1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến CHỈ số HẠNH PHÚC của SINH VIÊN đại học NGOẠI THƯƠNG

41 422 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮTNhằm tìm hiểu cho đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc của sinh viên Đạihọc Ngoại thương”, nhóm nghiên cứu đã làm cuộc khảo sát về các nhân tố ảnh hưởng tới sinhviê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

=====000=====

TIỂU LUẬN Môn: Kinh tế lượng

ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thúy Quỳnh

Hà Nội – 05/2019

Trang 2

TÓM TẮT

Nhằm tìm hiểu cho đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc của sinh viên Đạihọc Ngoại thương”, nhóm nghiên cứu đã làm cuộc khảo sát về các nhân tố ảnh hưởng tới sinhviên Đại học Ngoại thương và thu được 246 mẫu trả lời tới từ các bạn sinh viên trong trường

và tiến hành dự đoán, kiểm nghiệm và đưa ra kết luận cuối cùng

Bài tiểu luận bao gồm:

Những giải pháp đưa ra để nâng cao hạnh phúc của sinh viên Đại học Ngoại thương

Kết luận

1

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ 4

MỞ ĐẦU 5

Phần I Cơ sở lý thuyết 6

1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1 Khái niệm hạnh phúc 6

1.2 Khái niệm chỉ số hạnh phúc 6

2 Mô hình lý thuyết về hạnh phúc 7

2.1 Mô hình lý thuyết hạnh phúc của World Happiness Report (WHR) 7

2.2 Mô hình lý thuyết hạnh phúc PERMA Model 8

2.3 Mô hình lý thuyết về bánh xe hạnh phúc 9

Phần II Ứng dụng thực tiễn 10

1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 10

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.2 Lý do chọn đề tài 13

2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13

2.2 Đối tượng nghiên cứu 14

2.3 Phạm vi nghiên cứu 14

3 Phân tích định tính 14

4 Phân tích định lượng: 15

4.1 Lựa chọn mô hình: 15

4.2 Phương pháp ước lượng: 17

4.3 Các thông số dữ liệu và mô tả dữ liệu: 17

4.4 Kết quả kỳ vọng 22

Phần III Giải pháp 35

1 Nâng cao sự hài lòng về sức khỏe 35

2 Nâng cao sự hài lòng về các mối quan hệ 35

3 Nâng cao sự hài lòng về tự tin 35

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

PHỤ LỤC 39

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

tối ưu

3

Trang 5

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ

Hình 1: Bánh xe hạnh phúc 9

Hình 2: Tỉ lệ các nhóm chỉ số hạnh phúc 14

Hình 3 : Các thông số dữ liệu (Descriptive Statistics) của mô hình hồi quy 18

Hình 4: Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (Correlation) 21

Hình 5: Hồi quy mô hình lượng theo phương pháp OLS 23

Hình 6: Chạy dữ liệu mô hình hồi quy 25

Hình 7: Hồi quy mô hình (*) 27

Hình 8: Kiểm định dạng đúng mô hình với lệnh overtest 28

Hình 9: Kiểm định đa cộng tuyến bằng lệnh vif 29

Hình 10: Kiểm định White cho phương sai sai số thay đổi 30

Hình 11: Kiểm định Breusch-Pagan cho phương sai sai số thay đổi 30

Hình 12: Hồi quy OLS mô hình (**) 31

Hình 13: Kiểm định White mô hình (**) 32

Hình 14: Hồi quy Robust 33

Hình 15: Kiểm định White với mô hình Robust 33

Hình 16: Kiểm định phân phối chuẩn của nhiễu bằng sktest 34

Trang 6

MỞ ĐẦU

Con người sinh ra khác nhau, cuộc sống có những sự khác biệt nhưng chúng ta đều có mộtmục tiêu đó là hướng tới hạnh phúc Hạnh phúc là mục tiêu và là động lực thúc đẩy mỗi conngười Chính vì vậy, ngay từ thời cổ đại các nhà triết học, tôn giáo đã quan tâm tới vấn đềnày Từ đầu thế kỷ 19 đến nay, hạnh phúc đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoahọc thuộc các lĩnh vực Tâm lý, tôn giáo, kinh tế, xã hội, … Nhiều công trình nghiên cứu đãchứng minh rằng hạnh phúc giúp chúng ta thành công hơn

