năm rất cao
Ngoài ra, các ca tử vong của chúng tôi đều trong
giai đoạn đầu thực hiện thủ thuật Trong giai đoạn
2013-2016, có 23 ca TAVI thì có 4 ca tử vong nội
viện (tỉ lệ 17,4%) Giai đoạn 2017-2019 có 25 ca
TAVI thì không có trường hợp nào tử vong nội viện
Điều này cũng phù hợp với xu thế chung của thế
giới, theo đó tỉ lệ tử vong cũng như biến chứng của
thủ thuật giảm dần theo thời gian, phụ thuộc kinh
nghiệm của trung tâm thực hiện kỹ thuật và số ca
TAVI hàng năm [15] Một nghiên cứu sổ bộ theo
dõi 32400 ca TAVI tại Đức, giai đoạn 2008-2013,
cho thấy tỉ lệ tử vong nội viện là 9,1% năm 2008,
giảm xuống còn 5,6% năm 2013 [16] Một nghiên
cứu khác theo dõi 16 trung tâm tiến hành TAVI cho thấy: tỉ lệ tử vong trong 75 ca TAVI đầu tiên cao gấp 2-7 lần tỉ lệ tử vong khi đã tiến hành trên 300
ca TAVI Số ca TAVI tử vong ở các trung tâm làm dưới 50 ca/năm cũng cao gấp 3 lần các trung tâm làm trên 50 ca TAVI mỗi năm [17]
Khi so sánh hai nhóm tử vong và không tử vong, chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh nhân tử vong có điểm STS trung bình cao hơn rõ rệt (11,5 so với 5,5, p<0,01) Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy những yếu tố tiên lượng tử vong nội viện của bệnh nhân TAVI bao gồm tuổi cao, bệnh ĐMV hay bệnh động mạch ngoại biên phối hợp, EF thấp, áp lực động mạch phổi cao, điểm STS cao [18] Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoại trừ điểm STS, chúng tôi không tìm thấy mối liên quan của các đặc điểm lâm sàng hay cận lâm sàng khác với tỉ
lệ tử vong Có thể do cỡ mẫu của chúng tôi còn nhỏ
Trang 18nên chưa thấy được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bệnh nhân tử vong trong thủ thuật do thủng
buồng thất trái trong quá trình lái dụng cụ qua van
ĐMC Thủng thất trái là một biến chứng hiếm gặp
nhưng nghiêm trọng khi làm TAVI Một nghiên
cứu hồi cứu 963 ca TAVI, ghi nhận 11 trường hợp
thủng buồng thất trái, tỉ lệ 1,1% [19], đều do dây
dẫn xuyên qua thành tự do tâm thất trái Buồng thất
trái nhỏ, và thất trái co bóp mạnh là một yếu tố tiên
lượng biến cố này Bệnh nhân của chúng tôi có kích
thước thất trái rất nhỏ kèm theo phì đại thất trái
mức độ nhiều Như vậy, đây là một yếu tố cần cân
nhắc trước khi tiến hành thủ thuật cho người bệnh
Hình 1 Hình ảnh MSCT buồng tim của bệnh nhân
B.T.N, thủng buống thất trái trong lúc làm thủ thuật
Khi có thủng thất trái, biện pháp duy nhất cứu
sống người bệnh là mở xương ức và khâu vết thương
tim [19] Kỹ thuật này chỉ có thể được tiến hành
trong phòng mổ hybrid Điều này cho thấy sự cần
thiết của phòng mổ hybrid, cũng như sự phối hợp
tham gia của kíp phẫu thuật tim hở, để sẵn sàng xử
trí trong trường hợp có biến cố và nâng cao tính an
toàn của thủ thuật TAVI
Ngoài ra, 3 ca tử vong còn lại đều do nhiễm khuẩn
huyết nặng trong quá trình hồi sức sau thủ thuật, ở
các bệnh nhân nguy cơ cao (điểm STS trung bình
11,5%) Một phân tích gộp 3900 ca TAVI cho thấy
ba căn nguyên tử vong nội viện hàng đầu là nhiễm
khuẩn (18,5%), suy tim (14,7%), và suy đa tạng
(13,2%) [20] Mặc dù là một thủ thuật can thiệp nội mạch, với nguy cơ nhiễm khuẩn thấp hơn phẫu thuật tim hở, các bệnh nhân TAVI thường có nhiều bệnh lý nội khoa nặng nề kèm theo như bệnh lý hô hấp, đái tháo đường, tình trạng hạn chế vận động Đặc biệt, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường hợp suy hô hấp đang phải đặt ống nội khí quản Đây là các yếu tố tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sau thủ thuật Do vậy chăm sóc hồi sức sau thủ thuật giữ vai trò rất quan trọng
Rơi dụng cụ
Rơi van nhân tạo là một biến cố hiếm gặp nhưng trầm trọng Nếu van trôi lên ĐMC lên, có thể xử trí qua đường ống thông, còn rơi xuống buồng thất trái bắt buộc phải phẫu thuật cấp cứu [21] Tỉ lệ rơi van dao động khoảng 1-4% tuỳ từng trung tâm [22],[23]; với ba căn nguyên chính là: đặt van quá cao, rơi van khi đang dùng dụng cụ snare kéo van lên do đặt van quá thấp, và chủ động để van trôi lên ĐMC lên khi van nhân tạo bít tắc ĐMV [22] Chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp rơi van nhân tạo (tỉ lệ 6,3%), đều là trôi lên ĐMC lên, do vị trí đặt van quá cao Cả ba trường hợp đều được tiến hành thả van số hai, còn giữ nguyên van đầu tiên ở
vị trí ĐMC lên Đây là cách xử trí được các tác giả nước ngoài lựa chọn, vì van ĐMC sinh học sau khi
đã bung ra sẽ không thể thu lại được nữa Kéo van
ra qua đường ĐMC xuống có thể dẫn đến bóc tách nặng nề ĐMC ngực – bụng, và vẫn cần phẫu thuật
để lấy van nếu đã kéo được van xuống ĐMC bụng
Hình 2 Bệnh nhân N.T.A, Van nhân tạo trôi lên ĐMC, phải đặt van số hai
Trang 19Kết quả theo dõi trên thế giới cho thấy bệnh
nhân bị rơi dụng cụ phải đặt van số hai có tiên lượng
tồi, với tỉ lệ tử vong 30 ngày và 6 tháng lần lượt là
78,5% và 52,4%, thấp hơn các bệnh nhân không gặp
biến chứng này (tỉ lệ tử vong 30 ngày và 6 tháng là
90,1% và 81,9%) Nguyên nhân tử vong hàng đầu là
TBMN, có thể do bong mảng xơ vữa ở van ĐMC và
ĐMC lên trong quá trình thao tác [23] Trong quá
trình theo dõi, chúng tôi không ghi nhận trường
hợp TBMN nào trong số 3 bệnh nhân bị rơi van
Để tránh rơi van, cần khảo sát kỹ trước thủ
thuật bằng MSCT, tránh chọn van quá nhỏ so với
đường kính van ĐMC sinh học, thận trọng trong
các trường hợp van ĐMC và ĐRTT vôi hoá nhiều
Các van ĐMC sinh học thế hệ mới cho phép thu lại
dụng cụ nếu thấy vị trí chưa phù hợp, nhờ đó giảm
nguy cơ thả van quá cao hay quá thấp [22]
Tai biến mạch não và nhồi máu cơ tim
Chúng tôi ghi nhận 1 ca TBMN, là biến cố xuất
huyết não do rối loạn đông máu ở bệnh nhân nhiễm
khuẩn huyết nặng Bệnh nhân này cũng ghi nhận
tăng men tim sau thủ thuật, nhưng chưa được chụp
ĐMV do tình trạng lâm sàng nặng nề Bệnh nhân
cuối cùng đã tử vong
TBMN sau TAVI thường do hai căn nguyên:
rung nhĩ xuất hiện trong và sau thủ thuật, và bong
mảng vôi hoá khi nong van ĐMC bằng bóng Tỉ lệ
TBMN trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn
các nghiên cứu khác Nghiên cứu PARTNER 1B có
tỉ lệ TBMN là 6,7% [10], nghiên cứu ADVANCE
có 3% TBMN [11], nghiên cứu SURTAVI là 3,4%
[12] Có thể do đối tượng của các nghiên cứu trên là
người phương Tây, có tỉ lệ bệnh lý chuyển hoá và xơ
vữa mạch máu cao hơn, do đó tăng nguy cơ TBMN
khi can thiệp van ĐMC
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 5 bệnh
nhân rung nhĩ trước thủ thuật, các bệnh nhân này
đều đang được dùng thuốc chống đông Chỉ có 1
ca rung nhĩ mới xuất hiện (2,1%) Tỉ lệ rung nhĩ do
thủ thuật thấp có thể là một nguyên nhân khác giảm
tỉ lệ TBMN
Xuất huyết và biến cố mạch máu
Nghiên cứu của chúng tôi có 13 trường hợp xuất huyết, trong đó 10 ca xuất huyết nhẹ (21,3%),
