1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

154 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 347,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nghiên cứu hạnh phúc chủ quanthường phân biệt giữa yếu tố trong nhận thức và cảm xúc của hạnh phúc chủ quan.Theo đó, sự hài lòng trong cuộc sống và những mặt chính là những yếu t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRƯƠNG THỊ KHÁNH HÀ

HÀ NỘI - 2015

1

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢM NHẬN HẠNH PHÚC 6

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc 7

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 16

1.2.1 Khái niệm hạnh phúc 16

1.2.2 Khái niệm cảm nhận hạnh phúc 18

1.2.3 Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 22

1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 25

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Tổ chức nghiên cứu 29

2.1.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 29

2.1.2 Tiến trình nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 33

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 34

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 36

2.2.4 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 36

2.2.5 Phương pháp trắc nghiệm 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 42

3.1.1 Mức độ các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 42

Trang 3

3.1.2 Cảm nhận hạnh phúc về mặt cảm xúc 43

3.1.3 Cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội 45

3.1.4 Cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý 49

3.2 Tương quan giữa các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc 52

3.3 So sánh cảm nhận hạnh phúc của sinh viên các nhóm 55

3.3.1 So sánh cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ sinh viên 55

3.3.2 So sánh cảm nhận hạnh phúc của sinh viên giữa các nhóm tuổi 55

3.3.3 So sánh cảm nhận hạnh phúc của sinh viên giữa các khu vực sinh sống 58

3.3.4 So sánh cảm nhận hạnh phúc của sinh viên các tỉnh 59

3.4 Các yếu tố có mối quan hệ tương quan với cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 63

3.4.1 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và sự hài lòng cuộc sống của sinh viên 63

3.4.2 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và các nhóm cảm xúc 69

3.4.3 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và một số phẩm chất cá nhân của sinh viên 75

3.4.4 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và tình hình kinh tế gia đình của sinh viên 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 845

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

3

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Thị Khánh Hà - Khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Trang

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn cao học này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớicác Thầy (cô) trong Khoa Tâm lý học - Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhânvăn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện luận văn cao học

Tôi cũng xin trân thành cảm ơn PGS.TS Trương Thị Khánh Hà, người đã tậntình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trìnhtiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn cao học này

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân thành đến tập thể cán bộ trường, cácthầy, cô giáo và các bạn sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ

An và Hà Giang Đó là những người đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quátrình tiến hành nghiên cứu thực tiễn, giúp tôi có được những số liệu quý báu để gópphần vào việc hoàn thành luận văn cao học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thântrong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoànthành luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của tôi còn nhiều thiếu sót, tôi kính mongnhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo để đề tài củatôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, 07 tháng 12 năm 2015

Học viên

Hoàng Thị Trang

5

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Thực trạng mức độ các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của 42

sinh viên

3.5 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc 53

3.7 Mức độ hài lòng với cuộc sống và các lĩnh vực khác nhau 63–64

3.9 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và sự hài lòng cuộc 68–69

sống

3.10 Mối tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và các nhóm cảm 71–72

xúc

3.11 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và các nhóm phẩm chất 78

cá nhân của sinh viên

3.13 Bảng mô tả tình hình kinh tế của gia đình sinh viên so với mức 82

trung bình nơi gia đình sinh sống

3.14 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và tình hình kinh tế của 83

gia đình sinh viên

Trang 7

6

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên giữa các khu vực sinh 57

sống

3.4 Mức độ hài lòng với cuộc sống và các lĩnh vực khác nhau 65

Trang 9

Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng, hạnh phúc là một phương tiệngiúp mang lại thành công cao hơn Khi nhìn lại nghiên cứu về sức khởe con người,

ba nhà tâm lý học Sonja Lyubomirsky, Laura King và Ed Diener ghi nhận “Hàngloạt các nghiên cứu cho thấy các cá nhân hạnh phúc thì thành công trong nhiều khíacạnh của cuộc sống như hôn nhân, bạn bè, thu nhập, sự nghiệp và sức khỏe” Cácnghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ giữa hạnh phúc và thành công là mối quan

hệ tương hỗ: thành công, trong sự nghiệp và trong các mối quan hệ, không chỉ gópphần tạo nên hạnh phúc, mà hạnh phúc cũng mở đường cho thành công nối tiếpthành công [33,39, 40]

Sinh viên là một đối tượng mang tính đặc thù cao, họ đang ở trong giai đoạnchuyển tiếp từ môi trường phổ thông sang môi trường độc lập (học tập, cuộc sống)trên đại học vừa phải trang bị một khối lượng kiến thức khổng lồ để hình thành nên

kỹ năng nghề nghiệp Họ trải qua những chuyển biến không nhỏ trong quan niệm vềcuộc sống, nghề ngiệp, người bạn đời….của mình Mặt khác, những thay đổi liêntục của xã hội hiện đại đòi hỏi họ phải có sự thích nghi cho phù hợp Điều này gây

ra những mức độ căng thẳng cao tới các bạn sinh viên Trên quy mô toàn nước Mỹ,

1

Trang 10

tỷ lệ tự tử của người trẻ từ 15-24 tuổi tăng không nhiều nhưng khá đều từ năm

2007: từ 9,6 vụ tự tử/100.000 người lên 11,1 vụ vào năm 2003 Tuy nhiên, một

khảo sát của các trung tâm tư vấn trong trường đại học cho thấy hơn một nửa nhữngngười đến đây gặp vấn đề về tâm lý – tăng 13% chỉ trong vòng 2 năm Lo âu vàtrầm cảm hiện đang là những biểu hiện tâm thần phổ biến nhất của sinh viên đại học– theo Trung tâm Sức khỏe tâm thần đại học ở ĐH Pennsylvania State [41] Tại ViệtNam, kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm

2008 cho thấy, trong hơn 10.000 thanh thiếu niên thì trên 73% người từng có cảmgiác buồn chán, hơn 4% từng nghĩ đến chuyện tử tự So sánh với số liệu của cuộcđiều tra trước đó vào năm 2003 thì tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồnchán đã tăng lên Đặc biệt, tỷ lệ thanh thiếu niên nghĩ đến chuyện tự tử tăng lênkhoảng 30% [31] Như vậy chúng ta có thể thấy, nếu con người nói chung và sinhviên nói riêng có cảm giác buồn chán thì sẽ dẫn đến các hệ quả vô cùng tồi tệ

Bên cạnh đó, cũng có một số lượng lớn các bạn sinh viên đạt được nhữngthành tích cao trong học tập, có nhiều mối quan hệ chất lượng, trở thành một người

có trách nhiệm và có nhiều đóng góp cho xã hội Trong nghiên cứu về hạnh phúccủa sinh viên đại học, Diener và Seligman tìm thấy một sự khác biệt chính giữanhóm sinh viên hạnh phúc nhất với nhóm sinh viên khác, những người rất hạnhphúc đã có một cuộc sống xã hội phong phú và toại nguyện Họ dành thời gian ítnhất một mình, có mối quan hệ tốt với bạn bè và có một đối tác lãng mạn ở hiện tại[29] Và các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nếu cá nhân có cuộc sống hạnh phúcthì khả năng mắc các bệnh về tinh thần như stress, trầm cảm, …là thấp hơn Chính

vì vậy, việc nghiên cảm nhận hạnh phúc và một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhậnhạnh phúc của sinh viên là thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay Vậy làm thếnào để sinh viên luôn có một tâm trạng thoải mái, vui vẻ, cảm thấy hạnh phúc đểhăng hái học tập, tham gia các hoạt động và vượt qua được những khó khăn là điềukhông chỉ riêng sinh viên quan tâm mà các tổ chức đoàn thể nhà trường cũng đềuhướng tới Tuy nhiên cho đến nay, ngoài các công bố về chỉ số hạnh phúc nói chungthì chỉ có rất ít các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc ở Việt Nam, nhất là cảmnhận hạnh phúc của sinh viên

Trang 11

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên” với mong muốn tìm hiểu thực trạng mức độ cảm

nhận hạnh phúc của sinh viên, các yếu tố có mối liên hệ với cảm nhận hạnh phúc

Từ kết quả nghiên cứu thu được đề xuất một số biện pháp tác động giúp các bạnsinh viên tăng mức cảm nhận hạnh phúc và chăm sóc sức khỏe về tinh thần

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng mức độ các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinhviên hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nângcao cảm nhận hạnh phúc ở sinh viên nói riêng, con người nói chung

3 Đối tƣ ng nghiên cứu

Các mặt biểu hiện và mức độ biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

4 Khách thể nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được chọn là sinh viên, những người đang trực tiếp học tập tại các trường đại học Cụ thể là:

+ 188 sinh viên các trường Đại học tại Hà Nội (trung tâm nội thành)

+ 187 sinh viên các trường Đại học tại Hải Phòng (nội và ngoại thành)

+ 89 sinh viên Nghệ An hiện đang theo học hệ tại chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội

+ 91 sinh viên Hà Giang hiện đang theo học hệ tại chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội

5 Giả thuyết nghiên cứu

Các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên có sự tương quan vớinhau và biểu hiện ở các mức độ khác nhau

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trong đó,các yếu tố khách quan như mức sống, địa bàn sinh sống có ảnh hưởng mạnh hơn cácyếu tố chủ quan như một số phẩm chất nhân cách, các nhóm cảm xúc, lòng biếtơn v.v

Sinh viên sống ở khu vực nông thôn có mức cảm nhận hạnh phúc cao hơn sovới sinh viên ở khu vực đô thị và vùng đang đô thị hóa

3

Trang 12

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc của sinh viên: tổngquan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến cảm nhận hạnh phúc và cảm nhận hạnhphúc của sinh viên; Xây dựng những khái niệm cơ bản như khái niệm hạnh phúc,cảm nhận hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên, biểu hiện cảm nhận hạnhphúc của sinh viên

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên.Tìm hiểu mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc của sinh viên với một số yếu tốkhách quan, chủ quan

Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng mức cảm nhận hạnh phúc của sinh viênhiện nay nói riêng và con người nói chung

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Có nhiều lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc của nhiều tác giả khác nhau.Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu cảm nhận hạnh phúc dướigóc độ là cảm nhận hạnh phúc chủ quan (subjective – wellbeing) theo lý thuyết củaKeyes và cộng sự Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinhviên nhưng chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu các yếu tố chủ quan như: lòng biết ơn,quan điểm thắng thua, thái độ thù địch; Các yếu tố khách quan như: hoàn cảnh xuấtthân, địa bàn sinh sống, mức sống của gia đình sinh viên

7.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn

Trong điều kiện thời gian và kinh phí có hạn, đề tài chỉ điều tra sinh viênđang theo học tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Mỏ - Địachất, Cao đẳng Y tế Công cộng, Trung cấp giáo dục mầm non, Đại học Hàng Hải,Đại học Hải Phòng trên địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và Hà Giang

Trang 13

8 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, trong các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên thì mặt nào có mức độ cao nhất?

