DANH MỤC BIỂU ĐỒTrang Biểu đồ 4.1: Điểm trung bình của các dạng tiêu điểm kiểm soát 79 Biểu đồ 4.2: Điểm trung bình của các thành tố cảm nhận hạnh phúc tâm lý 82 Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch Hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng GS.TS Trần Thị Minh Đức
HÀ NỘI – 2019
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
C ươ 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIỂM KIỂM SOÁT ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC 7
1.1 Những nghiên cứu về khả năng dự báo của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc 7
1.1.1 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng tích cực của tiêu điểm kiểm soát bên trong, ảnh hưởng tiêu cực của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài đến cảm nhận hạnh phúc 8
1.1.2 Kết quả nghiên cứu trái chiều 13
1.1.3 Các nghiên cứu trong bối cảnh xuyên văn hóa 17
1.2 Những nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc 20
1.2.1 Ảnh hưởng thông qua stress 20
1.2.2 Ảnh hưởng thông qua cách ứng phó 23
1.2.3 Những lý giải khác 30
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 31
Tiểu kết chương 1 33
C ươ 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIỂM KIỂM SOÁT ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC 35
2.1 Các khái niệm công cụ 35
2.1.1 Tiêu điểm kiểm soát 35
2.1.2 Cảm nhận hạnh phúc 44
2.2 Các tiếp cận lý thuyết lý giải ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc 53
2.2.1 Tiếp cận Phân tâm học 53
2.2.2 Tiếp cận Nhận thức 55
2.2.3 Tiếp cận Hành vi 57
2.3 Ảnh hưởng gián tiếp của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc 60
2.3.1 Ảnh hưởng gián tiếp thông qua stress 60
2.3.2 Ảnh hưởng gián tiếp thông qua cách ứng phó 61
2.3.3 Ảnh hưởng gián tiếp thông qua tính cá nhân – cộng đồng 62
Tiểu kết chương 2 66
Trang 43.1 Tổ chức nghiên cứu 67
3.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận 67
3.1.2 Giai đoạn 2: Thích ứng bộ công cụ 67
3.1.3 Giai đoạn 3: Thu thập thông tin 68
3.1.4 Giai đoạn 4: Viết luận án 69
3.2 Phương pháp nghiên cứu 69
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 69
3.2.2 Các phương pháp phân tích thống kê và đánh giá 75
Tiểu kết chương 3 78
C ươ 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIỂM KIỂM SOÁT ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN 80
4.1 Thực trạng tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 80
4.1.1 Thực trạng tiêu điểm kiểm soát của sinh viên 80
4.1.2 Thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 82
4.2 Mức độ dự báo của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 85
4.2.1 Mức độ cần thiết của tiêu điểm kiểm soát trong dự báo từng tiếp cận cảm nhận hạnh phúc 87
4.2.2 Vai trò của các dạng tiêu điểm kiểm soát đối với từng bình diện cảm nhận hạnh phúc 88 4.3 Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên theo các nhóm nhân khẩu 96
4.3.1 Theo giới tính 96
4.3.2 Theo nơi lớn lên 98
4.3.3 Theo thứ tự sinh trong gia đình 100
4.3.4 Theo thành tích học tập 104
4.3.5 Theo tình trạng có việc làm thêm 107
4.3.6 Theo tình trạng mối quan hệ 109
4.3.7 Theo tôn giáo 112
4.4 Các mô hình tác động đa biến 115
4.4.1 Ảnh hưởng thông qua tính cá nhân, cộng đồng 116
4.4.2 Ảnh hưởng thông qua stress 120
4.4.3 Ảnh hưởng thông qua cách ứng phó 122
4.5 Ứng dụng một số biện pháp nâng cao cảm nhận hạnh phúc thông qua tiêu điểm kiểm soát 125 4.5.1 Một số ứng dụng đối với xây dựng các chương trình trong trường đại học 126
4.5.2 Một số ứng dụng đối với hoạt động trợ giúp tâm lý với thân chủ là sinh viên 129
Tiểu kết chương 4 134
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU 137
Trang 51 KẾT LUẬN 137
2 KIẾN NGHỊ 139
3 TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 142
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143 PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận án tiến sĩ “Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đếncảm nhận hạnh phúc của sinh viên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dữ liệunghiên cứu định lượng được thu thập, xử lý một cách trung thực, đảm bảo tính bảomật và quyền được thông tin của người tham gia nghiên cứu Các dẫn chứng vàkết quả từ những nghiên cứu khác để so sánh, phân tích đều được chỉ rõ nguồntrích dẫn Kết quả trong phần nghiên cứu chính thức chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Hoàng Ngân
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Từ ý tưởng đến một công trình nghiên cứu, luận án này đã được thực hiệnvới sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng và PGS.TS.Nguyễn Sinh Phúc Tất cả sự kính trọng của tôi dành cho Cô và Thầy, những nhàkhoa học đã giúp tôi lựa chọn được những phương thức thực hiện khả thi nhất, cậpnhật các phương pháp xử lý để kết quả nghiên cứu mang tính khách quan, trao đổi
để tôi liên tục xây dựng và thực hiện mọi ý tưởng có thể trong luận án, tính tới thờiđiểm này Những buổi thảo luận cùng cô Nguyễn Thị Minh Hằng mang lại cho tôi
sự đam mê với nghiên cứu Khi trao đổi với thầy Nguyễn Sinh Phúc, tôi nhận đượcnhiều điều, trong đó, bài học lớn nhất mà tôi nhận được là, mọi nghiên cứu đều cầnxét đến tính khả thi Thầy Cô không chỉ hướng dẫn tôi làm luận án, mà đã hướngdẫn tôi học cách trở thành một người làm khoa học
Quá trình đào tạo nghiên cứu sinh đã cho tôi cơ hội được học tập từPGS.TS Phan Thị Mai Hương, PGS.TS Lê Văn Hảo, GS.TS Phạm Thành Nghị.Nghiên cứu này không thể được hình thành nếu không nhận được những ý kiến vềviệc trình bày nghiên cứu, mở rộng vấn đề, so sánh văn hóa, giản lược một số chitiết để tập trung vào nội dung chính Nhiều ý tưởng tôi chưa thực hiện được,nhưng những ý tưởng này đã trở thành dự định thực hiện tiếp theo
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thầy, những đồng nghiệp của tôi.GS.TS Trần Thị Minh Đức đã lắng nghe ý tưởng nghiên cứu của tôi từ nhữngngày đầu tiên và gợi ý những cách nhìn đa chiều hơn PGS.TS Bùi Thị Hồng Thái
là người có ảnh hưởng lớn đến tôi trong việc làm thế nào để các dữ liệu “nói” mộtcách thuyết phục Những phương thức mà tôi chưa áp dụng được trong luận ánnày gợi mở cho tôi về những điều cần học tập trong thời gian sắp tới Quá trìnhhoàn thành luận án của tôi nhận được sự giúp đỡ, những lời khuyên hữu ích từ TS.Trương Quang Lâm và TS Nguyễn Thị Anh Thư – những người đi trước Luận
án này ghi dấu sự biết ơn của tôi đối với những người thầy, những người đồngnghiệp ấy
Trang 8Tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ từ những người không thuộc môi trường