3 ca xuất huyết nặng/đe doạ tính mạng (6,3%) Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các yếu tố tiên lượng chảy máu nặng bao gồm tuổi cao, giới tính nữ, tình trạng suy thận, điểm HAS-BLED cao, và đường vào mạch máu không phải động mạch đùi [24] Chúng tôi chỉ nhận thấy tuổi cao là yếu tố liên quan tới nguy cơ xuất huyết Tỉ lệ xuất huyết ở nhóm trên 80 tuổi là 41,7%, so với nhóm dưới 80 tuổi là 23,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Cả ba ca xuất huyết nặng/đe doạ tính mạng đều gặp ở người trên 80 tuổi
Xuất huyết nặng Xuất huyết nhẹ Không xuất huyết
Biểu đồ 3 Số ca xuất huyết theo từng nhóm tuổi
So với các nghiên cứu khác trên thế giới, tỉ lệ xuất huyết trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn Trong thử nghiệm PARTNER 1B, tỉ lệ chảy máu nặng là 16% [10], trong thử nghiệm ADVANCE là 13,7% [11], trong thử nghiệm SURTAVI là 12,2% [12], còn thử nghiệm PARTNER 2 là 10,4% [8]
Có thể do các nghiên cứu trên sử dụng van nhân tạo thế hệ đầu, với kích cỡ lớn (van Sapien XT có cỡ 22-24Fr, CoreValve có cỡ 20Fr) nên tăng nguy cơ chảy máu, trong khi các van nhân tạo chúng tôi sử dụng là thế hệ sau nhỏ gọn hơn (kích cỡ 14-16Fr)
Tương tự, chúng tôi cũng ít gặp biến cố đường vào mạch máu hơn các tác giả khác Tổng cộng có
Trang 206/47 ca có biến cố mạch máu (12,7%), trong đó 3 ca
biến chứng nặng cần phẫu thuật (6,4%), không có
ca nào phải hút huyết khối hay cắt cụt chi Tỉ lệ biến
cố mạch máu chung trong thử nghiệm PARTNER
1B, là 30,7% [10], trong thử nghiệm ADVANCE là
20,7% [11] Tỉ lệ biến cố mạch máu nặng trong thử
nghiệm PARTNER 2 là 7,9% [8], trong thử nghiệm
SURTAVI là 6,0% [12]
Điều đáng lưu ý là tất cả các nghiên cứu về TAVI
đều cho thấy tỉ lệ xuất huyết nặng ở nhóm TAVI
thấp hơn đáng kể so với nhóm phẫu thuật thay van
ĐMC [8, 11, 12, 25] Tỉ lệ chảy máu và biến cố
mạch máu thấp là một ưu điểm của kỹ thuật thay
van qua đường ống thông
Bloc nhĩ thất
Chúng tôi gặp 9 trường hợp bloc nhĩ thất mới
xuất hiện, trong đó có 6 ca bloc nhĩ thất cấp 3 Có 1
trường hợp bloc nhĩ thất cấp 3 tự hồi phục trong vòng
24 giờ sau thủ thuật, còn lại 5 ca phải cấy máy tạo nhịp
vĩnh viễn (tỉ lệ 10,6%) Tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu
PARTNER 1B (3,4%) [10] và PARTNER 2 (8,5%)
[8] Các nghiên cứu PARTNER 1B và 2 đều sử
dụng van sinh học nở bằng bóng, trong khi chúng
tôi dùng van tự nở Van tự nở có phần chân van nằm
dưới vòng van ĐMC khoảng 4-8mm, sát đường dẫn
truyền nhĩ thất, vì thế dễ gây nghẽn dẫn truyền Các
nguyên nhân khác gây nghẽn dẫn truyền là phản
ứng viêm, hoặc chảy máu tổ chức quanh vòng van tự
nhiên Thăm dò điện sinh lý ghi điện tâm đồ trong
buồng tim cho thấy khoảng AH và HV tăng lên
đáng kể sau thủ thuật đặt van tự nở CoreValve [26]
Hình 4 Tương quan giải phẫu của van ĐMC nhân tạo
với đường dẫn truyền trong tim
Tuy nhiên, khi so sánh với các nghiên cứu sử dụng van sinh học tự nở, chúng tôi có tỉ lệ cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn thấp hơn Tỉ lệ này trong nghiên cứu ADVANCE là 29,2% [11], SURTAVI là 25,9% [12], EVOLUT Low Risk là 17,4% [14] Những nghiên cứu này đều gồm các bệnh nhân TAVI trong giai đoạn đầu, khi thủ thuật viên có xu thế đặt van thấp (dưới vòng van ĐMC khoảng 8mm) để tránh biến cố rơi dụng cụ với van tự nở Tuy nhiên, quan điểm hiện nay là chỉ đặt van dưới vòng van tự nhiên của người bệnh khoảng 4-6mm Đây là một khoảng cách an toàn, vừa tránh ảnh hưởng tới dẫn truyền nhĩ thất, vừa đảm bảo van không bị trôi lên ĐMC
Tỉ lệ cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn sau thủ thuật là nhược điểm lớn nhất của TAVI so với phẫu thuật thay van ĐMC [25] Các bệnh nhân phải cấy máy tạo nhịp có thời gian nằm viện lâu hơn, tỉ lệ tái nhập viện và tử vong cao hơn các bệnh nhân không phải cấy máy tạo nhịp [27]
Hở cạnh chân van
Trong số 47 trường hợp thay van nhân tạo thành công, chúng tôi gặp 33 ca hở cạnh chân van, tỉ lệ 68,1% Tuy nhiên chỉ có 4 ca HoC mức độ vừa (2+),
tỉ lệ 8,5% Chúng tôi không có ca nào HoC nhiều (3+, 4+) Tỉ lệ hở cạnh chân van trong các nghiên cứu trên thế giới dao động từ 4-23% [28, 29] Kết quả nghiên cứu không đồng nhất do đây là một biến
cố chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố, như đặc điểm giải phẫu của van, mức độ vôi hoá van, quyết định chủ quan của thủ thuật viên như lựa chọn kích
cỡ van nhân tạo, vị trí đặt van, có nong bóng sau đặt van hay không
Khi so sánh giữa hai nhóm van ĐMC hai lá van và ba lá van, chúng tôi nhận thấy tỉ lê hở cạnh chân van cao hơn ở nhóm van ĐMC hai lá van
so với nhóm van ĐMC ba lá van (87% và 58,3%, p=0,019) Đặc biệt, cả 4 ca hở mức độ vừa thuộc nhóm van ĐMC hai lá van Van ĐMC hai lá van
có cấu trúc elip dẹt, do đó van nhân tạo khó áp sát
Trang 21vòng van tự nhiên, dẫn tới HoC ở vị trí quanh van
(không phải hở trong van) Nhiều các tác giả cũng
nhận thấy van ĐMC hai lá van là yếu tố tiên lượng
quan trọng nguy cơ HoC sau TAVI[29]
Bảng 4 Tỉ lệ hở cạnh chân van ở hai nhóm van ĐMC
hai lá van và ba lá van
số bệnh nhân nghiên cứu có chức năng thất trái
giảm dưới 50%, và quá trình thay van cần phải tạo
nhịp thất nhanh có thể dẫn tới rối loạn huyết động
nặng, chúng tôi không gặp trường hợp nào suy thất
tim trái cấp sau thủ thuật
Ngoài trường hợp thủng buồng thất trái dẫn tới
tử vong, chúng tôi còn gặp một ca thủng thất phải
do điện cực máy tạo nhịp tạm thời, dẫn tới tràn máu màng tim Bệnh nhân được xử trí bằng dẫn lưu màng ngoài tim và theo dõi Người bệnh ổn định
mà không cần can thiệp ngoại khoa Thủng tim phải liên quan TAVI là một biến cố hiếm gặp Nghiên cứu của Ahmed Rezq và cộng sự cho thấy trong số
389 ca TAVI chỉ gặp 9 ca thủng thất phải, đều do điện cực máy tạo nhịp [30] Để dự phòng biến cố này, tốt nhất là dùng điện cực tạo nhịp có bơm bóng
ở đầu Nếu không có dụng cụ loại này thì khi đưa điện cực vào buồng thất phải cần kiểm tra hai bình diện để đảm bảo đầu điện cực tiếp xúc với vách liên thất, thay vì tiếp xúc với thành tự do thất phải [31] KẾT LUẬN
Các biến chứng thường gặp nhất của thay van ĐMC qua đường ống thông ở bệnh nhân Việt Nam bao gồm: xuất huyết (27,6%), biến cố mạch máu (12,7%), bloc nhĩ thất bền bỉ cần cấy máy tạo nhịp (10,6%), hở cạnh chân van vừa-nhiều (10,66%), và
tử vong (8,3%) Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
là nhiễm khuẩn huyết sau thủ thuật Kết quả nghiên cứu tương đồng với các công trình nghiên cứu trên thế giới, cho thấy TAVI có thể tiến hành an toàn trên đối tượng bệnh nhân Việt Nam
ABSTRACT
Background Transcatheter aortic valve implantation (TAVI) is an alternative for surgical aortic valve
replacement (SAVR), with similar outcomes However, complications of this procedure in Vietnam have not been well studied
Objectives Evaluate in-hospital complications of TAVI in Vietnamese patients.
