1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa bến tre

136 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 8,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đây ta thấy rằng, văn hóa là những giá trị tự thân trong các sản phẩm dulịch, là chất lượng của hoạt động du lịch qua các tuyến điểm, các loại hình dịch vụ,mọi hoạt động liên quan đế

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

TRẦN QUỐC THÁI

NGHIấN CỨU PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HểA BẾN TRE

luận văn thạc sĩ du lịch

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

TRẦN QUỐC THÁI

NGHIấN CỨU PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HểA BẾN TRE

Trang 3

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… 4

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn 8

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 KHÁI NIỆM 9

1.1.1 Du lịch 9

1.1.2 Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch 13

1.1.3 Tài nguyên du lịch 15

1.1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn 16

1.2 DU LỊCH VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 17

1.2.1 Vai trò của du lịch văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội 17

1.2.2 Các loại hình du lịch văn hóa ……… 19

1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa ……… 20

Tiểu kết chương 1 ……… 26

Chương 2 : KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG KINH DOANH DU LỊCH VĂN HÓA Ở BẾN TRE 2.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH Ở BẾN TRE ……… 27

2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên ……… 27

2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn ……… 30

2.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ……… 45

2.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lao động phục vụ du lịch ……… 46 2.2 KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG KINH DOANH DU LỊCH VĂN HÓA

Trang 4

2.2.1 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên ……… 46

2.2.2 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ……… 47

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN Ở BẾN TRE ……… 48

2.3.1 Đánh giá tổng hợp các điểm du lịch văn hóa ……… 48

2.3.2 Đánh giá tổng hợp các cụm du lịch văn hóa ……… 50

2.3.3 Đánh giá tổng hợp các tuyến du lịch văn hóa ……… 50

Tiểu kết chương 2 ……… 52

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở BẾN TRE 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ……… 53

3.1.1 Định hướng chung ……… 53

3.1.2 Định hướng sản phẩm du lịch văn hóa Bến Tre ……… 53

3.1.3 Định hướng thị trường khách du lịch văn hóa Bến Tre ……… 54

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN DU LỊCH VĂN HÓA Ở BẾN TRE TRÊN CƠ SỞ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN ……… 55

3.2.1 Định hướng phát triển theo điểm du lịch văn hóa ……… 55

3.2.2 Định hướng phát triển theo cụm du lịch văn hóa ……… 56

3.2.3 Định hướng phát triển theo tuyến du lịch văn hóa kết hợp sinh thái … 58

3.3 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ……… 60

3.3.1 Giải pháp bảo tồn, khai thác và phát huy tài nguyên du lịch nhân văn … 60 3.3.2 Giải pháp về hoàn thiện công tác tổ chức quản lý ……… 63

3.3.3 Giải pháp về môi trường ……… 64

3.3.4 Giải pháp về liên kết và hỗ trợ phát triển du lịch văn hóa … ………… 65

Tiểu kết chương 3 ……… 67

KẾT LUẬN ……… 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 71

PHỤ LỤC ……… 78

Trang 5

1. Bảng biểu ……… 78

2. Phụ lục 2: Thiết kế một số tuyến du lịch văn hóa ……… 97

3. Phụ lục 3: Hình ảnh ……… 103

4. Phụ lục 4: Bản đồ ……… 109

Trang 6

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa Việt Nam đang từng bước hòa nhập vào kinh

tế thế giới Song, từ năm 2008 nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn khủng hoảng, tăng trưởng toàn cầu thấp so với dự báo , tác động tiêu cực đến sự hội nhập sâurộng và có độ mở lớn như nền kinh tế Việt Nam Trước thử thách to lớn đó, đườnglối kinh tế Việt Nam phải điều chỉnh cho phù hợp để ổn định và tiếp tục phát triển.Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2012 tăng 4,8%, ước cả năm tăng5,3% Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng tăng 3,7%, ước cả năm đạtkhoảng 3,9% Khu vực dịch vụ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung củanền kinh tế Trong đó, doanh thu du lịch ước cả năm tăng trên 15%, số khách dulịch quốc tế đến Việt Nam tăng trên 8% [59: tr.2]

Như vậy, so với các chỉ tiêu tăng trưởng khác, dù trong bối cảnh kinh tế khókhăn hoạt động du lịch vẫn đảm bảo được mức độ tăng trưởng thấy rõ Du lịch làmột hoạt động xã hội, vừa mang tính xã hội vừa là một chuyên ngành có vị trí kháđặc biệt trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của đất nước Dù chỉ là một ngànhcòn non trẻ so với khu vực và thế giới, du lịch nước ta đã bước đầu khẳng định làngành “công nghiệp không khói” và có khả năng “xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tạichỗ” mang lại hiệu quả về kinh tế

Du lịch là hoạt động đi đây, đi đó của con người để nghỉ ngơi, giải trí vàđồng thời cũng sử dụng những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của conngười nhằm phát triển, hoàn thiện bản thân hơn Đó là những nhu cầu về nghỉ ngơi,giải trí, giao lưu, thẩm mỹ, nhận thức và nhu cầu sáng tạo… hay nói cách khác lànâng cao vốn văn hóa cho mình Suy cho cùng, du lịch là hoạt động chủ yếu để thỏamãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của con người Thông qua các chương trình dulịch văn hóa có chất lượng, con người mới có thể thỏa mãn các nhu cầu đó

Qua đây ta thấy rằng, văn hóa là những giá trị tự thân trong các sản phẩm dulịch, là chất lượng của hoạt động du lịch (qua các tuyến điểm, các loại hình dịch vụ,mọi hoạt động liên quan đến yếu tố con người trong du lịch) và ngược lại, du lịch là

Trang 7

động lực quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa của địa phương, của đấtnước và của cả dân tộc.

Hoạt động du lịch muốn tồn tại và phát triển nhất thiết phải nghiên cứu, khaithác các yếu tố văn hóa nhằm tạo nên tính độc đáo, hấp dẫn cho sản phẩm du lịch.Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, du lịch Việt Namngày càng được thế giới biết đến Du khách có xu hướng đi thăm các di tích khảo

cổ và các di tích lịch sử, văn hóa ngày càng đông

Từ việc đáp ứng nhu cầu du khách những biện pháp để thúc đẩy sự phát triểncủa du lịch Việt Nam đang được đặt ra vừa cấp thiết, vừa lâu dài Theo Quyết định

phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Thủ tướng Chính phủ số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm

2011, đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn; thông qua hoạt động du lịchgiới thiệu những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống, bản sắc dân tộc, sự đa dạng

và phong phú về tài nguyên du lịch của đất nước đến với du khách

Trong tình hình chung của du lịch Việt Nam, Bến Tre có những giá trị vănhóa - lịch sử đáp ứng được nhu cầu cho du khách đến tham quan, giao lưu văn hóa

và nghiên cứu học tập Doanh thu du lịch năm 2011 ước 300 tỷ đồng, tăng 22,5% socùng kỳ Tổng khách du lịch ước tính 610.000 lượt khách, tăng 12,9% so năm

2010, trong đó khách quốc tế 261.000 lượt, tăng 12,9% so năm 2010 [66: tr.6] Đếnnăm 2012, doanh thu đạt 368 tỷ đồng, tăng 22,6% so cùng kỳ Tổng khách du lịchđạt 693.000 lượt, tăng 13,6% so với năm 2011, trong đó khách quốc tế đạt 300.500lượt, tăng 15,1% so với năm 2011 [35]

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, du lịch Bến Tre tuy có phát triểnnhưng còn hạn chế và chưa thật sự tương xứng với tiềm năng vốn có của mình.Những sản phẩm du lịch ở Bến Tre trong hơn một thập kỷ qua chưa có sự thay đổiđột phá cả về hình thức lẫn nội dung Trong khi đó, địa phương đặt ra cho ngành dulịch Bến Tre một trách nhiệm to lớn là làm thế nào để du lịch thật sự trở thành thếmạnh và là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bến Tre; làm thế nào để du lịch Bến

Trang 8

lịch, vừa đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội địa phương, vừa bảo tồn và pháthuy được bản sắc văn hóa dân tộc.

Do vậy, người viết đã chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa Bến Tre” để làm luận văn tốt nghiệp Bằng sự nỗ lực học tập, nghiên cứu cùng với

sự trải nghiệm thực tế trong hoạt động du lịch, hy vọng đề tài sẽ mang lại một ýnghĩa thiết thực về mặt khoa học và thực tiễn

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Bến Tre là một vùng đất được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt”, là “Xứdừa”, là “Quê hương đồng khởi”, một địa danh quen thuộc đối với cả nước, đãtừng được nhắc đến qua các sách báo trong và ngoài nước, như:

- Trong quyển Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan – Một sứ thần nhà

Nguyên sang đi sứ ở Chân Lạp có đề cập đến vùng đất Bến Tre

- Vào thời thuộc Pháp có công trình nghiên cứu Bến Tre bằng tiếng Pháp là

Monographie de la province the Ben Tre của L.Me1nard, xuất bản năm 1903.

- Quyển Kiến Hòa xưa và nay của tác giả Huỳnh Minh, xuất bản năm 1970

được xem là quyển sách viết khá rõ về Bến Tre lúc bấy giờ

Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu, tác phẩm nói trên đã xuất bản khá lâu nên khánhiều thông tin đã trở nên lạc hậu Sau ngày đất nước thống nhất, vùng đất Bến Tre

và con người cũng thay đổi theo sự phát triển không ngừng của đất nước Đã cómột số tác phẩm viết về Bến Tre như:

- Bến Tre đất và người (Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Bến Tre, năm 1985)

- Bến Tre mười năm xây dựng (Sở Văn hóa Thông, năm 1995)

- Địa chí Bến Tre – Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy Bến Tre, năm 2001.