Sinh viên là đối tượng mang tính đặc thù cao Đây là đối tượng chuyển tiếp từ môi trườngTrung học phổ thông sang môi trường độc lập trên Đại học với nhiều thứ mới mẻ từ lượngkiến thức khổng lồ tới kỹ năng nghề nghiệp Họ phải trải qua những chuyển biến về tâm lý,quan niệm về cuộc sống, nghề nghiệp, … Điều này gây ra một mức độ căng thẳng nhất địnhđối với các bạn sinh viên Việc căng thẳng gây ra rất nhiều tác động tồi tệ với sinh viên Tuynhiên bên cạnh đó, có những sinh viên biết cách thích nghi với môi trường mới và trở nên rấthạnh phúc và thành công Những sinh viên hạnh phúc có những mối quan hệ rất chất lượng vàthường gặp rất ít vấn đề để bản thân stress, căng thẳng Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu

tố ảnh hưởng tới hạnh phúc của sinh viên là một vấn đề thực sự cần thiết trong giai đoạn hiệnnay Vậy làm thế nào để sinh viên luôn cảm thấy hạnh phúc, hăng say học tập, tham gia hoạtđộng và vượt qua khó khăn là vấn đề sinh viên rất quan tâm và cũng là vấn đề mà nhà trườngluôn hướng tới Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc ở Việt

Nam nói chung và sinh viên nói riêng Vì vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Các nhân

tố ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc của sinh viên Đại học Ngoại thương” Thông qua việc

chạy các mô hình kinh tế lượng, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra các nhận định, nhận xét, đánh giá

và dự báo về các nhân tố ảnh hưởng tới hạnh phúc của sinh vên Đại học Ngoại thương

Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn – ThS Nguyễn Thúy Quỳnh đãgiúp đỡ chúng em thực hiện bài tiểu luận này Trong quá trình làm bài tiểu luận, dù đã rất cốgắng nhưng chắc chắn chúng em không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong được cô góp

ý để nhóm chúng em có thể hoàn thiện hơn bản tiểu luận này

5

Trang 7

Phần I Cơ sở lý thuyết

1 Các khái niệm cơ bản

1.1 Khái niệm hạnh phúc

Từ trước đến nay, hạnh phúc là một điều rất khó nắm bắt và định nghĩa một cách cụ thể Sở

dĩ chúng ta cảm thấy hạnh phúc khó định nghĩa vì hạnh phúc mang tính chất rất định tính vàchủ quan Một ví dụ có thể cho thấy hạnh phúc rất phức tạp đó chính là tùy vào mỗi ngườiđịnh nghĩa hạnh phúc lại khác nhau: Người già định nghĩa hạnh phúc là con cháu sum vầy;người nghèo định nghĩa hạnh phúc là không lo cơm ăn áo mặc có của ăn của để trong khinhiều người có của ăn của để lại không cảm thấy hạnh phúc

Song, hạnh phúc được định nghĩa theo một cách khái quát nhất là một trạng thái cảm xúccủa con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những định nghĩa về hạnh phúc mang đầy tính cá nhân và độcđáo Trong đó phải kể đến:

- Nhà triết học Friedrich Nietzsche: “Hạnh phúc là cảm giác bản thân trở nên quyền năng hơn và bạn có thể kiểm soát mọi thứ”

- Nhà triết học John Stuart Mill: “Tôi đã học được cách tìm kiếm hạnh phúc bằng việc giới hạn những tham vọng của mình lại thay vì làm thỏa mãn chúng”

- Nhà hiền triết Trung Quốc – Khổng Tử: “Khi con người suy nghĩ thấu đáo hơn, thế giới của anh ta và cả thế giới nói chung sẽ càng trở nên tốt đẹp hơn”

- Nhà vật lý lý thuyết Albert Einstein: “Một cuộc sống tĩnh lăngj và khiêm nhường sẽ mang đến nhiều hạnh phúc hơn việc theo đuổi sự thành công và rồi bất an liên miên”

- Nhà triết học Karl Marx: “Hạnh phúc là đấu tranh”

Bên cạnh góc nhìn về hạnh phúc của những người nổi tiếng trên, chúng ta còn có rất nhiềunhững định nghĩa manh tính cá nhân khác về hạnh phúc và chúng đều dẫn tới hạnh phúc củachính bản thân