Methods From July 2013 to July 2019, 48 TAVI cases were performed in 5 centers in Vietnam
Complications of the procedure were studied, using the VARC-2 criteria
Results During hospitalization, 4 deaths were recorded (8,3%) Other complications include device
embolization (6,3%), sepsis (6,3%), minor bleeding (21,3%), major/life-threatening bleeding (6,3%), new pacemaker (10,6%), and moderate paravalvular leak (8,5%)
Conclusions Our patients’ outcomes are comparable to those reported in the available literature TAVI
can be performed safely in Vietnamese patients
Keywords: TAVI, complications.
Trang 22TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Holmes, D.R., Jr., et al., 2012 ACCF/AATS/SCAI/STS expert consensus document on transcatheter aortic valve replacement J Am Coll Cardiol, 2012 59(13): p 1200-54, Wenaweser, P., et al., Clinical outcomes of
patients with estimated low or intermediate surgical risk undergoing transcatheter aortic valve implantation Eur
Heart J, 2013 34(25): p 1894-905.
2 Svensson, L.G., et al., A comprehensive review of the PARTNER trial J Thorac Cardiovasc Surg, 2013
145(3 Suppl): p S11-6.
3 Nishimura, R.A., et al., 2017 AHA/ACC Focused Update of the 2014 AHA/ACC Guideline for the
Management of Patients With Valvular Heart Disease: A Report of the American College of Cardiology/American
Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines J Am Coll Cardiol, 2017 70(2): p 252-289.
4 Basraon, J., et al., Comparison of risk scores to estimate perioperative mortality in aortic valve replacement surgery Ann Thorac Surg, 2011 92(2): p 535-40.
5 Kappetein, A.P., et al., Updated standardized endpoint definitions for transcatheter aortic valve implantation: the Valve Academic Research Consortium-2 consensus document J Am Coll Cardiol, 2012 60(15): p 1438-54.
6 Philip, J.L., et al., Outcomes of surgical aortic valve replacement for mixed aortic valve disease J Thorac Dis,
12 Reardon, M.J., et al., Surgical or Transcatheter Aortic-Valve Replacement in Intermediate-Risk Patients
New England Journal of Medicine, 2017 376(14): p 1321-1331.
13 Mack, M.J., et al., Transcatheter Aortic-Valve Replacement with a Balloon-Expandable Valve in Low-Risk Patients New England Journal of Medicine, 2019 380(18): p 1695-1705.
14 Popma, J.J., et al., Transcatheter Aortic-Valve Replacement with a Self-Expanding Valve in Low-Risk Patients N Engl J Med, 2019 380(18): p 1706-1715.
15 Alli, O.O., et al., Transcatheter Aortic Valve Implantation: Assessing the Learning Curve JACC: Cardiovascular
Interventions, 2012 5(1): p 72-79.
16 Kaier, K., et al., Learning Curves Among All Patients Undergoing Transcatheter Aortic Valve Implantation
in Germany: A Retrospective Observational Study International Journal of Cardiology, 2017 235: p 17-21.
17 Wassef, A.W.A., et al., The Learning Curve and Annual Procedure Volume Standards for Optimum
Outcomes of Transcatheter Aortic Valve Replacement Findings From an International Registry Jacc-Cardiovascular
Interventions, 2018 11(17): p 1669-1679.
Trang 2318 Wang, A., et al., PREDICTORS OF MORTALITY AFTER TAVR IN A “REAL WORLD” SETTING
Journal of the American College of Cardiology, 2017 69(11 Supplement): p 1342.
19 Owais, T., et al., Pathophysiological Factors Associated with Left Ventricular Perforation in Transcatheter Aortic Valve Implantation by Transfemoral Approach J Heart Valve Dis, 2017 26(4): p 430-436.
20 Xiong, T.Y., et al., Causes of Death Following Transcatheter Aortic Valve Replacement: A Systematic Review and Meta-Analysis J Am Heart Assoc, 2015 4(9): p e002096.
21 Otalvaro, L., et al., Management of Transcatheter Aortic Valve Embolization into the Left Ventricle Journal
27 Nazif, T.M., et al., Predictors and clinical outcomes of permanent pacemaker implantation after transcatheter
aortic valve replacement: the PARTNER (Placement of AoRtic TraNscathetER Valves) trial and registry JACC
Cardiovasc Interv, 2015 8(1 Pt A): p 60-9.
28 Sinning, J.-M., et al., Evaluation and Management of Paravalvular Aortic Regurgitation After Transcatheter Aortic Valve Replacement Journal of the American College of Cardiology, 2013 62(1): p 11-20.
29 Athappan, G., et al., Incidence, predictors, and outcomes of aortic regurgitation after transcatheter aortic valve replacement: meta-analysis and systematic review of literature J Am Coll Cardiol, 2013 61(15): p
1585-95
30 Rezq, A., et al., Incidence, Management, and Outcomes of Cardiac Tamponade During Transcatheter Aortic Valve Implantation A Single-Center Study, 2012 5(12): p 1264-1272.
31 Barbash, I.M., R Waksman, and A.D Pichard, Prevention of Right Ventricular Perforation Due to
Temporary Pacemaker Lead During Transcatheter Aortic Valve Replacement JACC: Cardiovascular Interventions,
2013 6(4): p 427.
