Vì thế, trong điều kiện hội nhập hiện nay, việcđầu tư cho công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện về văn hóa biển đảotrong phát triển du lịch là một vấn đề rất cấp bách của t
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Bố cục luận văn 12
7 Đóng góp của luận văn 13
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO 14
1.1 Các khái niệm liên quan 14
1.1.1 Khái niệm văn hóa 14
1.1.2 Khái niệm du lịch văn hóa 15
1.1.3 Khái niệm văn hóa biển đảo 16
1.1.4 Khái niệm liên quan đến du lịch biển đảo 19
1.1.4.1 Khái niệm du lịch 19
1.1.4.2 Du lịch biển đảo 19
1.1.4.3 Khái niệm du lịch văn hóa biển đảo 19
1.2 Du lịch văn hóa biển đảo 20
1.2.1 Đặc điểm của du lịch biển đảo 20
1.2.2 Vai trò của du lịch biển đảo 20
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa biển đảo 22
1.2.4 Những nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa biển đảo 23
1.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch văn hóa biển đảo 24
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 24
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 30
1.4 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch văn hóa biển đảo 33
Trang 4Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO KHÁNH HÒA
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa biển đảo tỉnh Khánh Hòa
2.1.1 Lịch sử hình thành
2.1.2 Các điều kiện tự nhiên
2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.4 Tài nguyên du lịch
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.1 Thị trường khách du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.2 Các sản phẩm du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.3 Các điểm - tuyến du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa 59 2.2.5 Nhân lực du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.6 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.2.7 Tuyên truyền quảng bá du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
2.3 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO KHÁNH HÒA
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp
3.1.1 Mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch của Nhà nước, địa phương
3.1.2 Quy hoạch du lịch Khánh Hòa
3.2 Các nhóm giải pháp cụ thể
3.2.1 Nhóm giải pháp về chính sách, quy hoạch, tổ chức, quản lý
3.2.2 Nhóm giải pháp về đầu tư, phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển sản phẩm, thị trường du lịch văn hóa biển đảo
Trang 53.2.4 Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực 100
3.2.5 Nhóm giải pháp về xúc tiến quảng bá du lịch văn hóa biển đảo 101
3.2.6 Nhóm giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường văn hóa biển 106
3.2.7 Nhóm giải pháp phát triển du lịch văn hóa biển đảo gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng 109
3.3 Một số kiến nghị 112
3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh 112
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp du lịch 113
3.3.3 Đối với cộng đồng địa phương và khách du lịch 113
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 124
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cb: Chủ biên
NXB: Nhà xuất bản
KHXHVNV: Khoa học xã hội và nhân văn
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
VHTT & DL: Văn hóa, Thể thao và du lịch
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc)
ASEAN: Asociation of South East Asian (Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á)
ODA: Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
WB: World Bank (Ngân hàng Thế giới )
ADB: The Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển châu Á)
Trang 74
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Khách du lịch đến Nha Trang – Khánh Hòa giai đoạn 2008 – 2012 51
Bảng 2.2 Các yếu tố du khách quan tâm khi đến Khánh Hòa 52
Bảng 2.3 Doanh thu du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2008 – 2012 53
Bảng 2.4: Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 62
Bảng 2.5 Đánh giá chung về hiện trạng nhân lực du lịch văn hóa biển đảo
Khánh Hòa 64
Bảng 2.6 Hoạt động Festival biển Nha Trang qua các năm 70
Bảng 2.7 Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa 73
Bảng 3.1 Kết hợp các điểm đến du lịch biển đảo trong cả nước 97
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nguy cơ cạn kiệt tài nguyên đất liền trên toàn cầu, các quốc gia tiếpxúc với biển đều có chiến lược tích cực tận dụng và khai thác biển, nhưng Việt Namcho đến giờ vẫn chưa tận dụng và khai thác được nguồn tài nguyên này tương xứngvới tiềm lực vốn có của nó
Khánh Hòa là một trong số ít các tỉnh ven biển có kinh nghiệm về biển nhiều hơn
cả, cũng là địa phương đang đi đầu trong khai thác biển Với diện tích khoảng5.197km2 gồm khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Vịnh Nha Trang được công nhận
là thành viên thứ 29 của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới Với thế mạnh của mộtvùng đất được thiên nhiên ưu đãi, nơi tiềm ẩn nhiều giá trị của nền văn hóa lớn, trong
đó biển, đảo là giá trị đặc trưng của nơi đây, đặc biệt văn hóa biển đảo còn lưu giữnhiều nét đặc sắc, giúp cho việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Đó chính là mộttiềm năng to lớn, một thế mạnh không dễ gì có được
Du lịch biển nói chung, du lịch văn hóa biển đảo chiếm một vị trí vô cùng quantrọng đối với du lịch Khánh Hòa, nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay.Khánh Hòa là vùng đất có nhiều tiềm năng đang có sức hút lớn đối với các nhà đầu tưtrong và ngoài nước Vì vậy, nó bắt đầu được chú ý khai thác, phát triển Du lịch vănhóa biển đảo đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm đánh giáđúng mức những giá trị văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn văn hóa vớiviệc bảo vệ và gìn giữ trọn vẹn chủ quyền biển đảo quốc gia
Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống,toàn diện và mang tính phương pháp luận hoàn chỉnh về nhận thức và thực tiễn đối với
du lịch văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa Vì thế, trong điều kiện hội nhập hiện nay, việcđầu tư cho công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện về văn hóa biển đảotrong phát triển du lịch là một vấn đề rất cấp bách của tỉnh trong việc khai thác tiềmnăng, lợi thế của biển, đảo đối với các chiến lược phát triển kinh tế biển đảo theo
Trang 10hướng bền vững Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DULỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA cho luận văn Thạc sĩ ngành Dulịch của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
* Về văn hóa biển đảo nói chung
Hiện nay, các công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa và cư dân biển đảo phục
vụ phát triển du lịch không có nhiều Theo nhận xét của Ngô Đức Thịnh, kết quả củaviệc nghiên cứu biển và cư dân ven biển, đảo - thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhânvăn vẫn còn khá khiêm tốn Riêng bộ môn văn hóa dân gian nghiên cứu về biển thì kếtquả lại càng khiêm tốn hơn Các công trình nghiên cứu khái quát về biển tiêu biểu như:
Luận án tiến sĩ lịch sử Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi của
Nguyễn Đăng Vũ (2003) Công trình này phản ánh khá toàn diện bức tranh văn hóadân gian của cộng đồng cư dân nơi đây: từ tín ngưỡng, lễ hội cho đến nghệ thuật diễnxướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, ngữ văn dân gian
Tác phẩm Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu của Phan An, Đinh Văn
Hạnh (2004) Các tác giả đã nghiên cứu, miêu tả một số lễ hội dân gian của ngư dânđịa phương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình hình thành và phát triển
Công trình Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ (2007) là kết
quả của 2 cuộc hội thảo do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp với Viện Nghiêncứu Văn hóa, Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ngãi, Hội Văn học nghệ thuật KiênGiang tổ chức, đã cung cấp khá nhiều tri thức về văn hóa biển ở 02 khu vực này
Ngoài ra, chúng ta còn thấy có nhiều công trình nghiên cứu khác, như Nuyễn Thị
Hải Lê (2009) với Biển trong văn hóa người Việt đã khái quát toàn bộ biển trong các
lớp văn hóa của người Việt về không gian và thời gian, trong đời sống văn hóa vật chất
và tinh thần của người Việt Chuyên khảo Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam –
Đà Nẵng (hình thái, đặc trưng và giá trị) của Nguyễn Xuân Hương (2009) Cuốn sách
Trang 11đã tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cá voi, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ âm linh,
tiền hiền ở địa phương này… Gần đây, bài nghiên cứu Đặc điểm cư dân và văn hóa
vùng ven biển và hải đảo: Một số lý luận cơ bản của Phan Duy Hợp và Đặng Vũ Cảnh
Linh đã đưa ra những lý luận giải thích các khái niệm về văn hóa học như “ Đặc điểm
cư dân”, “Con người và văn hóa” Các vấn đề này được cụ thể hóa bằng con đườngdiễn dịch từ hướng tiếp cận lý thuyết khinh - trọng, chứ không đi vào nghiên cứu cácloại hình văn hóa cụ thể của cư dân vùng ven biển và hải đảo
Văn hóa biển đảo những năm gần đây thu hút nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu,
quản lý thông qua các cuộc hội thảo như: Tục thờ Tứ vị thánh nương với văn hóa biển
ở Việt Nam (Nghệ An, 2009), Di sản văn hóa Nam Trung Bộ với sự phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế (Phú Yên, tháng 4/2011), Khai thác tiềm năng biển, đảo vì sự phát triển bền vững của Quảng Ngãi và miền Trung (Quảng Ngãi, tháng 5/2011)…
* Về khảo cổ học biển đảo Khánh Hòa
Qua các đợt khai quật di chỉ khảo cổ học tại các làng ven biển – đảo ở Khánh Hòa,
một số tác giả trong các cuốn sách Văn hóa phi vật thể Khánh Hòa; Tìm hiểu giá trị
lịch sử và văn hóa Khánh Hòa đã có những nhận định khái quát về lịch sử văn hóa
biển, đảo Đáng chú ý nhất là bài viết Khánh Hòa một cái nhìn địa – văn hóa của Trần
Quốc Vượng Tác giả đã nêu lên đặc trưng các nền văn hóa ven biển miền Trung thời
tiền sử - sơ sử (đá mới – sơ kỳ kim khí) là văn hóa cồn bàu Trong đó, có văn hóa Xóm
Cồn với đảo Bích Đầm, đảo Hòn Tre của Khánh Hòa; văn hóa Gò Ốc (Phú Yên)…
* Về lễ hội biển đảo Khánh Hòa
Các bài viết Lễ hội Cầu ngư ở Khánh Hòa của Nguyễn Tứ Hải; Lễ hội Cầu ngư ở
Khánh Hòa của Khánh Hải đã khảo tả và đưa ra nhận xét chung về các lễ hội diễn ra tại các đình, lăng ven biển gồm các nghi lễ: rước sắc, lễ nghinh thủy triều, lễ tế sanh,
tế chánh (Nguyễn Văn Khánh cb 1999; Nhiều tác giả 2005).