Và một số bài viết ngắn trên các báo, tạp chí hoặc sách giới thiệu về du lịch(Non nước Việt Nam, Vietnam Tourist Guidebook -Tổng cục Du lịch) …

Gần đây, có một nghiên cứu khá chi tiết về Bến Tre mang tên: “Tiềm năng

và định hướng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre”, luận văn Thạc sỹ địa lý học của tác

giả Trần Thị Thạy - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (Tháng 7/2011) Qua đề tàinày, tác giả đã đứng ở góc độ của ngành địa lý học nghiên cứu tiềm năng tài nguyên

Trang 9

du lịch chung của Bến Tre Tác giả chưa đi sâu nghiên cứu hiện trạng của du lịchvăn hóa và chưa đưa ra các giải pháp cụ thể phát triển du lịch văn hóa Bến Tredưới góc độ của ngành du lịch.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tài nguyên

du lịch nhân văn, du lịch văn hóa của tỉnh Bến Tre

Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu của luận văn được giới hạn ởtỉnh Bến Tre

Thời gian nghiên cứu: Các số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng khai tháctài nguyên du lịch nhân văn ở Bến Tre tập trung vào 5 năm gần đây, từ năm 2009đến năm 2013 Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các số liệu sơ cấp được thu thập từviệc điều tra thực địa trong thời gian 5 tháng, từ tháng 6/2013 đến tháng 10/2013 tạiBến Tre

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử làm cơ sở nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng một số phương pháp trong quátrình nghiên cứu chung, như:

-Tiếp cận thực tế: khảo sát thực địa trên địa bàn tỉnh Bến Tre; thu thập thôngtin, tài liệu và chụp ảnh minh họa

-Điều tra xã hội học: lập và phát phiếu điều tra, phỏng vấn, thu thập thông tin và xử lý thông tin để đưa ra nhận xét

-Phân tích tổng hợp: trên cơ sở những tài liệu đã có, tiến hành lựa chọn, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp có hệ thống theo đúng mục đích của luận văn

-Thống kê: thu thập các số liệu cần thiết, phân tích, tổng hợp đưa vào bàiviết

- Bản đồ: dùng các loại bản đồ cần thiết để minh họa, đối chiếu giúp bài viết

rõ ràng hơn

Trang 10

5. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học:

-Vận dụng kiến thức về văn hóa, du lịch vào nội dung cụ thể của đề tài

-Xác định, đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn trongkinh doanh du lịch tại Bến Tre

-Xác định những thế mạnh về tài nguyên nhân văn và các sản phẩm du lịch của địa phương

Về mặt thực tiễn:

-Bổ sung thêm nguồn tư liệu đáng tin cậy về du lịch văn hóa của tỉnh nhà

-Cung cấp một phần lý thuyết cho việc giảng dạy về văn hóa, du lịch văn hóa cho các chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho tỉnh nhà

-Sử dụng kết quả đánh giá trên làm cơ sở định hướng cho ngành đưa ra kếhoạch hành động, giải pháp phát triển du lịch văn hóa của Bến Tre từ nay đến năm2020

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Khai thác tài nguyên trong kinh doanh du lịch văn hóa ở Bến Tre.Chương 3: Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở Bến Tre

Trang 11

cơ và chúng ta đang chinh phục bầu trời bằng máy bay và từng bước khám phá vũtrụ bao la bằng phi thuyền.

Khi các nhu cầu cơ bản đã được thỏa mãn thì việc được giao lưu, tìm hiểu,khám phá, thưởng thức những điều chưa biết, hoặc chỉ biết một phần … trở thànhnhu cầu tất yếu của đời sống con người Việc suy nghĩ, hành động để thực hiệnđược những “giấc mơ” như trên đòi hỏi phải có điều kiện thời gian, sức khỏe, vàđiều kiện vật chất nhất định Quá trình đó được gọi chung bằng từ “Du lịch”

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Hộiđồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council - WTTC) đãcông bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất

ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp [14: tr.5] Du lịch giúp mang lại lợi ích kinh tế rấtlớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở một số nước du lịch là mộtngành kinh tế mũi nhọn, đặc thù là nguồn thu ngoại tệ chính cho nước nhà

Trang 12

Như vậy, du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trìnhphát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày thêm phong phú[14: tr.5] Xuất phát từ thực tế như thế, việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, đầy

đủ nội dung cũng như hình thức về du lịch không phải là một việc đơn giản Ởnhững góc độ tiếp cận khác nhau, với những đối tượng nghiên cứu khác nhau mà cónhững định nghĩa không giống nhau về du lịch

- Người đi du lịch cho rằng: du lịch là những chuyến đi khám phá, thưởng thức những điều mới lạ mà ở nơi mình cư trú không có

- Người làm du lịch (kinh doanh dịch vụ du lịch) cho rằng: du lịch là hoạtđộng được tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, thưởng thức nhữngsản phẩm dịch vụ cho người đi du lịch Đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thầncho du khách và mang lại lợi ích kinh tế cho mình

- Đối với các nhà quản lý: du lịch là cơ hội để bán các sản phẩm địa phương,tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp,đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dânđịa phương [14: tr.9]

- Đối với người dân địa phương: du lịch mang lại cho họ cơ hội việc làm,tăng thu nhập, học hỏi được những cái hay, cái mới của người khác, của khách dulịch Du lịch là cơ hội để người dân phát huy truyền thống văn hóa địa phương,khôi phục các làng nghề thủ công, nét văn hóa bản địa để phục vụ du khách

Ở góc độ ngôn ngữ, thuật ngữ “du lịch” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau phụ thuộc vào từng ngôn ngữ khác nhau

Một số học giả cho rằng thuật ngữ Du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ gốc tiếng Pháp le tourisme, bản thân từ le tourisme lại được bắt nguồn từ gốc

le tour có nghĩa là một cuộc hành trình đi đến nơi nào đó và quay trở lại Thuật ngữ đó sang tiếng Anh thành tourism, tiếng Nga – mypuzm … như vậy khái niệm du lịch ở các

nước như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Nga … có ý nghĩa đầu tiên là khởi hành, đi lại,

chinh phục không gian Một số tác giả khác cho rằng thuật ngữ du lịch

trong ngôn ngữ nhiều nước được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos” với nghĩa đi

Trang 13

một vòng Thuật ngữ này được Latin hóa thành “tornus” và sau đó thành “tourisme”(tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh), “mypuzm” (tiếng Nga) … [14: tr.10].

Do du lịch là một hoạt động liên tục, phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt độngkinh doanh khác nhau tạo nên Trong chuyến du lịch, du khách không những sửdụng các dịch vụ sản phẩm trực tiếp của các cơ sở kinh doanh du lịch cung cấp nhưkhách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí… mà còn sử dụng các sản phẩm củangành nghề phụ thuộc khác như dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ làm đẹp, bưuchính viễn thông, ngân hàng, giao thông công cộng tại điểm đến …

Hoạt động du lịch được xem là một hoạt động phức hợp, đa dạng mang tínhkinh tế cao, phát triển qua nhiều giai đoạn với những định nghĩa khác nhau Là mộtngành kinh tế còn mới mẻ với sự phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau trongtừng giai đoạn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo và tự nhiên

Phát triển ở từng giai đoạn, du lịch có định nghĩa khác nhau, phù hợp vớitính lịch sử, xã hội và kinh tế ở giai đoạn nhất định

Lần đầu tiên, du lịch được định nghĩa tại Anh năm 1811: “Du lịch là sự phốihợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giảitrí” Đến năm 1930, một người Thụy Sỹ - ông Glusman định nghĩa: “Du lịch là sựchinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ

cư trú thường xuyên” Giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf được coi lànhững người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa: du lịch làtập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưutrú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thườngxuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời [14: tr.13]

Từ những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam,Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã đưa ra định nghĩa du lịch như sau: “dulịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sảnxuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu

về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du

Trang 14

thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” Trong Pháp lệnh

Du lịch của Việt Nam, tại Điều 10, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: du lịch

là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏamãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định[14: tr.16]

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Đức Thanh cho rằng nên tách thuật ngữ du lịchthành hai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là: sự di chuyển và lưutrú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cưtrú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xungquanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, vănhóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng; Là một lĩnh vực kinh doanhcác dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển vàlưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi

cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xungquanh [36: tr.14]

Một trong những lý do để lý giải tại sao cho đến nay thuật ngữ “du lịch” vẫnchưa có một định nghĩa thống nhất là do những hoàn cảnh cụ thể của từng khu vực,đất nước Do mỗi nước có một trình độ phát triển du lịch khác nhau nên nhận thức

về nội dung du lịch cũng không như nhau [36: tr.16]

Tất cả những cách hiểu, những khái niệm, định nghĩa như trên về du lịch đềucho rằng du lịch là một hoạt động của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyêncủa mình trong một thời gian nhất định để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau chochính bản thân mình về vật chất, tinh thần, thể chất Du lịch cũng là việc cung cấpcác sản phẩm vật chất, phi vật chất đáp ứng nhu cầu trong hoạt động (du lịch) đó

Trang 15

1.1.2 Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch

Trong hoạt động du lịch, việc đáp ứng tốt các nhu cầu khác nhau của dukhách và đem lại các lợi ích kinh tế - xã hội tối đa phụ thuộc vào nhiều yếu tố tựnhiên, con người và môi trường xã hội

Để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, các loại hình sản phẩm phục vụphải ngày càng phong phú Từ nhu cầu đơn giản là tham quan, tìm hiểu, thưởngngoạn các cảnh quan tự nhiên ngoài nơi cư trú, thưởng thức những sản vật thôngthường đáp ứng nhu cầu sinh học của mình … nhu cầu đó dần được phát sinh, conngười có những nhu cầu cao hơn Họ “quan tâm” đến những ngôi nhà cũ kỹ màmình đã ở trong chuyến đi, “quan tâm” đến những ngôi chùa, ngôi đền trong khuvực mình đến và “quan tâm” đến những nét sinh hoạt lạ lẫm của dân địa phương,những lễ hội, những món quà lưu niệm không thể tìm thấy hay rất khác biệt ở địaphương mình