mà mình được đào tạo tiến sĩ – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.Anh Nguyễn Cao Minh là người đầu tiên truyền cảm hứng đến tôi về việc, kết luậncần dựa trên bằng chứng Việc thu thập tài liệu của luận án sẽ ít thuận lợi hơn nếukhông có sự giúp đỡ của hai người bạn của tôi, Trung Kiên và Tiến Dũng
Phần nghiên cứu thực tiễn của luận án này đã nhận được sự giúp đỡ từ cácbạn sinh viên Quý Minh, Minh Thu, Thu Giang, Quỳnh Châu, Tiểu Quyên trongquá trình liên hệ và rải phiếu Đồng thời, tôi xin được cảm ơn các bạn sinh viên từcác trường thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia vào các lần điềutra của luận án Sự nhiệt tình của họ đã tiếp thêm rất nhiều động lực cho tôi
Sự biết ơn của tôi, xin được dành cho những người bạn thân thiết: NgọcTrang, Việt Sơn, Thu Huyền Tiếng cười và sự hỗ trợ tinh thần trong những thờiđiểm khó khăn nhất là nguồn lực giúp tôi hoàn thành luận án này
Cuối cùng và sâu sắc nhất, sự biết ơn lớn nhất của tôi dành cho bố mẹ củamình Những bài học lớn nhất trong cuộc sống, tôi được học cùng bố mẹ
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Hoàng Ngân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Kết quả kiểm định xuyên văn hóa mối quan hệ giữa tiêu điểm 18kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc ở một số quốc gia
ả 3 2: Độ tin cậy của các thang đo theo phân tích nhân tố khẳng 72định
Bảng 3.3: Tương quan giữa các thành tố của tiêu điểm kiểm soát (N = 513) 74
Bảng 3.4: Tương quan giữa các thành tố của thang cảm nhận hạnh phúc 74tâm lý (N = 515)
Bảng 4.1: Sự khác biệt về tiêu điểm kiểm soát theo các biến nhân khẩu 81
Bảng 4.2: Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc theo các biến nhân khẩu 83
Bảng 4.3: Mô hình hồi quy đơn biến dự báo cảm nhận hạnh phúc 84
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc 114thông qua tính cá nhân bình đẳng
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Điểm trung bình của các dạng tiêu điểm kiểm soát 79
Biểu đồ 4.2: Điểm trung bình của các thành tố cảm nhận hạnh phúc tâm lý 82
Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và giới tính 95đến sự hài lòng với cuộc sống
Biểu đồ 4.4: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người 97khác và giới tính đến bình diện kế hoạch cuộc sống
Biểu đồ 4.5: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và nơi lớn 98lên đến bình diện chủ động tạo mối quan hệ tích cực
Biểu đồ 4.6: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và thứ tự 99sinh đến bình diện cởi mở với trải nghiệm mới
Biểu đồ 4.7: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và thứ tự 100sinh đến bình diện tự chấp nhận
Biểu đồ 4.8: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người 101khác và thứ tự sinh đến bình diện tự chấp nhận
Biểu đồ 4.9: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người 101khác và thứ tự sinh đến bình diện kế hoạch cuộc sống
Biểu đồ 4.10: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người 103khác và thành tích học tập đến cảm nhận hạnh phúc tâm lý
Biểu đồ 4.11: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài may mắn 104
và thành tích học tập đến bình diện kế hoạch cuộc sống
Biểu đồ 4.12: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài may mắn 106
và tình trạng có việc làm thêm đến cảm nhận hạnh phúc tâm lý
Biểu đồ 4.13: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài may mắn và 106tình trạng có việc làm thêm đến bình diện cởi mở với trải nghiệm mới
Trang 11Biểu đồ 4.14: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và tình
trạng mối quan hệ đến cảm nhận hạnh phúc tâm lý
Biểu đồ 4.15: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người
khác và tình trạng mối quan hệ đến bình diện chủ động tạo mối quan hệ
tích cực
108109
Biểu đồ 4.16: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người khác 110
và tình trạng mối quan hệ đến bình diện cảm nhận được thuộc về một nhóm
Biểu đồ 4.17: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên trong và tôn giáo 111đến bình diện cảm nhận bản thân trưởng thành
Biểu đồ 4.18: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài may mắn 111
và tôn giáo đến sự hài lòng với cuộc sống
Trang 12MỞ ĐẦU
1 L do c ọ đề t i
Xã hội hiện đại với tiến bộ vượt bậc giúp con người có được cuộc sống tiệních, đảm bảo về sự an toàn vật chất, nhưng cũng tiềm ẩn những thay đổi và xungđột về hệ giá trị Điều đó khiến cho con người nhìn nhận lại về những trải nghiệmcuộc sống, sự tương tác xã hội và sự trưởng thành cá nhân của mình Những câuhỏi “Tôi có đang hạnh phúc không?”, “Làm thế nào để có được cuộc sống hạnhphúc?” là những nỗ lực tìm kiếm căn bản của con người từ xa xưa và dần trở thànhmối quan tâm hàng đầu của xã hội hậu hiện đại - xã hội bắt đầu bão hòa với cáctiến bộ công nghệ và quay trở lại hàn gắn những mối quan hệ mang tính nhân bản.Xuất phát từ nhu cầu lý giải hiện tượng và chăm sóc tinh thần của con người hiệnđại, bắt đầu từ những năm 2000, các nghiên cứu của lĩnh vực tâm lý học tích cựcngày càng được khai thác nhiều hơn (Noble & McGrath, 2008; Peterson, Park &Sweeney, 2008) Đây là ngành khoa học của việc nghiên cứu các trải nghiệm tíchcực chủ quan, các đặc điểm cá nhân tích cực và thể chế tích cực hướng tới mục tiêunâng cao chất lượng cuộc sống và giúp can thiệp vào một số dạng bệnh tật tinhthần (Seligman & Csikszentmihalyi, 2000) Lĩnh vực tâm lý học tích cực và tâm lýhọc lâm sàng hòa nhập với nhau thông qua nghiên cứu vai trò cảm nhận hạnh phúcchủ quan của cá nhân trong sức khỏe tinh thần (Leontopoulou, 2012) Nghiên cứucảm nhận hạnh phúc chủ quan càng ngày càng có ý nghĩa đặc biệt đối với xã hộidân chủ mà trong đó, chúng ta mong muốn con người sống với sự thành đạt nhưbản thân tự đánh giá, chứ không phải đơn giản là bị đánh giá bởi các tiêu chí chínhsách xã hội (Kulshrestha & Sen, 2006)
Cuộc sống là một giới hạn thời gian cho phép xảy ra một chuỗi những hành
vi đi tìm ý nghĩa cho bản thân mình và chia sẻ giá trị với những người khác Cách sinhviên – những người trẻ tuổi có học thức - đánh giá cảm nhận hạnh phúc liệu có
mối liên hệ với niềm tin củng cố sự nhìn nhận của họ về thế giới? Tiêu điểm kiểmsoát (Rotter, 1954, 1966) là một khái niệm ra đời trong lòng lý thuyết học tập xãhội nhằm xác định niềm tin vào bản thân hay vào các yếu tố số phận, quyền lực bên
1
Trang 13ngoài ảnh hưởng đến hành vi của con người Nhiều nghiên cứu đã tập trung vàomối liên hệ giữa tiêu điểm kiểm soát với cảm nhận hạnh phúc Các nghiên cứu(Spector & cs, 2002; Parija & Shukla, 2013; Menon & Edward, 2014) gợi ý rằng cánhân càng tự chủ, kiểm soát hoàn cảnh, tin vào năng lực bản thân thì càng hạnhphúc Liệu điều này có đúng với nền văn hóa cộng đồng đặc trưng như Việt Nam,nơi hành vi của con người được giả định rằng chịu nhiều ảnh hưởng từ niềm tinliên cá nhân, niềm tin vào số phận?
Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc đã đượcnghiên cứu rộng rãi ở nước ngoài nhưng vẫn còn đang rất mới mẻ ở Việt Nam.Việc xây dựng một cách hệ thống khung lý luận, bước đầu mô tả thực tiễn, chỉ ramối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc và các yếu tố ảnhhưởng đến mối quan hệ này là một nhiệm vụ cần thiết trong nghiên cứu tâm lý học
tại Việt Nam Với những vấn đề lý luận và thực tiễn đó, tôi chọn vấn đề “Ảnh
hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên” làm đề tài
luận án của mình Đây là đề tài nghiên cứu chưa từng được đề cập đến tại ViệtNam từ trước đến nay Luận án kì vọng tìm ra định hướng về mặt nhận thức kiểmsoát để sinh viên – thế hệ tiên tiến về mặt học thức, giàu tiềm năng tạo ra cácchuyển biến trong xã hội – cảm thấy cuộc sống hạnh phúc Cảm nhận hạnh phúccủa họ phản ánh cảm nhận hạnh phúc của thế hệ có sức mạnh thay đổi đất nướctheo hướng phát triển và nhân văn hơn Với sự hạnh phúc, họ có thể phát triển cáitôi toàn vẹn và cống hiến vì cộng đồng
Nghiên cứu này có mục đích làm rõ xu hướng ảnh hưởng của tiêu điểmkiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc thông qua một số đặc điểm nhân khẩu và yếu tốtâm lý khác Qua đó, đưa ra các bằng chứng khoa học có thể ứng dụng trong hỗ trợsinh viên nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc qua điều chỉnh tiêu điểm kiểm soát
và một số yếu tố ảnh hưởng mang tính gián tiếp
3 Đ i tượng i cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ và cơ chế ảnh hưởng củatiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc
Trang 144 Nhiệm vụ i cứu
Các nhiệm vụ cụ thể sau được thực hiện trong luận án:
(1) Nghiên cứu lý luận:
Tổng quan về các tiếp cận, xu hướng nghiên cứu, chỉ ra khoảngtrống trong nghiên cứu vấn đề tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc
Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài của luận án
Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tiêu điểm kiểm soát
Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về cảm nhận hạnh phúc
Hệ thống hóa các lý luận về ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc
(2) Nghiên cứu thực tiễn:
Mô tả thực trạng tiêu điểm kiểm soát và về cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
Chỉ ra mức độ dự báo của biến độc lập (tiêu điểm kiểm soát) đến cácthành tố của biến phụ thuộc (cảm nhận hạnh phúc tâm lý, sự hài lòng với cuộc sống)
Tìm hiểu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnhphúc theo các nhóm khách thể với những đặc điểm nhân khẩu khác nhau
Tìm hiểu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnhphúc và các thành tố của nó khi có sự tham gia điều tiết của các biến: stress, cách ứngphó, định hướng giá trị cá nhân, cộng đồng
Đề xuất ứng dụng một số kết quả của luận án nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
Trang 15Về khách thể:
Mẫu điều tra của luận án là 515 sinh viên đang học tập tại TrườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Công nghệ,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Về nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu thực tiễn ở các nội dung cụ thể:
Nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc được giới hạn bởi:
Các kết quả phân tích đều dựa trên nghiên cứu cắt ngang Do đó,
“ảnh hưởng” được giới hạn theo nghĩa là khả năng dự báo của tiêu điểm kiểm soát đếncảm nhận hạnh phúc
Các biến có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của tiêu điểm kiểmsoát đến cảm nhận hạnh phúc được giới hạn là: stress, cách ứng phó, định hướng giá trị
cá nhân, cộng đồng
Các biến được đo lường trên bình diện nhận thức, không đánh giá
được trên bình diện hành vi do đặc thù của khái niệm cảm nhận hạnh phúc chủ quan và tiêu điểm kiểm soát (niềm tin)
Về không gian: Luận án được tiến hành trên địa bàn Hà Nội.
không? Nếu có thì đó là ảnh hưởng như thế nào?
7 Giả thuyết i cứu
(1) Tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc Cụ thể tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài làm giảm cảm nhận hạnh phúc, tiêu điểm kiểm soát bên tronglàm tăng cảm nhận hạnh phúc Ở một số bình diện, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài làmtăng cảm nhận hạnh phúc
Trang 16(2) Tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc theo các chiềuhướng khác nhau khi có sự tham gia của các biến nhân khẩu.
(3a) Tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc thông qua sự điều tiết của stress, cách ứng phó, tính cá nhân, cộng đồng
(3b) Tiêu điểm kiểm soát điều tiết stress, cách ứng phó, tính cá nhân, cộng đồng ảnh hưởng lên cảm nhận hạnh phúc
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, nghiên cứu của luận án sử dụng phối hợp các phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp điều tra bằng thang đo
Phương pháp phỏng vấn (trong nghiên cứu thử nghiệm)
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
9 Đó óp mới của luậ á
Về lý thuyết:
Tổng quan tài liệu điểm luận các xu hướng nghiên cứu về ảnh hưởngcủa tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc đã có trên thế giới, chỉ ra khoảng trốngcủa chủ đề này khi nghiên cứu tại Việt Nam
Luận án hệ thống hóa các lý thuyết tiếp cận trên thế giới, bổ sungthêm vào hệ thống nghiên cứu lý luận hiện mới chỉ bước đầu được nghiên cứu tại ViệtNam đối với hai khái niệm cảm nhận hạnh phúc
và tiêu điểm kiểm soát
đó là, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài
5
Trang 17không gây được ảnh hưởng đáng kể đến cảm nhận hạnh phúc, địnhhướng giá trị cộng đồng làm tăng tiêu điểm kiểm soát bên trong, từ
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học
đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận ánđược kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soátđến cảm nhận hạnh phúc
Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảmnhận hạnh phúc
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về ảnh hưởng của tiêu điểm kiểmsoát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
6
Trang 18Cươ 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIỂM KIỂM SOÁT ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC
Từ những năm 1950, các nhà tâm lý học đã tiến hành ngày càng nhiều cácnghiên cứu để cung cấp những bằng chứng khách quan về ảnh hưởng của tiêu điểmkiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc Đặc biệt, từ sau những năm 1980, khi có nhữngcông cụ đánh giá về cảm nhận hạnh phúc được công nhận rộng rãi, các nghiên cứu
về vấn đề này càng trở nên phong phú Cảm nhận hạnh phúc được hiểu là trạngthái hài lòng với cuộc sống, trải nghiệm nhiều cảm xúc tích cực, ít cảm xúc tiêucực, phát triển được tiềm năng cá nhân và hài hòa với môi trường xung quanh.Tiêu điểm kiểm soát là sự quy gán của cá nhân về các kết quả đến với mình Ngườiquy gán cho bản thân là người có tiêu điểm kiểm soát bên trong Người quy gáncho số phận, may rủi, những người liên quan khác là người có tiêu điểm kiểm soátbên ngoài
Chương này sẽ hệ thống hóa hai trục nghiên cứu chính về ảnh hưởng củatiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc, đó là: (1) Những nghiên cứu về khảnăng dự báo của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc; (2) Những nghiêncứu về cơ chế ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc Cuốichương, khoảng trống nghiên cứu sẽ được bàn luận
1 1 N ữ i cứu về k ả ă dự báo của ti u điể kiể soát đế
Cảm nhận hạnh phúc nói lên cách con người trải nghiệm và đánh giá cuộcsống nói chung, các bình diện cuộc sống và các hoạt động cuộc sống nói riêng Cácnghiên cứu hiện đại đồng ý với luận điểm rằng cảm nhận hạnh phúc là một cấu trúc
đa chiều cạnh bao gồm ba bình diện: chủ quan (sự hài lòng, cảm xúc tích cực, tiêucực) (Bradburn, 1969; Diener & cs, 1985), tâm lý (Ryff, 1989) và xã hội (Keyes,1998) Mỗi bình diện này cũng đều là các khái niệm đa chiều cạnh (Negovan,2010) Khả năng dự báo của tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc được làm
rõ trong những nghiên cứu chứa biến tiêu điểm kiểm soát và các biến sự hài lòng,
7
Trang 19có các cảm xúc tích cực, vắng các cảm xúc tiêu cực như căng thẳng, lo âu, trầmcảm, các bình diện tâm lý – xã hội của cảm nhận hạnh phúc Xu hướng chính trongnhững nghiên cứu này là chỉ ra tiêu điểm kiểm soát bên trong nâng cao, còn tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài giảm thiểu hạnh phúc Tuy nhiên, tồn tại một số ngoại lệ.