Trang 12* Về tín ngưỡng biển đảo Khánh Hòa
Lê Quang Nghiêm với chuyên khảo Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh
Hòa đã thể hiện sự công phu, nghiêm túc trong nghiên cứu thực địa Công trình không
chỉ có giá trị đối với tục thờ cá Ông mà còn về tín ngưỡng ngư dân vùng biển KhánhHòa nói chung Đây là một công trình biên khảo về văn hóa biển
Tục thờ cá Ông ở Khánh Hòa thông qua những tài liệu điền dã cụ thể trên địa bàn
Khánh Hòa đã cung cấp một diện mạo chung về tập tục này ở địa phương (NguyễnThanh Lợi 2002)
Nói tóm lại các công trình trên đã làm rõ những nghi lễ, tục thờ, tín ngưỡng củacộng đồng cư dân ven biển, đảo ở Khánh Hòa
* Về nghệ thuật biểu diễn dân gian biển đảo Khánh Hòa
Nhiều tác giả đã giới thiệu và miêu tả các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
của cư dân vùng ven biển, đảo ở Khánh Hòa Chẳng hạn như: bài viết Hò Bá Trạo ở
Khánh Hòa của Khánh Hải miêu tả một buổi trình diễn hoàn chỉnh của đội hò bá trạo,
gồm trò diễn chèo thuyền và điệu hò biển để phục vụ cho nghi thức cúng tế cá Ông của
ngư dân ven biển Hoặc bài Múa bóng, múa hò bá trạo, múa siêu của cộng đồng cư
dân ven biển ở Vạn Ninh của tác giả Nguyễn Sĩ Chức.
* Về nghề truyền thống biển đảo Khánh Hòa
Một số tác giả đã giới thiệu, miêu thuật, cung cấp nhiều tư liệu quý về các nghềđánh bắt truyền thống, đặc biệt là nghề lưới đăng ở Khánh Hòa Dưới đây là một sốbài viết tiêu biểu:
Năm 2007, kế thừa nhiều thành tựu nghiên cứu của Guy Moréchand, 1952,Nguyễn Thụy Anh (1952), Lê Quang Nghiêm (1970), Võ Khoa Châu, Nguyễn Viết
Trung có bài Lưới đăng – nghề biển truyền thống ở Khánh Hòa.
Các bài viết khác như: Như Hoàng có 2 bài Nghề đăng ở Khánh Hòa (1996),
Nghề đăng ở Bích Đầm (1997); Nguyễn Âu Hồng với bài Nghề lưới đăng truyền thống
ở Khánh Hòa (Nguyễn Văn Khánh cb 1999); Lê Đình Chi với bài Nghề lưới đăng ở
Trang 13Khánh Hòa (2000); bài Nghiên cứu điều tra nghề lưới đăng ở Nha Trang; Võ Khoa
Châu với bài Nghề truyền thống đầm đăng ở Vạn Ninh, Khánh Hòa (2005); Lê Đình Chi có bài khảo cứu Nghề câu cá biển ở Nha Trang (Nhiều tác giả 2010).
* Về kiến trúc, điêu khắc dân gian biển đảo Khánh Hòa
Các nhà nghiên cứu ít quan tâm về mảng nội dung này Theo sự tìm hiểu, đối với
đề tài này, mới chỉ có 2 bài viết Lăng Tân Mỹ và tục thờ cúng Ông Nam Hải của Võ Khoa Châu và Lăng Nam Hải ở Bình Ba của Hoàng Quý (Nhiều tác giả 2010) Hai tác
giả trên đã khái quát lịch sử hình thành, kiến trúc xây dựng, mục đích, ý nghĩa và vaitrò của lăng Ông trong đời sống văn hóa cư dân ven biển và đảo ở Khánh Hòa
2.2 Tình hình nghiên cứu du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa
Nhìn chung, văn hóa biển đảo Khánh Hòa đã được nghiên cứu, tìm hiểu trên nhiềuphương diện, nhất là về văn hóa, về môi trường, hay về các lĩnh vực kinh tế khác,nhưng du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa thì cho đến nay hầu như chưa có đượcnghiên cứu chuyên sâu nào Chính vì vậy, luận văn của chúng tôi tiếp thu các kiến thứcchung về văn hóa biển đảo, phát triển ý tưởng nghiên cứu trong một số luận văn Thạc
sĩ, Cử nhân đã được thực hiện trước đây về du lịch văn hóa nói chung, du lịch văn hóabiển đảo nói riêng, để triển khai cho việc nghiên cứu du lịch văn hóa biển đảo tạiKhánh Hòa
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chú ý đến những tài liệu trực tiếp đề cập tới
du lịch văn hóa biển đảo như:
* Nguyễn Thị Thúy Vân: Khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển
Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXHVNV, 2008.
* Ngô Quang Duy: Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh, Luận
văn
Thạc sĩ, Trường Đại học KHXHVNV, 2008
* Nguyễn Phương Thanh: Du lịch làng nổi Hạ Long, Khóa luận tốt nghiệp đại học,
Đại học KHXHVNV, 2006
Trang 14* Nguyễn Thị Hồng Thư: Du lịch đêm Hạ Long, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Đại
học KHXHVNV, 2007
Luận văn của chúng tôi kế thừa những thành quả nghiên cứu của người đi trước, cốgắng trình bày những vấn đề có tính chung nhất và cấp thiết nhất cho phát triển du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa, như một sự tri ân đối với quê hương
3.Mục đích nghiên cứu
Thông qua các nghiên cứu cụ thể, luận văn hướng tới mục đích góp phần đưa ranhững luận cứ khoa học cho việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa biển đảo KhánhHòa trong công cuộc phát triển kinh tế của địa phương
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm toàn bộ các di sản văn hóa biển đảo Khánh Hòa,
các hoạt động văn hóa biển đảo hiện đại, và các hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tạiKhánh Hòa
- Phạm vi không gian nghiên cứu: tỉnh Khánh Hòa, tập trung tại vịnh Nha Trang và
huyện đảo Trường Sa Bên cạnh đó, đề tài sẽ có sự so sánh, liên hệ với vùng du lịchBắc Bộ, Bắc Trung Bộ và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: chuỗi số liệu thống kê và các vấn đề liên quan
được sử dụng trong nghiên cứu là từ năm 2008 đến 2012, cùng một số dữ liệu đến 06 tháng đầu năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sẽ chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tư liệu thứ cấp: Qua các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận
án… tại các thư viện, kho lưu trữ
- Phương pháp điều tra thực địa: Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra
chỉnh lý và bổ sung những tư liệu; đối chiếu và lên danh mục cụ thể từng đối tượng
Trang 15nghiên cứu; sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc định hướng phát triển du lịch văn hóa biển đảo tỉnh Khánh Hòa.
- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình
nghiên cứu những vấn đề định lượng trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính củacác hiện tượng và quá trình Đối chiếu các biến động về tài nguyên, môi trường du lịchvới quá trình phát triển du lịch Ngoài ra phương pháp này còn được vận dụng nghiêncứu trong đề tài để xác định hiện trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu pháttriển ngành
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn, thu thập thông tin sơ cấp và thứ
cấp, điều tra 200 bảng hỏi và xử lý số liệu qua phần mềm SPSS tại các địa điểm thuộcthành phố Nha Trang: khách sạn Việt Thiên (80 Lê Đại Hành), khách sạn Yasaka SàiGòn Nha Trang (18 Trần Phú), khách sạn Viễn Đông (18 Trần Hưng Đạo), trường Caođẳng văn hóa nghệ thuật và du lịch Nha Trang (52 Phạm Văn Đồng)
- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống: Đây là phương pháp
nghiên cứu được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học Nghiên cứu
về phát triển du lịch có quan hệ chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế
-xã hội, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trong trong quá trình nghiên cứu đềtài Tính hệ thống trong nghiên cứu còn được thể hiện ở tính kế thừa những kết quảnghiên cứu các công trình có liên quan đã đề cập ở trên
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa biển đảo
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa
Trang 167 Đóng góp của luận văn
Luận văn có đóng góp nhất định trên ba vấn đề:
- Thứ nhất, tổng quan các vấn đề lý luận vằn du lịch văn hóa và du lịch văn hóabiển đảo ở Việt Nam
- Thứ hai, khảo sát thực trạng các hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại KhánhHòa
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa biển đảoKhánh Hòa, cũng nhƣ bảo tồn văn hóa biển đảo Khánh Hòa trong hoạt động du lịch
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liênquan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người
Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩathông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triểncủa một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sảnphẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục,lối sống
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - BộGiáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bảnnăm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ratrong lịch sử”
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm
Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinhthần (nói tổng quát);
- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;
Trang 18- Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa,được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví
dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa
- không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm chorằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa conngười với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa baogồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia
Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngườisáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên
1.1.2 Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch và văn hóa có sự hội tụ rất lớn về mặt không gian và thời gian Không gianvăn hóa và không gian du lịch có rất nhiều điểm tương đồng Du lịch lấy không gianvăn hóa làm không gian thu hút các hoạt động cho mình và ngược lại nơi nào có bóngdáng của du lịch thì nơi ấy văn hóa có điều kiện phát triển hơn Hơn thế nữa, du lịch vàvăn hóa sẽ hợp lại thành một như cách nói của Groen: “Văn hóa và du lịch sẽ đi đến sựhợp nhất và tất cả cho nhau” (Cultural and tourism are destined once and for all to betogether) [Groen, 1994: 23] Vì mối quan hệ đặc biệt này mà văn hóa cũng được xem
là đối tượng của du lịch và du lịch văn hóa được hình dung như một trong những cáchthức tiêu thụ, thưởng thức văn hóa
Hơn nữa, du lịch và văn hóa có một mối quan hệ nội hàm sâu sắc được biểu hiện rõqua sự hội tụ Cung - Cầu Tức là, sự mở rộng và phát triển của “Cung” về du lịch cũng
Trang 19chính là sự mở rộng và phát triển của “Cung” về tiêu thụ văn hóa và ngược lại Vì thế,một “ngành công nghiệp văn hóa” đã ra đời để phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ vănhóa, trong đó, du lịch văn hóa được xem là một “kênh phân phối” để “tiêu thụ” vănhóa hiệu quả nhất Ngày càng có nhiều du khách hiếu kỳ muốn tìm kiếm và trải nghiệm
sự khác biệt về văn hóa bằng cách đi du lịch
Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trị lớncho cộng đồng xã hội Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịchkhám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa đượcxem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịchquốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hộitruyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách
du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiêncứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội đểthỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễhội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triểnthường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nướcngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảymới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
1.1.3 Khái niệm văn hóa biển đảo
Để làm rõ khái niệm văn hóa biển đảo, xin trích dẫn bài nghiên cứu của GS TrầnNgọc Thêm: “Văn hóa biển đảo” có thể được xem là một khái niệm mới
Akifumi Iwabuchi [2007] dùng thuật ngữ “Sea powers” để chỉ những quốc gia cóquyền lực biển, hoạt động nhiều trên biển, làm chủ đại dương (thường là chỉ trongnhững giai đoạn nhất định của lịch sử) Quốc gia biển đầu tiên được biết đến trong lịch
sử là Phoenicia ở Tây Nam Á Quốc gia biển tiếp theo là Hy Lạp cổ đại, sau đó là La
Mã Tiếp theo La Mã là người Viking ở Bắc Âu Từ thời trung đại trở đi là Bồ Đào
Trang 20Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, hiện nay là Mỹ Ở Châu Á, Nhật Bản từng là quốcgia biển trong giai đoạn từ sau chiến tranh Nhật –Nga đến 1945.
Quốc gia biển thì không nhiều, các dân tộc có văn hóa biển đảo thì nhiều hơn.Nhưng khi nào thì có thể nói rằng một dân tộc có văn hóa biển đảo? Nói cách khác,cần có tiêu chí phân biệt sự tồn tại của những yếu tố văn hóa biển đảo với sự tồn tại củavăn hóa biển đảo như một thành tố của văn hóa dân tộc
Văn hóa biển đảo là vấn đề gần đây bắt đầu được thế giới quan tâm nhiều Văn hóa
biển đảo là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm văn hóa phân loại theo điều kiện sinh thái, hay khái quát hơn là văn hóa xét theo không gian, bên cạnh những khái niệm như “văn
hóa núi” - “văn hóa đồng bằng”; “văn hóa xứ nóng” - “văn hóa xứ lạnh”; “văn hóa gió
mùa”, v.v Từ góc nhìn văn hóa học, có thể định nghĩa: Văn hóa biển đảo là hệ thống
các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển cả làm nguồn sống chính.
Với định nghĩa này, văn hóa biển đảo trước hết phải là văn hóa, nó phải thỏa mãnbốn đặc trưng của văn hóa nói chung là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh vàtính lịch sử Ngoài bốn đặc trưng chung, có hai đặc trưng riêng làm nhiệm vụ khu biệtvăn hóa biển với các dạng thức văn hóa khác: Thứ nhất là đặc trưng về không gian tồntại: “lấy biển cả làm nguồn sống” Thứ hai là đặc trưng định lượng về không gian tồntại ấy: biển cả không chỉ là nguồn sống mà phải là “nguồn sống chính”
GS Ngô Đức Thịnh: Trong công trình Các dạng thức văn hóa Việt Nam, tác giả đã phân chia các dạng thức văn hóa của con người thành 4 nhóm, trong đó văn hóa biển
đảo thuộc nhóm “văn hóa sinh thái” (Ecological Culture), cũng giống như văn hóa
châu thổ, văn hóa thung lũng, văn hóa rẻo cao, văn hóa cao nguyên, văn hóa thảo
nguyên… Có thể quan niệm văn hóa sinh thái là thứ văn hóa sản sinh ra trong quá
trình con người thích ứng vời môi trường sống, từ đó hình thành nên những tri thức, những hành vi ứng xử, những tập tục, nghi lễ, thói quen…tương thích với môi trường
Trang 21sinh thái ấy Tất cả những cái đó nhằm đảm bảo cho sinh tồn và sự đáp trả của con người trước những thách thức của môi trường sống.