Trong nhiều lý do, có lý do trên, con người có nhu cầu khám phá những điềumới lạ tạo nên xu hướng du lịch mới: tìm hiểu những nét lạ, cái đẹp, điều khác biệt

do chính con người tạo ra Từ trong các công trình kiến trúc, những sản phẩm vậtchất, những nét riêng trong sinh hoạt đời sống hàng ngày được hình thành lâu đờitạo thành phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh … khácbiệt của địa phương hay được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn Hiểu theo thực tế,việc thực hiện các chuyến đi khám phá, thưởng thức tài nguyên nhân văn được gọi

là du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú, đa dạng, độcđáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Tài nguyên du lịch nhânvăn – các đối tượng văn hóa là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phongphú [36: tr.144] nhưng không phải bất cứ cái gì, những sản phẩm văn hóa nào cũng

có thể trở thành sản phẩm du lịch mà tất cả đều cần có sự gia công, chế biến bởi cácđiều kiện vật chất – kỹ thuật, bởi một tay nghề nhất định, đặc biệt là cần phải có sựsàn lọc, kiểm định thông qua đội ngũ chuyên môn với những tiêu chí cơ bản, những

Trang 16

Xét về mục đích, có thể phân chia du lịch văn hóa thành hai loại: du lịch vănhóa với mục đích cụ thể, khách du lịch thuộc thể loại này thường đi với mục đích

đã định sẵn, họ thường là các cán bộ khoa học, sinh viên và các chuyên gia; du lịchvăn hóa với mục đích tổng hợp, gồm đông đảo những người ham thích mở mangkiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình [14: tr.66]

Văn hóa du lịch là khoa học nghiên cứu, khai thác các giá trị văn hóa để pháttriển du lịch [25: tr.3] Sự lựa chọn các đối tượng tài nguyên nhân văn để nghiêncứu, khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch phục vụ du kháchnhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách về tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm, cảm thụcác sản phẩm văn hóa địa phương là việc làm không đơn giản

Sản phẩm du lịch là một loại hàng hóa, dịch vụ đa dạng mang tính văn hóacao thỏa mãn nhu cầu cho mọi đối tượng khách Để tạo ra một sản phẩm du lịchphục vụ du khách cần có sự hợp tác nghiên cứu, khai thác các giá trị văn hóa của địaphương (lễ hội truyền thống, loại hình nghệ thuật dân gian như hò, vè, thơ ca …hàng thủ công mỹ nghệ …) để tạo nên một chương trình du lịch, một điểm đến phùhợp thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách đồng thời tạo được lợi ích kinh tế - xãhội cho cộng đồng dân cư

Sản phẩm du lịch cũng là cách tổ chức, điều hành các chương trình du lịch(tour du lịch) theo cách riêng cho những đối tượng khách khác nhau trên cùng mộtđiểm, tuyến, điểm đến du lịch trong từng giai đoạn khác khau

Sản phẩm du lịch cũng là hình ảnh, cách cư xử, trình độ hiểu biết và lòngnhiệt huyết của người làm du lịch dành cho du khách trên chuyến tham quan Mộtcâu chào, một lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc, đúng đối tượng là một yếu tố quan trọngquyết định chất lượng của sản phẩm du lịch Chính phương cách đưa các sản phẩmmang nặng giá trị văn hóa đến với du khách là một biểu hiện cụ thể của văn hóa dulịch [25: tr.5]

Người làm du lịch là người trực tiếp biến các giá trị văn hóa địa phương trởthành sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng bản địa, chứa đựng hàm lượng trí tuệ

Trang 17

và văn hóa cao đáp ứng nhu cầu của du khách Đây là nội dung cốt lõi của văn hóa

Theo các quan điểm trên, tài nguyên du lịch là tất cả những cảnh quan tựnhiên, những giá trị văn hóa, lịch sử, những công trình kiến trúc, những thành tựukhoa học của con người, tất cả những gì do con người tạo ra … có thể phục vụ cholợi ích vật chất, đáp ứng nhu cầu về tinh thần, thể chất cho con người Như vậy, cáctác giả cho rằng tất cả những cảnh quan thiên hiên, sông ngòi, khí hậu, các hệ sinhthái môi trường, những công trình kiến trúc, các lễ hội, các phong tục tập quán, tínngưỡng tôn giáo, các loại hình nghệ thuật của con người đều là tài nguyên du lịch

Trên thực tế, không phải tất cả loại hình tài nguyên nào cũng là tài nguyên du

Trang 18

phục vụ du khách mới là tài nguyên du lịch đúng nghĩa Ví dụ điển hình là một cảnhquan bờ biển đẹp hoang sơ nhưng với sự xâm thực, xói mòn của sóng biển, biếnkhu vực đó thành một nơi không an toàn, du khách không thể tiếp cận thì đó khôngphải là tài nguyên du lịch; một lễ hội chỉ phục vụ trong không gian hẹp của địaphương, với mục đích “phục vụ nội bộ” mang tính tinh thần cho người dân địaphương và không quan tâm đến việc phục vụ cho du khách thì cũng không đượcgọi là tài nguyên du lịch.

Do vậy, theo tác giả, tài nguyên du lịch có thể được hiểu là tất cả những gìthuộc về tự nhiên và tất cả những gì do con người tạo ra có sức hấp dẫn, có thể bảo

vệ, khai thác, bảo tồn phục vụ cho lợi ích vật chất, tinh thần, thể chất cho conngười, cho xã hội và môi trường Tài nguyên du lịch được chia làm hai loại chính,tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

1.1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn

Bên cạnh tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là mộtphạm trù rộng lớn, sâu sắc Ngoài những thứ có thể nhìn thấy được, cảm nhận đượcqua trực giác như tài nguyên du lịch tự nhiên (vật thể), tài nguyên du lịch nhân văncòn được thể hiện, được cảm nhận qua những điều vô hình (phi vật thể), giúp chocon người cảm thụ qua tri giác, cảm xúc

Tài nguyên du lịch nhân văn là văn hóa vật thể tập hợp các di tích lịch sử vănhóa các cấp địa phương và quốc gia như: các di tích khảo cổ học, các di tích lịch

sử, các di tích kiến trúc nghệ thuật (chùa, đình, đền, nhà thờ), các di tích kiến trúc(kiến trúc thành lũy, các kinh đô cổ, các đô thị và nhà cổ, phố cổ) và các di tích kiếntrúc nghệ thuật khác như miếu, lăng tẩm, hội quán, tháp và tòa thánh, các công trìnhđương đại, các di sản văn hóa thế giới …

Tài nguyên du lịch nhân văn là giá trị văn hóa phi vật thể: Việt Nam là mộtquốc gia có tài nguyên du lịch nhân văn là văn hóa phi vật thể rất đa dạng, phongphú và đặc sắc, gồm các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóanghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian, văn hóa gắn với các tộcngười, tôn giáo [56: tr.247-248]

Trang 19

1.2 DU LỊCH VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1.2.1 Vai trò của du lịch văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội

Du lịch là một hoạt động xã hội, vừa mang tính xã hội vừa là một chuyênngành có vị trí khá đặc biệt trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của đất nước

Dù chỉ là một ngành còn non trẻ so với khu vực và thế giới, du lịch nước ta nóichung và du lịch văn hóa nói riêng đã bước đầu khẳng định là ngành “công nghiệpkhông khói” và có khả năng “xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tại chỗ” mang lại hiệuquả kinh tế

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, du lịchViệt Nam được thế giới biết đến Năm 2010, Việt Nam đón 5 triệu lượt khách quốc

tế, phục vụ trên 28 triệu lượt khách nội địa [43: tr.94] Con số này lên đến6.014.032 lượt khách quốc tế, tăng 19,1% so với năm 2010 [62] và 6.847.678 lượtkhách quốc tế trong năm 2012, tăng 13,86% so với năm 2011 [63]

Ngành du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo thu nhập quốc dân (GDP)

Du lịch đã đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, nguồn thu này đóng vai tròquan trọng trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Tính hiệu quả cao trongkinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ du lịch là một ngành “xuất khẩu tạichỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phụcchế, nông lâm sản … mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế [14:tr.48] Kinh doanh du lịch có vốn đầu tư thấp hơn so với đầu tư vào ngành côngnghiệp nặng, không đòi hỏi kỹ thuật cao, thời gian thu hồi vốn nhanh và vòng quaycủa vốn nhanh hơn nên tỷ suất lợi nhuận trên số vốn đầu tư cao hơn

Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế [14:tr.49] Khẳng định vai trò quan trọng của các tổ chức chính phủ và phi chính phủtrong việc tạo nên các mối quan hệ kinh tế khác thông qua du lịch

Tóm lại về mặt kinh tế, du lịch mang lại thu nhập cho người lao động nóiriêng, cho địa phương, cho đất nước nói chung Du lịch làm tác nhân thúc đẩy cácngành kinh tế khác phát triển do du lịch là một hoạt động tổng hợp, đòi hỏi có sự

Trang 20

chính, ngân hàng, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và các ngành dịch vụ kháchnhư vận chuyển, lưu trú, giải trí, y tế Phát triển du lịch đồng nghĩa với phát triểnkinh tế liên ngành của đất nước.