1.2 Khái niệm chỉ số hạnh phúc

Khái niệm hạnh phúc là khái niệm mang tính định tính và các nhân nên các nhà khoa họctrên thế giới khi nghiên cứu muốn có các số liệu để đánh giá đã đưa ra nhiều cuộc khảo sát vàphân tích Điển hình vào năm 2006, NEF – Một tổ chức nghiên cứu kinh tế xã hội có trụ sở tạiVương quốc Anh đã đưa ra khái niệm Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI – Happiness PlanetIndex) HPI nói lên mối qua hệ giữa tuổi thọ trung bình, mức độ thỏa mãn và các hành vi tácđộng tới môi trường Theo đó, hạnh phúc có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: tuổi thọ, mức độhài lòng với cuộc sống và chỉ số dấu chân sinh thái

Trang 8

Tuổi thọ (Life Expectancy): Tuổi thọ trung bình của mỗi quốc gia.

Mức độ hài lòng với cuộc sống (Life Satisfaction): Mức độ được sống hạnh phúc của mỗi con người của mỗi quốc gia

Chỉ số dấu chân sinh thái (Ecological Footprint): Thước đo để đo nhu cầu của conngười đối với khả năng tái tạo của tự nhiên tại mỗi quốc gia

2 Mô hình lý thuyết về hạnh phúc

2.1 Mô hình lý thuyết hạnh phúc của World Happiness Report (WHR)

Đại lượng cơ bản đánh giá hạnh phúc được WHR sử dụng là mức độ hài lòng với đời sống(Life Satisfaction), được đo bằng thang điểm 10 từ “cực kỳ không hài lòng” đến “cực kỳ hàilòng” Độ hài lòng của người dân trong các quốc gia, theo thiết kế của các chuyên gia WHR,được xem xét không dựa vào ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu hay các nhà hoạch địnhchính sách, mà căn bản là cá nhân mỗi người tự đánh giá về phúc lợi của chính họ - điều đượccoi là quan trọng nhất trong nghiên cứu hạnh phúc Các đại lượng khác như tăng trưởng kinh

tế, thất nghiệp hay lạm phát, học vấn hay hoàn cảnh cá nhân… chỉ có ý nghĩa chừng mực Tất

cả các yếu tố đa dạng và phức tạp của đời sống, khi ảnh hưởng đến sự hài lòng của mỗi người,

đã được các chuyên gia WHR thiết kế (có thể nói là tương đối phức tạp) để tất cả đều nhậpvào cùng một phương trình

WHR đo đạc mức độ hạnh phúc các quốc gia dựa vào 8 tiêu chí:

GDP bình quân đầu người tính theo sức mua ngang giá (PPP, được tính theo tỷ

giá USD 2011 do WB công bố trong tính toán Chỉ số Phát triển Thế giới)

Số năm sống khỏe mạnh so với tuổi thọ trung bình (Healthy Life Expectancy at

Birth) Số liệu này được xây dựng dựa trên dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

và WDI

Hỗ trợ xã hội (Social Support) Tiêu chí này được đo bằng việc khả năng nhận

được trợ giúp lúc khó khăn Hỗ trợ xã hội của các quốc gia được tính ở mức trung bìnhcủa các phản hồi nhị phân (0 hoặc 1) cho câu hỏi của Gallup World Poll (GWP) “Nếubạn gặp rắc rối, người thân hoặc bạn bè có thể giúp bạn hay không?”

Tự do lựa chọn (Freedom to make Life Choices) Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ

trung bình toàn quốc về phản ứng nhị phân đối với câu hỏi của GWP “Bạn hài lònghay không hài lòng với tự do của mình khi lựa chọn những gì bạn đã làm trong đờisống?”

Sự rộng lượng (Generosity) Tiêu chí này được đo bằng sự đóng góp cho xã hội

khi trả lời câu hỏi của GWP “Bạn đã góp tiền từ thiện trong tháng vừa qua?”

7

Trang 9

Cảm nhận về tham nhũng (Perceptions of Corruption) Tiêu chí này được đo bằng

trung bình các phản hồi nhị phân đối với hai câu hỏi của GWP “Liệu tham nhũng cóphổ biến khắp các cơ quan công quyền hay không?” Và “Liệu tham nhũng có phổ biếnkhắp các doanh nghiệp hay không?”