1.1.1 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng tích cực của tiêu điểm kiểm soát bên trong, ảnh hưởng tiêu cực của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài đến cảm nhận hạnh phúc
Các nghiên cứu định lượng sau đây góp phần vào việc khẳng định ảnhhưởng tích cực của tiêu điểm kiểm soát bên trong, ảnh hưởng tiêu cực của tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài đến cảm nhận hạnh phúc Tổng lược kết quả định lượngcủa các nghiên cứu này được trình bày tại Phụ lục B.2 Sau đây là những nhómnghiên cứu được phân theo các lĩnh vực sức khỏe, bệnh tật và theo lứa tuổi
1.1.1.1 Các nghiên cứu trên lĩnh vực sức khỏe và bệnh tật
Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa tâm bệnh và cảm nhận hạnhphúc, Greenspoon và Saklofske (2001) đã chỉ ra các yếu tố dự báo là khí chất, tiêuđiểm kiểm soát, các mối quan hệ liên cá nhân, khái niệm cái Tôi Trong đó, 407 trẻ
em lớp 3 đến lớp 6 tại Canada đã được đánh giá về tâm bệnh và cảm nhận hạnhphúc, sau đó, căn cứ vào điểm trung bình, 407 trẻ này được chia làm bốn nhóm:nhóm 1: cảm nhận hạnh phúc cao, tâm bệnh thấp; nhóm 2: cảm nhận hạnh phúcthấp, tâm bệnh cao; nhóm 3: cảm nhận hạnh phúc thấp, tâm bệnh thấp; nhóm 4:cảm nhận hạnh phúc cao, tâm bệnh cao Nhóm 2 có điểm tiêu điểm kiểm soát bênngoài cao, đi kèm với cảm nhận về giá trị bản thân thấp, tính nhiễu tâm cao Từđây, các tác giả gợi ý hướng can thiệp nâng cao cảm nhận hạnh phúc và giảm tâmbệnh, đó là nâng cao tiêu điểm kiểm soát bên trong Các tác giả nhấn mạnh tính ứngdụng trị liệu của kết quả này trong can thiệp, bởi lẽ thay đổi tiêu điểm kiểm soátkhả thi hơn thay đổi các đặc điểm nhân cách bền vững khác
Klonowicz (2001) đã đánh giá ảnh hưởng của hai đặc điểm nhân cách là tínhcách phản ứng (reactivity temperament) và tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnhphúc Người có tính cách phản ứng mạnh là người hướng nội, nhiễu tâm Người ít cótính cách phản ứng là người hướng ngoại, cảm xúc ổn định Nghiên cứu được
Trang 20thực hiện trên 200 người trưởng thành không có việc làm sống tại 7 thành phố lớncủa Ba Lan, tuổi từ 32 đến 44 Kết quả cho thấy tương quan thuận giữa tiêu điểmkiểm soát bên ngoài với cảm xúc tiêu cực và triệu chứng cơ thể, tương quan nghịchgiữa tiêu điểm kiểm soát bên ngoài với cảm xúc tích cực Tác giả gợi ý rằng tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài ảnh hưởng tiêu cực đến cảm nhận hạnh phúc thông quaviệc làm gia tăng các cảm xúc tiêu cực.
Tiêu điểm kiểm soát bên trong là một trong bảy chỉ báo đánh giá chất lượngcuộc sống của bệnh nhân ung thư tại Đức theo nghiên cứu của Kirchberger và cộng
sự (2004) Bảy chỉ báo đó là: sự hài lòng, cảm xúc tích cực – tiêu cực, tiêu điểmkiểm soát, hi vọng, cảm nhận sức sống, các mối quan hệ xã hội, đau đớn thể chất.Các tác giả nhận định rằng, tiêu điểm kiểm soát có ảnh hưởng quan trọng đến tiếntriển của việc điều trị khi mà những người cho rằng bản thân ít có khả năng ảnhhưởng lên vấn đề sức khỏe (tiêu điểm kiểm soát bên ngoài) tiến triển chậm hơn khiđiều trị
Nghiên cứu của Popova (2012) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểmsoát và các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe “bệnh tật của xã hội hiện đại” Theo
đó, 239 người trưởng thành trẻ tuổi ở Bulgaria (19-30 tuổi) gồm sinh viên, người
đi làm đã tham gia vào nghiên cứu Kết quả cho thấy, tiêu điểm kiểm soát là chỉbáo có ý nghĩa đối với sức khỏe con người Những người trẻ có điểm kiểm soátbên ngoài có các cách chăm sóc sức khỏe không phù hợp và gặp yếu tố nguy cơđến sức khỏe cao hơn (căng thẳng, thừa cân, hút thuốc) Nhóm người có điểm kiểmsoát bên trong cảm nhận hạnh phúc và thỏa mãn hơn trong cuộc sống so với nhómkiểm soát bên ngoài
Ryan và Francis (2012) đã thực hiện một nghiên cứu trên 122 tín đồ ThiênChúa giáo từ 18 đến 80 tuổi để tìm hiểu vai trò của tiêu điểm kiểm soát đối với mốiquan hệ giữa niềm tin tôn giáo và sự khỏe mạnh tâm lý Kết quả cho thấy, tiêu điểmkiểm soát bên trong gia tăng 15% độ biến thiên của sự khỏe mạnh tâm lý Tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài giảm thiểu 24% độ biến thiên của sự khỏe mạnh tâm lý
Một nghiên cứu khác đã so sánh tiêu điểm kiểm soát, cảm nhận hạnh phúc
và tính quả quyết trên người nghiện rượu (60 người) và người không lạm dụng
9
Trang 21rượu (60 người) tại Ấn Độ (Menon & Edward, 2014) cho thấy người nghiện rượu
có điểm kiểm soát bên ngoài cao hơn người không lạm dụng rượu Do nghiệnrượu, việc thiếu kiểm soát có thể là một cách thức khiến cho điểm kiểm soát bênngoài thắng thế Các tác giả phát hiện rằng người có tiêu điểm kiểm soát bên trong
có tính quả quyết cao hơn, do vậy mà gặp ít vấn đề về sức khỏe hơn, cảm thấy hạnhphúc hơn Tính quả quyết được hiểu là là đặc điểm tâm lý cho phép con người hiệnthực hóa hành động với hứng thú lớn nhất, đứng lên bảo vệ bản thân mà không lo
âu, thể hiện quyền lợi của mình mà không phủ nhận quyền lợi của người khác, biểuđạt cảm xúc và suy nghĩ một cách thẳng thắn và trực tiếp
Griffin và Gore (2014) đã nghiên cứu trên 577 người tốt nghiệp ngành tâm
lý ở Mỹ Các tác giả nhận định các thành tố cấu trúc của hạnh phúc tâm lý là tựtrọng, căng thẳng, trầm cảm Tiêu điểm kiểm soát bên trong chỉ dự báo tăng cường3% tự trọng, 1% trầm cảm; 3% stress, nhưng tiêu điểm kiểm soát bên ngoài lại dựbáo giảm thiểu đến 30% trầm cảm, 26% stress, 30% tự trọng Điều này có nghĩa làkhông phải điểm kiểm soát bên trong cao mà chính là điểm kiểm soát bên ngoàithấp mới là yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc tâm lý Trên bình diện lâm sàng, tựtrọng, trầm cảm, căng thẳng là các yếu tố cần xem xét trong quá trình trị liệu khi
mà thân chủ có mức độ kiểm soát bên trong cao, nhưng vẫn trải nghiệm căngthẳng, trầm cảm, bởi lẽ thân chủ đó có thể có điểm số cho kiểm soát bên ngoài cao
Shojaee và French (2014) đã tiến hành đánh giá mối quan hệ giữa tiêu điểmkiểm soát và cảm nhận hạnh phúc trên 172 sinh viên tuổi từ 19 đến 30 người Canada.Người hạnh phúc và có sự khỏe mạnh tâm lý có cảm nhận bản thân kiểm soát đượctình huống Vì vậy, họ có thể giảm thiểu các phản ứng cơ thể với căng thẳng như mất
tự chủ hay giải phóng các hormone gây stress Sự tự chủ được giả định là có khả năngtăng cường hệ thống miễn dịch cũng như sức khỏe tâm lý (Leotti & cs, 2010, theoShojaee & French, 2014) Cảm giác về sự tự chủ được bắt nguồn từ tiêu điểm kiểmsoát, nó giúp cho sinh viên đại học nâng cao trạng thái sức khỏe tâm lý và cảm nhậnhạnh phúc Kết quả nghiên cứu định lượng chỉ ra rằng các thành tố chỉ báo cảm nhậnhạnh phúc nói riêng, cảm nhận hạnh phúc nói chung có
Trang 22tương quan thuận với tiêu điểm kiểm soát bên trong và tương quan nghịch với tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài.