Về mặt xã hội, du lịch đóng vai trò tạo việc làm cho người lao động, giảiquyết một lượng lớn lao động cho xã hội Tổng số lao động trong các hoạt động liênquan đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây, du lịch tạo ramột việc làm mới [14: tr.51]

Phát triển du lịch quốc tế chủ động (Inbound tour – tác giả) hỗ trợ tích cựccho việc tuyên truyền quảng bá có hiệu quả cho một quốc gia, giúp cho thế giới biếtđến các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán của quốcgia đó Phát triển du lịch đánh thức các làng nghề thủ công truyền thống, tạo ra cácsản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc thù địa phương, mang tính dân tộc làm quà lưuniệm Khách du lịch văn hóa tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,văn hóa dân tộc ngày càng nhiều Do đó, việc tôn tạo và bảo dưỡng các di tích ngàycàng được quan tâm [14: tr.52] giúp giữ gìn, bảo vệ các giá trị văn hóa địa phương

Phát triển du lịch quốc tế thụ động (Outbound tour – tác giả) khuyến khíchngười dân đi du lịch nước ngoài sẽ được lợi ích về mặt xã hội Sau những chuyến

đi du lịch nghỉ dưỡng, sức khỏe được cải thiện, gia tăng sự hiểu biết về xã hội, thếgiới bên ngoài, giúp người dân rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân

Phát triển du lịch trong nước (Domestic tour – tác giả) làm gia tăng sự hiểubiết giữa các địa phương, vùng, miền và trên cả nước, thắc chặc tình đoàn kết, gắn

bó giữa các dân tộc

Du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đem lại lợi ích rất lớn cho nềnkinh tế và xã hội của đất nước, tuy nhiên nếu khai thác không đúng mực sẽ tạo nên

sự quá tải trong du lịch

Đối với du lịch Outbound, sự quá tải thể hiện ở việc mất cân đối cán cânthanh toán quốc tế khi du khách đi du lịch nước ngoài quá đông, lượng ngoại tệ

“chảy” ra nước ngoài quá nhiều Do đó các quốc gia đều có quy định hải quan,

Trang 21

khống chế ở một mức nhất định số lượng ngoại tệ của mỗi du khách được mang ranước ngoài trong một lần xuất cảnh.

Đối với du lịch Inbound và Domestic, phát triển quá mức sẽ tạo sự phụ thuộccủa nền kinh tế vào du lịch Ngành du lịch là ngành tạo ra dịch vụ là chủ yếu … nếu

tỉ trọng của ngành du lịch là lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốcgia thì nền kinh tế của nước đó có nhiều khả năng bấp bên hơn [14: tr.53] Tạo ra sựmất cân đối trong việc phân bổ lao động cho các ngành nghề khác, trong khi laođộng trong du lịch lại có tính thời vụ cao, điều này làm ảnh hưởng đến việc sử dụnglao động trong du lịch Việc quá tải trong du lịch còn được thể hiện ở những mặttiêu cực như môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, môi trường xã hội bị ảnh hưởng quacác tệ nạn xã hội, lai căn pha trộn trong văn hóa, mất đi bản sắc văn hóa của một địaphương, một dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống tinh thần của một bộ phận

xã hội

1.2.2 Các loại hình du lịch văn hóa

Hoạt động du lịch có thể phân chia làm nhiều loại hình khác nhau tùy thuộcvào tiêu chí, mục đích phân loại và cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu do đóhiện nay chưa có cách phân loại nào được xem là chuẩn nhất

Theo Pirojnik, du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tùyvào môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là

du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên [36: tr.63]

Du lịch văn hóa là loại hình du lịch khai thác tài nguyên nhân văn phục vụcho nhu cầu của du khách, trong khi du lịch thiên nhiên tập trung khai thác các giátrị tự nhiên đáp ứng nhu cầu khám phá, cảm thụ của khách du lịch

Theo PGS TS Trần Đức Thanh, các đối tượng văn hóa được coi là tàinguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn Nếu tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi

sự hoang sơ, độc đáo và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hútkhách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địaphương của nó Các đối tượng văn hóa – tài nguyên du lịch nhân văn – là cơ sở để

Trang 22

tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú Mặc khác, nhận thức văn hóa còn

là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách [36: tr.66]

Có thể phân thành các loại hình du lịch văn hóa như sau:

- Dựa vào các di sản văn hóa vật thể ta có loại hình du lịch văn hóa di sản: làloại hình du lịch tham quan và tìm hiểu, khám phá các di tích, các công trình kiến trúc…

- Dựa vào các giá trị văn hóa phi vật thể ta có loại hình du lịch văn hóa cảmxúc: sử dụng những nét văn hóa phi vật thể phục vụ du khách, với những tour dulịch lễ hội, du lịch về nguồn, du lịch làng nghề, du lịch tôn giáo, tâm linh … giúp dukhách tìm hiểu phong tục tập quán, lịch sử, lễ hội, tôn giáo, làng nghề…

- Ngoài ra, loại hình du lịch văn hóa kết hợp sinh thái tự nhiên cũng là sản phẩm du lịch quan trọng mà du khách đang quan tâm

1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa

Để du lịch phát triển nhất thiết phải có các nhân tố, điều kiện tác động trựctiếp hoặc gián tiếp Các điều kiện, nhân tố này có quan hệ tác động qua lại lẫn nhautạo nên một cơ hội cho du lịch hình thành và phát triển Có thể chia ra thành banhóm nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển du lịch nói chung

và du lịch văn hóa nói riêng của một vùng, một quốc gia hay cả một khu vực quốctế

Thứ nhất: đó là nhóm các điều kiện chung tác động đến du lịch, bao gồm Anninh chính trị và an toàn xã hội, điều kiện kinh tế, chính sách phát triển du lịch

Một điểm đến hay một quốc gia có nền chính trị ổn định, trật tự an toàn xãhội được đảm bảo là một điều kiện tốt cho phát triển du lịch Mặc dù có nhiều tàinguyên du lịch, các dịch vụ phục vụ tốt cho du khách nhưng bất ổn về chính trị, đedọa an toàn đối với du khách thì cũng không thể nào thu hút được khách du lịch đếnvới mình

Theo ý kiến các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội củaLiên Hiệp Quốc (ECOSOC): “một đất nước có thể phát tiển du lịch một cách vữngchắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du

Trang 23

lịch” [36: 91] Như vậy, khi nền kinh tế chung phát triển tạo điều kiện cho kinh tế

du lịch phát triển Nếu nền kinh tế đủ sức mạnh tạo ra các sản phẩm có chất lượngtốt phục vụ cho hoạt động du lịch từ việc cung cấp trang thiết bị cho phòng kháchsạn, các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa làm quà lưu niệm, các công trìnhvật chất kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng, phương tiện vận chuyển … thì sẽ thúcđẩy du lịch phát triển, mang lại lợi ích cho đất nước Trong trường hợp nền kinh tếkhông tự sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống người dân nói chung vàcho du khách nói riêng, mọi thứ đều phải nhập khẩu để phục vụ du lịch thì ngành dulịch phát triển khó khăn, lợi ích kinh tế sẽ rơi vào tay nước xuất khẩu hàng hóa

Chính sách phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với một quốc gia Mộtđất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dânkhông thấp nhưng nhưng chính quyền địa phương không hỗ trợ cho hoạt động dulịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được [36: tr.95]

Thứ hai: nhóm các điều kiện nảy sinh nhu cầu du lịch bao gồm thời gian rỗi,

mức sống vật chất và trình độ văn hóa của dân cư

Một trong những điều kiện quan trọng trong việc thực hiện nhu cầu đi du lịch

là phải có thời gian, ở đây được hiểu là thời gian rảnh rỗi của một người Thời gianrỗi là thời gian ngoài giờ làm việc, ngoài thời gian làm công việc gia đình hàngngày, ngoài thời gian nghỉ ngơi thụ động cho việc nằm, ngồi mà không làm gì cả …Ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển, con người được hưởng những lợi ích dokhoa học mang lại Con người lao động dựa vào máy móc thiết bị và kỹ thuật nênnăng suất và hiệu quả công việc cao hơn Con người có nhiều thời gian rảnh rỗihơn, sức khỏe tốt hơn do thời gian lao động ít hơn Mỗi tuần chỉ làm 40 giờ so vớitrước kia là 48 giờ

Bên cạnh đó, mức thu nhập của người dân là một điều kiện quan trọng trongviệc quyết định đi du lịch Khi đi du lịch ngoài nơi cư trú thường xuyên, ngoàinhững chi phí thông thường cho những nhu cầu hàng ngày khi không đi du lịch, họcòn phải trả các chi phí vận chuyển, lưu trú, vui chơi giải trí, tham quan và các chi

Trang 24

cao Những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, mộtmặt, có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịchtrong nước, và mặt khác, có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài [14: tr.79] Dù cónhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn nhưng với nền kinh tế yếu kém, thu nhập củangười dân không cao thì quốc gia đó khó có thể phát triển du lịch.