Như vậy, từ góc nhìn nhân học văn hóa, văn hóa biển đảo, tác giả cho rằng là hệ
thống các tri thức của con người về môi trường biển đảo, các giá trị và biểu trưng rút
ra từ những hoạt động sống của con người trong môi trường ấy, cùng với nó là những cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con người tương thích với môi trường biển đảo.
Có thể nói, việc khai thác biển cận duyên và cùng với nó là văn hóa biển cận duyên
là quán xuyến từ xa xưa đến tận ngày nay của truyền thống biển Việt Nam Có thể nói,trong hầu hết các di chỉ khảo cổ học thời tiền sử và sơ sử, cũng như các điểm dân cưven biển vào thời cổ đại, cận hiện đại, thì ở đó đều có sự kết hợp hữu cơ giữa khai thác
đánh bắt cá biển, săn bắt, thu lượm và canh tác tác nông nghiệp trên bờ Tính lưỡng
nguyên đó tạo nên nét đặc trưng lớn nhất của văn hóa biển đảo ở Việt Nam.
Tìm hiểu giá trị đặc trưng văn hóa biển đảo trên quần đảo Trường Sa và các đảolân cận ven biển, TS Lê Huy Tân đã chỉ ra rằng: Những giá trị văn hóa trên quần đảoTrường Sa hiện nay là kết quả được tạo dựng từ chính cuộc đấu tranh chinh phục thiênnhiên, mở mang bờ cõi và bảo vệ chủ quyền quốc gia của bao thế hệ con người ViệtNam Văn hóa trên quần đảo Trường Sa biểu hiện qua những giá trị tinh thần về ý thứcchủ quyền, truyền thống cách mạng, tình yêu biền đảo quê hương, yêu Tổ quốc vàtrách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia
Khi văn hóa là tiêu chí khẳng định chủ quyền thì việc tạo dựng và phát triển vănhóa trở thành phương thức khẳng định chủ quyền thuyết phục nhất đối với thế giới.Chính việc thiết lập các giá trị văn hóa, tạo nên những dấu ấn văn hóa Việt Nam tạiTrường Sa là “tấm căn cước” quan trọng nhất để khẳng định với cộng đồng thế giớirằng: Quần đảo Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc Việt Nam
Từ những khái niệm trên và quan niệm về giá trị văn hóa trên quần đảo Trường Sa,
chúng ta hiểu rằng: Văn hóa biển đảo là bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa vật
Trang 22chất và văn hóa tinh thần (Văn hóa vật thể: ăn, mặc, ở, đi lại… Văn hóa phi vật thể:
tiếng nói, ngữ văn dân gian, nghi lễ, phong tục, tập quán, tri thức…) do con người
sáng tạo ra qua quá trình hoạt động thực tiễn (lao động, sản xuất, bảo vệ chủ quyền
biển, đảo và các loại hình tổ chức khác…) trong sự tương tác với môi trường tự nhiên
và xã hội của mình (không gian vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo).
1.1.4 Khái niệm liên quan đến du lịch biển đảo
1.1.4.1 Khái niệm du lịch
Theo Luật du lịch Việt Nam (27-06-2005): „„Du lịch là hoạt động có liên quan đếnchuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên cuả mình nhằm đáp ứng nhucầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định với mụcđích giải trí, công vụ hoặc những mục đích khác ngoài mục đích kiếm tiền‟‟
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du
lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đíchtham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí,thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gianliên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loạitrừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơinăng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
1.1.4.2 Du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa diễn ra trongcác vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vuichơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu…
1.1.4.3 Khái niệm du lịch văn hóa biển đảo
Cho đến nay, khái niệm du lịch văn hóa biển đảo thực sự chưa được quan tâm tìmhiểu đúng mức, chưa được quan niệm thống nhất và đầy đủ Vì vậy, qua thực tiễnnghiên cứu, luận văn cố gắng trình bày quan niệm của mình về du lịch văn hóa biểnđảo, trên cơ sở kế thừa các quan niệm chung về du lịch hay du lịch văn hóa
Trang 23Du lịch văn hóa biển đảo là một bộ phận của du lịch văn hóa nói chung Sự khácbiệt hay nét đặc thù ở đây là khai thác các tài nguyên văn hóa vùng biển đảo, các điềukiện tự nhiên và xã hội vùng biển đảo tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa phục vụ nhu cầucủa du khách Nói cách khác, du lịch văn hóa biển đảo là loại hình du lịch khai thác tàinguyên và điều kiện văn hóa biển đảo làm sản phẩm du lịch, cũng như cung cấp cácdịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu của du khách Du lịch văn hóa biểnđảo không tách rời không gian tự nhiên, tài nguyên và sản phẩm du lịch tự nhiên biểnđảo.
1.2 Du lịch văn hóa biển đảo
1.2.1 Đặc điểm của du lịch biển đảo
- Phân bố: Biển đảo Việt Nam với tiềm năng du lịch lớn với đường bờ biển dài
3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố rải rác ở hầu hết các tỉnh từ Bắc tới Nam
- Tính mùa vụ: Khí hậu nước ta có tính chất nhiệt đới nóng ẩm Vì vậy, hoạt động
du lịch biển đảo chịu ảnh hưởng của yếu tố khí hậu, vào mùa hè là mùa cao điểm của
du lịch biển đảo bởi thời tiết nóng bức nên nhu cầu tắm biển, nghỉ dưỡng tăng cao, còn
về mùa đông ở miền Bắc du lịch biển lại trở lại mùa thấp điểm vì mùa đông ở miềnBắc lạnh, không thích hợp cho loại hình du lịch tắm biển và nghỉ dưỡng Do tính thấtthường của thời tiết như mưa bão vì thế hoạt động du lịch biển đảo không diễn ra thường xuyên liên tục
- Sự đa dạng về các loại hình du lịch: Du lịch biển đảo là sự tổng hợp đa dạng
nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu, thám hiểm,cắm trại…vì vậy, có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng khác nhau của du khách
1.2.2 Vai trò của du lịch biển đảo
- Tạo ra sự đa dạng về loại hình du lịch: Du lịch biển đảo tạo ra sự đa dạng trong loại
hình du lịch, việc phát triển du lịch biển đảo kéo theo hàng loạt các loại hình du lịch khác
ra đời và phát triển như lưu trú, nghĩ dưỡng, thể thao, nghiên cứu…, điều này
Trang 24sẽ tạo ra sự đa dạng trong các loại hình du lịch cùng khai thác tiềm năng của biển đảo, nhằm thõa mãn tối đa nhu cầu của du khách.