1.1.1.2 Các nghiên cứu theo lứa tuổi
Trong một nghiên cứu về các yếu tố dự báo sự hài lòng với cuộc sống ởthanh thiếu niên Bồ Đào Nha thuộc thế hệ thứ hai sinh trưởng ở Pháp, do Neto(1995) thực hiện, tác giả đã xem xét các yếu tố dự báo sự hài lòng của 519 thanhthiếu niên Bồ Đào Nha (14-18 tuổi) sinh sống tại Paris Kết quả quy đơn chỉ ra rằngtiêu điểm kiểm soát bên trong đóng góp 32% mức độ biến thiên của sự hài lòngcuộc sống Trong số mười biến có khả năng dự báo sự hài lòng với cuộc sống (sự
cô đơn, sức khỏe, lo âu xã hội, tiêu điểm kiểm soát, sự gắn bó với hiệp hội người
Bồ Đào Nha, một số biến nhân khẩu khác), tiêu điểm kiểm soát đứng thứ ba vềmức độ ảnh hưởng
Huebner và cộng sự (2001) đã kiểm định mô hình mối quan hệ giữa trảinghiệm sống, tiêu điểm kiểm soát và sự hài lòng học đường trên 152 thanh thiếuniên đang học phổ thông trung học tại Hoa Kỳ Nghiên cứu chỉ ra rằng, học sinh cómức điểm tiêu điểm kiểm soát bên ngoài càng cao thì càng có nhiều trải nghiệmtiêu cực và ít hài lòng trong đời sống học đường Nghiên cứu khẳng định vai tròđiều hòa của tiêu điểm kiểm soát trong mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực và sựhài lòng Niềm tin rằng những gì đến với mình là do kiểm soát bên ngoài khiến họcsinh có nhiều trải nghiệm tiêu cực hơn, từ đó giảm mức độ hài lòng với cuộc sống
Karatas và Tagay (2012) đã tiến hành đánh giá cảm nhận hạnh phúc trên 318sinh viên năm cuối Thổ Nhĩ Kỳ gồm 199 nữ và 119 nam Nghiên cứu chỉ ra các yếu
tố dự báo cảm nhận hạnh phúc là lòng tự trọng, tiêu điểm kiểm soát, tính cầu toàn.Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và tiêu điểm kiểm soát bên ngoài ở mứctrung bình yếu Tiêu điểm kiểm soát có khả năng dự báo 3.3% độ biến thiên củacảm nhận hạnh phúc chủ quan Mức dự báo này lớn thứ hai sau tự trọng (28%)
Kulshrestha và Sen (2006) đã tiến hành một nghiên cứu về cảm nhận hạnhphúc chủ quan trong mối quan hệ với trí tuệ cảm xúc và tiêu điểm kiểm soát 150nhân viên hành chính Ấn Độ Kết quả cho thấy, người có tiêu điểm kiểm soát bêntrong càng cao thì càng có nhiều cảm xúc tích cực, ít cảm xúc tiêu cực Người có
11
Trang 23tiêu điểm kiểm soát bên ngoài ít hài lòng với các bình diện của cuộc sống, đặc biệt
là ít hài lòng với những thành tựu đạt được, phong cách sống của bản thân, cuộcsống cá nhân Các tác giả giải thích rằng, những người kiểm soát bên trong cao chủđộng hơn trong việc xoay chuyển tình huống, trong khi đó, người kiểm soát bênngoài thụ động hơn Người kiểm soát bên trong tin rằng bản thân quyết định chính
số phận của mình, vì thế mà họ ứng xử để kiểm soát tình huống, ngược lại, ngườikiểm soát bên ngoài thường cảm thấy không có khả năng kiểm soát cả thành cônglẫn thất bại của mình, thể hiện là bị động và phòng vệ hơn
Mellor và cộng sự (2008) trong một nghiên cứu trên 1219 người trưởngthành Öc từ 18 đến 88 tuổi về hoạt động thiện nguyện và cảm nhận hạnh phúc, đãbáo cáo mối tương quan ở mức độ trung bình giữa tiêu điểm kiểm soát bên trong
và cảm nhận hạnh phúc Kết quả chỉ ra rằng kiểm soát bên trong có vai trò điều hòamối quan hệ giữa hành động thiện nguyện và cảm nhận hạnh phúc
Nghiên cứu của Myers và Booth (1999) đã cho thấy tiêu điểm kiểm soát cóliên hệ với sự căng thẳng và hài lòng trong hôn nhân Tác giả đã tiến hành nghiêncứu bổ dọc từ 1980 đến 1997 Năm 1980 có 2033 cặp vợ chồng tham gia nghiêncứu, đến 1997 còn lại 1040 cặp Kết quả cho thấy, tiêu điểm kiểm soát bên trongcao liên quan đến sự hài lòng trong hôn nhân cao, các cảm xúc tiêu cực trong hônnhân thấp Ảnh hưởng này có tác động xuyên thời gian
Trzcinski và Holst (2012) đã nghiên cứu sự khác biệt giới trong đánh giácảm nhận hạnh phúc chủ quan trên 12806 người trưởng thành ở Đức (28-59 tuổi)gồm bốn nhóm: người thất nghiệp, người không gia nhập thị trường lao động,nhân viên và người giữ chức vụ quản lý Kết quả cho thấy, nam giới thất nghiệp cómức độ cảm nhận hạnh phúc thấp nhất, tiếp sau đó là nam giới chưa có việc làm,nam giới giữ chức vụ quản lý có mức độ cảm nhận hạnh phúc cao nhất Đối với nữgiới, không có sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc giữa phụ nữ làm quản lý, làmnhân viên hay nội trợ Nam giới và nữ giới ở vị trí quản lý có tiêu điểm kiểm soátbên trong cao nhất Điều này gợi ý rằng, cần tính đến yếu tố giới, vị trí công việckhi đánh giá mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc
Trang 24Những bằng chứng trên ủng hộ đóng góp nâng cao cảm nhận hạnh phúc củatiêu điểm kiểm soát bên trong và đồng ý rằng tiêu điểm kiểm soát bên ngoài làmgiảm cảm nhận hạnh phúc Xu hướng phổ biến này dẫn đến mẫu nhận thức rằng,tiêu điểm kiểm soát bên trong có ích, còn tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có hại Tuynhiên, thực sự thì tiêu điểm kiểm soát bên ngoài làm giảm cảm nhận hạnh phúc,hay những trải nghiệm ít hạnh phúc khiến con người có tiêu điểm kiểm soát bênngoài? Hơn nữa, liệu trong mọi trường hợp, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài đều làtiêu cực? Những trường hợp trái chiều sau đây sẽ tiếp tục được bàn luận.