Việc phát triển du lịch cũng bị tác động bởi trình độ dân trí chung của mộtquốc gia Khi trình độ dân trí được nâng cao, việc đi du lịch cũng tăng cao Nhu cầu

đi du lịch tại các quốc gia phát triển là nhu cầu không thể thiếu đối với người dâncủa họ Đi du lịch cũng là một tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của một bộphận lớn dân cư Khi đi du lịch nhiều, hiểu biết nhiều thì càng kích thích lòng hamhọc hỏi những cái hay, cái lạ và dần dần trở thành trào lưu du lịch hay tạo nên thóiquen du lịch, làm nâng cao trình độ văn hóa của một bộ phận dân cư, một vùng haymột quốc gia Nếu trình độ văn hóa của nhân dân ở một nước cao, thì đất nước đókhi phát triển du lịch sẽ dễ bảo đảm phục vụ khách du lịch một cách văn minh vàlàm hài lòng khách đi du lịch đến đó [36: tr.102] Hoạt động du lịch có thể được giatăng thêm giá trị khi du khách và dân bản địa có nhìn nhận hiểu biết, có văn hóa.Những hành động, thái độ thiếu văn hóa là rào cản cho sự phát triển du lịch

Theo Robert W Meintosh thì giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình

và tỷ lệ đi du lịch của họ có mối quan hệ nhất định (Xem bảng 1.1 dưới đây)

TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CHỦ GIA ĐÌNH

Chưa có trình độ trung học

Có trình độ trung học

Có trình độ cao đẳng

Có trình độ đại học

(Bảng 1.1: Theo Robert W Meintosh 1995)

Thứ ba: nhóm các điều kiện đặc trưng

Trong phát triển du lịch, nếu như nhóm các điều kiện chung và các điều kiện nảy sinh nhu cầu du lịch là điều kiện cần thì nhóm các điều kiện đặc trưng là điều

Trang 25

kiện đủ cho sự phát triển du lịch của một vùng, một quốc gia Nó bao gồm điều kiện

về tài nguyên du lịch, sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch và các sự kiện đặc biệt

Tài nguyên du lịch đóng vai trò tối quan trọng trong sự phát triển du lịch.Một nền kinh tế, văn hóa – xã hội của một quốc gia có phát triển cao đến đâu, có ổnđịnh đến đâu đi nữa mà không có tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển dulịch tốt Tiềm năng kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên du lịch là hữuhạn, nhất là đối với tài nguyên thiên nhiên (tự nhiên – tác giả) – những cái mà thiênnhiên chỉ ban cho một số vùng và một số nước nhất định [14: tr.86] Tài nguyên dulịch được chia làm hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhânvăn

+ Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các đối tượng: vị trí địa lý, địa hình,khí hậu, nước, động thực vật … Du lịch có phát triển mạnh hay không phụ thuộcvào khoảng cách địa lý Một địa phương nhận khách có du lịch phát triển phải nằmtrong khoảng cách hợp lý đối với nguồn gửi khách Nếu khoảng cách quá xa, dukhách phải mất thêm thời gian và tiền bạc, thậm chí không đủ thời gian tham quangiải trí tại điểm đến Nếu khoảng cách quá gần du khách sẽ không dùng hết thờigian rỗi của mình, du lịch sẽ bị nhàm chán Một ví dụ cụ thể trong quy hoạch dulịch: du lịch thành phố Phan Thiết phát triển tốt khi nhận khách từ thành phố Hồ ChíMinh, do khoảng cách 200km là hợp lý cho tour du lịch cuối tuần Đối với PhanRang, khó tiếp nhận khách từ thành phố Hồ Chí Minh vì khoảng cách 350km,không hợp lý cho chuyến du lịch hai ngày cuối tuần Nếu có thời gian ba ngày,thành phố Nha Trang sẽ là điểm đến hấp dẫn hơn thành phố Phan Rang Đối vớithành phố Vũng Tàu, do khoảng cách gần đối với thành phố Hồ Chí Minh, chỉ120km nên chỉ thích hợp cho những chuyến đi trong một ngày, đối với nhữngchuyến du lịch hai ngày thì Vũng tàu là lựa chọn thứ hai của du khách, sau PhanThiết

Địa hình của một địa phương mang tính quyết định cho sự lựa chọn du lịchcủa du khách Du khách luôn thích đến những nơi có địa hình đa dạng, có sông suối,

Trang 26

ao hồ, có núi rừng và bãi biển Một loại địa hình có phong cảnh đơn điệu không thểthu hút du khách.

Mỗi một loại địa hình phải có một điều kiện khí hậu khác nhau Địa hìnhmiền biển phải có khí hậu nóng, nước biển ấm, ít mưa, giờ nắng trong ngày cao, cógió để phục vụ nhu cầu tắm biển, vui chơi giải trí, thưởng thức hương vị biển …Địa hình vùng đồi núi phải có khí hậu ôn hòa, thích hợp cho sự phát triển của thảmxanh thực vật, đa dạng sinh học, thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng, khám phá thiênnhiên hoang dã

Động và thực vật có vai trò quan trọng trong du lịch sinh thái gắn với vănhóa Du lịch phát triển cần có những khu bảo tồn thiên nhiên, những khu dự trữ sinhquyển phục vụ cho du khách có nhu cầu nghỉ dưỡng trong môi trường tự nhiên,nhu cầu tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu khoa học về động vật, thực vật cũng nhưvăn hóa sinh thái trong khu vực

Tài nguyên nước đóng vai trò chủ đạo trong phát triển du lịch Nước có thể

từ các ao hồ, sông suối, biển có tác dụng điều hòa không khí, phục vụ phát triểnmạng lưới giao thông, phục vụ một số loại hình du lịch đặc trưng Tài nguyên nướcngầm, đặc biệt là nước khoáng là tài nguyên không thể thiếu trong phát triển loạihình du lịch chữa bệnh: tắm bùn, tắm khoáng … các loại nước khoáng là nguồncung cấp dinh dưỡng, hỗ trợ sức khỏe cho du khách

+ Tài nguyên du lịch nhân văn: là tập hợp các giá trị văn hóa, lịch sử, cácthành tựu kinh tế - chính trị của một địa phương, một vùng hay một quốc gia.Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mụcđích khác nhau của chuyến du lịch [14: tr.89]

Các giá trị văn hóa phục vụ cho nhu cầu tham quan nghiên cứu của số đôngkhách du lịch Các khu vực, thành phố có giá trị văn hóa hay tổ chức các hoạt độngvăn hóa điều có khả năng phát triển thành những điểm đến du lịch văn hóa

Những tài nguyên có giá trị lịch sử thu hút đối tượng khách có trình độ cao,hiểu biết sâu về lịch sử dân tộc Hầu hết tất cả các nước đều có các tài nguyên có giá

Trang 27

trị lịch sử, nhưng ở mỗi nước, các tài nguyên du lịch nhân văn ấy có sức hấp dẫnkhác nhau đối với khách du lịch [36: tr.108].

Những thành tựu về kinh tế, chính trị cũng là một tiêu chí hấp dẫn khách dulịch thông qua những cuộc triển lãm, hội chợ giới thiệu đến du khách Ở đây, dukhách có thể thấy được sự phát triển của nền kinh tế nước chủ nhà và có sự so sánh

về những thành tựu đạt được của nền kinh tế, chính trị của đất nước mình Nhiềuthành phố đã thu hút một lượng lớn khách du lịch đến với mình thông qua các cuộctriển lãm và trở thành trung tâm của các hoạt động triển lãm, hội chợ

Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch thể hiện ở ba nhóm điều kiện chính: cácđiều kiện về tổ chức, về kỹ thuật và điều kiện về kinh tế [36: tr.110] có tác động lớnđến việc đón tiếp và phục vụ khách du lịch

Về tổ chức: các cơ quan, ban, ngành do nhà nước lập ra nhằm chỉ đạo, giámsát, hỗ trợ du lịch Đó là các bộ, ủy ban, tổng cục, sở, ban thanh tra, thư ký … hoạtđộng thống nhất trong hệ thống luật, các văn bản dưới luật du lịch Các tổ chức, cánhân kinh doanh du lịch là người trực tiếp phục vụ hoạt động du lịch, từ quảng bá,quảng cáo, tiếp khách, thực hiện đáp ứng các nhu cầu: ăn, ở, đi lại, tham quan, giảitrí, mua sắm và các nhu cầu khác phát sinh trong quá trình du lịch

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật đáp ứng nhu cầu thường ngày của dukhách như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển, khu vui chơi giải trí, cácloại hàng hóa và dịch vụ khác phục vụ cho hoạt động du lịch Cơ sở hạ tầng của xãhội như: hệ thống đường bộ, đường sắt, sân bay, bến cảng, công viên … có ý nghĩaquan trọng trong việc tạo ra chất lượng phục vụ của du lịch góp phần và công cuộcphát triển du lịch của một vùng, một quốc gia

Các điều kiện về kinh tế thể hiện trong việc cung cấp các loại sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ phục vụ du lịch Các loại sản phẩm này phải đầy đủ, thườngxuyên với chất lượng tốt và giá cả phù hợp để các tổ chức, cá nhân kinh doanh dulịch đủ sức cạnh tranh trên thị trường

Các sự kiện đặc biệt tạo đà phát triển du lịch là các sự kiện thể thao, hội

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Con người có nhu cầu ngày càng cao, khi được đáp ứng những nhu cầu cơbản nhất thì họ có những mong muốn cao hơn Hoạt động du lịch là một nhu cầuthực tế và phổ biến trong xã hội hiện đại, đó là hoạt động di chuyển, tham quan,nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và sử dụng các dịch vụ khác tại điểm đến

Du lịch có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần tạo việc làm, tăngthu nhập cho xã hội Tuy nhiên, du lịch cũng phụ thuộc vào các ngành sản xuất khác

vì không trực tiếp tạo ra hàng hóa hay sản phẩm tiêu dùng Mặt khác, du lịch cũnggây tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và xã hội nếu không được khai tháchợp lý, gây tình trạng quá tải

Phát triển ở những giai đoạn khác nhau mà thuật ngữ du lịch cũng được hiểumột cách không giống nhau, nhưng tất cả các khái niệm về thuật ngữ du lịch đều điđến kết luận: du lịch là hoạt động di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trúthường xuyên của mình để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau về vật chất, tinhthần và thể chất

Trong hoạt động du lịch, việc cảm thụ các giá trị văn hóa, phong tục tậpquán, tôn giáo, tín ngưỡng hay tính khác biệt của những địa phương khác nhau làhoạt động du lịch văn hóa Việc thưởng thức các giá trị văn hóa đó như thế nào,cách biến các giá trị văn hóa đó thành sản phẩm phục vụ cho hoạt động du lịch đó rasao được xem là văn hóa du lịch