Trang 24Đánh giá kết quả điều trị bằng tiêu sợi huyết ở bệnh nhân kẹt van tim nhân tạo
Phạm Hương Giang, Phạm Thị Hồng Thi, Phạm Minh Tuấn
Viện Tim mạch Việt Nam
TÓM TẮT
Giới thiệu: Trên thế giới, có khá nhiều các NC
về điều trị kẹt van tim NT bằng TSH Tuy nhiên,
ở Việt Nam còn có những hạn chế nhất định
Do đó, chúng tôi tiến hành đánh giá KQ điều trị
bằng TSH ở bệnh nhân kẹt van tim nhân tạo do
huyết khối
Mục tiêu:
1 Đánh giá KQ điều trị bằng TSH ở bệnh nhân
kẹt tim NT do huyết khối
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến KQ
điều trị bằng TSH ở BN kẹt van tim NT do HK
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết
kế mô tả cắt ngang: hồi cứu và tiến cứu tại Viện tim
mạch Việt Nam, Bệnh viện Tim Hà Nội và Bệnh
viện Hữu nghị Việt Đức, trên 32 BN kẹt van tim NT
do HK, điều trị TSH
Kết quả: Tuổi TB: 47.13 Nữ: 78.1% Thời
gian thay van TB: 3.6 năm Lý do vào viện: khó thở
43.8% (cao nhất) Kẹt 2 lá van: 12.5% INR (2.5 –
3.5): 18.8% TC cơ năng (khó thở, đau ngực, hồi
hộp) trước và sau điều trị thay đổi có ý nghĩa (p<
0.05) Sau ĐT, không còn BN có tiếng tim mờ,
TS tim giảm ý nghĩa Chênh áp TĐ, chênh áp TB,
ALĐMP giảm, DT lỗ van kẹt tăng có ý nghĩa (p <
0.01) Thành công: 75% Biến chứng: 12.5% TV:
0% Yếu tố liên quan KQ: kích thước HK, tổng liều
thuốc TSH
Kết luận: Tiêu sợi huyết là phương pháp hiệu
quả trong ĐT kẹt van tim NT do HK
Từ khóa: Kẹt van tim nhân tạo, tiêu sợi huyết.
ĐẶT VẤN ĐỀTại Việt Nam, số BN phải thay van NT do bệnh
lý van tim khá nhiều Sau PT, BN có nguy cơ kẹt van NT do HK (0,1% đến 6%) [1] Nguyên nhân hay gặp: liệu pháp chống đông không đạt hiệu quả
PT vẫn là chủ yếu nhưng chi phí cao, không phải bệnh viện cũng thực hiện được TSH đã mang lại hiệu quả điều trị nhất định Một số NC đánh giá
KQ điều trị bằng TSH: TROIA, PROMETEE Tại Việt Nam, các NC còn hạn chế, số BN không nhiều Do đó, chúng tôi tiến hành “Đánh giá kết quả điều trị bằng tiêu sợi huyết trên bệnh nhân kẹt van tim nhân tạo do huyết khối”
PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng NC
32 BN kẹt van tim NT điều trị tiêu sợi huyết tại Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Tim Hà Nội, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Phương pháp nghiên cứu
- NC mô tả cắt ngang: hồi cứu và tiến cứu
- Tiến hành:
BN nghi ngờ kẹt van tim NT do HK được khám
LS, SA tim qua thành ngực, SA tim qua TQ, XN đông máu để chẩn đoán xác định
Chỉ định TSH: ST cấp, suy hô hấp cấp, khó thở NYHA III – IV có: Nguy cơ cao khi PT hoặc cơ sở
y tế không có khả năng PT mà tình trạng không thể
di chuyển và chờ đợi Hoặc BN khó thở NYHA I –
II và HK 5 – 10 mm (nhỏ hơn 0,8 cm2), ít di động.Chống chỉ định TSH: CCĐ tuyệt đối: XHN
Trang 25hoặc ĐQ không rõ NN ở bất kì thời điểm nào,
NMN trong 6 tháng, tổn thương não hoặc u tân
sinh hệ TKTW, VT đầu, PT hoặc CT lớn trong 3
tuần trước đó, XHTH trong 1 tháng trước, bệnh
CQ tạo máu, phình tách ĐMC CCĐ tương đối:
TIA trong 6 tháng trước, đang uống thuốc CĐ
kháng vitamin K với PT < 10% và / hoặc INR > 5,
đang có thai hoặc sau đẻ < 1 tuần, Chọc dò ĐM ở
vị trí không ép được, CT do các thủ thuật HSCC,
cấp cứu NTH > 15 phút, THA nặng chưa KS
được (HATT > 180 mmHg và/hoặc HATTR > 110 mmHg), suy gan
Tiêu sợi huyết Khám LS, SA tim qua thành ngực ngay sau TSH và 24 giờ sau TSH
Đánh giá kết quả: Thành công hoàn toàn, thành công một phần, thất bại
Đánh giá kết quả điều trị bằng TSH ở bệnh nhân kẹt van tim NT do HK
Bảng 2 Triệu chứng cơ năng trước và sau điều trị
Trang 26Bảng 3 Triệu chứng thực thể trước và sau điều trị.
Tâm trương ( mmHg ) 71.41 ± 9.86 67.97 ± 6.46 0.658
Nhận xét: Sau điều trị, tiếng van tim rõ, BN không có rale ẩm, TS tim giảm (p = 0.02).
Biểu đồ 1 Hoạt động van tim sau điều trị
0 50 100
Ngay sau điều trị bằng TSH
Sau điều trị TSH 24 giờ
Hạn chế Bình thường
Nhận xét: Còn 9.4 % BN van hoạt động hạn chế, 25 % van không hoạt động.
Bảng 4 Một số đặc điểm trên siêu âm tim trước và sau điều trị.
Chênh áp TĐ 25.12 ± 11.28 12.49 ± 6.39 0.000 11.33 ± 5.08 0.000Chênh áp TB 15.10 ± 7.78 9.62 ± 9.30 0.003 5.55 ± 2.90 0.000Diện tích lỗ van 1.26 ± 0.42 1.84 ± 0.56 0.000 2.01 ± 0.66 0.000
Áp lực ĐMP 41.75 ± 11.27 33.94 ± 10.77 0.000 31.58 ± 5.36 0.000Phân số tống máu 64.63 ± 5.86 63.34 ± 5.07 0.24 62.91 ± 3.92 0.091
Nhận xét: Chênh áp TĐ, Chênh áp TB, ALĐMP giảm và DT lỗ van kẹt tăng có ý nghĩa
Trang 27Một số yếu tố liên quan KQ điều trị bằng TSH ở BN kẹt van hai lá NT do HK:
Bảng 7 Kết quả điều trị và kích thước huyết khối.
BN
Giá trị (cm²)
p Tối đa Tối thiểu TB ± SD
Thành công HT (1) 20 0.7 0.1 0.33 ± 0.18 p(1-2)=0.617; p(1-3)=0.032Thành công MP (2) 4 0.5 0.3 0.38 ± 0.1 p(2-1)=0.647; p(2-3)=0.269Thất bại (3) 8 0.84 0.21 0.50 ± 0.19 p(3-1)=0.032; p(3-2)=0.269
Nhận xét: Kích thước huyết khối TB của nhóm thành công HT nhỏ hơn nhóm thất bại.
Bảng 8 Tổng liều thuốc TSH và kết quả điều trị.
Bảng 9 Kết quả điều trị và liều nạp trung bình.