- Phát triển kinh tế: Trong hoạt động du lịch, thì du lịch biển đảo đang chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong GDP doanh thu Hàng năm đã thu hút khoảng 70% du khách quốc
tế tới Việt Nam Vì vậy, du lịch biển đảo là lĩnh vực đanng được nhiều đối tác nướcngoài đầu tư phát triển mạnh Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại, đồng bộ các kếtcầu hạ tầng, nhất là những đô thị ven biển, xây dựng mới các khách sạn hiện đại từ 4, 5sao, nâng số phòng khách sạn các vùng biển đảo lên trên 260 000 phòng, trong đó 50%đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch thời gian qua thườngxuyên được tổ chức mang tầm quốc tế và khu vực tại một số tỉnh, thành ven biển vàtrên các đảo như cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ thế giới 2008, Hoa hậu Trái đất, Hoa hậuThế giới người Việt, hội thảo, hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN, ASEAN +3 lầnthứ 14 và Hội nghị Thống đốc các Ngân hàng Nhà nước ASEAN lần thứ 16 tạiVinpearl Nha Trang diễn ra vào tháng 4-2010 Các hoạt động thể thao như giải Việt
dã bán Marathon Việt - Nhật; giải bóng chuyền bãi biển nam, nữ quốc tế, đua thuyềnbuồm quốc tế Hồng Kông, Festival biển Nha Trang, Festival biển Hạ Long, Festivalbiển Bình Thuận, Festival biển Vũng Tàu, Liên hoan âm nhạc các nước Đông NamÁ Ngoài ra các cư dân địa phương vùng ven biển đảo còn tổ chức nhiều hoạt độngvăn hóa, lễ hội truyền thống đặc trưng của văn hóa biển đảo thu hút đông đảo kháchtrong nước và quốc tế đến dự và tham quan
Biển đảo nói chung và du lịch biển đảo nói riêng đã và đang mang lại hiệu quảkinh tế cho đất nước, góp phần tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, thúc đẩy các thànhphần kinh tế phát triển, mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống củangười dân ở vùng ven biển đảo nhiều địa phương trong cả nước, nhằm mục tiêu cuốicùng đó là mang lại hiệu quả kinh tế cao từ tiềm năng của biển đảo
- Bảo vệ môi trường phát triển bền vững: Việc phát triển du lịch biển đảo góp
phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường phát triển bền vững, du lịch biển đảo là
Trang 25hướng tới sự trong lành và sạch sẽ vì thế các loại hình du lịch phát triển trên biển đảo
đã hướng tới việc bảo vệ môi trường trong sạch không bị ô nhiễm hướng tới môitrường phát triển bền vững cho thế hệ hôm nay và mai sau
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa biển đảo
- Tài nguyên du lịch văn hóa biển đảo: Hiện nay, xu hướng chung của các nướctrên thế giới là khai thác các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch Xét về nhu cầu dulịch, tài nguyên du lịch là nguyên nhân nội sinh của nhu cầu du lịch, là nội hàm củakhái niệm du lịch Do vậy, tài nguyên du lịch văn hóa biển đảo là điều kiện môi trườngcho du lịch văn hóa biển đảo phát triển, là yếu tố quan trọng để tạo nên những sảnphẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn và có sức cạnh tranh Sự phong phú, nguyên sơ về các
hệ sinh thái cũng như những giá trị văn hóa rất đặc thù của cộng đồng người dân vùngbiển, đảo là yếu tố quan trọng để du khách đến với loại hình du lịch này
- Sản phẩm du lịch văn hóa biển đảo: Du lịch là hoạt động văn hóa của con người
nói chung để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, tìm hiểu, khám phá và thẩm nhận những giátrị của xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người Dựa trên tiềm năng củanguồn di sản văn hóa biển đảo, phát huy thành các sản phẩm du lịch đặc trưng, chứatính “riêng tư” sẽ thu hút được sự quan tâm của du khách, góp phần vào sự phát triển
du lịch nói riêng và phát triển kinh tế địa phương nói chung Nó bao gồm các dịch vụ
du lịch tương ứng với các tài nguyên du lịch biển đảo
- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch văn hóa biển đảo: Để phát huy được hết các giá trị
di sản văn hóa biển, đảo phục vụ phát triển bền vững các loại hình dịch vụ du lịch, việcđầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển văn hóa, thể thao và du lịch cho cácvùng biển, đảo của địa phương là một vấn đề vô cùng quan trọng Nó bao gồm toàn bộcác cơ sở vật chất kỹ thuật có tác dụng phục vụ khai thác tài nguyên văn hóa biển đảo
để tạo ra sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu du khách
- Nhân lực du lịch du lịch văn hóa biển đảo: Du lịch là một trong những ngànhkinh tế dịch vụ đòi hỏi lượng nhân công cao và tỷ lệ nhân công được đào tạo lớn bởi
Trang 26gắn liền với việc đáp ứng và các dịch vụ có sự giao tiếp với khách hàng Đội ngũ laođộng thường được tuyển dụng và đào tạo tại chỗ bởi tính cách bản địa của người laođộng cũng là yếu tố hấp dẫn khách bên cạnh tính kinh tế của hoạt động đào tạo Chính
vì vậy khả năng đáp ứng nguồn lao động am hiểu về văn hóa biển đảo cả về số lượng,
độ tuổi, trình độ dân trí là rất quan trọng
Bên cạnh đó, khả năng ứng phó với tác động của thiên tai (bão, áp thấp nhiệt đới,gió lốc, v.v): khu vực biển đảo là nơi thường xuyên chịu tác động đầu tiên và mạnh mẽcủa các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, tố lốc, v.v, chính vìvậy phát triển du lịch văn hóa biển đảo cũng phải quan tâm đến yếu tố này trong việcthu hút khách du lịch và các phương án phát triển du lịch
1.2.4 Những nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa biển đảo
Thứ nhất, phải thấm nhuần quan điểm phát triển bền vững với tầm nhìn dài hạn.Kiên quyết bác bỏ quan điểm ngắn hạn trong khai thác tài nguyên biển đảo phục vụphát triển du lịch Như vậy vừa khai thác hợp lý, vừa phải quan tâm tới bảo tồn và pháthuy giá trị Với tính chất nhạy cảm của tài nguyên du lịch biển đảo, việc khai thác càngđòi hỏi phải có nhận thức đúng, xử sự đúng mực, tôn trọng giá trị tự nhiên và giá trịtruyền thống, giá trị nhân văn Quan điểm dài hạn đòi hỏi công tác quy hoạch và nghiêncứu thị trường phải đi trước một bước để đặt mục tiêu phát triển phù hợp với đặc điểmtài nguyên, không gian và sức chứa của địa phương
Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch thông qua việc thường xuyên làmmới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để kéo dài chu kỳ sống, tạo sức hấp dẫn kéo dài
kỳ nghỉ, nâng cao giá trị gia tăng và kích thích tiêu dùng du lịch Đặc biệt chú trọngphát triển, thiết kế các sản phẩm biển đảo mang tính riêng biệt của tỉnh
Thứ ba, vai trò quyết định trên hết là yếu tố con người tức nguồn nhân lực du lịch.Việc tăng cường đào tạo, chuyển giao kiến thức, kỹ năng về du lịch, nâng cao nhậnthức du lịch cho mọi đối tượng là cần thiết phải thực hiện cả trước mắt và lâu dài Tập
Trang 27trung đầu tư vào các cơ sở đào tạo du lịch, tiến hành đào tạo theo địa chỉ và khuyếnkhích, hỗ trợ công nhận kỹ năng nghề cho việc tự đào tạo tại doanh nghiệp.