Hoạt động du lịch văn hóa nhất thiết phải được nhiều yếu tố cấu thành, mộttrong những yếu tố quan trọng đó là tài nguyên du lịch nhân văn Những đối tượngtài nguyên nào có thể khai thác, sử dụng phục vụ cho du lịch thì mới gọi là tàinguyên du lịch Việc sử dụng đối tượng tài nguyên khác nhau với mục đích, động

cơ khác nhau mà tạo nên sảm phẩm du lịch, loại hình du lịch văn hóa khác nhau

Du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng phát triển theo từng giai đoạnkhác nhau, phụ thuộc vào các nhân tố tác động trực tiếp hay gián tiếp như: an ninhchính trị, an toàn xã hội, điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa, thời gian rỗi, chínhsách phát triển, sự sẵn sàng phục vụ và tài nguyên của điểm đến du lịch

Trang 29

Chương 2 KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG KINH DOANH DU LỊCH VĂN HÓA Ở BẾN TRE

2.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH Ở BẾN TRE

2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Là một trong 13 tỉnh thành của đồng sông Cửu Long, Bến Tre nằm ở vị trí từ

9o48‟ đến 10o20‟ vĩ độ bắc, 105o57‟ đến 106o48‟ kinh độ đông Với diện tích tựnhiên 2.315,01km2 và dân số đến năm 2012 là 1.254.589 người [22: tr.23]

+ Địa hình: địa hình Bến Tre bao gồm ba cù lao (đảo giữa các nhánh sông)

lớn được bồi đắp bởi quá trình lắng đọng và bồi tụ phù sa từ bốn nhánh của sôngCửu Long (sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) tronghàng ngàn năm qua kết hợp với quá trình lùi ra xa của biển

Đất Bến Tre phần lớn là đất cát, đất phù sa bồi tụ Mỗi một giai đoạn lùi củabiển, để lại địa hình là một giồng cát (cồn cát cao hơn địa hình bình thường), cứnhư thế qua hàng chục thế kỷ, từ giồng cát này đến giồng cát khác có cộ cao từ 0,5mét đến 5 mét so với mặt nước biển đan xen lẫn nhau tạo thành nhiều lớp tiến xa rabiển Giữa những giồng cát là ruộng vườn, ao hồ, sông, rạch (lạch) Theo thống kê,Bến Tre có gần 20 dãy giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài [22: tr.173]

+ Nước: dòng sông Mê Kông, bắt nguồn từ sông Tiền chảy qua đất Bến Tre

gồm bốn hệ thống sông chính và đổ ra biển Đông qua bốn cửa sông lớn là cửa Đại,cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên

Lượng nước ngọt được cung cấp dồi dào qua hệ thống sông rạch, đặc biệt làmùa mưa Tuy nhiên, về mùa khô Bến Tre gặp khó khăn trong việc cung cấp nướcngọt do bị ảnh hưởng của thủy triều biển Đông theo gió chướng (là gió có hướngđông bắc đến đông nam) mạnh đẩy sâu vào nội địa

Chế độ thủy triều đóng một phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt củangười dân địa phương cũng như trong phục vụ du lịch Bến Tre thuộc phạm vi khu

Trang 30

xuống Chênh lệch giữa đỉnh triều và chân triều trong những ngày triều lớn từ 2,5mđến 3,5m, trong những ngày triều kém là dưới hoặc xấp xỉ 1mét [22: tr.164-165].

Về nước ngầm: việc khai thác nước ngầm gặp nhiều khó khăn do tầng đấtbên trên bị nhiễm mặn, nhiễm phèn Khai thác nước ngầm phục vụ tưới tiêu, sinhhoạt hàng ngày và phục vụ du lịch nhất là vào mùa khô phải tốn chi phí cao do phảitìm mạch nước ngầm sâu qua các lớp trầm tích

+ Khí hậu: Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, bao gồm hai

mùa rõ rệt Mùa mưa ẩm ứng ứng với gió tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, vớilượng mưa trung bình năm từ 1250mm đến 1500mm [22: tr.154] Mùa khô hạn ứngvới gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm từ

26oC đến 27oC Bến Tre nằm tiếp giáp với biển Đông nhưng ít chịu ảnh hưởng củabão do nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xảy ra từ 15o vĩ bắc trở lên) [22: tr.154]

Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Bến Tre chỉ bị ảnh hưởng trực tiếp của 3 cơn bão lớn vàocác năm: bão năm (canh thìn) 1940, bão Linda năm 1997 và Chanchu năm 2006.Đây là lợi thế cho ngành du lịch của Bến Tre

+ Hệ thực vật: cách nay hơn 300 năm, khi vùng đất này còn là nơi hoang vu

với đầm lầy, vùng lau sậy, rừng rậm, thú dữ Những đợt di dân đến khai hoang lập ấpđịnh cư, rừng bị chặt phá để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sinh sống của con người Đếnnay, sau hơn ba thế kỷ, thảm thực vật ở đây bị thay đổi hoàn toàn, dấu vết còn lại củarừng nguyên sinh hầu như không còn Hiện thảm thực vật tại Bến Tre chỉ còn lại một

số quần thể tiêu biểu là: quần thể rừng ngập mặn trên các bãi bồi ven biển (rừng phònghộ) gồm các loài cây như mắm trắng, bần đắng, đước, sú, vẹt, bần

chua, chà là và các loài dây leo và thân thảo như trám, cóc kèn, ô rô, mái dầm …Tiêu biểu cho loại quần thể thực vật này là ở vùng ven biển thuộc các huyện BìnhĐại, Ba Tri, Thạnh Phú và nổi bậc là khu vực sân chim Vàm Hồ xã Tân Mỹ, huyện

Ba Tri

Loại quần thể thực vật trên các giồng cát: là nơi thích hợp cho các loài thân

gỗ như mù u, sao dầu, trôm, tra, phi lao …

Trang 31

Ven sông rạch có quần thể dừa, dừa nước, bình bát, dứa gai, mua, lau sậy …tập trung trên đoạn sông Ba Lai chảy qua các huyện Bình Đại và một phần huyệnChâu Thành.

Cuối cùng là vùng trũng nước ngọt khu vực huyện Chợ Lách, một phầnhuyện Mỏ cày, huyện Giồng Trôm, một phần huyện Ba Tri, thích hợp cho các loàicây ăn trái, lúa và hoa màu Tiêu biểu cho vùng trũng nước ngọt là khu vực đầmLạc Địa, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri

Sau hơn ba thế kỷ, từng là nơi hoang vu nhưng với bàn tay và khối óc củacon người cùng với sự thích nghi với môi trường, vùng đất Bến Tre ngày nay đãthay da đổi thịt với ruộng vườn trù phú, làng mạc, phố xá văn minh với những cánhđồng lúa, hoa màu bao la bát ngát, những vườn dừa xanh tươi, những vườn ươm câymơn mỡn, những vườn cây trái sum suê trĩu quả làm xao xuyến lòng người khi đặtchân đến nơi này

Bến tre nổi tiếng về cây dừa Biết bao vần thơ, ca dao, hò vè về loại cây đặtsản này của Bến Tre

“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre

Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Hay: “Bến Tre nước ngọt lắm dừa

Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn

Nghiêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày Xoài chua, cam ngọt Ba Lai

Bắp thì chợ Giữa, giồng khoai Mỹ Hòa Mắm, bần ven đất phù sa

Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm Quýt đường, vú sữa ngổn ngang, Dừa xanh Sóc Sãi, tơ vàng Ba Tri Xẻo Sâu cau tốt ai bì,

Lúa vàng Thạnh Phú, khoai mì Thạnh Phong Muối khô ở Gãnh mặn nồng Giồm Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng”.

Ca dao Bến Tre.

Trang 32

+ Hệ động vật: các loài thú lớn như: hổ, voi, tê giác, trâu rừng, heo rừng,

nai, khỉ, cáo, cá sấu … từng có mặt trên vùng đất này hiện nay không còn nữa.Chúng chỉ còn trong những câu chuyện kể, sách vở và trong ký ức của người dân,tồn tại qua nhiều thế hệ Ngày nay, Bến Tre chỉ còn các loài thú nhỏ, bò sát nhỏ, cácloài chim và động vật lưỡng cư phân bố theo các loại địa hình và các hệ sinh thái

khác nhau:

Ở hệ sinh thái vùng đất giồng cát có các loài chồn, cáo và các loài bò sát cóchân như kỳ đà, kỳ nhông, rắn mối, tắc kè, tắc ké … và các loài rắn có nọc độc vàkhông nọc độc

Hệ sinh thái rừng ngập mặn có các loài chim, tôm cá nước mặn, giáp sát haimảnh như nghiêu, sò, ngao, hến … các loài ốc nước mặn Ở hệ sinh thái này, Sânchim Vàm hồ là một ví dụ cụ thể

Ở hệ sinh thái vườn có các loài chim cò, côn trùng, bò sát, các loài tôm, cá nước lợ và nước ngọt, các loài ốc nước ngọt

Hệ sinh thái đầm lầy nội địa có các loài chim cò, bò sát có chân và không chân, côn trùng, động vật lưỡng cư, cá loài tôm cá nước ngọt …

2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

* Tài nguyên du lịch nhân là các di sản văn hóa vật thể: khá phong phú,

bao gồm các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và địa phương, như:

+ Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu: tọa lạc tại xã An Đức, huyện Ba Tri.