Thứ hai, các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc có mối quan hệ với nhau nhưthế nào?

Thứ ba, những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên?

9 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:

- Phương pháp sử dụng thang đo (Mental Health Continuum – Short Form)

- Phương pháp phân tích số liệu bằng thống kê toán học

10 Đóng góp mới của đề tài

Trên thế giới đã có những nghiên cứu nhất định về cảm nhận hạnh phúc nóichung và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên nói riêng Tuy nhiên ở Việt Nam, hiện

có rất ít các nghiên cứu về vấn đề này Tìm hiểu được bản chất cảm nhận hạnh phúccủa sinh viên gồm những thành tố nào Các thành tố có mức độ, mối quan hệ nhưthế nào, và các yếu tố có mối liên hệ với cảm nhận hạnh phúc của sinh viên hiện nay

sẽ góp phần nâng cao mức cảm nhận hạnh phúc cho học sinh viên nói chung cảtrong lý luận và thực tiễn

+ Nêu lên được thực trạng về mức độ các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc,mối tương quan giữa các mặt biểu hiện và các yếu tố khác với cảm nhận hạnh phúc củasinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, Hải Phòng

+ Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đếncảm nhận hạnh phúc cho sinh viên sống trong những điều kiện, môi trường khác nhau vàcho các đối tượng khác ngoài sinh viên

5

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢM NHẬN HẠNH PHÚC

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc

Hạnh phúc là một vấn đề trừu tượng, nhận được nhiều sự quan tâm của cácnhà nghiên cứu không chỉ ở trong lĩnh vực tâm lý học mà còn nhiều ngành khoa họckhác Với các cách tiếp cận khác nhau, những đặc thù chuyên môn nên có nhiềuquan điểm khác nhau khi nghiên cứu hạnh phúc Trong nghiên cứu của mình, chúngtôi xin đi sâu vào cảm nhận hạnh phúc chủ quan nói chung và cảm nhận hạnh phúccủa sinh viên nói riêng

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài

a Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài về hạnh phúc (happiness)

Trong những năm 1950, các nhà tư tưởng nhân văn như Carl Rogers, ErichFromm và Abraham Maslow đã phát triển các lý thuyết tập trung vào hạnh phúc vànhững khía cạnh tích cực của bản chất con người Tuy nhiên, những kết quả nghiêncứu đầu tiên về hạnh phúc lại đến từ các ngành khoa học khác như khoa học về bộnão, kinh tế học, xã hội học, v.v.v Các tác giả đã tập trung chủ yếu vào các vấn đềnhư: nguồn gốc của hạnh phúc, về cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng tới hạnh phúccũng như tác động của hạnh phúc đối với đời sống mỗi cá nhân.v.v

Khi tìm hiểu nguồn gốc của hạnh phúc, các nhà khoa học đã tiến hành nhiềuthí nghiệm khác nhau và chỉ ra rằng hạnh phúc xảy đến khi nhiều chất hóa học trong

cơ thể tương tác với nhau Năm 1872, bác sỹ Camillo Golgi bắt đầu khám phá thànhphần nền tảng nhất của bộ não là neuron và đi đến kết luận chính neuron chứ khôngphải tác nhân nào tạo ra cảm xúc hạnh phúc Đến năm 1954, hai nhà phân tâm họcJanes Olds và Peter Milner đã gây chấn động khi phát hiện ra cơ chế sinh ra hạnhphúc (nhờ thí nghiệm ngẫu nhiên): nghiên cứu cơ chế hoạt động của não chuột, hainhà khoa học đặt một điểm cực vào một nơi mà sau này họ phát hiện ra đó chính làtrung tâm tạo ra khoái cảm trong não Sau khi kích điện vào đó, đám chuột có vài

Trang 15

hành động tương tự như khi động dục Không chỉ nhờ neuron, vài chất hóa họctrong cơ thể cũng góp phần đem lại cảm giác thỏa mãn chẳng hạn serotonin,dopamin và chất endorphin – một morphin tự nhiên trong cơ thể Nghiên cứu chothấy nếu endorphin rơi đúng vào các tế bào cảm nhận của hệ thần kinh như chìakhóa lọt đúng vào ổ, thì cảm giác hưng phấn đạt đến trạng thái cao nhất Hạnh phúcxuất hiện khi chính xác hơn, cảm giác hạnh phúc không đơn thuần khai sinh từ não

mà phải có sự kết hợp của các chất hóa học trong cơ thể [24,25] Như vậy, cho đến đầu thế kỉ thứ 19 thì các nghiên cứu về hạnh phúc chủ yếu được tập trung ở khía cạnh sinh học, kết quả cho thấy cảm giác hạnh phúc được sinh ra từ não và có sự kết hợp giữa các chất hóa học trong cơ thể đó là endorphin.

Tác phẩm được coi là xuất hiện sớm nhất trong nghiên cứu khoa học về hạnh

phúc là “The Science of Happiness” của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm

1861 Năm 1909, một cuốn khác cùng tên của Henry S.vWilliams xuất bản tại NewYork tiếp tục gây được sự chú ý nhất định trong giới học thuật Từ đó, các côngtrình, chuyên khảo, bài báo… có khuynh hướng nghiên cứu khoa học về hạnh phúcđều đặn xuất hiện Và hiện nay, hạnh phúc đã trở thành đối tượng nghiên cứu củangành nghiên cứu độc lập có tên gọi The Science of Happiness

Trong phiên bản thứ 2 “Sổ tay của cảm xúc” (Handbook of Emotions, 2000 ),

nhà tâm lý học tiến hóa Leda Cosmides và John Tooby nói rằng hạnh phúc xuấtphát khi “gặp phải sự kiện tích cực bất ngờ” Trong phiên bản thứ 3 Sổ tay của cảmxúc (2008), Michael Lewis nói: “hạnh phúc có thể được gợi ra bởi nhìn thấy mộtngười quan trọng” Theo Mark Leary, báo cáo trong tháng 11 năm 1995 vấn đề củaTâm lý học ngày nay, “chúng tôi cảm thấy hạnh phúc nhất khi được người khácchấp nhận và khen ngợi” Trong một ấn bản tháng 3 năm 2009 của Tạp chí tâm lýhọc tích cực, Sara Algoe và Jonathan Haidt nói rằng hạnh phúc có thể là trạng tháicảm xúc liên quan đến niềm vui, sự thích thú, sự hài lòng, thỏa mãn, hưng phấn vàchiến thắng [34]

Nhà tâm lý Martin Seligman thuộc Đại học Pennsylvania được xem như làcha đẻ của Tâm lý học tích cực, chủ tịch hiệp hội bác sỹ tâm lý Mỹ là một trong

7

Trang 16

những người nhiệt thành lên tiếng đòi môn nghiên cứu về hạnh phúc phải được chútrọng với tư cách là một khoa học liên ngành, chuyên nhiên cứu định lượng về hạnhphúc, nhằm bổ sung, thay thế cho những lĩnh vực mà triết học, tôn giáo còn đanggiải thích một cách rối rắm hoặc trừu tượng Năm 1998, ông mời đến thành phốAkumal (bang Mexico) một số nhà tâm lý hàng đầu nước Mỹ chia sẻ một mục tiêumới của tâm lý học: nghiên cứu hạnh phúc Và trào lưu Tâm lý học tích cực ra đờivào năm đó, hướng đến sự phát triển con người, hướng đến hỗ trợ con người tậnhưởng cuộc sống tích cực trọn vẹn Những người thừa nhận nó đặc biệt nhấn mạnhvào niềm tin vào một điều rằng, về bản chất con người có thể học hỏi được, cho nên

có thể dạy cho con người vươn tới hạnh phúc ra sao hay ít nhất có thể dạy người tatiếp cận với hạnh phúc Trong năm 2006, khóa học về tâm lý tích cực của ĐHHarvard đã trở thành lớp học phổ biến nhất trường Để quảng bá một lĩnh vựcnghiên cứu mới, ông Seligman đã tận dụng thành quả trước đó của các trường pháiđại diện tâm lý học nhân văn là Abraham Maslow và Carl Rogers cũng như côngtrình nghiên cứu của David Myers, Ed Diener and Mihaly Csikszentmihalyi Đặcbiệt ông Seligman đã phát triển một cách sáng tạo quan điểm cảm thụ lạc quan saunày được gọi ngắn gọn là FLOW, do Csikszentmihalyi đề xuất trước đó khá lâu