1.1.2 Kết quả nghiên cứu trái chiều
Bên cạnh rất nhiều bằng chứng chỉ ra khả năng dự báo tích cực của tiêuđiểm kiểm soát bên trong, khả năng dự báo tiêu cực của tiêu điểm kiểm soát bênngoài đến cảm nhận hạnh phúc, có những nghiên cứu lý luận và định lượng chothấy, mô hình dự báo trên không phải là duy nhất
Khi xây dựng thang đo Tiêu điểm kiểm soát Bên trong, Bên ngoài do ngườikhác, Bên ngoài may mắn (thang IPC), Levenson (1973/1981) đã nhận định rằng,cách nhìn nhận sự kiểm soát đến từ những người quyền lực là cách nhìn thực tếtrong một số trường hợp đặc thù hoặc do rào cản, chế ước văn hóa Nếu cá nhântin rằng mình có trách nhiệm đối với ngay cả những tình huống mà hệ quả vượtquá khả năng chịu đựng của bản thân, có lẽ lại là điều không phù hợp Cách nhìnnhận rằng người có quyền đang kiểm soát có thể cho phép những người thuộcnhóm dễ tổn thương có được các hành vi hiệu quả và đổi mới hơn Levenson(1981) cho rằng, tập trung vào khía cạnh tích cực của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài
có giá trị không chỉ với tương tác cá nhân, mà còn với tương tác xã hội Nhữngngười nhìn “hệ thống” hay những người khác như đang kiểm soát kết quả hành vi
có thể cố gắng thay đổi hệ thống thành một nơi riêng tư, cá nhân và kiểm soát hơn.Khía cạnh kiểm soát bên ngoài có thể tạo điều kiện cho những hành vi có mục đích
và lòng tự trọng
Gardner và Helmes (1999) đã nghiên cứu khả năng dự báo của tiêu điểmkiểm soát và việc học tập hướng vào bản thân đối với cảm nhận hạnh phúc củangười cao tuổi Khách thể gồm 117 người cao tuổi Öc (60 đến 89 tuổi) Mô hình
13
Trang 25hồi quy 8 biến dự báo cảm nhận hạnh phúc phát triển gồm các biến: hài lòng với tàichính, thể trạng sức khỏe yếu, thể trạng sức khỏe đảm bảo, trình độ học vấn, tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài may mắn, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người khác,tiêu điểm kiểm soát bên trong, học tập hướng vào bản thân Kết quả nghiên cứu chothấy, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có khả năng dự báo cảm nhận hạnh phúc pháttriển, về những kì vọng phát triển và độc lập của cá nhân trong tương lai, nhưng rất
ít có khả năng dự báo cảm nhận hạnh phúc tại thời điểm hiện tại (tuổi già), về cảmgiác cô đơn, niềm vui sướng hay thái độ tích cực với tuổi già Có lẽ tiêu điểm kiểmsoát bên trong liên quan nhiều đến các mục tiêu, nếu như mục tiêu không đạt được,
cá nhân lại không điều chỉnh kì vọng về mục tiêu và khả năng thực sự có của bảnthân thì có thể rơi vào cảm giác kém hạnh phúc
Trong nghiên cứu về ảnh hưởng của Chương trình Học bằng Trải nghiệm(Adventure Programming), Hans (2000) phân tích rằng, tiêu điểm kiểm soát khôngphải lúc nào cũng mang tính ổn định, bất biến mà hoàn toàn có thể học tập được
Có nghĩa là, tiêu điểm kiểm soát có thể là một đáp ứng đối với hoàn cảnh Trongnhững hoàn cảnh mà môi trường không củng cố hành vi của con người, nhữngngười có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có thể thư giãn, dễ bỏ qua và dễ hài lònghơn
Lang và Heckhausen (2001) tiến hành xem xét sự đóng góp của cảm nhận vềkiểm soát đối với cảm nhận hạnh phúc theo các lứa tuổi thông qua ba nghiên cứu.Nghiên cứu thứ nhất thực hiện trên 480 người trưởng thành Đức từ 20 đến 90 tuổi,cho thấy người có cảm nhận bản thân kiểm soát cao hơn ít trải nghiệm các cảm xúctiêu cực hơn, điều này đúng với người trẻ tuổi và trung niên, còn người già thì không.Kết quả này gợi ý rằng khi còn trẻ, cảm nhận bản thân kiểm soát giúp con ngườichống lại sự suy sụp do các trải nghiệm gây ra cảm xúc tiêu cực mang lại, bảo vệ cánhân khỏi những thất bại Người trẻ tuổi và trung niên khi gặp thất bại hay mất mát,nếu có cảm nhận bản thân kiểm soát mạnh, sẽ lựa chọn những chiến lược thay đổi môitrường để giảm thiểu cảm xúc tiêu cực Ngược lại, người cao tuổi có cảm nhận bảnthân kiểm soát mạnh có thể sẽ sử dụng các chiến lược thay đổi chính bản thân họ Tiếp
đó, nghiên cứu bổ dọc trong 6 tháng được thực hiện trên 42
Trang 26người cao tuổi (70 đến 90 tuổi) Kết quả chỉ ra người cao tuổi có cảm nhận bảnthân kiểm soát mạnh sẽ được tăng cường cảm xúc tích cực trong thời gian ngắn (6tháng) nếu như có nhiều sự kiện tích cực trong cuộc sống xảy đến Nhưng nếu như
có ít sự kiện tích cực xảy ra, người cao tuổi có cảm nhận bản thân kiểm soát mạnh
sẽ bị giảm cảm xúc tích cực Đây là một trong những nguy cơ của cảm nhận bảnthân kiểm soát cao Kết luận được rút ra là cảm nhận kiểm soát được tăng cườngkhi sự kiện xảy ra theo mong muốn của khách thể và đi kèm với các cảm xúc tíchcực Nghiên cứu thứ ba trên 510 người trưởng thành (20 đến 84 tuổi) cho thấyngười trưởng thành trẻ hài lòng với cuộc sống hơn khi quy gán thành công là domình đã nỗ lực, cố gắng hơn là do chính khả năng của họ Ngược lại, người caotuổi hài lòng với cuộc sống hơn khi họ quy gán thành công do chính khả năng củamình Các mục tiêu của người cao tuổi thường liên quan đến việc tránh mất thứ gì
đó (giữ sức khỏe, cố gắng không bị mất việc) hơn là thắng thua (cải thiện vóc dáng,
cố gắng có công việc lương cao hơn) Kết quả này cho thấy sự cảm nhận về kiểmsoát giống như một cơ chế thích ứng có liên quan đến tuổi tác Kết luận chung củaLang và Heckhausen (2001) là ở đầu và giữa tuổi trưởng thành, cảm nhận bản thânkiểm soát có thể giúp bù trừ thất bại và nâng cao các tiềm năng trong tương laibằng cách tránh các sự kiện tiêu cực và tập trung vào các sự kiện tích cực trongcuộc đời Về già, cảm nhận bản thân kiểm soát cao có thể là yếu tố nguy cơ làmgiảm cảm nhận hạnh phúc, vì nó dẫn đến việc đánh giá quá cao bản thân và thấtvọng với chính tiềm năng kiểm soát thực tế của mình
Tại Nam Phi, April và cộng sự (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu điểmkiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc trên 114 sinh viên Nghiên cứu định lượng chothấy tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có tương quan nghịch với cảm nhận hạnh phúc,còn tiêu điểm kiểm soát bên trong có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng người hạnh phúc nhất là người cân bằng giữa haitiêu điểm kiểm soát Đó là người có cả tiêu điểm kiểm soát bên trong và tiêu điểmkiểm soát bên ngoài, hay còn gọi là “kì vọng tiêu điểm đôi” (bi-local expectancy).Điều này nhấn mạnh tính quan trọng của sự cân bằng trong cuộc sống, các thái cựcđều nên tránh để có sự hạnh phúc và lạc quan Các tác giả đã hệ thống lại những
15
Trang 27nghiên cứu trước đây để bàn luận cho phát hiện mới này Những người có điểmkiểm soát bên ngoài rất cao không có điểm cao cho mức độ hạnh phúc, vì họ có xuhướng trầm cảm, cảm thấy thiếu quyền lực, bất lực và vô vọng Nghiên cứu địnhtính của April và cộng sự (2012) chỉ ra những nguyên nhân khiến người ở thái cựckiểm soát bên ngoài ít hạnh phúc là do: (1) căng thẳng vì vận vào mình quá nhiềutrách nhiệm, (2) cảm thấy tội lỗi nếu không hoàn thành nhiệm vụ và tự phê phánbản thân nặng nề, (3) lo âu vì lệch mục tiêu, (4) nỗi sợ sâu sắc về mất quyền kiểmsoát, (5) cảm giác không an toàn vì thiếu tin tưởng vào người khác và vào năng lựccủa họ, (6) cô đơn vì thiếu sự đồng cảm.