Cách thị trấn Ba Tri 2km, khu di tích gồm khuông viên khu tưởng niệm rộng12.660m2 cùng với nhà tưởng niệm hai tầng với điện tích 999m2 và khuông viênkhu mộ phần có diện tích khoảng 1.000m2 bao gồm mộ cụ ông, cụ bà và mộ nữ sỹnhà báo Sương Nguyệt Anh, con gái thứ tư của hai cụ Toàn bộ công trình đượckhởi công trùng tu và xây dựng vào năm 1998 [47: tr.1]

Khu di tích bắt đầu từ cổng tam quan, đến khoảng trống không gian tiếp giápnhà bia, tiếp đến là khu tưởng niệm gồm hai tầng, vào sâu hơn nữa là khu mộ gia

đình nhà thơ.

Trang 33

Về tiểu sử, theo Bia ký tại khu lưu niệm: “Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù lấy hiệu là Hối Trai, sinh ngày 1 tháng 7 năm

1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) Cha là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Long Điền, tỉnh Thừa Thiên, làm Thơ lại Văn Hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt Mẹ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, Gia Định.

Năm 1843, ông thi đậu Tú tài ở trường thi Gia Định Năm 1849, ông ra Huế chờ khoa thi Hội, chưa kịp thi thì được tin mẹ mất nên trở về Gia Định chịu tang

mẹ Vì khóc thương mẹ, ông lâm bệnh nặng rồi bị mù mắt.

Mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn, người dân quý trọng gọi ông là “Đồ Chiểu” Một người học trò của ông tên là

Lê Tăng Quýnh, cảm thương hoàn cảnh, xin cha mẹ gả em gái tên là Lê Thị Điền cho thầy.

Năm 1859, giặc Pháp chiếm thành Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu về quê vợ

làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Pháp chiếm Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu về tị địa tại Ba Tri (tỉnh Bến Tre) Biết ông là người được nhân dân kính trọng và yêu mến, thực dân Pháp dùng mọi cách để mua chuộc Ông cương quyết không hợp tác với giặc Ông sống thanh bần, dùng thơ văn làm vũ khí góp phần động viên cổ vũ nhân dân chống giặc.

Thơ Nguyễn Đình Chiểu gồm nhiều thể loại, trong đó thành công nhất là truyện thơ và văn tế bằng chữ Nôm Các tác phẩm chính của ông gồm: truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sỹ chết trận Cần Giuộc (1861), Văn tế nghĩa sỹ trận vong lục tỉnh (1874), 12 bài thơ điếu Đốc binh Phan Ngọc Tòng (1868),… Thơ văn ông là những án văn bất hủ, chứa chan lòng yêu nước thương dân, đặc biệt đối với người nông dân tay lấm chân bùn, căm thù giặc ngoại xâm, đồng thời dạy cho con người đạo nghĩa ở đời.

Ông mất ngày 3 tháng 7 năm 1888, mộ ông nằm tại ấp 3 (Giồng Cụt), xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”.

Trang 34

Qua đây ta thấy được vai trò và vị trí lớn lao của Nguyễn Đình Chiểu trong

lịch sử, văn học Việt Nam Như cố Tổng bí thư trường Chinh đã nói: “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng” [47: tr.1].

Khách đến viếng thăm Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu nhằm thỏa mãn vềnhu cầu giáo dục, lịch sử, văn hóa của dân tộc Đó là sự ngưỡng mộ và tưởng niệmanh hùng dân tộc của nhân dân, là truyền thống văn hóa tốt đẹp Khu di tích là nơi

để học sinh, cán bộ viên chức, các tổ chức đoàn thể, các cá nhân gia đình và nhân sỹhọc tập, noi theo tấm gương sáng của nhà thơ trong giai đoạn mới của xã hội, củađất nước

+ Khu lưu niệm bà Nguyễn Thị Định: tọa lạc tại xã Lương Quới, huyện

Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cạnh tỉnh lộ 885, diện tích 10.000m2 bao gồm: cổng tamquan, nhà tưởng niệm, hồ sen, bia ghi công, nhóm tượng, vườn cây và sân nghi lễ

Bà Nguyễn Thị Định sinh năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm,tỉnh Bến Tre Bà là một vị nữ tướng anh hùng đã vượt qua bao đau thương, mấtmát để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng qua hai cuộc đấu tranh giải phóng dântộc, giải phóng đất nước Bà được xem là lá cờ đầu trong phong trào Đồng khởi tạiBến Tre, làm tiền đề cho cuộc Đồng khởi toàn miền nam sau này Trong đấu tranhcách mạng, lúc bị tù đày gian khổ đến lúc có vị trí cao nhưng bà vẫn một mực trungtrinh vì nước vì dân, luôn sắc son một lòng vì lý tưởng cách mạng đến cuối cuộcđời Bà mất vào ngày 26 tháng 8 năm 1992, thọ 72 tuổi

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần” [22: tr.1235].

Khu lưu niệm bà Nguyễn Thị Định được xây dựng để tỏ lòng tôn kính, ghinhớ công lao của bà đối với đất nước, với dân tộc Nơi đây trưng bày những kỷ vật,những hình ảnh cuộc đời cách mạng của bà Đây cũng là công trình mang tính giáodục thanh thiếu niên và toàn dân truyền thống yêu nước vẻ vang của dân tộc trongmọi thời đại

Trang 35

+ Di tích lịch sử Mộ Võ Trường Toản: khu mộ cụ Võ Trường Toản thuộc

ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, cách mộ cụ Phan ThanhGiản khoảng 100 mét, cách thành phố Bến Tre 48 km, cách huyện Ba Tri 12 kmđường bộ

Võ Trường Toản là một nhà nho lớn, một nhà giáo tài ba lỗi lạc ở miền Namthế kỷ XVIII Là người có công đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước, nổi bật trong

số học trò của ông phải kể đến những danh nhân như: Trịnh Hoài Đức, Phạm NgọcUẩn, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Ngô Tùng Châu … ông là người không ham

danh lợi, không thích quan trường Câu “Lương sư hưng quốc” rất thích hợp với tính cách của ông Khi ông mất, Vua ban hiệu là “Gia Định xử sỹ sùng đức Võ Tiên Sinh” (Võ Tiên Sinh là bậc xử sỹ ở Gia Định, có tài đức cao dày) [34: tr.3].

Khu di tích hiện nay được xây dựng khá hoàn chỉnh, rất hài hòa với cảnhquan thiên nhiên, tạo nên một vẻ đẹp trang nghiêm, phục vụ rộng rãi khách thamquan học tập Năm 1998, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhậnkhu mộ cụ Võ Trường Toản là di tích lịch sử cấp quốc gia

+ Di tích lịch sử Khu mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng

Vị trí phần mộ: thuộc ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnhBến Tre, cách tỉnh lộ 885 khoảng 600 mét

Đền thờ: thuộc ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, bêncạnh tỉnh lộ 885

Nhân vật và sự kiện lịch sử: Nguyễn Ngọc Thăng sinh năm 1798 tại thônLương Thạnh, huyện Bảo Hựu, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện GiồngTrôm, tỉnh Bến Tre) Thân sinh là ông Nguyễn Công, thân mẫu là bà Trần Thị Kiêm.Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, nhưng nhờ gia đình đến định cư sớmnên có cả nhân lực và vật lực [32: tr.1]

Là người rất thông minh, tinh thông văn võ, có công khai hoang lập ấp Ôngcòn là một danh tướng yêu nước nồng nàn, đã chỉ huy nhiều trật đánh Pháp nổitiếng như trận đánh đồn Cây Mai năm 1860 với chiến thuật „trận giặc mù u‟ – dùng

Trang 36

trái mù u để đánh giặc, trận đánh đại đồn Chí Hòa năm 1861, và hy sinh trong trận

đánh tại căn cứ “Đám lá tối trời” tại Gò Công năm 1866.

Khu mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng là nơi tưởng nhớ một vịanh hùng dân tộc cả đời vì dân, vì nước Là người có công khai hoang lập ấp, đượcxem như vị “Tiền hiền khai khẩn” và trong lúc đất nước lâm nguy, ông đã chiếnđấu bảo vệ đất nước hết hơi thở cuối cùng, là tấm gương cho các thế hệ mai sau noitheo Hàng năm nhân dân tổ chức lễ hội dân gian tại đền thờ ba lần: Lễ hạ điền (vàongày 16 tháng 3 âm lịch), Lễ thượng điền (ngày 16 tháng 11 âm lịch) và ngày cúnggiỗ Lãnh binh (ngày 15 tháng 5 âm lịch)

Ngày 7 tháng 5 năm 1997, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết địnhcông nhận Khu mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng là di tích lịch sử cấpquốc gia

+ Di tích lịch sử địa điểm nhà ông Nguyễn Văn Cung và Ngã Ba Cây da đôi (Nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của bến Tre)

Vị trí: ấp Tân Hòa (ấp 5) xã tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Cáchthành phố Bến Tre 49 km, cách thị trấn Ba Tri 13 km đường bộ

Nhà ông Nguyễn Văn Cung: nơi đây vào tháng 4 năm 1930 đã thành lập

nên chi bộ Đảng đầu tiên của Bến Tre và kết nạp nhóm Việt Nam Thanh niên Cáchmạng Đồng chí hội vào Đảng (lúc bấy giờ với tên gọi là Đảng Cộng sản ĐôngDương) Sau ngày thành lập, các đảng viên đã đi vào hoạt động, là những hạt nhânnòng cốt trong các phong trào kháng Pháp như phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cùng

cả nước đấu tranh chống khủng bố trắng

Ngã ba Cây da đôi: dưới sự dẫn dắt của Đảng, đây là nơi tập hợp quần

chúng nhân dân hội họp kêu gọi toàn thể nhân dân đứng lên tố cáo tội ác của bọnđịa chủ, cường hào ác bá và bọn thực dân xâm lược Ngã ba Cây da đôi còn là nơixảy ra nhiều sự kiện lịch sử trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứunước: là nơi giặc Pháp xử bắn các chiến sỹ cách mạng năm 1947, là nơi trừ giandiệt ác của cách mạng vào năm 1950, là nơi ta tiêu diệt đồn địch năm 1953, là nơigiặc Mỹ đóng đồn năm 1968 và ta tiêu diệt đồn năm 1975

Trang 37

Với những sự kiện lịch sử quan trọng đã diễn ra tại hai địa điểm trên, đây lànơi có ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ trong và ngoải tỉnh về truyền thống lịch sửhào hùng của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ dân tộc,bảo vệ đất nước Dựa vào những giá trị trên, theo quyết định số 985-QĐ/VH ngày 7tháng 5 năm 1997 [42: tr.1], Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhậnhai nơi này là di tích lịch sử cấp quốc gia.