Phản ứng tích cực (Positive Affect) Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ trung bình

toàn quốc về tâm trạng hạnh phúc, tiếng cười và niềm vui (happiness, laughter, andenjoyment) đối với những thử nghiệm cụ thể của GWP

Phản ứng tiêu cực (Negative Affect) Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ trung bình

toàn quốc về tâm trạng lo lắng, buồn bã, và tức giận (worry, sadness, and аnger) đốinger) đốivới những thử nghiệm cụ thể của GWP

Tất cả 8 tiêu chí nói trên đều là các biến độc lập được tính toán để đo đạc thái độ chủ quancủa người dân ở hơn 150 quốc gia Ở mỗi quốc gia số nghiệm thể được chọn mẫu nghiên cứu

là 1000 người Chỉ số hạnh phúc WHI (World Happiness Index) là kết quả tích hợp của tất cảcác tiêu chí đó

2.2 Mô hình lý thuyết hạnh phúc PERMA Model

Dù ta đều biết hạnh phúc là một khái niệm khó định nghĩa, bác sĩ tâm lí học nổi tiếng DrMartin Seligman thực sự tin tưởng rằng hạnh phúc là kết quả tự nhiên sau khi ta xây dựngniềm an lạc và sự hài lòng với cuộc sống Ông muốn xác định các thành phần xây dựng nênhạnh phúc Và cuối cùng Dr Martin Seligman đã vẽ ra một mô hình gồm năm mặt của hạnhphúc được gọi là mô hình P.E.R.M.A Trong đó:

P – Positive Emotion – Cảm xúc tích cực: Theo ông, khi ta được hỏi về sự hài

lòng đối với cuộc sống này, câu trả lời vào thời điểm đó hoàn toàn phụ thuộc vào tâmtrạng của chúng ta lúc bấy giờ Nếu lúc đó bạn cảm thấy tích cực, bạn sẽ nhìn nhận vềquá khứ và cả hiện tại với một tâm thế thoải mái và bạn thấy hoàn toàn hài long vớicuộc sống hiện tại

E – Engagement – Tham gia: Nếu không làm gì cả, bản thân ta sẽ cảm thấy

sự đình trệ, không phát triển Nhưng khi chúng ta bắt tay vào làm chủ cuộc đời mình, ta như bước vào trạng thái dòng chảy; mà theo Dr Martin Seligman, dòng

chảy được mô tả như trạng thái hoàn toàn vui vẻ vào thời điểm hiện tại

R – Relationships – Quan hệ: Con người cần sự kết nối, tình yêu, sự liên lạc cảm

xúc với người khác Và chúng ta có thể nâng cao niềm vui, sự hạnh phúc của bản thânbằng cách xây dựng một mạng lưới quan hệ xung quanh, với gia đình, bạn bè, đồngnghiệp, hàng xóm, và tất cả những người khác trong cuộc đời ta

Trang 10

M – Meaning – Ý Nghĩa: Niềm hạnh phúc nảy nở từ những việc đơn giản đến

những việc lớn lao ta làm, song, ta sẽ chỉ có thể làm tốt nhất khi ta dành trọn thời giancủa mình cho thứ gì đó Và theo Dr Martin Seligman, sau khi hoàn thành tốt nhữngcông việc đó, ta hoàn toàn tìm được sự hài lòng ở bản thân

A – Accomplishment- Thành tựu: Để đạt được sự hài lòng và niềm hạnh phúc cá

nhân cũng như sự hài lòng khi nhìn lại cuộc sống của bản thân, đôi khi con người cần đạtđược những chiến thắng và thành tựu nhất định cho bản thân ở bất kì lĩnh vực nào

2.3 Mô hình lý thuyết về bánh xe hạnh phúc

Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu về hạnh phúc của con người, Các chuyên gia của vănphòng Graduate Recruitment Bureau (Anh) đã xây dựng một mô hình giúp chúng ta có thể tựđánh giá mức độ hạnh phúc của bản thân thông qua bánh xe hạnh phúc (The wheel ofhappiness) Theo đó, bánh xe này chia cuộc sống của ta thành 8 lĩnh vực chính bao gồm: sứckhỏe, tài sản, người thân và bạn bè, vui chơi giải trí, hôn nhân/tình yêu, sự nghiệp, môi trườngsống và phát triển bản thân, hiển thị xung quanh đường viền bánh xe Đường thẳng nối từ mỗilĩnh vực đến tâm vòng tròn được chia thành 10 bậc Sau đó chúng ta đánh giá và chấm điểmcho từng khía cạnh trong cuộc sống của mình Tổng số điểm cao nhất mà chúng ta có thể đạtđược là 80 (8 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực đều đạt điểm số tối đa là 10) Và ta hoàn toàn có thể tựđánh giá tỷ lệ hạnh phúc của mình là bao nhiêu so với lý thuyết Từ đó bạn sẽ biết được điều