Tại Việt Nam, Đặng Hoàng Ngân, Trương Quang Lâm (2016) đã thực hiệnmột nghiên cứu trên 159 khách thể là thực tập sinh xuất khẩu lao động sang NhậtBản từ 20 tuổi đến 36 tuổi nhằm kiểm định mối quan hệ giữa stress, sự hài lòng,cảm xúc và tiêu điểm kiểm soát Nghiên cứu cho thấy, niềm tin vào sự kiểm soát ởmẫu khách thể thiên về sự tồn tại của các mặt đối lập trong cùng một hiện tượnghơn là phân tích rạch ròi từng yếu tố Trước một sự kiện, các khách thể quy gánnguyên nhân đồng thời cho cả bên trong bản thân lẫn bên ngoài là những ngườihạnh phúc nhất Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định, tiêu điểm kiểm soát bêntrong có tương quan thuận với cảm xúc tích cực, tiêu điểm kiểm soát bên ngoàimay mắn có tương quan thuận với sự hài lòng với cuộc sống Niềm tin rằng sự kiệnxảy đến với cá nhân là do may mắn, do số phận có thể giúp con người hài lòng vớicuộc sống hơn Điều này có thể ngầm hiểu là một cơ chế ứng phó với căng thẳngbằng cách chấp nhận những điều nằm ngoài tầm kiểm soát như là một phần của sốphận, may rủi và hạ thấp kì vọng của bản thân, từ đó tránh được các cảm giác bấtlực, thấp kém
Như vậy, những bàn luận lý luận và kết quả thực tiễn trên cho thấy, tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài không phải lúc nào cũng dự báo giảm thiểu cảm nhậnhạnh phúc Có thể sự khác biệt về văn hóa, bao gồm văn hóa của cá nhân (dựa trêntrải nghiệm học tập được) và văn hóa nhóm người (dân tộc, quốc gia), có thể khiếncho mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc không phải lúc
Trang 28nào cũng theo cùng chuyến tuyến tính Dưới đây là một số nghiên cứu trong bốicảnh xuyên văn hóa (quốc gia).
1.1.3 Các nghiên cứu trong bối cảnh xuyên văn hóa
Một câu hỏi đặt ra là mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhậnhạnh phúc có thay đổi tùy theo các đặc điểm xuyên văn hóa hay không Các đặcđiểm xuyên văn hóa thường được các nhà nghiên cứu xem xét là tính cá nhân –cộng đồng, khoảng cách quyền lực, định hướng lâu dài (Hofstede, 1991, 1993;Hofstede & Bond, 1988; Ralston & cs, 1993; Schwartz, 1994, theo Srivastava & cs,2007) Nhiều nghiên cứu đã ủng hộ quan điểm về tính chấp nhận trật tự phân quyềncao ở Đông Á và khoảng cách quyền lực thấp hơn ở các quốc gia phương Tây Nềnvăn hóa phương Đông cũng tập trung vào dài hạn, còn phương Tây tập trung vàongắn hạn (Bond, 1987; Westwood & Everett, 1987, theo Srivastava & cs, 2007)
Tính cá nhân – cộng đồng có thể ảnh hưởng đến tiêu điểm kiểm soát Tính
cá nhân thể hiện sự độc lập và cảm nhận thẩm quyền của bản thân sufficiency), còn tính cộng đồng thể hiện nhu cầu gắn kết (need of affiliation).Chẳng hạn, con người trong xã hội có tính cá nhân tự nhìn nhận mình có sự tựkiểm soát lên các sự kiện cuộc đời, đặt giá trị vào sự tự chủ và thành tựu Còn conngười trong xã hội cộng đồng lại đặt mục tiêu chung của nhóm lên cao hơn mụctiêu cá nhân Theo đó, ở xã hội mang tính cộng đồng, có thể niềm tin về nhữngnhóm có quyền lực hơn ảnh hưởng đến hành vi và kết quả hành vi của cá nhân lạiphù hợp Điều này gợi ý rằng thành viên của nền văn hóa cộng đồng có kiểm soátthứ cấp (bên ngoài), họ quan tâm nhiều hơn đến các mối quan hệ liên cá nhân vàmôi trường xã hội Weisz và cộng sự (1984) báo cáo rằng, người Nhật Bản thườngthuận theo ý kiến của người có quyền lực hơn để đảm bảo kết quả tốt cho mình.Trong những xã hội có đặc tính như vậy, có thể con người có cảm nhận rằng sốphận của họ nằm trong tay những người có quyền lực hơn là nằm trong tay chínhmình, vì thế mà niềm tin như vậy có thể khiến họ cảm thấy hài lòng hơn
(self-Spector và cộng sự (2001, 2002) đã kiểm định xuyên văn hóa mối quan hệgiữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc trên 5185 nhà quản lý đến từ 24quốc gia, vùng lãnh thổ của 5 châu lục Các quốc gia, vùng lãnh thổ này gồm các
17
Trang 29nền văn hóa cá nhân và nền văn hóa cộng đồng Tiêu điểm kiểm soát có tươngquan với cả ba bình diện thuộc cảm nhận hạnh phúc Kết quả cụ thể ở một số quốcgia như sau:
Bảng 1.1: Kết quả kiể đị xu vă óai quan hệ giữa
ti u điểm kiểm soát v cảm nhận hạ p úc ở một s qu c gia
Nước N Tương quan tiêu Tương quan tiêu Tương quan tiêu
điểm kiểm soát – điểm kiểm soát – điểm kiểm soát –
Piccolo và cộng sự (2005) khảo sát 318 doanh nhân Nhật Bản tuổi từ 24 đến
36 tuổi, đều có trình độ đại học trở lên, 96,3% trong số họ là nam giới Mục tiêu
của nghiên cứu là nhằm phát hiện khả năng dự báo mức độ hạnh phúc, hài lòng với
Trang 30cuộc sống và các khía cạnh trong công việc của các biến về cái tôi, bao gồm: tựtrọng, tự đánh giá hiệu quả (self-efficacy), tiêu điểm kiểm soát, tính nhiễu tâmtrong Big Five Nghiên cứu tính đến sự khác biệt văn hóa (Nhật Bản – Hoa Kỳ)Văn hóa Nhật Bản, trong so sánh với Hoa Kỳ được đánh giá là: có khoảng cáchquyền lực cao hơn, nam tính hơn, cộng đồng hơn, ít cởi mở chấp nhận thách thứchơn Các cá nhân trong nền văn hóa cộng đồng có thể sử dụng những tham chiếukhác so với các nhân trong nền văn hóa cá nhân để đánh giá các cấu trúc về cái Tôi.Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên doanh nhân Nhật Bản tương đồng với kết quả ởHoa Kỳ, không chỉ ra sự khác biệt văn hóa.