Theo lý thuyết FLOW, điều kiện để đạt tới sự mãn nguyện bền vững là việctham gia vào các hoạt động hơi khó khăn một chút nhằm mục đích chống lại cảmgiác nhàm chán và đơn điệu, nhưng đồng thời lại không khó đến mức vượt quá khảnăng của một cá nhân cụ thể không tạo ra cảm giác thất bại trong đời, không khiếnngười ta chán nản Hạnh phúc khi đó không phải là mục đích tự thân mà chỉ là mộtthứ sản phẩm phụ của hoạt động sáng tạo

Theo Martin Seligman thì có 3 yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc là: gen và sựgiáo dục ảnh hưởng khoảng 50% đến sự biến đổi cảm giác hạnh phúc của mỗi cánhân; hoàn cảnh môi trường xung quanh, thu nhập chỉ tác động khoảng 10% còn40% những nhân tố ảnh hưởng khác đến từ cách nhìn nhận và hoạt động của mỗi cánhân, những điều đó bao gồm: các mối quan hệ, tình bạn, công việc, liên kết trongcộng đồng, tham gia vào thể thao và những thói quen Tác giả cho rằng khi sinh ra

Trang 17

mỗi người đã gắn với một cấp độ hạnh phúc nào đó, do di truyền Môi trường, ý chíbản thân chỉ làm thay đổi mức độ hạnh phúc xung quanh cấp độ hạnh phúc ban đầu.Quan điểm này phù hợp với quan điểm của phó GS Bruce Headey từ học việnMelbourne thuộc đại học Melbourne: “Yếu tố di truyền chỉ tác động khoảng 50%cảm giác hạnh phúc của con người Các yếu tố ngoại cảnh khác có ảnh hưởng ởmức độ tương đương.” Vào năm 1996, với lý thuyết tiến hóa, thuyết di truyền cácGiáo sư của ĐH bang Minnesot là David Lykken và Auke Tellegen, những ngườithuộc nhóm nghiên cứu tâm lý học các cặp song sinh có gen di truyền giống hệtnhau tức là sinh đôi cùng 1 trứng nhưng bị tách rời nhau ngay khi sinh và được nuôidạy trong những điều kiện môi trường khác nhau dã công bố kết quả nghiên cứu củamình về vấn đề di truyền hạnh phúc Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với quanđiểm của Martin Seligman và Bruce Headey, nói chung việc chúng ta có hạnh phúchay không là do gen di truyền quyết định Hai ông cho rằng 44 – 55% cảm giác hàilòng của con người thường được quyết định bởi “điểm chuẩn hạnh phúc” vốn cógen di truyền chi phối Trong khi đó mức thu nhập, tình trạng hôn nhân, lòng tin tôngiáo hay nền tảng giáo dục… tức là ngoài yếu tố di truyền lại chỉ ảnh hưởng vớimột tỉ lệ không lớn so với những nhân tố di truyền Kết luận này tuy bị nhiều ngườinghi ngờ nhưng đã góp phần kích thích nhữnng nghiên cứu sâu thêm về vai trò củagen di truyền Michael Cunningham, GS Đại học Louisville, Kentucky, Mỹ đã cómột nghiên cứu chứng minh rằng, nhiều người có điểm chuẩn hạnh phúc thấp và rấtthấp, nhưng trong hoạt động xã hội vẫn có thể đạt tới một nấc thang hạnh phúc caohơn [35,36,37].

Như vậy, đến thế kỉ 20 “Hạnh phúc” mới được tâm lý học quan tâm một

cách thích đáng, đặc biệt là Tâm lý học tích cực – một phân ngành mới của Tâm lýhọc chuyên nghiên cứu định lượng về hạnh phúc và hướng đến hỗ trợ cho con ngườitận hưởng một cuộc sống tích cực trọn vẹn Theo Martin Seligman và BruceHeadey, David Lykken và Auke Tellegen gen di truyền ảnh hưởng khoảng 50% đến

sự biến đổi cảm giác hạnh phúc cuả mỗi cá nhân; hoàn cảnh môi trường xung

9

Trang 18

quanh, thu nhập chỉ chiếm khoảng 10% còn 40% nhân tố ảnh hưởng khác đến từ cách nhìn nhận và hoạt động của mỗi cá nhân.

b Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài về cảm nhận hạnh phúc

về hạnh phúc chủ quan Diener, Suh, Lucas, và Smith cũng đã đề cập tới sự hài lòngtrong các mặt khác nhau của cuộc sống Các nhà nghiên cứu hạnh phúc chủ quanthường phân biệt giữa yếu tố trong nhận thức và cảm xúc của hạnh phúc chủ quan.Theo đó, sự hài lòng trong cuộc sống và những mặt chính là những yếu tố về nhậnthức vì những yếu tố này đều dựa trên niềm tin có thể đo được (thái độ) trong cuộcsống của người đó Ngược lại, cảm xúc tích cực và tiêu cực đánh giá trên yếu tốcảm xúc trong hạnh phúc cá nhân Cảm xúc tích cực và tiêu cực phản ánh qua mức

độ hài lòng hay không hài lòng mà người đó đã trải qua trong cuộc sống Tiếp đến,Diener và các cộng sự của mình đưa ra thang đánh giá về hạnh phúc chủ quan dựatrên sự đánh giá của mỗi người về sự hài lòng với cuộc sống nói chung và hài lòngtrong các mặt khác nhau của cuộc sống nói riêng [12]

Đồng quan điểm với Diener, tác giả Corey L.M Keyes (2002) cũng cho rằnghạnh phúc chủ quan bao gồm bao gồm những biểu hiện phản ánh sự tồn tại hay biếnmất của cảm xúc tích cực về cuộc sống Những biểu hiện về hạnh phúc chủ quanđược xác định từ là sự nhận thức đánh giá của cá nhân về cuộc sống của mình vềcác trạng thái cảm xúc về các chức năng tâm lý và xã hội của bản thân và hài lòngvới cuộc sống Ông đề cập đến cảm nhận hạnh phúc như là một dấu hiệu của sứckhỏe tinh thần Sức khỏe tinh thần được khái quát hóa hoạt động bằng hàng loạt cácbiểu hiện của cá nhân về hạnh phúc Theo đó, cảm nhận hạnh phúc được biểu hiện

Trang 19

trên ba mặt đó là: về mặt cảm xúc, về mặt xã hội và về mặt tâm lý Người trưởngthành với sức khỏe tinh thần đầy đủ có tinh thần sung mãn trong cuộc sống sẽ cómức độ hạnh phúc cao Khi tinh thần sung mãn họ sẽ luôn có những cảm xúc tíchcực, hoạt động tâm lý và xã hội tốt Người trưởng thành có tinh thần không sungmãn sẽ là chán nản trong cuộc sống cũng có chỉ số hạnh phúc không cao [11]

Trong một cuộc điều tra về ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân và vai tròcủa các nguồn lực xã hội với cảm nhận hạnh phúc của một nhóm thanh thiếu niênNam Phi của Henriëtte S Van Den Berg & các cộng sự, nhóm tác giả thu được kếtquả như sau:

- Có sự khác biệt trong mức độ hài lòng với cuộc sống giữa các nhómthanh niên Nam Phi Trong đó: nhóm thanh niên nam da đen có mức độ hài lòng thấphơn một chút so với nhóm thanh niên nữ da đen và nhóm thanh niên nam nữ da trắng

- Hoạt động học tập, các mối quan hệ xã hội, các mối quan hệ gia đình, sự

hỗ trợ xã hội có mối quan hệ chặt chẽ tới mức độ hài lòng với cuộc sống của thanh thiếuniên ở cả bốn nhóm (nam - nữ da trắng, nam – nữ da đen)

Khi nghiên cứu về stress, hỗ trợ xã hội và nhận thức hạnh phúc trong sinhviên Đại học, Keith A King và cộng sự đã phát hiện ra rằng sự khác nhau trong cảmnhận hạnh phúc giữa các sinh viên phụ thuộc khá lớn vào mức độ căng thẳng và cácmối quan hệ tình cảm với người xung quanh Kết quả nghiên cứu cũng cho biết60,1% sinh viên có mức độ căng thẳng cao và một trong 3 kỹ thuật quản lý căngthẳng hiệu quả mà sinh viên sử dụng đó là thường xuyên nói chuyện với một ai đó

để giải tỏa (hay nói cách khác là có một mối quan hệ tình cảm gần gũi với một aiđó) Một trong các tác nhân gây ra căng thẳng cho sinh viên là nghề nghiệp trongtương lai và việc học tập, tốt nghiệp đúng thời hạn Bên cạnh đó, việc phát triển chấtlượng tình bạn, quan hệ gia đình được đánh giá là có tầm quan trọng, có thể cảithiện mức hạnh phúc và làm giảm căng thẳng cho các bạn sinh viên tại trường Đạihọc [16]

11

Trang 20

Như vậy qua một số công trình nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của cáctác giả nước ngoài, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: Hầu hết các nhà nghiêncứu đồng quan điểm cho rằng sự hài lòng cuộc sống chính là một phần của hạnhphúc chủ quan Và con người có thể đo được mức độ cảm nhận hạnh phúc dựa trêncác thang điểm đánh giá về mức độ hài lòng với cuộc sống của mình Bên cạnh đó,thành phần cảm xúc cũng đóng vai trò quan trọng đối với hạnh phúc chủ quan.