gì đang kéo sự hài lòng của bạn xuống, những điều mà bạn đôi khi không có khả năng chỉ ra

nó là cái gì mà chỉ có thể nghĩ về nó Và một khi chúng ta đã xác định được khu vực có vấn

đề, ta có thể phân tích sâu hơn và tự mình tìm cách để cải thiện hơn nữa mức độ hài lòng củabản thân trong cuộc sống hiện tại này

Hình 1: Bánh xe hạnh phúc1

1Nguồn Internet

9

Trang 11

Phần II Ứng dụng thực tiễn

1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Blanchflower and Oswald (2004) sử dụng mô hình hàm hạnh phúc như sau:

+ u : là một hàm hữu dụng của các biến (y, z, t), được hiểu như là sự sống

hạnh phúc, dễ chịu (person’s true well-being or utility)+ y : là thu nhập của cá nhân (real income)

+ z : là 1 bộ các biến lên quan đến yếu tố nhân khẩu học và cá tính

(demographic and personal characteristics)+ t : là các giai đoạn thời gian (time period)+ ε : là sai số

Một số kết quả rút ra từ nghiên cứu của Blanchflower và Oswald (2004):

Chính sách chống phân biệt đối xử nam - nữ trong xã hội dường như không có ý nghĩa trong việc tạo ra cảm giác của tăng hạnh phúc của phụ nữ

Trang 12

Mức độ chưa hài lòng của người dân da đen ở Mỹ còn nhiều hơn so với người datrắng Đây là cơ sở để khẳng định sự tồn tại của sự phân biệt đối xử về chủng tộc trongcác nước Anh và Mỹ.

Sự khác biệt trong mức độ hạnh phúc của các nhóm chủng tộc ở Hoa Kỳ đã thuhẹp hơn trong vài thập kỷ qua Mức độ hạnh phúc của người da đen đã nâng lên rõ rệt

Thu nhập cao hơn gắn liền với hạnh phúc cao hơn

Nhóm dân số có mức hạnh phúc cao nhất là những người phụ nữ, đã lập gia đình,

có giáo dục cao và có cha mẹ không ly hôn Nhóm hạnh phúc thấp là những người thấtnghiệp sau đó là những người đã kết hôn nhưng có ít hạnh phúc

NEF (New Economics Foundation) (2006) đã đưa ra Báo cáo Chỉ số hạnh phúc hành tinh(HPI – Happy Planet Index)

Dựa vào các số liệu chọn lọc từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các số liệu do chínhNEF điều tra, NEF đã đưa ra các báo cáo về kinh tế, xã hội và môi trường gây được tiếngvang nhất định trong dư luận quốc tế

HPI được tính theo công thức:

Life Satisfaction x Life Expectancy

HPI =

Nội hàm chỉ số HPI là các khái niệm Số năm được sống hạnh phúc (Happy life years) vàSống hạnh phúc (Well-being: Sự hiện hữu – sảng khoái; sống hạnh phúc, sống dễ chịu) Lýthuyết của NEF rất chú trọng đến đời sống hạnh phúc cá nhân, coi tỷ lệ cá nhân sống dễ chịu

là đại lượng quyết định trạng thái hạnh phúc Chỉ số HPI gồm ba chỉ số thành phần là:

Mức độ hài lòng với cuộc sống (Life Satisfaction): Mức độ được sống hạnh phúc(Well-being) của con người ở mỗi quốc gia

Tuổi thọ (Life Expectancy): Tuổi thọ bình quân thực tế mà mỗi quốc gia đạt được;không phải tất cả mà chỉ một phần trong đó là những năm sống hạnh phúc (Happy lifeyears)

Môi sinh (Ecological Footprint - dấu chân sinh thái: dấu vết của toàn bộ hệ sinhthái xung quanh con người, không chỉ môi trường - Con người tiêu dùng tài nguyên tựnhiên đến mức nào, có vượt quá mức độ cho phép mà tự nhiên đã “ban” cho con ngườitại mỗi quốc gia hay không, có làm tổn hại ñến hệ sinh thái mà trong ñó con người chỉ

là một thực thể sinh học hay không)

11

Trang 13

Theo công thức này, người ta sẽ tính được chỉ số hạnh phúc của mỗi quốc gia hoặc của mỗicộng đồng.