0.008
Trang 28BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
Tuổi TB: 47.13 ± 11 Nữ:78.1%,đa số Tương tự
NC của Deviri Bệnh lý VT do thấp tim liên quan yếu
tố DR4 - gặp ở phụ nữ châu Á [2] TG từ thay van
đến kẹt TB: 3.6 ± 3.27 năm 15.63% BN từ thay van
đến kẹt van là dưới 6 tháng, ngắn nhất: 2 tháng Theo
Cheng, thời điểm dễ xảy ra tắc nghẽn trên van tim NT
là 6 tháng đầu 43.8% BN vào viện vì khó thở (cao
nhất) Kẹt cả hai lá van: 12.5% 46.9 % có RN Tâm nhĩ
co bóp không đều góp phần tạo nên HK [3] Có 3.1%
không tuân thủ ĐT chống đông nhưng chỉ 18.8% có
INR đạt mục tiêu thuốc TSH là Alteplase (100 %)
Đánh giá kết quả điều trị bằng tiêu sợi huyết ở
BN kẹt van hai lá nhân tạo
Cơ năng: BN suy tim NYHA I khi VV: 56.3%
tăng lên 90.6% sau ĐT BN NYHA II – IV (có 1 BN
NYHA III (3.1%) và không có BN NYHA IV) giảm
từ 43.7% xuống 9.4% (chỉ có NYHA II) Với p =
0.01 < 0.05: ST cải thiện rõ Sự thay đổi các TC: khó
thở, đau ngực, hồi hộp đánh của BN trước và sau
SA tim: sau ĐT, 8 BN (34.4%) van tim NT
không HĐ (8 BN thất bại) Ngay sau TSH, chênh
áp qua van giảm:VHL:12.49 ± 6.39 mmHg và
9.62 ± 9.30 mmHg, VĐMC: 58±21.25 mmHg và
37.5±16.66 mmHg Thay đổi có ý nghĩa (p < 0.05)
Sau TSH 24 giờ chênh áp qua van vẫn giảm có ý
Một số yếu tố liên quan đến KQ điều trị TSH ở
BN kẹt van hai lá NT do HK
Thời gian TB từ có TC đến TSH ở nhóm TC: 3.79 ± 2.12 ngày, ngắn hơn nhóm TB (5.4 ± 1.95) Theo Roudaut: HK mạn tính ĐT bằng TSH có tỉ lệ
TC thấp [4] 1 BN có HK: 0.84 cm²: lớn nhất và KQ thất bại Các BN khác: HK ≤ 0.8 cm² Theo ESC, TSH chỉ định cho HK ≤ 0.8 cm² Nhóm TCHT có
HK TB là 0.33 ± 0.18 cm² nhỏ hơn nhóm TB (0.50
± 0.19) (p = 0.032).81.4% BN có tổng liều thuốc TSH 100 mg: TCHT là 75%, TCMP: 10% và TB: 15% Nhóm có tổng liều 50 mg: tỉ lệ TC thấp hơn (50%) Tổng liều ở nhóm TCHT (100 ± 28.1 mg)
và TCMP (100 mg) cao hơn nhóm TB (84.38 ± 22.9 mg) Nhóm có BC:75 ± 28.87 mg, thấp hơn nhóm không BC 99.11 ± 24.05 mg Nhóm TB: liều nạp TB lớn nhất: 11.56 ± 52 mg so với 2 nhóm còn lại là 10 mg (p = 0.008) Vậy liều nạp 10 mg có hiệu quả tốt hơn Nhóm có BC: tốc độ truyền thuốc TSH TB là 35.63 ± 19.83 mg/giờ cao hơn nhóm không BC 30.13 ± 5.76 mg/giờ
KẾT LUẬN
TC của BN kẹt van tim NT rất đa dạng ĐK thuận lợi hình thành HK: INR không đạt mục tiêu, RN TSH hiệu quả trên BN NYHA I – II,
HK < 0.8 cm² và không có CCĐ Kích thước HK và tổng liều thuốc TSH là các yếu tố liên quan KQ
Trang 291 Evaluating result of treatment obstruction prosthetic heart valve by thrombolysis.
2 Collecting plenty of related factor to result of treatment obstruction prosthetic heart valve by thrombolysis
Object and method:
Descriptive cross – sectional study: prospective study and prepective in National heart hospital, Ha Noi heart hospital and Vietnam German friendship hospital Object: 32 patients with obstructive prosthetic heart valve thrombosis and treated by thrombolytic
Result:
Age: 47 Female: 78.1% Time from valve replacement: 3.6 years Reason of hospitalization: dyspnea 43.8% Obstructive two cusp: 12.5% Obtructive precusp: 50% INR (2.5 – 3.5): 18.8% Symptoms before and after therapy are real changed (p < 0.05), After therapy, no patient has soft valve sound, heart rate down a lot The max trans-valvular gradients, the mean trans-valvular gradients, pulmonary artery ressure are downed, valve area is really improved (p < 0.01) Success: 75% Mortality: 0 Related factor: size of thrombosis, dose of drug
Conclusion: Thrombosis is an effective therapy for patient with obtructive prosthetic heart valve.
Từ khóa: Obstruct prosthetic valve, Thrombolysis.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 H Hermans, T Vanassche, P Herijgers và các cộng sự (2013), “Antithrombotic therapy in patients
with heart valve prostheses”, Cardiol Rev, 21(1), tr 27-36.
2 Phạm Gia Khải Đỗ Doãn Lợi (2008), Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về: chẩn đoán
và điều trị các bệnh van tim, Chuyên đề tim mạch học, Hội Tim mạch học Thành phố Hồ Chí Minh.
3 S Keuleers, P Herijgers, M C Herregods và các cộng sự (2011), “Comparison of thrombolysis
versus surgery as a first line therapy for prosthetic heart valve thrombosis”, Am J Cardiol, 107(2), tr 275-9.
4 R Roudaut, S Lafitte, M F Roudaut và các cộng sự (2009), “Management of prosthetic heart valve
obstruction: fibrinolysis versus surgery Early results and long-term follow-up in a single-centre study of 263 cases”, Arch Cardiovasc Dis, 102(4), tr 269-77.
5 M Ozkan, S Gunduz, M Biteker và các cộng sự (2013), “Comparison of different TEE-guided
thrombolytic regimens for prosthetic valve thrombosis: the TROIA trial”, JACC Cardiovasc Imaging, 6(2),
tr 206-16
Trang 30Nhận xét độ an toàn và hiệu quả điều trị rối loạn nhịp thất bằng flecainide
Nguyễn Thị Thu Vịnh*, Trần Văn Đồng**, Phan Đình Phong**
Bệnh viện Đa khoa Vân Đình* Viện Tim mạch Việt Nam**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rối loạn nhịp thất là một bệnh
lý phức tạp và nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu
không được điều trị kịp thời Hiện nay, có nhiều
nhóm thuốc được chỉ định để điều trị các rối loạn
nhịp thất, trong đó có flecainide (một thuốc thuộc
nhóm Ic trong phân loại của thuốc chống rối loạn
nhịp) Tuy không phải là thuốc điều trị đầu tay,
nhưng flecainide có thể được lựa chọn đặc biệt
trong các trường hợp không đáp ứng với nhóm
thuốc khác hoặc thất bại với phương pháp điều trị
triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số radio qua
đường ống thông (RF)
Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu đánh giá hiệu
quả và độ an toàn của flecainide trên bệnh nhân
Việt Nam có rối loạn nhịp thất
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 24
bệnh nhân có rối loạn nhịp thất (không có bệnh
tim thực tổn) được điều trị bằng flecainide và theo
dõi sau 4 tuần tại Viện Tim mạch Việt Nam Dùng
phương pháp nghiên cứu mô tả loạt bệnh
Kết quả: Trong tổng số 24 bệnh nhân nghiên
cứu có 50 % bệnh nhân đã được điều trị bằng RF
nhưng không thành công, 16,67 % đã dùng chẹn
beta, 8,3 % đã dùng cordarone, và 25% chưa điều
trị Sau 4 tuần điều trị bằng Flecainide, tổng số
NTT/T giảm 61,3%, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05; NTT/T nhịp đôi, nhịp ba; NTT/T chùm đôi, chùm ba; NTT/T đơn lẻ giảm lần lượt 61,45
% (p < 0,05), 63,73 % (p < 0,05), 62,27% (p < 0,05) Flecainide làm khoảng PR có xu hướng kéo dài ra với tỷ lệ thay đổi 4,3% (p < 0,05), tần
số tim trung bình giảm 5,56 % với p < 0,05 Có
1 trường hợp bị rối loạn tiêu hóa thoáng qua, 1 trường hợp bệnh nhân còn chóng mặt, không thấy trường hợp nào bị dị ứng, rối loạn thị lực, thính lực hay tác dụng phụ nặng nề nào khác, các chỉ số sinh hóa cơ bản và siêu âm tim thay đổi không đáng kể
Kết luận: Flecainide làm giảm rõ rệt số lượng
ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, và có tác dụng phụ ít, chỉ thoáng qua