Thứ tư, nguyên tắc về huy động nguồn lực theo mô hình tham gia của các thànhphần kinh tế, xã hội, đặc biệt đề cao vai trò của cộng đồng địa phương trong việc nângcao giá trị của sản phẩm du lịch Tăng cường huy động nguồn lực trong khu vực tưnhân đầu tư cho phát triển du lịch; phát huy vai trò của cộng đồng địa phương với tưcách là chủ nhân của các tài nguyên du lịch biển đảo; hỗ trợ họ trở thành tác giả tạonên những giá trị thụ hưởng du lịch mang đến cho khách
Thứ năm, tài nguyên du lịch biển phải gắn kết nhuần nhuyễn với phong cách dịch
vụ và văn hóa, lối sống địa phương Ở đâu có sự kết hợp tốt đó thì hoạt động du lịchtrở nên hấp dẫn, phong phú và hiệu quả cao hơn Vì vậy trong thiết kế sản phẩm, quyhoạch các khu du lịch phải tính đến yếu tố văn hóa bản địa để tạo tính đặc thù của sảnphẩm
Thứ sáu, các nguyên tắc về phát triển du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, sử dụngnăng lượng sạch trong phát triển du lịch biển đảo, đặc biệt ở những đảo xa bờ thiếunguồn nước ngọt, tự cấp nguồn năng lượng Việc sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, nănglượng vừa góp phần giảm chi phí vừa Phát triển du lịch “xanh” gắn với bảo vệ môitrường, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa
Thứ bảy, tăng cường năng lực và có sự chuẩn bị thích ứng với những tác động củabiến đổi khí hậu về mực nước biển dâng, những dị thường về thời tiết và tác động củathiên tai như lũ quyét, sóng thần Đối với việc quy hoạch, thiết kế các khu nghỉdưỡng nhất thiết phải tính tới yếu tố mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu; trang bịđiều kiện cần thiết để ứng phó và giảm nhẹ tác động bất lợi của biến đổi khí hậu
1.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch văn hóa biển đảo
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
Việt Nam là quốc gia biển đảo nằm trong vùng Đông Nam Á, cũng như các nước
có văn hóa biển đảo khu vực châu Á Thái Bình Dương, vì vậy có nhiều điều kiện học
Trang 28tập kinh nghiệm của các nước có du lịch văn hóa biển đảo phát triển như Thái Lan,Malaixia, Singapore, Indonesia, Philippin… Luận văn lựa chọn một số bài học kinhnghiệm của một số quốc gia sau:
* Kinh nghiệm của Indonesia
Indonesia là một quốc đảo với 17.508 hòn đảo (trong đó khoảng 6.000 đảo không
có dân), có tổng diện tích tự nhiên là 1.919.440 km2 ; dân số tính đến 01/07/2012 là248.645.008 triệu người Indonesia là quốc gia nơi sinh sống của khoảng 300 dân tộc,trong đó người Java chiếm đa số (khoảng 42%), tiếp đến là người Sundan, Malay, vàMadur, v.v… Mặc dù chiếm chưa tới 1% dân số, người Indonesia gốc Hoa có ảnhhưởng khá lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Nằm dọc theo đường xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với haimùa mưa và khô riêng biệt Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.780 - 3.175 milimettới 6.100 milimet tại các vùng núi Cả vùng đồi núi, đặc biệt ở bờ biển phía TâySumatra, Tay Java, Kalimantan, Sulawesi, và Papua có lượng mưa lớn nhất Độ ẩm nóichung cao, trung bình khoảng 80% Nhiệt độ ít thay đổi trong năm, trung bình nhiệt độtại Jakarta là 26-30oC
Rừng nhiệt đới ẩm ở Indonesia chiếm tới gần 2/3 diện tích lãnh thổ cùng với hơn80.000 km đường bờ biển được hình thành bởi vùng biển rộng lớn quan hệ thống cácđảo, Indonesia là quốc gia có tính đa dạng sinh học vào loại cao nhất trên thế giới(đứng thứ hai sau Brazil), trong đó số loài đặc hữu cao thứ hai thế giới (sau Australia)với 26% trong tổng số 1.531 loài chim, 39% trong tổng số 515 loài động vật có vú.Mặc dù là quốc gia có nhiều đảo nhất trên thế giới, tuy nhiên chỉ có du lịch đảoBali được xem là thành công nhất và Bali được xem là hình ảnh của du lịch Indonesia.Đảo Bali nằm ở cực tây quần đảo Nusa Tenggara, giữa đảo Java về phía tây và đảoLombok về phía đông Bali là 1 trong 33 tỉnh của Indonesia Dân số 3.15 triệu người,diện tích 5.632 km2 Tỉnh lỵ của Bali là Denpasar nằm phía nam đảo Đảo Bali là điểmđến du lịch lớn nhất Indonesia, được mệnh danh là thiên đường du lịch của Đông Nam
Trang 29Á với biển xanh nắng vàng và một không gian đậm chất văn hóa phương Đông nổitiếng với nển nghệ thuật truyền thống bao gồm các điệu múa dân gian bên cạnh điêukhắc, hội họa, hàng da thuộc, luyện kim đậm chất Bali.
Đến Bali, bên cạnh những giờ phút thư giãn trên các bãi biển nhiệt đới cùng cácdịch vụ hoàn hảo, điều thu hút du khách là được tham quan những ngôi đền cổ, trong
đó có đền thiêng Tanah Lot được xây trên một mõm đá giữa biển vào thế kỷ XVI bởinhững tu sĩ Bà La Môn cuối cùng đến từ đảo Java; tham quan trung tâm hội họa truyềnthống Ubud nổi tiếng bởi các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo, tận mắt chứng kiến
sự tinh xảo và công phu của các nghệ nhân chạm khắc ra nhiều bức tranh có hoa vănkhác nhau; tham quan làng Kitamani trên núi và chiêm nghưỡng vẽ đẹp kỳ vĩ của ngọnnúi lửa Batu hiện đang hoạt động; ghé thăm một trong sáu ngôi đền đẹp nhất ở Balimang tên Tirta Empul, tọa lạc trong ngôi làng Tampaksiring; đến làng Batubulan,chiêm ngưởng điệu múa Barong và Keris độc đáo với nhiều nhạc cụ dân tộc; và thamquan Trung tâm chế tác đồ bạc Celuk Village để hiểu thêm về làng nghề truyền thốngIndonesia
Bali hấp dẫn bởi điệu múa Barong Tanah Lot - Ngôi đền thiêng tại Bali
(Nguồn: www.dulich.vnexpress.net )
Trang 30Như vậy, để đưa đảo Bali thành thiên đường du lịch và là hình ảnh của du lịchIndonesia, Bali đã biết kết hợp khéo léo những lợi thế về mặc tự nhiên cùng với nhữnggiá trị văn hóa truyền thống đặc trưng của Indonesia nói chung và cộng đồng ngườidân trên đảo Bali nói riên để tạo ra sự khác biệt của du lịch Bali.
* Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á có diện tích tự nhiên là330.000 km2, dân số năm 2011 là 28.8 triệu người với hai phần:
Malaysia bán đảo, gọi là bán đảo Malaysia (Tây Malaysia), phía bắc giáp Thái Lan,phía đông giáp biển Đông, phía nam giáp eo biển Singapore, phía đông giáp eo biểnMalacca Malaysia hải đảo, gồm hai bang Sabah và Sarawak ở phía bắc đảo Borneo,giáp Brunei và Indonesia
Là một quốc gia không nhiều đảo, tuy nhiên du lịch biển đảo của Malaysia với haiđảo chính là đảo Penang và đảo Sabah rất phát triển và có vai trò quan trọng đối với dulịch Malaysia với lượng khách du lịch năm 2012 đạt 25 triệu lượt
Penang là bang duy nhất của Malaysia nằm hoàn toàn trên đảo Penang có hìnhdáng của một con rùa, với tổng diện tích hơn 1.000 km2 , liền với vịnh Malacca Đảođược nối với đất liền bằng một cây cầu biển dài 13,5 km Đây là cây cầu dài thứ batrên thế giới và dài nhất châu Á
Khí hậu tại Penang đặc trưng cho vùng khí hậu xích đạo, thời tiết nắng nóng quanhnăm, chia làm hai mùa mưa và khô, với nhiệt độ trung bình từ 210 C - 320C Mùa mưa
ở đây thường vào khoảng từ tháng 9 đến tháng 11
Đa dạng về sắc tộc, văn hóa nên cuộc sống ở Penang là sự đa chiều, thể hiện quakiến trúc, trang phục, ẩm thực…Bức tranh đường phố của Penang cũng thay đổi liêntục từ góc cạnh này sang góc cạnh khác Nhìn Penang từ trên cao càng thấy rõ sự kếtnối giữa quá khứ và hiện tại Du khách có thể thấy rất nhiều những ngôi nhà cổ kínhhàng trăm năm tuổi, nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những tòa nhà hiện đại
Trang 31Komtar là tòa nhà cao nhất Penang (58 tầng) và hầu nhƣ đứng ở bất kỳ vị trí nào trênhòn đảo cũng có thể thấy nó.
Khu phố cổ tại Penang Quần thể đền Kek Lok Si
Món ăn đường phố trên đảo Penang Các khu nghỉ dưỡng hiện đại
(Nguồn: www.dulichbui.org )
Việc bảo tồn đƣợc các giá trị văn hóa đa dạng kết hợp với những nét văn hóa hiệnđại trong kiến trúc và ẩm thực sẽ đem lại cho du khách những trải nghiệm đặc biệt
Trang 32Đây chính là sức hấp dẫn du khách khi đến với Penang bên cạnh sự hấp dẫn của nhữngbãi biển đẹp với các dịch vị du lịch hoàn hảo.