Ý nghĩa của công thức này là: Hạnh phúc của mỗi quốc gia hay cộng đồng là số năm trongvốn tuổi thọ mà con người cảm thấy hài lòng (Well-being) với cuộc sống của mình nếu điềunày phù hợp với điều kiện tài nguyên tự nhiên được phép tiêu dùng (chỉ số hài lòng với cuộcsống nhân với chỉ số tuổi thọ chia cho chỉ số thực trạng tiêu dùng tài nguyên tự nhiên và mức

độ làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái xung quanh)

Thang HPI được thiết kế từ 0 - 100 Theo NEF, thang lý tưởng (Reasonable Ideal) trongđiều kiện hiện nay là 83,5; trong đó, chỉ số hài lòng với cuộc sống là 8,2; chỉ số tuổi thọ là82,0 và chỉ số môi sinh là 1,5

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về hạnh phúc còn chưa phổ biến

Đề tài cấp quốc gia: “Hạnh phúc của người Việt Nam: Quan niệm, thực trạng và chỉ số đánhgiá” có thời gian thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 03 năm 2018 được chủ trì bởi Việnnghiên cứu Gia đình và Giới với sự tham gia nghiên cứu của rất nhiều thành viên đến từ các Viên,Hội và Trung tâm nghiên cứu đã đem lại nhiều kết quả dưới dạng báo cáo và bài viết khoa học

Đề tài có một số đóng góp mới: Xây dựng khái niệm hạnh phúc của người Việt Nam; Đề xuất hệthống chỉ báo, chỉ số đo lường hạnh phúc của người Việt Nam; Xây dựng phương án và công thứctính toán chỉ số hạnh phúc của người Việt Nam; Đặt nền móng cho việc hình thành bộ môn khoahọc hoàn toàn mới ở Việt Nam là Khoa học nghiên cứu hạnh phúc con người; Cung cấp chongười đọc một sự hiểu biết có hệ thống về quan điểm hạnh phúc của người Việt Nam và nhữngnét đặc thù hay bản sắc văn hóa trong quan niệm hạnh phúc của người Việt Nam; Chỉ ra thựctrạng hạnh phúc của người Việt Nam trong hiện thực thông qua đo lường hệ thống chỉ số hạnhphúc của người Việt Nam, bao gồm chỉ số hạnh phúc chung, chỉ số hạnh phúc trong từng lĩnh vực

cơ bản của đời sống và chỉ số hạnh phúc của các nhóm xã hội khác nhau Đề tài đã có những hiệuquả nhất định đối với xã hội và đối với việc nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức cá nhân.Đối với xã hội, đề tài đã cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng, giúp cho Chính phủ và các tổchức hữu quan nguồn tài liệu tham khao trong quá trình hoạch định chính sách, phát triển kinh tế -

xã hội – văn hóa, bảo về môi trường, … tạo điều kiện để đảm bảo hạnh phúc cho con người trongchiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu dưới dạngcác sản phảm xuất bản sẽ là tài liệu tham khảo giúp các cơ quan truyền thông, các tổ chức xã hộixây dựng chiến lược truyền thông, tuyên truyền vận động giúp các tầng lớp nhân dân hiểu biết vềhạnh phúc, xây dựng hạnh phúc cá

Trang 14

nhân, gia đình, cộng đồng trên cơ sở khoa học và bản sắc dân tộc Một số bài viết về hạnhphúc trong đề tài nghiên cứu này có thể kể đến như:

Hoàng Minh Hải, 2017, Phương pháp xây dựng và tính toán chỉ số hạnh phúc của người Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới, số 2 năm 2017

Hồ Sĩ Quý, 2017, Chỉ số hạnh phúc thế giới (WHI) 2012 – 2017 và cảm nhận của người Việt Nam về hạnh phúc, Tạp chí nghiên cứu con người, số 3 năm 2017