Từ khóa: Flecainde, rối loạn nhịp thất, hiệu quả
điều trị
ĐẶT VẤN ĐỀRối loạn nhịp thất là một bệnh lý phức tạp, nguy hiểm, có thể nhanh chóng gây rối loạn huyết động
và tử vong Theo thống kê tại Mỹ, mỗi năm có tới 300000-400000 người chết đột tử do các rối loạn nhịp thất [1] Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hải tại Viện Tim mạch Việt Nam cho thấy tỷ lệ tử vong
Trang 31do rối loạn nhịp thất trong hai năm 1999-2000 là
39,2% [2]
Rối loạn nhịp thất có thể do nhiều nguyên nhân,
chủ yếu là gặp ở những bệnh nhân có bệnh tim thực
tổn và cũng có nhiều hình thái xảy ra ở những bệnh
nhân không có bệnh tim mạch (như ngoại tâm thu
thất, nhịp nhanh thất vô căn) [3] Việc điều trị sớm
các rối loạn nhịp này sẽ dự phòng được các rối loạn
nhịp nguy hiểm như rung thất, cuồng thất, và làm
giảm tỷ lệ tử vong [1]
Hiện nay có nhiều phương pháp được sử dụng
để điều trị rối loạn nhịp thất, trong đó có phương
pháp điều trị bằng thuốc và thường được dùng là
chẹn beta, cordarone Tuy nhiên, có khá nhiều các
trường hợp điều trị bằng chẹn beta kém hiệu quả,
trong khi cordarone lại có nhiều tác dụng phụ, đặc
biệt là tác dụng phụ trên tuyến giáp Flecainide là
một thuốc chống rối loạn nhịp thuộc nhóm Ic,
được dùng khá rộng rãi trên thế giới để điều trị các
rối loạn nhịp thất Tại Việt Nam, flecainide cũng đã
được sử dụng, đặc biệt có thể là một lựa chọn trong
các trường hợp điều trị nhóm thuốc khác không
hiệu quả hoặc thất bại với phương pháp triệt đốt
bằng năng lượng sóng có tần số radio qua đường
ống thông hoặc một số trường hợp không muốn
điều trị bằng can thiệp Tuy nhiên cho đến nay, tại
Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả
điều trị của thuốc Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu “Nhận xét độ an toàn và hiệu quả điều trị rối
loạn nhịp thất bằng flecainide” với hai mục tiêu:
1 Nhận xét một số đặc điểm của bệnh nhân có
rối loạn nhịp thất đang được sử dụng flecainide
2 Bước đầu đánh giá hiệu quả và độ an toàn của
flecainide trên bệnh nhân Việt Nam
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
24 bệnh nhân có rối loạn nhịp thất được điều
trị bằng flecainide và theo dõi sau 4 tuần tại Viện
Tim mạch Việt Nam, từ tháng 6/2018 đến tháng 7/2019
Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả các bệnh nhân có rối loạn nhịp thất được điều trị bằng flecainide, được đeo Holter ĐTĐ 24 giờ trước và sau 4 tuần dùng flecainide Thời gian nhập viện của các bệnh nhân từ tháng 6/2018 đến tháng 7/2019
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có rối loạn nhịp thất được dùng flecainide nhưng không được đeo Holter ĐTĐ 24 giờ trước đó
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả loạt bệnh, tiến cứu
Cách thức tiến hành
Thu thập dữ liệu của bệnh nhân qua hồ sơ bệnh án và khai thác lâm sàng trước điều trị bằng flecainide bao gồm: hành chính, triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể, các chỉ số trên Holter ĐTĐ 24 giờ như tổng số NTT/T, số NTT/T nhịp đôi, chùm đôi, nhịp ba, chùm ba, nhịp nhanh thất, các rối loạn nhịp khác và các chỉ số cận lâm sàng khác
Sau 4 tuần điều trị đánh giá lại triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, Holter ĐTĐ 24 giờ So sánh kết quả trước và sau 4 tuần điều trị, độ an toàn sau dùng thuốc
Các phương tiện nghiên cứu
Máy ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo (máy Nihon Kohden), máy ghi Holter ĐTĐ 24 giờ (máy Phillip hay Scott Care), máy siêu âm tim (máy Phillip)
KẾT LUẬN
Đặc điểm chung
Trang 32Bảng 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 4 Số lượng NTT/T trên Holter ĐTĐ 24 giờ sau 4 tuần điều trị
Chỉ số NTT/T Trước ĐT Sau ĐT p
Tổng số NTT/T 18000 ± 12296,43 6966,42 ± 10663,24 0,000NTT/T nhịp đôi, nhịp ba 5559,21 ± 7114,56 2143 ± 6606,36 0,000NTT/T chùm đôi, chùm ba 841,21 ± 2416,27 305,04 ± 1163,70 0,049NTT/T đơn lẻ 10900 ± 7934,52 4111,82 ± 5751,24 0,000Nhịp nhanh thất 551,58 ± 2595,72 403,71 ± 1971,74 0,260Trong số 24 bệnh nhân được điều trị bằng flecainide, và theo dõi trong 4 tuần, chúng tôi nhận thấy có sự giảm rõ rệt số lượng ngoại tâm thu thất, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p= 0,000 < 0,05
Bảng 5 Thay đổi các khoảng trên ĐTĐ trước và sau điều trị
Trang 33Bảng 6 Tác dụng không mong muốn của thuốc
Tác dụng phụ thoáng qua, không đáng kể
Bảng 7 Các chỉ số cận lâm sàng khác trước và sau điều trị flecainide
Bảng 8 Nhịp tim trước và sau điều trị trên Holter ĐTĐ 24 giờ
Tần số tim Trước điều trị Sau điều trị p
Trung bình (chu kỳ/phút) 72,12±9,616 67,17±10,69 0,032Cao nhất (chu kỳ/phút) 118,83±22,91 115,04±22,72 0,449Thấp nhất (chu kỳ/phút) 53,21±8,45 51,58±7,90 0,097
Trang 34BÀN LUẬN
Trong số 24 bệnh nhân được điều trị bằng
flecainide có đến 50% số bệnh nhân đã được điều
trị phương pháp triệt đốt bằng năng lượng sóng có
tần số radio qua đường ống thông nhưng không
thành công, có thể do vị trí khởi phát rối loạn nhịp ở
tại chỗ khó tiếp cận như vùng thượng tâm mạc, gần
bó His, trong buồng thất trái…; có 4 trường hợp
(chiếm 16,67%) được dùng chẹn beta, 2 trường hợp
(8,33%) dùng Cordarone nhưng không đáp ứng;
và có 6 (25%) ca không muốn can thiệp và mong
muốn điều trị nội khoa Trước điều trị, số bệnh nhân
vào viện vì hồi hộp, trống ngực có 16 bệnh nhân
chiếm tỉ lệ cao nhất 66,67%; có 2 bệnh nhân ngất,
thỉu chiếm 8,33%
Trong một báo cáo của Rungroj K và cộng sự,
triệu chứng hay gặp nhất là hồi hộp, trống ngực
chiếm 95,8%; triệu chứng ngất, thỉu chỉ chiếm
25,7% [4]; các biểu hiện khác ít gặp hơn Theo
Robert J.Kim và cộng sự, bệnh nhân có biểu hiện
hồi hộp, trống ngực chiếm 82% [5] Như vậy, các
triệu chứng lâm sàng trong nghiên cứu của chúng
tôi thường gặp cũng tương đồng với các nghiên cứu
khác trên thế giới
Tổng số NTT/T trong nghiên cứu của chúng tôi
sau điều trị đã giảm 61,3 %, mức giảm này có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 NTT/T nhịp đôi, nhịp
ba giảm 61,45 % (p < 0,05) NTT/T chùm đôi,
chùm ba giảm 63,73 % (p < 0,05) NTT/T đơn lẻ
giảm 62,27 % (p < 0,05) Đối với NNT sau điều trị
giảm được 26,89 %, mức giảm này chưa có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05, điều này có thể do, trong số
các bệnh nhân nghiên cứu có 1 trường hợp có rối
loạn nhịp thất khởi phát từ vùng thượng mạc, và
đã được điều trị bằng chẹn beta, cordarone và RF
nhưng đều không hiệu quả, và nhịp nhanh thất chủ
yếu là xuất hiện ở bệnh nhân này, sau điều trị số
nhịp nhanh thất không giảm mà thậm chí còn có xu
hướng tăng lên
Trong một bài báo của Dumar Duran và cộng
sự, NTT/T đa dạng giảm 96%, NTT/T chùm đôi giảm 92%, NNT giảm được 91% [6] Như vậy trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ NTT/T giảm được thấp hơn so với Dumar Duran, và thấp hơn nghiên cứu khác của Muhiddin KA (số lượng NTT/T đã giảm được 85,4%) sau điều trị [7] Điều này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi
đa phần là có chọn lọc ( trước đó đa số đều đã được dùng các phương pháp điều trị khác nhưng thất bại), thứ 2 có thể là do vị trí khởi phát rối loạn nhịp ngấm thuốc kém
Đối với các khoảng PR, QRS, QTc, JT sau 4 tuần điều trị, PR kéo dài 4,3% có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, do flecainide tác động vào quá trình hoạt động điện thế làm kéo dài thời kỳ trơ và làm giảm tính dẫn truyền Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Dumar Duran và cộng sự, khoảng PR kéo dài 31% [6], các khoảng còn lại cũng có thay đổi sau điều trị, và có xu hướng kéo dài, tuy nhiên sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê với các khoảng QRS, QTc, JT lần lượt là 0,076; 0,056; 0,421
Tần số tim trung bình sau điều trị giảm đáng kể,có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, tần số tim trung bình và thấp nhất có xu hướng giảm, nhưng không
có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Điều này cũng tương tự như trong nghiên cứu của Khulood A [7], tần số tim có giảm nhẹ và trong bài báo của Duran [6], tần số tim trung bình giảm được là 10% Do đó, tần số tim giảm sau điều trị trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả khác
Trong quá trình dùng thuốc, có 1 bệnh nhân
bị rối loạn tiêu hóa thoáng qua, không đáng kể,
1 bệnh nhân còn chóng mặt Không thấy trường hợp nào bị rối loạn thị lực hay thính lực, dị ứng, mày đay, hay bất kỳ tác dụng phụ nào nặng nề khác, không thấy có thay đổi nhiều các chỉ số xét
Trang 35nghiệm sinh hóa và siêu âm tim Trong một báo
cáo của G Vanhaleweyk và cộng sự, nghiên cứu
trên 60 bệnh nhân bị rối loạn nhịp thất mạn tính
được dùng flecainide, tỷ lệ NTT/T sau điều trị
giảm được 85%, tác dụng phụ xảy ra với 2 bệnh
nhân, có 1 trường hợp bị giảm chức năng thất trái,
1 trường hợp có rối loạn chức năng nút xoang [8]
Theo Dumar Duran, nghiên cứu trên 9 bệnh nhân
có rối loạn nhịp thất phức tạp, tác dụng phụ nhẹ,
thoáng qua và có liên quan đến thần kinh trung
ương, nhìn mờ là tác dụng hay gặp nhất và có 4
trường hợp đã được báo cáo Như vậy, trong nghiên
cứu này của chúng tôi, tác dụng phụ sau điều trị
flecainide, theo dõi trong 4 tuần thường hay gặp
nhất là chóng mặt, và chỉ nhẹ nhàng, thoáng qua, không có trường hợp nào phải dừng điều trị.KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 24 bệnh nhân có rối loạn nhịp thất được sử dụng flecainide, chúng tôi nhận thấy:
- Flecainide làm giảm số lượng NTT/T, nhịp nhanh thất rõ rệt, làm cải thiện triệu chứng lâm sàng
và cận lâm sàng trên những bệnh nhân có rối loạn nhịp thất (không do bệnh tim thực tổn) mà trước
đó đã được điều trị bằng chẹn chẹn beta, cordarone
và RF nhưng không thành công
- Tác dụng phụ mang tính chất thoáng qua và không nặng nề
ABSTRACTS
The safety and efficacy of flecainide for the treatment of ventricular arrhythmias
Background: Ventricular arhythmias are complex clinical entities and can be life-threatening Currently,
there are many drugs groups that are indicated for the treatment of ventricular arhythmias, including flecainide (a class Ic drug in the classification of antiarrhythmias drugs) Although it is not a first-line drug, flecainide may be used espescially in cases of nonresponse to the other drug classes or failure radiofrequency catheter ablation (RF)
Objective: To study the efficacy and safety of flecainide in Vietnamese patients with ventricular
arrhythmias
Patients and method: 24 patients with ventricular arhythmias (without structural heart disease) were
treated with flecainide and re-evaluated after a follow-up period of 4 weeks at the Vietnam Heart Institute
Result: The study included 24 patients, 50% of patients were treated with RF, 16,67% were received
beta blockers, 8,3% were received cordarone, and 25% did not receive any treatment Total premature ventricular complexes (PVC) were reduced by 61.3% (statistically significant with p < 0.05); bigeminy, trigeminy PVC; couplets, triplets PVC; single PVC reduced by 61.45% (p < 0.05), 63.73% (p < 0.05), 62.27% (p < 0.05), respectively, after four weeks of treatment with flecainide The PR interval was lengthened by 4.3% (p <0.05); flecainide slowed heart rate by 5,56% (p < 0.05) There was one case of transient gastrointestinal disorders, one case of dizziness, no case of allergies, visual disturbances, hearing disturbances or other serious side efects, no significant change in basical biochemical indicators and echocardiography
Conclusion: Flecainide reduced the amount of PVC and ventricular tachycardia significantly, and only
had few transient side effects
Key words: Flecainide, ventricular arrhythmias, therapeutic effect.
Trang 36TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Zipes D.P., Camm A.J., Borggrefe M và cộng sự (2006) ACC/AHA/ESC 2006 Guidelines for
Management of Patients With Ventricular Arrhythmias and the Prevention of Sudden Cardiac Death:
A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force and the European Society of Cardiology Committee for Practice Guidelines (Writing Committee to Develop Guidelines for Management of Patients With Ventricular Arrhythmias and the Prevention of Sudden Cardiac Death) Journal of the American College of Cardiology, 48(5), e247–e346.
2 Nguyễn Tiến Hải (2001), Một số nhận xét về tình hình tử vong tại Viện Tim mạch việt nam trong hai năm
1999-2000, Trường Đại học Y Hà Nội.
3 Ban J.E., Park H.C., Park J.S và cộng sự (2013) Electrocardiographic and electrophysiological
characteristics of premature ventricular complexes associated with left ventricular dysfunction in patients without structural heart disease Europace: European pacing, arrhythmias, and cardiac electrophysiology: journal of the working groups on cardiac pacing, arrhythmias, and cardiac cellular electrophysiology of the
European Society of Cardiology, 15(5), 735–741.
4 Krittayaphong R., Sriratanasathavorn C., Dumavibhat C và cộng sự (2006) Electrocardiographic
predictors of long-term outcomes after radiofrequency ablation in patients with right-ventricular outflow tract tachycardia Europace, 8(8), 601–606.
5 Kim R.J., Iwai S., Markowitz S.M và cộng sự (2007) Clinical and electrophysiological spectrum of
idiopathic ventricular outflow tract arrhythmias J Am Coll Cardiol, 49(20), 2035–2043.
6 Duran D., Platia E.V., Griffith L.S.C và cộng sự (1982) Suppression of complex ventricular arrhythmias
by oral flecainide Clinical Pharmacology & Therapeutics, 32(5), 554–561.
7 Muhiddin K.A., Turner P., Hellestrand K và cộng sự (1985) Evaluation of the efficacy of flecainide
acetate in the treatment of ventricular premature contractions Postgrad Med J, 61(716), 489–496.
8 Vanhaleweyk G., Balakumaran K., Lubsen J và cộng sự (1984) Flecainide: one-year efficacy in
patients with chronic ventricular arrhythmias Eur Heart J, 5(10), 814–823.