Riêng với đối tượng khách thể là sinh viên thì các yếu tố như: hoạt động họctập, các mối quan hệ xã hội, các mối quan hệ gia đình, sự hỗ trợ xã hội có mối quan

hệ chặt chẽ tới mức độ hài lòng với cuộc sống Bên cạnh đó sự khác nhau trong cảmnhận hạnh phúc giữa các sinh viên phụ thuộc khá lớn vào mức độ căng thẳng và cácmối quan hệ tình cảm với những người xung quanh

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước

Cho đến thời điểm này, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào mangtính tổng thể về cảm nhận hạnh phúc nói chung và cảm nhận hạnh phúc của sinhviên nói riêng Hiện chỉ mới có một số bài viết trên tạp chí được dịch từ các nghiêncứu của nước ngoài và các bài báo đề cập đến hạnh phúc, sự hài lòng nhằm giớithiệu một lĩnh vực mới được quan tâm của tâm lý học tích cực, hoặc số ít nghiêncứu được tiến hành ở trong nước đề cập đến cảm nhận hạnh phúc của một nhómnkhách thể nhất định và các yếu tố ảnh hưởng đến nó Tuy nhiên, đó cũng chỉ lànghiên cứu chung trên quy mô lớn (toàn Châu Á), chưa đi sâu vào phản ánh mức độbiểu hiện các mặt cảm nhận hạnh phúc

Với Doh Chull Shin: “Chất lượng cuộc sống của người dân Châu Á theo Nho giáo: Quan niệm về hạnh phúc phần 1 & phần 2”, Tạp chí Nghiên cứu con

người số 1, tác giả đặt khái niệm hạnh phúc trong bối cảnh cuộc sống một cá nhân

và sau đó để cá nhân đánh giá hạnh phúc của bản thân theo tiêu chuẩn của chính họ.Chull Shin xác định ba yếu tố quan trọng mang lại hạnh phúc cho người dân là sựthích thú, sự thành đạt và sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Kết quả nghiên cứu điđến kết luận: trong khu vực Châu Á theo Nho giáo thì hạnh phúc không chỉ là

Trang 21

sự vui vẻ về tinh thần; nó là sự đánh giá tích cực về cuộc sống, sự đánh giá chínhthể luận về những trải nghiệm trong cuộc sống Nó không chỉ là sự thích thú mà còn

là sự đạt được các mục tiêu hay sự thỏa mãn các mong muốn và nhu cầu Và trong 3yếu tố thì sự thích thú so với sự thành đạt và thỏa mãn có ý nghĩa hơn nhiều vớihạnh phúc Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong 4 yếu tố: thu nhập gia đình, tìnhtrạng hôn nhân, trình độ học vấn và mức sống thì tình trạng hôn nhân là yếu tố ảnhhưởng lớn nhất tới hạnh phúc, trong khi đó thu nhập gia đình là ít ảnh hưởng nhất.[9]

Đề tài nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện

bởi tác giả Phan Thị Mai Hương: "Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người nông dân”, Tạp chí tâm lý học số 4/8/2014, tác giả đã tiến hành khảo sát 427 đại diện gia

đình hộ nông dân tại 6 thị xã ở Hưng Yên, Sơn La, Bình Định và Thái Nguyên.Phương pháp chính để thu thập dữ liệu trong nghiên cứu là bảng hỏi nhằm tìm hiểu

về cảm giác hạnh phúc chủ quan của người nông dân về cuộc sống nói chung vàtừng mặt nói riêng trong cuộc sống của mình Tiếp đến là khảo sát khía cạnh nàotrong cuộc sống có vai trò quan trọng hơn đối với cảm giác hạnh phúc chủ quan củangười nông dân và cảm giác này có liên quan đến yếu tố kinh tế hay không? Vớinghiên cứu này, tác giả Phan Thị Mai Hương đã rút ra một số kết luận:

Nhìn một cách tổng quát, người nông dân khá hài lòng với cuộc sống củamình cụ thể mức hài lòng với cuộc sống nói chung là gần 70% Mặt khiến họ hàilòng nhất là quan hệ gia đình, còn mặt ít hài lòng nhất là địa vị của bản thân Mứchài lòng chung cũng như mức hài lòng riêng với từng mặt khác nhau trong cuộcsống có sự khác biệt nhất định giữa các địa phương, giữa các nhóm mức sống, giữanam và nữ và giữa những người có mức học vấn khác nhau Nghiên cứu cũng chỉ ra

sự hài lòng với công việc và với điều kiện sống của gia đình là 2 yếu tố chi phốimạnh nhất đến sự hài lòng chung với cuộc sống của người nông dân Trên cơ sở củakết quả nghiên cứu tác giả nhận định để người nông dân hạnh phúc, trước hết họ cần

có công ăn, việc làm, có thu nhập, đảm bảo điều kiện sống của gia đình Với nữgiới, họ cần tạo điều kiện để nâng cao năng lực cá nhân; với người già, họ cần được

13

Trang 22

quan tâm chăm sóc sức khỏe, củng cố vị trí trong quan hệ gia đình; với người cóhọc vấn thấp, họ cần được tạo điều kiện để học tập, nâng cao trình độ, nâng caonăng lực và vị thế xã hội [3; tr 28 – 40]

Cũng trên đối tượng khách thể nghiên cứu này, tác giả Phan Mai Hương tìm

hiểu sâu hơn nữa về: “Quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc chủ quan và nỗ lực sống của người nông dân”, Tạp chí Tâm lý học số 11/ 2014, nhằm mục đích phân tích

mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc chủ quan và nỗ lực sống của người nông dântrong giai đoạn hiện nay, xem đó là quan hệ trực tiếp hay gián tiếp Kết quả chothấy: nhìn chung, sư hài lòng cuộc sống có tương quan thuận, có ý nghĩa về mặtthống kê với nỗ lực, cố gắng của người nông dân và chủ yếu có tương quan với nỗlực tư duy hơn hơn là với nỗ lực hành động hay kiên trì Càng nỗ lực cố gắng trong

tư duy người dân càng cảm thấy hạnh phúc và ngược lại, người ít nỗ lực về mặt tưduy thì cũng cảm thấy mình ít hài lòng với cuộc sống hơn Điểm đáng chú ý là mốitương quan này được thể hiện rõ nét hơn ở nhóm hộ đang thoát nghèo và ở nhómnông dân nữ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập là yếu tố trung gian trongmối quan hệ nhân quả của nỗ lực sống với cảm nhận hạnh phúc của người nôngdân Nỗ lực của người nông dân nếu được đền đáp bằng kết quả cụ thể sẽ làm họhạnh phúc hơn, hài lòng với cuộc sống của mình hơn [4, tr.1-12]

Nghiên cứu được thực hiện gần đây nhất là của tác giả Truơng Thị Khánh

Hà: “Thích ứng thang đo hạnh phúc chủ quan dành cho vị thành niên”, Tạp chí

Tâm lý học số 5/2015, tác giả tiến hành thích ứng thang đo MHC – SF (MentalHealth Continuum – Short Form) trên mẫu 861 khách thể là trẻ em vị thành niên từ15-18 tuổi, đang học ở các trường phổ thông ở Huế, Hồ Chí Minh và Hà Nội Trongnghiên cứu, tác giả sử dụng thang Phổ sức khỏe tinh thần bản rút gọn Thang đo này

đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới trong khoảng hai thập kỉ gầnđây Thang Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn (MHC-SF) có nguồn gốc từ thang Phổsức khỏe tinh thần đầy đủ (Mental Health Continuum – Long Form) được xây dựngdựa trên thang đo sự cân bằng cảm xúc của Bradburn (1969), thang đo sức khỏe tâm

Trang 23

lý của Ryff (1995) và thang đo sức khỏe xã hội của Keyes (1998) Sau quá trình tiếnhành thích ứng thang đo, tác giả đi đến kết luận như sau:

Thang đo hạnh phúc chủ quan MHC – SF phiên bản Tiếng Việt có thể sửdụng trong nghiên cứu mức độ hạnh phúc của thanh thiếu niên Việt Nam Thang đo

có độ tin cậy cao có cấu trức 3 nhân tố: cảm xúc, tâm lý, xã hội, các nhà nghiên cứu

có thể sử dụng thang đo và tham khảo điểm trung bình và lệch chuẩn thu được trên

861 khách thể Trong ba mặt hạnh phúc chủ quan thì cảm nhận hạnh phúc xã hộicủa các em thấp nhất Nhóm học sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh có cảm nhận hạnh phúc

ở mức cao nhất, tiếp theo đến nhóm học sinh ở Huế thấp nhất là nhóm học sinh ở Hà Nội.Các em nam cảm nhận hạnh phúc cao hơn nữ nhưng ở những năm

cuối cấp lớp 9 và lớp 12 cảm nhận hạnh phúc ở cả hai giới đều ở mức thấp hơn [1;tr.13-25]

Qua các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và một số nghiên cứu trongnước về sự hài lòng cuộc sống, cảm nhận hạnh phúc, chúng tôi nhận thấy các tác giả

đã bước đầu xây dựng khái niệm hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc chủ quan và khảosát vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến nhận thức, cảm xúc, các yếu

tố ảnh hưởng… Chỉ ra được mức độ hài lòng chung với cuộc sống và trên các mặtkhác nhau của cộc sống cũng như nguồn gốc, các cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởngđến cảm nhận hạnh phúc của cá nhân Tuy nhiên các bài viết hầu hết là phân tích kếtquả từ các cuộc điều tra, báo cáo hạnh phúc được thực hiện trên quy mô lớn (mangtầm khu vực) trong đó có mẫu là người trưởng thành ở Việt Nam Riêng tác giảPhan Thị Mai Hương với hai nghiên cứu khảo sát trên đối tượng cụ thể là ngườinông dân Việt Nam đại diện cho các tỉnh (mẫu mang tính đặc thù nghề nghiệp) Dovậy, vẫn chưa có nghiên cứu nào hướng tới cảm nhận hạnh phúc ở sinh viên cũngnhư các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của lứa tuổi này Kế thừa các

nghiên cứu nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên”.