+ Di tích lịch sử Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam:

Vị trí: vàm Khâu Băng, Cồn Bững, Cồn Lợi, Cồn Lớn là những dãy cồn tiếpgiáp với biển Đông thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre cách Ủyban nhân dân xã Thạnh Phong 6,7 km, cách huyện Thạnh Phú 25 km và cách thànhphố Bến Tre 70 km [29: tr.1]

Vào tháng 4 năm 1946, tại vàm Khâu Băng [29: tr.2], con tàu đầu tiên nhổneo tiến ra Bắc xin Trung ương chi viện vũ khí cho miền Nam đánh Pháp Với lòngdũng cảm, mưu trí của các chiến sỹ cách mạng, chuyến đi đầu tiên này đã trở về antoàn với một thuyền đầy ắp vũ khí cho chiến trường miền Nam Tiếp theo sau đó,vào những năm 1962 đến năm 1965 nhiều chuyến tàu chở vũ khí được miền Bắcchi viện dần dần cặp bến an toàn Đặc biệt trong năm 1965, vượt qua mọi sự khắcnghiệt của thời tiết, sự hiểm nguy khi đối mặt với quân thù, mỗi tháng có từ một đếnhai chuyến tàu cặp bến vàm Khâu Băng, xã Thạnh Phong, mỗi chuyến chở từ 40 tấnđến 60 tấn vũ khí các loại [29: tr.6] Chuyến cuối cùng là chuyến tàu chở 50 tấn vũkhí cặp bến vào tháng 11 năm 1970 và khép lại con đường vận chuyển vũ khí trênbiển lịch sử kéo dài từ Bắc chí Nam, hay còn gọi là Đường Hồ Chí Minh trên biển

Với giá trị lịch sử to lớn góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước Di tích Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam là một dấu sontrong lịch sử dân tộc Theo quyết định số 3777-QĐ/BT ngày 23 tháng 12 năm 1995[8: tr.1], Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định công nhận nơi này là di tíchlịch sử cấp quốc gia

+ Khu Di tích lịch sử Đồng khởi Bến Tre

Trang 38

Vị trí: di tích này bao gồm 4 địa điểm Thứ nhất: nhà ông Huỳnh Văn Địnhthuộc ấp Định Nhơn, xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Cách Ủy bannhân dân xã Định Thủy 1km và cách thành phố Bến Tre 19km Là nơi hội họp bànbạc chuẩn bị cho cuộc đồng khởi Thứ 2: quán Năm Thiểu hay Bia quán NămThiểu, cách nhà ông Định khoảng 1 km Là nơi nổ phát súng đầu tiên của cuộcĐồng khởi ngày 17 tháng 1 năm 1960 Thứ ba: đình Định Nhơn (hay đình Rắn), lànơi nhân dân giải phóng đồn địch trong cuộc Đồng khởi Thứ tư: đồn Vàm nướctrong, là nơi lực lượng cách mạng giải phóng đồn giặc trong ngày Đồng khởi Vớigiá trị lịch sử quý báu, theo quyết định số 43 –VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993 [3:tr.1], Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận nơi này là di tích lịch

+ Di tích lịch sử Căn cứ quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định (1969 - 1970)

Vị trí: thuộc hai xã Tân Phú Tây và xã Thành An, huyện Mỏ Cày Cách Ủyban nhân dân xã Tân Phú Tây 0,5 km, cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km

Căn cứ quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định là nơi hoạt động của Khu ủy SàiGòn – Gia Định giai đoạn 1969 – 1970 nhằm chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước Đây là di tích mang ý nghĩa lịch sử quan trọng Các đồng chí lãnh đạonhư Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng và tất cả cán bộ chiến sỹ cáchmạng đã vượt qua bao khó khăn gian khổ, mất mát, hy sinh cho những trận đánhlớn, mang lại chiến thắng vẻ vang góp phần giải phóng dân tộc Do những giá trịlịch sử trên, Quyết định số 3777- QĐ/BT ngày 23 tháng 12 năm 1995 [7: tr.1], Bộtrưởng Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận nơi này là di tích lịch sử cấpquốc gia

+ Di tích lịch sử Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác – nơi ở và làm việc của đồng chí Lê Duẩn (11/1955 – 3/1956)

Trang 39

Vị trí: ấp 8, xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Cách Ủy bannhân dân xã Hưng Lễ khoảng 800m, cách thành phố Bến Tre khoảng 7,5 km đườngbộ.

Nơi đây đã nuôi dưỡng, bảo vệ cho đồng chí Lê Duẩn trong thời gian hơnmột năm, trong lúc làm nhiệm vụ khảo sát thực tế để viết Đề cương Cách mạngmiền Nam [31: tr.6], vạch ra con đường đánh Mỹ diệt ngụy (Diệm) giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước Di tích đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc giatheo Quyết định số 985 - QĐ/VH ngày 7 tháng 5 năm 1997 [11: tr.1] của Bộ trưởng

Bộ Văn hóa Thông tin

+ Di tích nghệ thuật đình Phú Lễ

Vị trí: ấp 3, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Cách thị trấn Ba Trikhoảng 4 km, cách thành phố Bến Tre khoảng 40 km

Ngôi đình được xây dựng vào năm 1826 với mái lá, vách ván, cột cây, nền

đá ong Năm 1852, vua Tự Đức có sắc phong Thần cho đình Đến năm 1923, ngôiđình được xây dựng lại gồm 10 gian với những hiện vật thờ cúng trang nhã Trảiqua bao thăng trầm của thời gian và chiến tranh, ngôi đình nhiều lần được trùng tunhưng vẫn giữ được vẻ nguy nghiêm của đình làng Nam bộ

Đình Phú Lễ thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật dân gian hòa quyện với lốinghệ thuật cung đình và được xếp vào loại đình lớn nhất tỉnh Bến Tre

Hàng năm, đình Phú Lễ có hai lần cúng lớn là lễ Kỳ yên (ngày 18 và 19tháng 3 âm lịch), cầu mong dân làng được yên ổn, xã hội yên bình Lễ Cầu bông(ngày 9 và 10 tháng 11 âm lịch), cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu

Trong các ngày lễ lớn, đình Phú Lễ là nơi duy nhất của Bến Tre có diễn rahát sắc bùa độc đáo

Với những giá trị trên, Bộ Văn hóa Thông tin ra Quyết định số 43 - VH/QĐngày 7 tháng 1 năm 1993 [4: tr.1], công nhận đình Phú Lễ là di tích nghệ thuật cấpquốc gia

+ Di tích nghệ thuật đình Bình Hòa

Trang 40

Vị trí: xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Cách thị trấn GiồngTrôm khoảng 2 km, cách thành phố Bến Tre khoảng 16 km.

Đình được xây dựng năm 1831 bằng cây lá đơn sơ Đến năm 1903, đìnhđược xây dựng lại với quy mô đồ sộ hơn với 6 gian bằng vật liệu: cột gỗ lim, tườnggạch, mái ngói âm dương, nền móng bằng đá ong Nội thất là các công trình điêukhắc gỗ như: hoành phi, phù điêu, bao lam được thực hiện bởi các nghệ nhân cótay nghề cao, làm ròng rã trong hơn mười năm liền 1903 – 1913 [27: tr.2]

Đình Bình Hòa thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật dân gian, kết hợp với nghệ thuậtcung đình

Mỗi năm, đình Bình Hòa tổ chức cúng tế hai lần, lần một vào các ngày 13,

14, 15 tháng 12 âm lịch gọi là lễ Thượng điền Lần hai vào các ngày 13, 14, 15tháng 5 âm lịch gọi là lễ Hạ điền [27] Vào các ngày lễ trên đều có tổ chức ca hát,hát bội

Đình Bình Hòa đã được công nhận là Di tích nghệ thuật cấp quốc gia theoQuyết định số 43 - VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993 [5: tr.1] của Bộ Văn hóaThông tin

+ Di tích lịch sử chùa Tuyên Linh

Vị trí: ấp Tân Thới Đông B, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.Cách thị trấn Mỏ Cày khoảng 10 km, cách thành phố Bến Tre khoảng 19 km

Chùa được xây dựng năm 1861, năm Tự Đức thứ 14 [28: tr.2]

Đến năm 1907, sư Lê Khánh Hòa pháp danh là Thích Như Trí về làm trụ trì[28: tr.2] Là vị cao tăng am hiểu sâu về Phật học cùng với tinh thần yêu nước, Tổ

sư Lê Khánh Hòa đã quy tụ được nhiều người yêu nước, lập ra nhiều tổ chức, hộinhư Nam kỳ chấn hưng Phật học, Lưỡng xuyên Phật học Người đã kết thâmgiao với cụ Nguyễn Sinh Sắc và nhiều chí sỹ yêu nước khác tuyên truyền giáo dụclòng yêu nước, chống giặc ngoại xâm cho nhân dân

Chùa Tuyên Linh lúc bấy giờ là một căn cứ cách mạng, đào tạo nhiều ngườicon ưu tú của đất nước để giữ những trọng trách mà Đảng giao phó trong côngcuộc giải phóng dân tộc, mang lại hòa bình cho đất nước về sau

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:47

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w