Đăng Thị Hoa, 2017, Quan niệm hạnh phúc của người thiểu số (Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Sơn La), Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới, số 2 năm 2017.Kết quả khảo sát trong khuôn khổ đề án nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội: Sự hàilòng về cuộc sống của người dân tại 4 tỉnh thành phố: Hải Dương, Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh và Bình Dương với trên 2400 đại diện gia đình - mẫu khảo sát (2011), cho biết rất nhiềuthông tin đáng chú ý về mức độ hài lòng của người Việt Nam trong cuộc sống Người dânViệt Nam chủ yếu hài lòng về gia đình, con cái và mức độ hài lòng cũng dựa trên những tiêuchí rất cụ thể của mức sống, điều kiện sống Đây gần như là nghiên cứu lớn đầu tiên đề cậpđến vấn đề liên quan đến hạnh phúc, sự hài lòng trên các khía cạnh cơ bản của cuộc sốngtrong đó có đời sống gia đình nói chung và đời sống kinh tế gia đình nói riêng

ra rằng: “Liệu các sinh viên trường Đại học Ngoại thương có hạnh phúc trong suốt quá trình

học tập tại đây”? Để trả lời cho câu hỏi này, nhóm chúng em đã quyết

định chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc của sinh viên Đại học

Ngoại thương” để nghiên cứu.

2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát và phân tích định lượng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ số hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương

- Giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ số hạnh phúc của sinh viênTrường Đại học Ngoại thương

13

Trang 15

- Những gợi ý về giải pháp để nhà trường và sinh viên duy trì được chỉ số hạnh phúc thực sự của sinh viên trong tương lai.

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Chỉ số hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương và các yếu tố ảnh hưởng tới nó

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Chỉ số hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương cơ sở Hà Nội

3 Phân tích định tính

Nhằm khảo sát mức độ hạnh phúc của sinh viên đại học Ngoại thương, nhóm nghiên cứu

đã lập bảng hỏi và khảo sát sinh viên đại học Ngoại thương ngẫu nhiên trên diện rộng Các đối tượng nghiên cứu đã tự đánh giá mức độ hạnh phúc của mình trên thang từ 1 (thấp nhất)đến 10 (cao nhất), và kết quả thu được như sau:

Tỉ lệ các nhóm chỉ số hạnh phúc

6%

4-6 7-10

63%

Hình 2: Tỉ lệ các nhóm chỉ số hạnh phúc2

Có thể nhận thấy 156/247 sinh viên làm khảo sát nhận định mức độ hạnh phúc của bản thântương đối cao, ở mức từ 7 đến 10 điểm Số lượng từ 4 đến 6 điểm ít hơn, chiếm 31%, và chỉ có

6% sinh viên chấm điểm từ 0 đến 3 về mức độ hạnh phúc của mình Như vậy, nhìn chung chỉ

số hạnh phúc của sinh viên Đại học Ngoại thương nằm ở mức cao

Trang 16

4 Phân tích định lượng:

4.1 Lựa chọn mô hình:

Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, nhóm em xin cân nhắc chọn ra 6 yếu tố để phân tích, đó

là:

○ GPA từ 0 đến dưới 1 được lượng hóa = 1

○ GPA từ 1 đến dưới 2 được lượng hóa = 2

○ GPA từ 2 đến dưới 3 được lượng hóa = 3

○ GPA từ 3 đến dưới 4 được lượng hóa = 4

○ Dưới 1 tiếng/ngày được lượng hóa = 1

○ Từ 1 đến dưới 3 tiếng/ngày được lượng hóa = 2

○ Từ 3 đến dưới 5 tiếng/ngày được lượng hóa = 3

○ Từ 5 đến dưới 7 tiếng/ngày được lượng hóa = 4

○ Từ 7 tiếng/ngày trở lên được lượng hóa = 5

Trang 17

1 : mô tả ảnh hưởng của điểm số lên mức độ hạnh phúc.