Trang 37Đặc điểm lâm sàng, tổn thương động mạch vành
và kết quả can thiệp sớm ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hội chứng vành cấp
Nguyễn Công Thành*, Phạm Mạnh Hùng**
Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Đông Đô*
Bộ môn Tim mạch – Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Tim mạch Việt Nam**
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc lâm sàng, tổn
thương động mạch vành và kết quả can thiệp sớm ở
bệnh nhân (BN) hội chứng vành cấp (HCVC) mắc
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Phương
pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng có nhóm chứng,
nghiên cứu trên 104 BN HCVC: 53 BN nhóm bệnh,
51 BN nhóm chứng HCVC không mắc BPTNMT,
từ T1/2018 đến T5/2019 Kết quả cho thấy nhóm
bệnh có triệu chứng lâm sàng đau ngực không điển
hình, khó thở nhiều hơn, có sự khác biệt giữa 2
nhóm có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ tổn thương nhiều
mạch vành hơn(n=49/53 BN, chiếm79,2 %, so với
n=36/51 chiếm 70.6% p <0,05), tổn thương lỗ vào
nhiều hơn (n=19/53 BN, chiếm 38.9%, p = 0,036),
tổn thương chỗ chia đôi nhiều hơn (n=10/53 BN,
chiếm 18,9%, p=0,001), tổn thương phức tạp hơn,
mức độ vôi hóa nhiều hơn, tuy nhiên không có sự
khác biệt giữa 2 nhóm về huyết khối và biến chứng
sớm sau can thiệp giữa 2 nhóm Kết luận: Khi so
sánh với nhóm HCVC không mắc BPTNMT thì
nhóm HCVC mắc BPTNMT có triệu chứng đau
ngực không điển hình nhiều hơn, khó thở nhiều
hơn, tổn thương động mạch vành phức tạp hơn,
tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê về kết quả can thiệp sớm giữa 2 nhóm
Từ khóa: HCVC, BPTNMT, tổn thương động
mạch vành
ĐẶT VẤN ĐỀBệnh lý tim mạch và bệnh phổi mạn tính là hai trong ba nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới Bệnh lý tim mạch là bệnh đi kèm rất phổ biến ở BN mắc BPTNMT, chiếm khoảng 30% tổng số BN tử vong trong nhóm bệnh này[1] Các nghiên cứu với một loạt thiết lập nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng tỷ lệ tử vong sau nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân BPTNMT cao hơn so với nhóm bệnh nhân không mắc BPTNMT Trong một nghiên cứu tại Anh dựa trên dữ liệu của 1,2 triệu bệnh nhân trên 35 tuổi có 30.000 bệnh nhân mắc BPTNMT cũng chỉ ra rằng tỉ lê mắc bệnh lý động mạch vành cao gấp 5 lần so với nhóm không mắc BPTNMT Các triệu chứng của BPTNMT ưu thế hơn so với triệu chứng của nhồi máu cơ tim,
có thể làm chậm lại quá trình chẩn đoán, dẫn tới kéo dài thời gian tái tưới máu hơn ở BN nhồi máu
cơ tim so với BN không mắc BPTNMT Với mong muốn đạt được tối ưu hóa trong can thiệp mạch vành và điều trị nội khoa, tiên lượng BN cũng như tìm hiểu kết quả can thiệp động mạch vành cho BN HCVC có BPTNMT, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với hai mục tiêu:
1 Miêu tả đặc điểm lâm sàng, tổn thương động mạch vành ở BN BPTNMT có HCVC
2 Đánh giá kết quả sớm can thiệp đông mạch vành qua da ở BN HCVC có BPTNMT.
Trang 38ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 104 BN điều trị
tại Viện Tim mạch Việt Nam từ T1/2018–T5/2019
Nhóm nghiên cứu: 53 BN HCVC có BPTNMT.
Nhóm chứng: 51 BN HCVC không mắc
BPTNMT, cùng tuổi, cùng giới và có ngày chụp
ĐMV gần nhất so với nhóm nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn: BN HCVC có tiền sử
BPTNMT được đo CNHH
Tiêu chuẩn loại trừ: BN không được đo chức
năng hô hấp, BN đang mắc các bệnh cấp tính, EF <
30%, suy kiệt, BN từ chối tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu và cách chọn mẫu và
cỡ mẫu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp lâm
sàng có nhóm chứng
Cách chọn mẫu và cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận
tiện, có chẩn đoán HCVC, có tiền sử mắc BPTNMT,
cỡ mẫu: Toàn bộ, chọn tất cả bệnh nhân có chẩn đoán HCVC có tiền sử BPTNMT, có thể đo được chức năng hô hấp
Xử lý thống kê số liệu nghiên cứu
Bằng phương pháp thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm STATA 14.0, sử dụng test thống kê Khi bình phương/Fisher test, T-test, Mann Whitney test, tương quan OR, giá trị p ≤ 0.05 được coi là có ý nghĩa thống kê
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dưới sự cho phép của Ban lãnh đạo Viện Tim mạch Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai Thông tin BN được mã hóa, giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 39Nhận xét: Trong đối tượng nghiên cứu của
chúng tôi nam giới chiếm chủ yếu, chiếm 96.2%
Các yếu tố nguy cơ của 2 nhóm (THA – ĐTĐ –
RLLP – Gout – mãn kinh…) không có sự khác
biệt giữa 2 nhóm Nhóm nghiên cứu của chúng
tôi có tỉ lệ hút thuốc lá 92.5%, mức độ hút thuốc lá (26.3±12.4 bao năm) cao hơn nhiều so với nhóm chứng (tỉ lệ hút thuốc lá: 70,6% và 12.7±10.6 bao năm), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
Lâm sàng và tổn thương động mạch vành
Bảng 2 Phân loại và đặc điểm lâm sàng ở nhóm nghiên cứu
HCVC/BPTNMT(+) (n=53)
HCVC/BPTNMT(-)
Chẩn đoán, n (%)
0,510
Nhồi máu cơ tim ST chênh 24 (45,3) 19 (37,2)
Nhồi máu cơ tim không ST chênh 19 (35,8) 24 (47,1)
Triệu chứng lâm sàng thường gặp ở nhóm bệnh
là tình trạng đau ngực không đặc hiệu (Atypical)
chiếm 64.1%, khó thở chiếm 58.5%, lần lượt so với
nhóm chứng là 35.3%, và 25.5%, sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê
Triệu chứng khó thở ở nhóm nghiên cứu mắc BPTNMT là 58,5%, nhiều hơn so với nhóm không mắc BPTNMT là 25,5%, p=0,05
Nhịp tim ở nhóm nghiên cứu mắc BPTNMT nhanh hơn so với nhóm không mắc BPTNMT, lần lượt là 82±19 so với 71±14, p< 0,05
Mức độ hút (bao-năm) 26,3±12,4 12,7±10,6 <0,001
Trang 40Bảng 3 Đặc điểm tổn thương động mạch vành
HCVC/BPTNMT(+) (n=53)
thương phức tạp hơn so với nhóm chứng (bao
gồm: Tổn thương LM ≥ 50% ở nhóm nghiên cứu
mắc BPTNMT là 24,5% so với 5,9% ở nhóm
không mắc BPTNMT, p=0,024 Tổn thương lỗ vào
ở nhóm HCVC/BPTNMT(+) là 38,9%, nhóm
HCVC/BPTNMT(-) là 17,7%, p=0,036 Mức độ
vôi hóa có ý nghĩa (vừa – nặng) ở nhóm nghiên cứu
mắc/không măc BPTNMT là 35,8% so với 5,9%, p<0,05 Tổn thương chỗ chia đôi ở nhóm HCVC/BPTNMT (+) và HCVC/BPTNMT (-) là: 18,9%
so với 3,9% Tổn thương type C ở nhóm nghiên cứu mắc/không mắc BPTNMT là 52,8% so với 28,5%, p<0.05 Tổn thương CTO ở nhóm nghiên cứu mắc/không mắc BPTNMT là 15,1% so với 2%, p=0.003 Tuy nhiên sự không có sự khác biệt
về sự xuất hiện của huyết khối giữa 2 nhóm với tỉ lệ
là 17% so với 5,9%, p> 0,05
Kết quả sớm can thiệp động mạch vành qua da
Bảng 4 Kết quả sớm can thiệp động mạch vành qua da
HCVC/BPTNMT(+) n(%)