* Kinh nghiệm của Úc
Úc có chiến lược phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm – trong đó có sản phẩm
du lịch văn hóa biển đảo được thực hiện rất bài bản với việc thúc đẩy các sản phẩm dulịch trải nghiệm Trong đó, phân đoạn rất kỹ từng đối tượng thị trường: khách du lịchtiềm kiếm trải nghiệm lần đầu, khách du lịch ưa thích trải nghiệm Các phân đoạn nàyđược xác định cụ thể trong từng thị trường trọng điểm của Úc với những nhu cầu, sởthích, mong muốn, thói quen riêng
Trên cơ sở tìm hiểu sở thích các thị trường và các trải nghiệm mong muốn, Úc xácđịnh được các trải nghiệm chính mà thị trường cần gồm: Thổ dân Úc, thiên nhiên Úc,vùng hẻo lánh ở Úc, lối sống vùng ven biển Úc, thực phẩm và rượu, các đô thị lớn ở
Úc, các hành trình trên đất nước Úc Từ các trải nghiệm chính này, các sản phẩm dulịch trải nghiệm được xây dựng thu hút sự trải nghiệm của các đối tượng thị trườngkhác nhau
Nhiều địa điểm du lịch của Úc trước đây được định vị và xây dựng thương hiệubởi những hình ảnh khác nhau thì nay chuyển sang tập trung vào hình ảnh các trảinghiệm Vì vậy mà cá điểm đến có sự tương tác cao hơn, thu hút sự quan tâm củakhách du lịch Quan trong hơn là nó đã tập hợp được các giác quan, thu hút sự quantâm về lịch sử và đặc điểm các điểm đến
Ví dụ cụ thể tại Cape Leveque, cách Broome 220km về phía bắc thuộc bán đảoDampier, nơi thiên nhiên hoang dã, có những thổ dân sinh sống, các tour du lịch và hoạtđộng tự hướng dẫn Sản phẩm được tổ chức cho những người mong muốn các trảinghiệm về cuộc sống thổ dân Khách du lịch được cộng đồng thổ dân đón tiếp nồng hậu,được tìm hiểu và tham gia các hoạt động cộng đồng Trải nghiệm chính tập trung vào
“Thổ dân Úc”, ngoài ra cũng thực hiện các trải nghiệm về “Thiên nhiên Úc” và “Lối sốngvùng ven biển Úc” Dựa trên các nhu cầu của các thị trường khách ưa thích
Trang 33trải nghiệm này, hoạch định xây dựng cơ sở lưu trú phù hợp, các tour, tuyến và hoạtđộng du lịch phù hợp, với trọng tâm là các trải nghiệm Tiếp đó là vai trò của các hoạtđộng marketing, chụp hình và quay phim những hình ảnh sống động nhất về các trảinghiệm mà các thị trường mong muốn, gửi đến các thị trường trọng điểm bằng cácngôn ngữ của họ.
Kinh nghiệm khác là Úc đã huy động các doanh nghiệp cùng tham gia trong việcquảng cáo cho các dòng sảm phẩm trải nghiệm thay cho việc mỗi doanh nghiệp chỉcung cấp và quảng bá từng sản phẩm nhỏ lẻ với các trải nghiệm nhỏ lẻ
Úc cũng đã sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại mà thị trường tiêu dùngsản phẩm du lịch trải nghiệm thường sử dụng Đây cũng là kinh nghiệm quan trọng để
có thể phát triển sản phẩm du lịch văn hóa biển đảo
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước
Khánh Hòa là một tỉnh có điều kiện phát triển du lịch văn hóa biển đảo Nhưng đểphát triển tốt hơn, cần học tập kinh nghiệm của nhiều địa phương có điều kiện pháttriển du lịch văn hóa biển đảo như Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh…
* Kinh nghiệm du lịch tại Côn Đảo
Côn Đảo là huyện đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm 14 hòn đảo nằm ngoài khơi
bờ biển phía Nam, có vị trí địa lý 8034‟ đến 8041‟ vĩ độ Bắc, 106031‟ đến 106043‟ kinh
độ Đông, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 185 km; cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng
230 km; và cách cửa sông Hậu (Cần Thơ) khoảng 83 km Diện tích tự nhiên (phần trênđảo) khoảng 76,71 km2 , trong đó đảo Côn Sơn là đảo lớn nhất, có diện tích khoảng 5 152
ha, tiếp đến là Hoàn Bảy Cạnh (554 ha), Hòn Bà (550 ha), v.v…
Côn Đảo là khu vực có khí hậu nhiệt đới hải dương với 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ ấm
áp quanh năm, trung bình là 260C, tháng nóng nhất là 28,30C; lạnh nhất là 25,30C.Nhiệt đô nước biển trung bình khoảng 260C vào mùa khô và 29,50C vào mùa mưa,thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động du lịch quanh năm
Trang 34Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2.200mm, tháng 10 là tháng có lượngmưa trung bình cao nhất đạt 345mm Theo một số tài liệu điều tra cơ bản thì tiềm năngnước ngầm tập trung ở thung lũng Côn Đảo và khu vực Cỏ Ống với trữ lượng khoảng
18 triệu m3 Với trữ lượng này hàng năm có thể khai thác khoảng 1triệu m3 (khoảng2.500 m3/ngày) Tiềm năng nước ngọt trên là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch
và các ngành kinh tế dịch vụ khác trên đảo
Bên cạnh những tiềm năng du lịch đặc sắc về tự nhiên, Côn Đảo còn có quần thểcác di tích “Nhà tù Côn Đảo” - di tích lịch sử cách mạng đặc biệt quan trọng Đâyđược xem là nhà tù lớn nhất và lâu đời nhất ở Việt Nam Tại đây trong hơn một thế kỷqua, từ năm 1862 đến 1975, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã giam cầm, đầy đọa hàngchục vạn chiến sỹ cách mạng và những người yêu nước thuộc nhiều thế hệ Nhiều ditích quan trọng còn được bảo tồn, tiêu biểu là khu chuồng cọp (xây dựng từ năm1930), trại Phú Bình (hay chuồng cọp Mỹ), trại giam chuồng bò, v.v… Đặc biệt lànghĩa trang Hàng Dương, nơi chôn cất khoảng 20.000 tù nhân qua hơn 100 năm tồn tạinhà tù Côn Đảo
Mặc dù du lịch Côn Đảo chưa thực sự phát triển, tuy nhiên bài học rút ra là cầnphát triển du lịch biển đảo phù hợp với “sức chứa” các giá trị sinh thái - yếu tố quantrọng để thu hút khách
Một kinh nghiệm quan trọng nữa là trong quá trình phát triển du lịch là việc kếthợp các giá trị cảnh quan sinh thái với các giá trị lịch sử để tạo ra những sản phẩm dulịch đặc thù hấp dẫn khách du lịch
Kinh nghiệm tiếp theo của du lịch Côn Đảo là phát triển du lịch phù hợp với khảnăng cấp nước bởi trữ lượng nước ở Côn Đảo rất hạn chế Yếu tố này cũng không chophép phát triển những loại hình, sản phẩm du lịch cần nhiều nước ngọt
* Kinh nghiệm du lịch tại Vịnh Hạ Long - Quảng Ninh
Những năm gần đây cùng với sự gia tăng của lượng khách du lịch, Vịnh Hạ Long
đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn và quen thuộc không chỉ trong nước mà cả nước
Trang 35ngoài Đến với Vịnh Hạ Long là đến với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, những hang độngphong hóa độc nhất vô nhị, những giá trị văn hóa truyền thống của làng chài đậm đàbản sắc dân tộc.