: mô tả ảnh hưởng của thời gian giải trí lên mức độ hạnh phúc

: mô tả ảnh hưởng của vấn đề sức khỏe lên mức độ hạnh phúc

: mô tả ảnh hưởng của các mối quan hệ xung quanh lên mức độ hạnh phúc : mô tả ảnh hưởng của sự tự tin lên mức độ hạnh phúc

6: mô tả ảnh hưởng của kĩ năng cá nhân lên mức độ hạnh phúc

: yếu tố ngẫu nhiên, những yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc nhưng không được giải thích bởi mô hình

Dự đoán dấu của các hệ số dựa vào lý thuyết và kinh nghiệm thực tế:

Trên thực tế, khi con người có kết quả học tập cao cũng như có nhiều thời gian giải trí và tình trạng sức khỏe tốt thì mức độ hạnh phúc của con người có xu hướng tăng lên Vì thế 1 , 2 , 3 mang dấu (+).

Tương tự như vậy, ta có thể nhận thấy các mối quan hệ tốt hơn cùng với sự tự tin và kĩ năng cá nhân cao cũng là những yếu tố thúc đẩy cảm giác hạnh phúc trong chúng ta Do đó, 4 , 5 và β6 cũng mang dấu (+).

16

Trang 18

4.2 Phương pháp ước lượng:

Số liệu đã thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu được thu thập được đánh giádựa trên mẫu hỏi về mức độ hạnh phúc mà sinh viên Đại học Ngoại Thương cảm nhận dựatrên các tiêu chuẩn chung của cuộc sống.Qua các câu hỏi liên quan đến các yếu tố như điểm

số, thời gian giải trí, sức khoẻ, mối quan hệ,mức độ tự tin, kĩ năng nhóm em đã rút ra đánh giáchung về mức độ hạnh phúc của sinh viên Và từ đó, nhóm đã thu tập được bảng dữ liệu gồm

246 mẫu để có thể thiết lập ra hàm hồi quy mẫu cho sự phụ thuộc của chỉ số hạnh phúc vớicác yếu tố bên ngoài

Chạy phần mềm Stata hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu (OLS) đểước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến

Trong toán học, phương pháp bình phương tối thiểu, còn gọi là bình phương nhỏ nhất haybình phương trung bình tối thiểu, là một phương pháp tối ưu hóa để lựa chọn một đường khớpnhất cho một dải dữ liệu ứng với cực trị của tổng các sai số thống kê (error) giữa đường khớp

và dữ liệu

Phương pháp này giả định các sai số (error) của phép đo đạc dữ liệu phân phối ngẫu nhiên.Định lý Gauss-Markov chứng minh rằng kết quả thu được từ phương pháp bình phương tốithiểu không thiên vị và sai số của việc đo đạc dữ liệu không nhất thiết phải tuân theo, ví dụ,phân bố Gauss Một phương pháp mở rộng từ phương pháp này là bình phương tối thiểu cótrọng số (WLS)

4.3 Các thông số dữ liệu và mô tả dữ liệu:

17

Trang 19

Hình 3: Các thông số dữ liệu (Descriptive Statistics) của mô hình hồi quy3

Trang 20

Theo như kết quả thống kê, ở FTU, đa phần sinh viên hài lòng về điểm GPA của mình(3/4) Đối với sinh viên, điểm số chắc chắn là một nhân tố có ảnh hưởng tới chỉ số hạnhphúc.

(3) Biến ent (Giải trí)

(5) Biến rela (Sự hài lòng về các mối quan hệ)

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tài liệu khắc phục các khuyết tật về phương sai sai số thay đổi trên Internet 6. Tài liệu nghiên cứu về “Bánh xe hạnh phúc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bánh xe hạnh phúc
1. Hồ Sỹ Quý, Nghiên cứu định lượng về hạnh phúc và chỉ số hạnh phúc (HPI) của Việt Nam trong 178 nước năm 2006 Khác
2. Nghiệm thu đề tài cấp cơ sở năm 2017của Viện nghiên cứu gia đình và giới 3. PGS.TS Nguyễn Quang Dong,1998, Giáo trình Bài giảng kinh tế lượng, NXBGiao thông vận tải Khác
7. Trần Hữu Ủy, 2009, Các nhân tố ảnh hưởng đến hạnh phúc của con người Việt Nam, Trần Hữu Ủy, NXB TP. Hồ chí Minh Khác
9. Wikipedia về các định nghĩa, lý thuyết kinh tế lượng Tiếng Anh Khác
11. The Stata Blog, Two faces of misspecification in maximum likelihood: Heteroskedasticity and robust standard errors, 30 Aug 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w