15

Trang 24

1.3 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.3.1 Khái niệm hạnh phúc

Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau về hạnh phúc, mỗi tác giả lại đề cập đến hạnh phúc ở một góc độ khác nhau

- Quan điểm của các nhà đạo đức học và triết học về hạnh phúc:

Các nhà đạo đức học quan niệm hạnh phúc là cảm xúc vui sướng, hài lòngcủa con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu chân chính,lành mạnh về vật chất và tinh thần

Với nhà triết học Anh John Stuart Mill thì: “Hạnh phúc ngụ ý sự hài lòng,không đau khổ; bất hạnh ngụ ý sự đau khổ và tình trạng mất đi sự hài lòng.” Địnhnghĩa này có hai chiều cạnh là tích cực (sự hài lòng) và tiêu cực (không có các vấn

đề rắc rối hoặc sự đau khổ)

Aristitle thì cho rằng: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục tiêu của cuộc sống, làtoàn bộ cùng đích của cuộc đời con người”

- Quan điểm của các thuyết khác nhau về hạnh phúc:

Thuyết vị lợi: đề cập đến hạnh phúc tập thể thay vì hạnh phúc cá nhân, hạnhphúc lớn nhất là cho nhiều người nhất

Thuyết hoan lạc (hedonism) lại cho rằng khoái lạc là cùng đích của cuộcsống Họ đánh đồng hạnh phúc với khoái lạc: “hạnh phúc là triệt để hưởng thụ đờinày cho đến hơi thở cuối cùng” (Epicure) Như vậy, hạnh phúc theo thuyết hoan lạcchính là tổng cộng các khoảnh khắc khoái lạc của đời người Cùng đề cập đến khoáilạc, thuyết duy hạnh phúc (eudémonisme) với các đại biểu là Aristote, Platon,Socrate cũng không loại bỏ lạc khoái ra khỏi cuộc sống, khoái lạc là hệ quả của sựtốt đẹp [7]

Học thuyết hạnh phúc của Tal Ben (2007) thì khẳng định: ”hạnh phúc là trảinghiệm niềm vui và ý nghĩa trọn vẹn” Từ định nghĩa hạnh phúc là “trải nghiệmniềm vui và ý nghĩa trọn vẹn” Ben Shahar chỉ ra 2 yếu tố tạo nên hạnh phúc chínhlà: niềm vui và ý nghĩa Ở đây, niềm vui được hiểu là trải nghiệm những cảm xúctích cực trước mắt, những lợi ích hiện tại; và tiến tới mục tiêu cuối cùng là đạt được

Trang 25

lợi ích trong tương lai qua những việc làm trong hiện tại Học thuyết của ông dựatrên những tư tưởng của Freud và Frankl Với Freud, niềm vui của con người xuấtphát từ nhu cầu thuộc bản năng Còn Frankl cho rằng chúng ta được thúc đẩy bởiquyết tâm đạt mục tiêu của đời hơn là quyết tâm có được niềm vui Theo Frankl

“đấu tranh để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời là động lực thúc đẩy cao nhất của conngười” Kết lại, muốn có cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, chúng ta phải vừa có đượccảm giác mãn nguyện với quyết tâm có được niềm vui trong hiện tại và quyết tâmđạt được mục tiêu trong cuộc đời [8]

- Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây về hạnh phúc:

Nhà tâm lý học Martin Seligman (2002) – cha đẻ của Tâm lý học tích cựcđịnh nghĩa: “Hạnh phúc là sự kết hợp của một cuộc sống với niềm vui, một cuộc

sống có sự tham gia và một cuộc sống có ý nghĩa” Theo M.Sligman (2001) có 5 yếu

tố cần thiết để sống tích cực, năm yếu tố này hoàn toàn độc lập với nhau, mỗi yếu tố

có một mục đích, mục tiêu riêng, lợi ích riêng của nó Yếu tố này không là hệ quảcủa các yếu tố khác và không phải luôn luôn ảnh hưởng lên yếu tố khác Năm yếu tốnày là:

- Những cảm xúc tích cực (P – Positive Emotions)

- Sự gắn kết, sự tham gia (E – Engagement)

- Những mối quan hệ tích cực (R – Positive Relationships)

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây hạnh phúc có thể cấu tạo bởi 3 yếu tố:

17

Trang 26

ở mức thấp và sự hài lòng cuộc sống ở mức cao [1; tr.13-25]

Hai tác giả Keyes và Waterman cho rằng: “Cảm nhận hạnh phúc chủ quan

là nhận thức của từng người và những đánh giá của họ về đời sống của mình trong tâm trạng khỏe và các chức năng về tâm lý và hoạt động xã hội.” Theo cách hiểu

của ông hạnh phúc có 3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý và hạnhphúc xã hội Hạnh phúc cảm xúc thể hiện qua một loạt các dấu hiệu biểu hiện trạngthái cảm xúc tích cực về cuộc sống Hạnh phúc cảm xúc được đo bằng các trạng tháicảm xúc dương tính hoặc sự hài lòng của cuộc sống nói chung Hạnh phúc tâm lýthể hiện ở sự chấp nhận, hài lòng với bản thân; mối quan hệ tích cực với nhữngngười khác; sự phát triển cá nhân; mục tiêu trong cuộc sống; làm chủ môi trườngxung quanh; tự do Hạnh phúc xã hội thể hiện ở sự hài lòng với các mối quan hệliên cá nhân và với môi trường xung quanh trong khi hạnh phúc tâm lý được đánhgiá thông qua những tiêu chí mang tính cá nhân và riêng tư thì hạnh phúc xã hội lạiđược đánh giá qua những tiêu chí mang tính công khai và xã hội; sự gắn kết xã hội;

sự hiện thực hóa xã hội; sự hòa nhập hóa xã hội; sự chấp nhận xã hội & sự đóng góp

xã hội [11]

Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc củacác tác giả đi trước, Phan Thị Mai Hương đã đưa ra định nghĩa về cảm giác hạnh

Trang 27

phúc chủ quan, đăng trên Tạp chí tâm lý học số 8 tháng 8/2014 Tác giả cho rằng:

"cảm giác hạnh phúc chủ quan được coi là đánh giá chủ quan của con người về sựhài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình.” Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìnnhận, đánh giá (mang tính nhận thức), vừa thể hiện tình cảm (mang tính cảm xúc),

vì thế nó vừa chịu sự chi phối của cả tư duy lí tính và tư duy cảm tính Chính sựcảm tính này khiến cho đánh giá đó mang nhiều tính chủ quan, mang quan điểm cánhân của con người về chất lượng cuộc sống của mình

Thành phần nhận thức của cảm giác này hướng đến việc con người nghĩ nhưthế nào về sự hài lòng với cuộc sống của họ nói chung (toàn bộ cuộc sống) và ở cảnhững lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống (công việc, điều kiện vật chất, gia đình,bạn bè,…) Cảm xúc bao gồm dương tính (khi người ta trải nghiệm cảm giác hàilòng như vui vẻ, hạnh phúc, …) và âm tính (khi người ta cảm thấy khó chịu nhưbuồn chán, tức giận, tội lỗi, …)

Định nghĩa này đã chỉ ra được:

Cảm nhận hạnh phúc chủ quan là đánh giá mang tính chủ quan của chủ thể

về sự hài lòng với cuộc sống của chính chủ thể

Cảm nhận hạnh phúc chủ quan có hai thành phần chính là nhận thức và cảmxúc Trong đó thành phần nhận thức hướng đến suy nghĩ của chủ thể về sự hài lòngcuộc sống nói chung và các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống; thành phần cảmxúc không chỉ có cảm xúc dương tính mà nó bao gồm cả âm tính

Cảm nhận hạnh phúc của mỗi chủ thể khác nhau thể hiện quan điểm cá nhâncủa họ về chất lượng cuộc sống của chính mình Vì thế, đánh giá mang nhiều tínhchủ quan

Tổng hợp từ các khái niệm cảm nhận hạnh phúc của các tác giả khác nhau,trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn khái niệm cảm nhận hạnh phúc như sau:

Cảm nhận hạnh phúc là những nhận định và đánh giá của cá nhân về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình.

19

Trang 28

Như vậy, cảm nhận hạnh phúc không chỉ đơn giản là kết quả của quá trìnhđánh giá chủ quan của mỗi người Mà nó là đánh giá của cá nhân về sự hài lòng, dễchịu của cá nhân với cuộc sống của mình Cảm giác này mang tính chủ quan vì nóphụ thuộc vào quan điểm của chủ thể về các mặt khác nhau trong đời sống củachính mình.

1.3.2.2 Các mặt biểu hiện của cảm nhận hạnh phúc

Như ở trên chúng ta đã đề cập, có nhiều quan điểm khác nhau về các thành tốcủa cảm nhận hạnh phúc Theo Diener (1984) thì hạnh phúc chủ quan có ba thànhphần riêng biệt: sự hài lòng trong cuộc sống (đánh giá của cá nhân về toàn bộ cuộcsống của mình nói chung), sự có mặt của những cảm xúc tích cực, và không xuấthiện các cảm xúc tiêu cực Như vậy, một cá nhân có mức độ cảm nhận hạnh phúccao khi cá nhân đó hài lòng với cuộc sống của mình, thường xuyên trải qua nhữngcảm xúc tích cực (như niềm vui, tình cảm), và hiếm khi cảm thấy những cảm xúctiêu cực (như lo lắng, buồn bã) Một biểu hiện nữa của cảm nhận hạnh phúc là nóđược đánh giá dựa trên quan điểm riêng của cá nhân Như vậy, trong cảm nhận hạnhphúc, nhận thức chủ quan của một người về hạnh phúc của riêng mình là rất quantrọng, trong đó yếu tố văn hóa đóng vai trò khá quan trọng [12,13]