Điều đáng lưu tâm đầu tiên đó là khi tham quan du lịch, khách du lịch quốc tế rấtchú trọng đến đặc điểm vùng miền, nét đẹp văn hóa truyền thống giữ chân du khách.Nắm bắt được nhu cầu đó, Vịnh Hạ Long đã đề ra chương trình phục dựng hát giaoduyên của ngư dân làng chài Cửa Vạn và lễ hội Giang Võng của ngư dân ven biển, đặcbiệt hơn khi có lễ rước nước trên biển với ý nghĩa cầu cho trời yên biển lặng Thuyền
du lịch được đóng theo kiểu thuyền ngư dân xưa, làng chài thủy cư truyền thống cũng
sẽ được phục dựng Tuyến du lịch sinh thái được hình thành ở đây thực sự rất lý tưởng
và tạo tính hấp dẫn để thu hút khách du lịch quốc tế
Nâng cao ý thức cộng đồng mang ý nghĩa quan trọng và được xem là nền tảng chocác hoạt động bảo vệ môi trường Với việc sử dụng ưu đãi tín dụng của Chính phủNhật Bản, Chính phủ nước ta đã đầu tư Dự án Bảo vệ môi trường thành phố Hạ Longvào năm 2007 Theo đó, Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp Ban quản lý Vịnh HạLong biên soạn một bộ sách tham khảo cho giảng viên, học sinh về Bảo tồn di sảnthiên nhiên Vịnh Hạ Long Các chương trình ngoại khóa được lồng ghép trong trườnghọc sẽ nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường biểnphục vụ du lịch
Thêm nữa là dự án “Vì một Hạ Long xanh” được triển khai tương đối thành công.Trong xu hướng du khách quốc tế ưa chuộng các tuyến du lịch sinh thái, dự án nàymang một ý nghĩa hết sức quan trọng Khi đến thăm làng chài Vông Viêng trên Vịnh
Hạ Long, du khách không còn thấy những bãi rác lớn, hay những túi nilong rải rác trênmặt vịnh Thay vào đó là hình ảnh người dân hướng dẫn du khách tham quan nét đẹpcủa làng ven biển Những điều này đã tạo nên ấn tượng độc đáo cho du khách dừngchân du lịch Sự phối hợp đồng bộ của Ban quản lý vịnh và các công ty lữ hành trong
Trang 36dự án này đã đem lại lợi ích thiết thực cho du lịch Hạ Long nói chung và cộng đồngdân chài nơi đây nói riêng.
1.4 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch văn hóa biển đảo
Qua nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về hoạt động phát triển du lịchvăn hóa biển đảo, ta có thể rút ra một số vấn đề cần đặt ra trong việc nghiên cứu vănhóa biển đảo như sau:
Chú trọng nghiên cứu tìm ra những giá trị đặc thù của văn hóa biển đảo để khaithác tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng hấp dẫn Đối với những khu vực tậptrung nhiều đảo với các giá trị văn hóa khác nhau, cần nghiên cứu để sao cho sản phẩm
du lịch của các nơi này không trùng lặp với nhau Có như vậy mới tạo ra sức hấp dẫnchung cho du lịch văn hóa biển đảo
Đề cao tính hấp dẫn của văn hóa bản địa để thu hút khách du lịch: đây
là yếu tố
rất quan trọng để hấp dẫn khách du lịch đến với du lịch văn hóa biển đảo cho dù cácgiá trị môi trường tự nhiên của biển đảo luôn là lựa chọn hàng đầu đối với khách dulịch Kinh nghiệm du lịch tại Bali – Indonesia được xem là khá điển hình minh chứngcho thành công của nổ lực khai thác giá trị văn hóa bản địa để tạo nên sự khác biệt củasản phẩm du lịch đảo Bali với các sản phẩm du lịch khác của quốc đảo này Tuy nhiên,
để không lẫn với việc khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển du lịch nói chung mà
có thể thấy được ở bất kỳ đâu, cần lựa chọn những giá trị văn hóa (lễ hội, lối truyềnthống, truyền thuyết, v.v…) gắn với cuộc sống của người dân mà ờ đó biền là trungtâm
Chú trọng khai thác tính chất biệt lập và tính riêng tư của văn hóa biển đảo để
xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa cao cấp Đây được xem là thế mạnh và cũng là sự khác biệt khá rõ của du lịch văn hóa biển đảo
Tiểu kết chương 1
Trang 3733
Trang 38là một địa phương có vị thế địa - văn hóa, địa - chính trị trong số các tỉnh ven biển ViệtNam Để tìm hiểu sự gắn kết giữa tiềm năng của văn hóa biển đảo với sự phát triển dulịch Khánh Hòa, chương 1 của luận văn đề cập đến những lý do khách quan cần thiếtcho việc nghiên cứu phát triển loại hình du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa, tạođiều kiện hơn nữa cho việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách củaKhánh Hòa Các bài học kinh nghiệm cho du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa cùngnhững điểm đến để phát triển loại hình du lịch này trở thành cơ sở cho một hình thức
du lịch hiện đại đã được tác giả tập trung nghiên cứu trong chương 1 Bởi thế chương
1 được coi là chương tiền đề, chương “chìa khóa”, mở lối cho việc đưa ra những giảipháp nhằm mở ra một loại hình du lịch mới của Khánh Hòa trong tương lai không xa
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO KHÁNH HÒA2.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa biển đảo tỉnh Khánh Hòa
2.1.1 Lịch sử hình thành
Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, tại đây đã từng tồn tại một nềnvăn hóa Xóm Cồn, có niên đại lâu trước cả văn minh Sa Huỳnh Theo Ðại Nam nhấtthống chí, năm 1653 vua Chăm là Bà Thấm sai quân quấy nhiễu biên cảnh, chúaNguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc chống giữ, nhân đêm tối vượt núi Thạch Bi,tiến đến tận sông Phan Lang (Rang) Vua Chăm sai con mang thư hàng và xin dâng đấtcho chúa từ phía Ðông sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên Chúa Nguyễn chấp thuận,đặt dinh Thái Khang chia làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh gồm 5 huyện làPhước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương (thuộc phủ Diên Ninh) ở phía Nam; huyện TânÐịnh, Quảng Phước (thuộc phủ Thái Khang), giao cho Hùng Lộc trấn thủ Như vậy,với việc đặt dinh Thái Khang và phân chia các đơn vị hành chính, chúa Nguyễn đã đưavùng đất Khánh Hoà ngày nay hội nhập vào lãnh thổ Ðại Việt Sự kiện lịch sử nàyđược coi là mốc thời gian mở đầu cho sự hình thành địa phận hành chính tỉnh KhánhHoà ngày nay
Tên tỉnh Khánh Hòa được xác lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, gồm
2 phủ, 4 huyện là: Phủ Diên Khánh gồm 2 huyện: Phước Ðiền, Vĩnh Xương; Phủ NinhHòa gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Ðịnh Trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp,tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh Đến đầu năm 1945 chuyển về đóng tại thị xã NhaTrang (nay là thành phố Nha Trang) cho đến nay
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên vàKhánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh Ngày 30/3/1977, thị
xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha Trang Ngày 28/12/1982,
Trang 40Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sáp nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnhPhú Khánh Vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa VIII (kỳ họp thứ năm) lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh PhúYên và Khánh Hòa.
Ngày 22-4-1999, thành phố Nha Trang được công nhận là đô thị loại II thuộc tỉnhKhánh Hòa
Ngày 7-7-2000, huyện Cam Ranh được nâng lên thành thị xã Cam Ranh
Ngày 11-4-2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2007/NĐ-CP về việc điềuchỉnh địa giới hành chính một số huyện, thị xã, xã, phường thuộc tỉnh Khánh Hòa đểthành lập huyện mới Cam Lâm và một số xã, thị trấn mới Tại huyện Trường Sa, thànhlập thị trấn Trường Sa trên cơ sở đảo Trường Sa Lớn và các đảo, đá, bãi phụ cận;thành lập xã Song Tử Tây trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, đá, bãi phụ cận;thành lập xã Sinh Tồn trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, đá, bãi phụ cận
Ngày 22-4-2009, thành phố Nha Trang được công nhận là đô thị loại I trực thuộctỉnh Khánh Hòa
Ngày 26-10-2010, Chính phủ ra quyết định thành lập thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnhKhánh Hòa trên cơ sở toàn bộ 119.777 ha diện tích tự nhiên và 233.558 nhân khẩu củahuyện Ninh Hòa cũ
Ngày 23-12-2010, thị xã Cam Ranh được chính thức công nhận là thành phố trựcthuộc tỉnh Khánh Hòa
Về tổ chức hành chính hiện nay, tỉnh Khánh Hòa có 2 thành phố là Nha Trang,Cam Ranh, 1 thị xã Ninh Hòa và 6 huyện: Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, CamLâm, Vạn Ninh và huyện đảo Trường Sa
2.1.2 Các điều kiện tự nhiên
Khánh Hoà là một tỉnh ven biển Duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên5.197 km2 (kể cả các đảo, quần đảo), bao gồm thành phố Nha Trang và 08 huyện, thị
xã Là địa phương có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên thiên