Đồng quan điểm với Diener, Keyes trong nghiên cứu của mình cũng đề cậpđến hai yếu tố là cảm xúc và sự hài lòng trong cấu trúc của cảm nhận hạnh phúc chủquan Theo Keyes, cảm nhận hạnh phúc chủ quan bao gồm những biểu hiện phảnánh sự tồn tại hay biến mất của cảm xúc tích cực về cuộc sống Những biểu hiện vềhạnh phúc chủ quan được xác định từ những sự phản hồi của mỗi người đối thangđiểm đánh giá có tâm trạng tích cực (ví dụ người có tinh thần sung mãn) và khôngxuất hiện các cảm xúc tiêu cực (ví dụ: người đó không bi quan) và hài lòng với cuộcsống Những đánh giá vừa đánh giá mức độ tự thừa nhận (như “tôi hài lòng với cuộcsống”) vừa thể hiện về hạnh phúc về tinh thần (như tình cảm tích cực và tiêu cực) vềhạnh phúc tinh thần đều có liên quan với nhau

Kết quả phân tích của Keyes về các yếu tố của cảm nhận hạnh phúc chủquan, cho thấy những đánh giá hạnh phúc tinh thần được hình thành trên 3 yếu tố

Trang 29

riêng biệt: hạnh phúc xã hội, hạnh phúc tâm lý và hạnh phúc cảm xúc Trong đó,yếu tố hạnh phúc tâm lý được đề cập đến qua cấu trúc sáu điểm (6 thông số về hạnhphúc trong tâm lý học): Chấp nhận mình, quan hệ tích cực với người khác, pháttriển bản thân, mục đích cuộc sống, thích hợp môi trường và làm chủ bản thân (xembản tóm tắt của Keyes và Ryff) Những ai đang cư xử hòa hợp khi họ thích chính họhòa hợp, điều đó có nghĩa là họ cảm thấy ấm áp và tin tưởng vào mối quan hệ khiến

họ thấy mọi người đang tiến triển tốt hơn Đó chính là xu hướng của cuộc sống vàhình thành nên môi trường thoả mãn những nhu cầu và mức độ khẳng định bản thâncủa họ

Tiếp đến, ông đã đưa ra được năm tham số về hạnh phúc trong đời sống xãhội Những tham số về xã hội này gồm sự minh bạch, tính thực tế, tính tương tác,tính hòa đồng, tính chấp nhận và sự đóng góp xã hội Mọi người đều hòa đồng khi

họ thấy xã hội đầy ý nghĩa và dễ hiểu khi họ thấy cộng đồng là tiềm năng cho sựphát triển, khi họ thấy mình đều thuộc về nó và được cộng đồng chấp nhận mình.Khi mà họ chấp nhận các thành phần trong xã hội và khi họ thấy chính mình đangđóng góp cho xã hội Vì hạnh phúc về tâm lý thể hiện theo tiêu chí cá nhân và riêng

tư hơn là tiêu chí xã hội và tiêu chí cộng đồng vì thế khi đánh giá hạnh phúc xã hộingười ta sẽ đánh giá hoạt động của mình trong xã hội

Cuối cùng, yếu tố hạnh phúc cảm xúc thường nhận biết ở mức độ hài lòngcủa người đó hay những tình cảm tích cực với “cuộc sống nói chung” trừ những mặtkhác nhau của xã hội [11]

Cũng đề cập đến ba mặt cảm xúc, xã hội, tâm lý của cảm nhận hạnh phúc,nhóm tác giả Carol D Ryff & Burton Singer khi nghiên cứu theo hướng tích hợp đãchỉ ra cụ thể hơn các thành phần của cảm nhận hạnh phúc chủ quan bao gồm:

Tự Chấp nhận (Self-Acceptance): được hiểu là thái độ của cá nhân đối với sự

tự thừa nhận, chấp nhận các khía cạnh của bản thân, các phẩm chất nhân cách, vớicuộc sống hiện tại cũng như những gì đã xảy ra trong quá khứ

21

Trang 30

Quan hệ tích cực với người khác (Positive Relations with Others): cá nhân có

mối quan hệ ấm áp, tin tưởng với những người xung quanh và có khả năng duy trìcác mối quan hệ hay không?

Tự do cá nhân (Autonomy): là khả năng tự chủ (tự quyết) và độc lập, đánh

giá mọi việc theo quan điểm của bản thân hay khả năng đối phó với các áp lực xãhội

Làm chủ môi trường (Environmental Mastery): khả năng tự chủ, kiểm soát

môi trường xung quanh, tự lựa chọn (quyết định) môi trường phù hợp cho giá trị củabản thân, nắm bắt được các cơ hội một cách hiệu quả

Mục đích trong cuộc sống (Purpose in Life): có định hướng, có mục tiêu cho

cuộc sống, cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống

Phát triển cá nhân (Personal Growth): nhận ra khả năng (tiềm năng) của bản

thân, sẵn sàng học tập, thay đổi để phát triển và trở thành người tốt hơn [10]

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn cấu trúc ba thành tố của cảmnhận hạnh phúc do Keyes đề xuất Các thang đánh giá mức hạnh phúc xã hội, mứchạnh phúc tâm lý và mức cảm xúc hạnh phúc của Keyes đều được tham chiếu kiếntrúc bền chặt và ổn định bên trong Chúng được xác nhận trong 2 bản nghiên cứudựa trên số liệu của mẫu người trường thành tiêu biểu trên cả nước Mỹ (Keyes1998) [11]

1.3.3 Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

1.3.3.1 Sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc La Tinh là “studens” có nghĩa là ngườilàm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức, khái niệm này được dùng tương đươngvới “student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp để chỉ những người theohọc ở bậc đại học và được phân biệt với trẻ em đang theo học phổ thông Vậy sinhviên dùng để chỉ những người đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng

Nhìn chung sinh viên đang theo học ở các trường ĐH, cao đẳng nằm trong

độ tuổi từ 18 – 25 Ở độ tuổi này thanh niên đã đạt được độ chín về thể chất và tinhthần Ở giai đoạn này, sinh viên đã trải qua quá trình dậy thì và có vóc dáng của

Trang 31

những người trưởng thành cả về chiều cao về cân nặng đã đạt mức ổn định Cơ quansinh dục cũng đã được hoàn thiện Nhìn chung sinh viên đã trở thành người lớn thực

sự sau khi trải qua một giai đoạn phát triển lâu dài và có những đặc trưng tâm lýriêng

Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết được củng cố vàphát triển Tình cảm, nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập tương đối đượcnâng cao Cá tính và lập trường sống của sinh viên cũng được nâng cao rõ rệt

K vọng đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên được phát triển

Sự trưởng thành về mặt khoa học, tư tưởng và đạo đức, việc hình thànhnhững phẩm chất đạo đức và sự ổn định chung về nhân cách của sinh viên đượcphát triển

Khả năng tự giáo dục phát triển Tính sẵn sàng, độc lập với hoạt động nghềnghiệp tương lai được củng cố Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở sinh viên là sựphát triển của tự ý thức Đó là ý thức về sự đánh giá của con người về tư tưởng, tìnhcảm, phẩm chất đạo đức và hứng thú về tư tưởng và động cơ của hành vi Là sựđánh giá toàn diện về chính bản thân mình và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ýthức là dấu hiệu thiết kế nhân cách được hình thành cùng với sự hình thành nhâncách sau này

Tự ý thức là một hình thức của ý thức giúp cho sinh viên có những hiểu biết

và thái độ đối với mình để chủ động hướng nhân cách theo những nhu cầu của xãhội Vì luôn có khát khao mong muốn được khẳng định chỗ đứng của mình trong xãhội, muốn được xã hội thừa nhận về sự trưởng thành của mình nên sinh viên thường

có sự để ý, xem xét mật độ hội tụ ở bản thân những giá trị được xã hội ưa chuộngnhư: có trình độ chuyên môn giỏi Vốn hiểu biết xã hội rộng, có tinh thần tráchnhiệm, có đức tính ham học

Hành động chủ đạo là hành động học tập – nghề nghiệp

Năng lực tưởng tượng ở sinh viên (tái hiện + sáng tạo, ước mơ + hoài bão)thường gắn với lý tưởng của họ về cuộc sống, nghề nghiệp

23

Trang 32

Về tình cảm của sinh viên B.G Ananhep cho rằng đây là thời k phát triểnnhất về tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ Tình cảm nghĩa vụ cũng được thể hiện khá rõ.Tình cảm đạo đức của sinh viên có thái độ cao Sinh viên tự nhận thức được tìnhcảm đạo đức của mình và còn điều chỉnh chúng phù hợp với chuẩn mực của xã hội.Tình yêu, một loại tình cảm đặc biệt giữa nam và nữ có vai trò quan trọng để họ xâydựng cho mình những quan điểm rõ ràng về hạnh phúc gia đình.

Tình bạn ở sinh viên sâu sắc, xây dựng trên cơ sở cùng lý tưởng, chí hướng

và sở thích, cũng như sự đồng cảm của sinh viên Ở sinh viên tình yêu đối với nghềnghiệp đã được hình thành

1.3.3.2 Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

Dựa trên khái niệm cảm nhận hạnh phúc chủ quan và các thành tố của cảmnhận hạnh phúc, chúng tôi hiểu cảm nhận hạnh phúc của sinh viên như sau:

Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên là những nhận định và đánh giá của

họ về về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình trên các mặt cảm xúc, tâm

lý, xã hội.

Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá (mang tính nhận thức),vừa thể hiện tình cảm (mang tính cảm xúc), vì thế nó vừa chịu sự chi phối của cả tưduy lí tính và tư duy cảm tính Chính sự cảm tính này khiến cho đánh giá đó mangnhiều tính chủ quan, mang quan điểm cá nhân của sinh viên về chất lượng cuộcsống của mình

Thành phần nhận thức của cảm giác này hướng đến việc sinh viên nghĩ nhưthế nào về sự hài lòng với cuộc sống của họ nói chung (toàn bộ cuộc sống) và ở cảnhững lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống (công việc, điều kiện vật chất, gia đình,bạn bè,…) Cảm xúc bao gồm dương tính (khi người ta trải nghiệm cảm giác hàilòng như vui vẻ, hạnh phúc, …) và âm tính (khi người ta cảm thấy khó chịu nhưbuồn chán, tức giận, tội lỗi, …) [3]

1.3.3.3 Các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

Biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên thì có nhiều mặt nhưng dựa trêncấu trúc 3 yếu tố hạnh phúc của Keyes thì chúng tôi nhìn nhận trên ba mặt chính:

Trang 33

Mặt thứ hai là cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội Sinh viên cảm thấy rằngbản thân mình đã đóng góp một điều gì đó quan trọng cho xã hội; Thấy gắn bó vớicộng đồng (một nhóm xã hội, hay làng quê, lối xóm) Ngoài cảm giác gắn bó, cảmnhận hạnh phúc về mặt xã hội của sinh viên còn thể hiện qua nhận định, đánh giátích cực về cơ chế xã hội, các mối quan hệ giữa mọi người với nhau Cụ thể là: sinhviên thấy rằng xã hội đang trở nên tốt hơn cho tất cả mọi người; Con người về cơbản là tốt và cách vận hành của xã hội có ý nghĩa đối với sinh viên.

Mặt cuối cùng là cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý Cảm nhận hạnh phúc

về mặt tâm lý của sinh viên được biểu hiện khi họ thích phần lớn các phẩm chấtnhân cách của mình; Có khả năng quản lý tốt các trách nhiệm trong cuộc sống hàngngày; Có những mối quan hệ tin tưởng và ấm áp với người khác Bên cạnh đó là tựtin để suy nghĩ hay thể hiện những ý tưởng và quan điểm riêng; Thấy rằng bản thân

đã vượt qua thử thách để phát triển và trở thành người tốt hơn; Cuộc sống có địnhhướng và có ý nghĩa

1.3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

Từ các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy các yếu tố

có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc nói chung và cảm nhận hạnh phúc nói riêng; vàchúng có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Nhà tâm lý học Martin Seligmancho rằng có 3 yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc là: gen và sự giáo dục ảnh hưởngkhoảng 50% đến sự biến đổi cảm giác hạnh phúc của mỗi cá nhân; hoàn cảnh môitrường xung quanh, thu nhập chỉ tác động khoảng 10% còn 40% những nhân tố ảnhhưởng khác đến từ cách nhìn nhận và hoạt động của mỗi cá nhân, những điều đó

25

Trang 34

bao gồm: các mối quan hệ, tình bạn, công việc, liên kết trong cộng đồng, tham giavào thể thao và những thói quen.

Đồng quan điểm với Seligman, Tal Ben – Shahar (2009) cũng đề cập đến cácyếu tố: gen, các quan hệ gia đình, công việc, tình bạn, liên kết cộng đồng Bên cạnh

đó ông còn bổ sung thêm các nhân tố mà theo ông nhận định là có ảnh hưởng rấtlớn đến hạnh phúc của chúng ta bao gồm: tình trạng tài chính, sức khỏe, tự do cánhân và các giá trị cá nhân Tự do cá nhân mà Shahar đề cập đến được hiểu là cách

mà cá nhân nhận được sự bảo vệ hay nói cách khác nó phụ thuộc vào chất lượngcủa chính phủ Ở một đất nước mà quyền lợi cá nhân được đề cao, cách chính phủvận hành có ý nghĩa với cá nhân thì họ sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn Tiếp đến các giátrị cá nhân chính là triết lí sống của mỗi người Hạnh phúc của chúng ta phụ thuộcvào bản chất bên trong của chúng ta và triết lý sống của chúng ta Theo ông, conngười sẽ hạnh phúc hơn nếu họ biết trân trọng những gì đang có, dù đó là cái gì vàkhông luôn tự so sánh mình với người khác và luôn tự rèn luyện tâm tính của mình.Người nào quan tâm đến người khác thì có hạnh phúc trung bình lớn hơn nhữngngười chỉ biết quan tâm đến bản thân mình [8]

Trong các công bố của mình, lĩnh vực tâm lý học tích cực cũng có một sốphát hiện khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới cảm nhận hạnh phúc bao gồm:tiền không mua được hạnh phúc, nhưng tiền chi tiêu vào những việc có thể làm cho

cá nhân hạnh phúc hơn; Công việc có thể quan trọng đối với hạnh phúc, đặc biệt khimọi người có thể tham gia vào các công việc có mục đích và ý nghĩa; Trong khihạnh phúc là chịu ảnh hưởng bởi di truyền, mọi người có thể tìm hạnh phúc bằngcách phát triển sự lạc quan, lòng biết ơn và lòng vị tha [35,36,37,39,40]

Trong thời gian gần đây, các nghiên cứu khoa học cũng có ba phát hiện quantrọng: 1) các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân hạnh phúc hơn nền văn hóa mangtính cộng đồng, 2) các thuộc tính tâm lý đặc trưng cho bản thân cá nhân (ví dụ như,lòng tự trọng, ) có nhiều liên quan đến hạnh phúc của nền văn hóa theo chủ nghĩa

cá nhân phương Tây hơn là hạnh phúc của nền văn hóa mang tính cộng đồng, và 3)

Trang 35

sự tự đánh giá của hạnh phúc được dựa trên sự khác nhau ở các tiêu chí và kinhnghiệm của các nền văn hóa.

Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi không đưa toàn bộ các yếu tốvào để nghiên cứu Sau khi điều tra thử và có những trao đổi với các bạn sinh viên,chúng tôi đã lựa chọn một số yếu tố phù hợp với đối tượng khách thể này Tìm hiểuthực trạng mức độ cảm nhận hạnh phúc và mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúcvới các yếu tố khác, phân tích mối quan hệ giữa chúng sẽ góp phần làm rõ bức tranh

về thực trạng này, đồng thời cho chúng ta biết trong các yếu tố thì yếu tố nào có mốitương quan mạnh nhất đến cảm nhận hạnh phúc ở sinh viên Cụ thể như sau:

- Nhóm 1: các yếu tố mức sống (tình hình kinh tế của gia đình), yếu tố môitrường sống

- Nhóm 2: một số phẩm chất nhân cách, lòng biết ơn, yếu tố các cảm xúc cá nhân và liên cá nhân, yếu tố thái độ thù địch

Tiểu kết chương 1

Nhìn chung vấn đề hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc chủ quan trên thế giới

đã có nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Nhưng tại Việt Nam, vấn đề này vẫncòn khá mới mẻ và mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái niệm, hay các chỉ báochung Do vậy, cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề cảm nhận hạnh phúc chủ quanngười nghiên cứu đưa ra về cơ bản vẫn dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứutiêu biểu ở ngoài nước Tổng hợp từ các khái niệm cảm nhận hạnh phúc của các tác

giả khác nhau, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn khái niệm: “cảm nhận hạnh phúc là những nhận định và đánh giá của cá nhân về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình” Dựa trên khái niệm cảm nhận hạnh phúc chủ quan và các thành tố của cảm nhận hạnh phúc, chúng tôi hiểu “cảm nhận hạnh phúc của sinh viên là những nhận định và đánh giá của họ về về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình trên các mặt cảm xúc, tâm lý, xã hội” Và nó được biểu hiện trên ba

mặt chính: mặt cảm xúc, mặt tâm lý và mặt xã hội

27

Trang 36

Khách thể trong nghiên cứu là sinh viên – đây là lứa tuổi có những nét đặcthù riêng biệt Đã có nhiều các nghiên cứu khác nhau liên quan đến đối tượng kháchthể này, tuy nhiên nghiên cứu về sự cảm nhận hạnh phúc của sinh viên thì hiện naychưa có Chính vì thế, đề tài nghiên cứu này đã khai thác một khía cạnh mới và là

cơ sở để bổ sung thêm những giải pháp mới cho vấn đề sức khỏe tinh thần của sinhviên hiện nay Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn về các mặt và tiêu chíđánh giá

Trang 37

Chương 2

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổ chức nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế chính trị của đất nước, đây là nơi tậptrung rất nhiều các trường Đại học khác nhau Mỗi năm đều đón hàng ngàn sinhviên từ khắp các tỉnh thành về nhập học chính vì thế ở đây rất đa dạng về các thànhphần sinh viên xuất thân từ thành thị, nông thôn tới vùng đang đô thị hóa Bên cạnhđiều kiện học tập, sinh hoạt tại thành phố vô cùng thuận lợi, thì các bạn sinh viêncũng phải đối mặt với một áp lực không nhỏ từ chi phí sinh hoạt đắt đỏ, sự khác biệttrong văn hóa và lối sống Chính điều này tác động mạnh đến sinh viên học tập trênđịa bàn, trong đó có sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn HàNội, Trung cấp mẫu giáo, Cao đẳng Y tế công cộng, Đại học Mỏ và Địa Chất

Hải Phòng cũng là một trong các thành phố lớn có lượng sinh viên theo họctương đối lớn ở khu vực phía Bắc Với lợi thế về kinh tế, các trường không ngừng

mở rộng, nâng cao cơ sở vật chất như: khu nhà thể chất, khu thực hành, khu nhà ở

ký túc khang trang cho sinh viên,… Bên cạnh hoạt động học tập, nhà trường cũngluôn chú trọng phát triển sinh viên trên các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học, văn hóavăn nghệ, thể dục thể thao… các hoạt động ngoại khóa, hoạt động đoàn cũng đượcđẩy mạnh Do vậy sinh viên có nhiều cơ hội được học tập và giao lưu phát triểnnhân cách Tuy nhiên, môi trường tại các thành phố lớn nhiều biến động cũng tácđộng không nhỏ tới sinh viên, nhất là các sinh viên từ các vùng nông thôn, vùng đôthị hóa phải chuyển sang khu vực đô thị Tiêu biểu phải kể đến là sinh viên học tậptại hai trường Đại học Hàng Hải và Đại học Hải Phòng

Hà Giang & Nghệ An là những địa bàn xa trung tâm thành phố Điều kiệnsinh sống và học tập tại hai nơi này cũng có nhiều điểm khác biệt so với hai thànhphố Hà Nội và Hải Phòng Ở đây có nhiều sinh viên hệ tại chức của trường Đại học

29

Trang 38

Khoa học Xã hội & Nhân Văn đang theo học và họ sẽ là nguồn nhân lực bổ sungcho lực lượng lao động có trình độ tạo địa phương.

Mặc dù sinh viên ở các địa bàn này chưa phải là đại diện cho toàn bộ sinhviên nhưng cũng bao quát được các nhóm sinh viên ở các địa bàn khác nhau vớixuất thân, mức sống của gia đình khác nhau….Đây cũng là những yếu tố có thể ảnhhưởng đến cảm nhận hạnh phúc mà chúng tôi muốn tìm hiểu trong nghiên cứu này

và 91 phiếu tại Hà Giang

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, ban đầu chúng tôi dự kiến lựa chọn mẫu

là sinh viên thuộc 4 khối lớp: năm 1, 2, 3, 4 ở các trường đại học và phân bố theonhóm ngành học khoa học xã hội, kinh tế, kỹ thuật với mục đích tìm hiểu xem liệu

có sự khác nhau giữa sinh viên ở các năm học trong cảm nhận hạnh phúc Nhưngsau quá trình điều tra thử, chúng tôi đã quyết định đổi sang phân chia theo khu vực(Hà Nội – Hải Phòng – Hà Giang – Nghệ An), hoàn cảnh xuất thân và phân theogiới tính để thấy rõ hơn sự khác biệt này Chúng tôi dự kiến chọn mẫu như vậy vìmột số lý do như sau:

Ở mỗi khu vực khác nhau (cụ thể là 4 tỉnh Hà Nội, Hà Giang, Hải Phòng,Nghệ An) thì điều kiện sinh sống và học tập của sinh viên cũng có sự chênh lệch

đáng kể Mặt khác, mỗi vùng đều có những đặc trưng văn hóa riêng, điều này cũngtác động không nhỏ tới đời sống tinh thần của sinh viên Chúng tôi giả định rằngsinh viên ở môi trường học tập khác nhau sẽ có mức độ cảm nhận hạnh phúc khácnhau Do đó khi điều tra chúng ta sẽ kiểm chứng được giả định này

- Về độ tuổi khách thể, chúng tôi đo cả ở sinh viên đại học và sinh viên caohọc Chúng tôi cho rằng khoảng độ tuổi càng rộng thì sẽ thấy được càng rõ

Trang 39

hơn trong mức độ cảm nhận hạnh phúc Ở độ tuổi thấp (những sinh viên năm 1,năm 2) là những người mới bước vào môi trường đại học vẫn còn niềm vui, sự háohức khi đạt được một đích lớn (đỗ đại học) thì sẽ có cảm nhận hạnh phúc cao hơn lànhững người đã trải qua cuộc sống sinh viên kèm theo đó là áp lực tìm việc làm,công việc, ….

Mục đích của chúng tôi là muốn tìm ra một sự khác biệt giữa cảm nhận hạnhphúc giữa nam và nữ; tìm ra tương qua giữa yếu tố độ tuổi, mức sống, một số phẩmchất cá nhân, các nhóm cảm xúc với cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Chính vìthế chính tôi đã thay đổi mẫu dự kiến và điều tra trên mẫu mới, cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Mẫu phân bố theo giới tính và nhóm tuổi

Trang 40

31

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Thị Khánh Hà (2015), “Thích ứng thang đo hạnh phúc chủ quan dành cho vị thành niên”, Tạp chí Tâm lý học (số 5), tr 13 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thích ứng thang đo hạnh phúc chủ quan dành cho vị thành niên”, "Tạp chí Tâm lý học (số 5)
Tác giả: Trương Thị Khánh Hà
Năm: 2015
2. Lê Văn Hảo (2012), “Các mô thức của tính cá nhân – tính cộng đồng ở Viêt Nam”, Tạp chí Tâm lý học, số 11, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô thức của tính cá nhân – tính cộng đồng ở ViêtNam”, "Tạp chí Tâm lý học, số 11
Tác giả: Lê Văn Hảo
Năm: 2012
3. Phan Mai Hương (2014), “Cảm nhận hạnh phúc của người nông dân”, Tạp chí Tâm lý học (số 8), tr 28 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận hạnh phúc của người nông dân”, "Tạp chí Tâm lý học (số 8)
Tác giả: Phan Mai Hương
Năm: 2014
4. Phan Mai Hương (2014), “Quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc chủ quan và nỗ lực sống của người nông dân”, Tạp chí Tâm lý học (số 11), tr 1 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc chủ quan và nỗlực sống của người nông dân”, "Tạp chí Tâm lý học (số 11)
Tác giả: Phan Mai Hương
Năm: 2014
5. PGS.TS Phan Thị Mai Hương, TS Nguyễn Đình Mạnh (200..), “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực xã hội của học sinh – sinh viên”, Tạp chí Tâm lý học (số 3), tr 22 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tốảnh hưởng đến tính tích cực xã hội của học sinh – sinh viên”, "Tạp chí Tâm lýhọc (số 3)
7. Trịnh Thị Linh (2015), Tập bài giảng Tâm lý học tích cực, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Tâm lý học tích cực
Tác giả: Trịnh Thị Linh
Năm: 2015
8. Tal Ben – Shahar (2009), Hạnh phúc hơn, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạnh phúc hơn
Tác giả: Tal Ben – Shahar
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
9. Doh Chull Shin (2010), “Chất lượng cuộc sống của người dân Châu Á theo Nho giáo: Quan niệm về hạnh phúc phần 1 & phần 2”, Tạp chí nghiên cứu con người (số 1), tr 3 – 17.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người dân Châu Á theoNho giáo: Quan niệm về hạnh phúc phần 1 & phần 2”, "Tạp chí nghiên cứucon người (số 1)
Tác giả: Doh Chull Shin
Năm: 2010
11. Corey L.M.Keyes, Emory University (2002), “The mental health continuum:From Languishing to Flouring in Life”, Journal of health and Social Research (June), pp. 207 – 222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The mental health continuum:From Languishing to Flouring in Life”, "Journal of health and SocialResearch
Tác giả: Corey L.M.Keyes, Emory University
Năm: 2002
12. Diener E., Richard E. Lucas, & Shigehiro Oishi (2002), “Subjective Well - being: The Science of Happiness and Life Satisfaction, Handbook of Positive Pychology, Oxford University Press, pp. 63 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Subjective Well -being: The Science of Happiness and Life Satisfaction, "Handbook of PositivePychology
Tác giả: Diener E., Richard E. Lucas, & Shigehiro Oishi
Năm: 2002
13. Diener E., Emmons R.A, Larsen R.J, & Griffin S. (1985), “The Satisfaction with Life Scale”, Journal of Personality Assessment (No 49), pp. 71-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Satisfaction with Life Scale”", Journal of Personality Assessment (No 49)
Tác giả: Diener E., Emmons R.A, Larsen R.J, & Griffin S
Năm: 1985
14. Helliwell Jonh F., Christopher P. Barrington-Leigh (2010), “Measuring and Understanding Subjective Well-Being” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring and Understanding Subjective Well-Being
Tác giả: Helliwell Jonh F., Christopher P. Barrington-Leigh
Năm: 2010
15. Jeffrey J. Froh , Charles Yurkewicz, Todd B. Kashdan (2009), “Gratitude and subjective well-being in early adolescence: Examining gender differences”, Journal of Adolescence (No.32), pp. 633 – 650 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gratitude andsubjective well-being in early adolescence: Examining gender differences”,"Journal of Adolescence (No.32)
Tác giả: Jeffrey J. Froh , Charles Yurkewicz, Todd B. Kashdan
Năm: 2009
17. Pavot W., & Diener E. (2008), “The Satisfaction with Life Scale and the emerging construct of life satisfaction”, Journal of Positive Psychology (No 3), pp. 137 – 152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Satisfaction with Life Scale and theemerging construct of life satisfaction”, "Journal of Positive Psychology (No3)
Tác giả: Pavot W., & Diener E
Năm: 2008
18. Richard M.Ryan and Edward L.Deci (2001), On Happiness and Human Potentials: A Review of Research on Hedonic and Eudaimonic, Annu Rev.Psychol (No 52), pp. 141- 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On Happiness and HumanPotentials: A Review of Research on Hedonic and Eudaimonic, "AnnuRev.Psychol "(No 52)
Tác giả: Richard M.Ryan and Edward L.Deci
Năm: 2001
20. Soja Lyubomirsky (2001), “Why Are Some People Happier Than Others?The Role of Cognitive and Motivationl Processes in Well-Being”, American Psychologist, pp. 239 – 269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Are Some People Happier Than Others?The Role of Cognitive and Motivationl Processes in Well-Being”, "American Psychologist
Tác giả: Soja Lyubomirsky
Năm: 2001
21. William Pavot and Ed Diener (1993), “Review of the Satisfaction With Life Scale”, Psychologicacl Assessment (vol 5, No.2), pp. 164 – 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of the Satisfaction With Life Scale”, "Psychologicacl Assessment (vol 5, No.2)
Tác giả: William Pavot and Ed Diener
Năm: 1993
16. Keith A.King, Rebecca A.Vidourek, Ashley L.Merianos, Meha Singh Khác
19. Sell H., Naggpal R., “Assessment of subjective well-being, WHO, Regional office for South-East Asia, New Deli, Regional health paper, SEARO, no Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w