Thomas và cộng sự (2006) đã tiến hành phân tích 222 nghiên cứu có chủ đềliên quan đến tiêu điểm kiểm soát và các thành tố của hạnh phúc, động cơ, xuhướng hành vi (chỉ có 23 nghiên cứu được thực hiện ngoài nước Mỹ) Kết quảsiêu phân tích ủng hộ ảnh hưởng tích cực của tiêu điểm kiểm soát bên trong và cảmnhận hạnh phúc (cảm nhận hạnh phúc tâm lý, sự hài lòng với cuộc sống, sức khỏethể chất)
Srivastava và cộng sự (2007) đã thực hiện một nghiên cứu với mục tiêu đánhgiá vai trò của hai yếu tố tiêu điểm kiểm soát và xung đột gia đình – công việc đốivới cảm nhận hạnh phúc chủ quan mang tính xuyên văn hóa Khách thể là 136 nhàquản lý Mỹ và 155 nhà quản lý Trung Quốc Trong nghiên cứu này, các khách thểngười Mỹ báo cáo tiêu điểm kiểm soát bên trong cao hơn, xung đột gia đình – côngviệc cũng cao hơn Tiêu điểm kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận hạnhphúc, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp lên cảm nhận hạnh phúc thông qua xungđột gia đình – công việc, ứng phó tích cực và trợ giúp xã hội Kết quả không có sựkhác biệt về mặt văn hóa
Cũng trong chủ đề nghiên cứu xuyên văn hóa về mối quan hệ giữa tiểu điểmkiểm soát và cảm nhận hạnh phúc, Stocks và cộng sự (2012) đã đánh giá 62 ngườitrưởng thành Trung Quốc, 49 người trưởng thành Nam Phi Kết quả chỉ ra rằngcác khách thể Trung Quốc thiên về điểm kiểm soát bên ngoài hơn so với các kháchthể Nam Phi Phụ nữ có điểm kiểm soát bên ngoài cao hơn nam giới Những ngườigiữ chức vụ quản lý có điểm kiểm soát bên trong cao hơn so với nhân viên Phụ nữ
19
Trang 31hạnh phúc hơn nam giới ở Nam Phi, so sánh này không thể hiện ý nghĩa ở TrungQuốc Về yếu tố giới, phụ nữ là những người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài caohơn Phụ nữ thể hiện niềm tin về sự kiểm soát thông qua những người có quyền lựckhác, hoặc thông qua phản ứng cảm xúc của những người xung quanh Điều nàycũng gợi ý rằng phụ nữ có bản chất cộng đồng hơn so với nam giới Ở nhóm kháchthể Trung Quốc, kết quả nghiên cứu không chỉ ra điều này Điều đó có thể là dobản chất cộng đồng phổ biến trong nền văn hóa, cộng thêm niềm tin cộng đồng vềtính bình đẳng và không có phân tầng xã hội.
Như vậy, kết quả xuyên văn hóa khẳng định ảnh hưởng tích cực của tiêuđiểm kiểm soát bên trong, ảnh hưởng tiêu cực của tiêu điểm kiểm soát bên ngoàiđến cảm nhận hạnh phúc Những đặc điểm văn hóa đặc trưng không được khẳngđịnh là đóng góp vào điều tiết mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cảm nhậnhạnh phúc
cả
12Nữ
i cứu về cơ c ế ả ưở của ti u điể kiể soát đế
1.2.1 Ảnh hưởng thông qua stress
Krause và Stryker (1984) đã nghiên cứu vai trò của tiêu điểm kiểm soát đốivới mối quan hệ stress – cảm nhận hạnh phúc Là một nghiên cứu bổ dọc, dữ liệuđược thu thập vào các năm 1966, 1971 trên 2090 nam giới độ tuổi từ 45 đến 54 tại
Mỹ Nghiên cứu chỉ sử dụng số liệu của những người không thay đổi tiêu điểmkiểm soát từ 1966 đến 1971 Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa stress và tâm lý ởngười có tiêu điểm kiểm soát bên trong trung bình nhỏ hơn so với ba nhóm còn lại.Người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài trung bình là nhóm dễ bị tổn thương nhất
do tác động của phiền muộn tâm lý Người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài cao,người có tiêu điểm kiểm soát bên trong cao dễ ảnh hưởng bởi stress hơn so vớingười có tiêu điểm kiểm soát bên trong trung bình Như vậy, kết quả nổi bật nhấtcủa nghiên cứu này là mức độ khác biệt về ảnh hưởng của stress lên cảm nhậnhạnh phúc đối với người có tiêu điểm kiểm soát bên trong trung bình: họ đối diệnvới stress tốt hơn các nhóm còn lại
Trang 32Fortune (1987) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa việc đảm nhiệm nhiều vai trò,stress, và cảm nhận hạnh phúc trên 483 học viên cao học người Mỹ Kết quả chothấy, tiêu điểm kiểm soát là một biến điều tiết có ý nghĩa giải thích cho mối quan
hệ của các biến trên Học viên có tiêu điểm kiểm soát bên trong trải nghiệm ít stress
và có cảm nhận hạnh phúc cao hơn
Một nghiên cứu được thực hiện trên 100 học sinh cấp ba ở Mỹ từ 16 đến 19tuổi để tìm hiểu khả năng điều hòa mối quan hệ giữa stress và trầm cảm của tiêuđiểm kiểm soát và sự hỗ trợ xã hội Các tác giả Benson và Deeter (1992) đã thửnghiệm mô hình hồi quy dự báo trầm cảm gồm 5 yếu tố: sự kiện tích cực, sự kiệntiêu cực, tiêu điểm kiểm soát, sự hỗ trợ xã hội, sự hài lòng với hỗ trợ xã hội Kếtquả cho thấy có 3 yếu tố có khả năng dự báo 52% biến thiên của trầm cảm: sự kiệntiêu cực, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài, cảm nhận kém hài lòng với hỗ trợ xã hội.Nghiên cứu chia khách thể thành ba nhóm: kém hài lòng với hỗ trợ xã hội, hài lòngvới hỗ trợ xã hội ở mức trung bình, hài lòng với hỗ trợ xã hội Kết quả cho thấy ởnhóm hài lòng với hỗ trợ xã hội ở mức trung bình, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài
dự báo 43% trầm cảm Nghiên cứu khẳng định sự tác động trực tiếp của tiêu điểmkiểm soát với trầm cảm, không khẳng định sự tương tác giữa tiêu điểm kiểm soát
và hỗ trợ xã hội, các sự kiện cuộc đời trong việc thay đổi mức độ trầm cảm
Noor (2002) đã thực hiện một nghiên cứu tìm hiểu xung đột giữa công việc
và gia đình với cảm nhận hạnh phúc của người lao động nữ Câu hỏi đặt ra là liệutiêu điểm kiểm soát có vai trò điều hòa mối quan hệ này hay không Có 310 ngườilao động nữ Malaysia, ở độ tuổi từ 19 đến 59 đã tham gia vào nghiên cứu này Kếtquả cho thấy, tuy tiêu điểm kiểm soát không có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến
sự hài lòng, nhưng tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cách phụ nữ tri giác vềxung đột, từ đó nâng cao hay làm giảm cảm nhận hạnh phúc
Lever và cộng sự (2005) đã nghiên cứu vai trò của các biến tâm lý (chiếnlược ứng phó với stress, tính cạnh tranh, khả năng làm chủ hoàn cảnh, tiêu điểmkiểm soát, trầm cảm, tự trọng) đến khả năng điều hòa mối quan hệ giữa sự nghèonàn và cảm nhận hạnh phúc Có 918 người trưởng thành từ 19 đến 50 tuổi Mexicothuộc các hộ rất nghèo, nghèo và không nghèo đã tham gia trả lời bảng hỏi Kết quả
21
Trang 33kiểm định mô hình cho thấy, tiêu điểm kiểm soát bên trong làm tăng cường cảmnhận hạnh phúc thông qua nâng cao năng lực làm chủ hoàn cảnh của khách thể.Tiêu điểm kiểm soát bên trong có thể được thay đổi nhờ cơ chế ứng phó với stress(đối diện với vấn đề, không né tránh) Các tác giả liên hệ phát hiện này với nhậnđịnh của Young (2001, theo Lever & cs, 2005) rằng, tiêu điểm kiểm soát là yếu tốđiều hòa stress và cảm nhận hạnh phúc tâm lý, tiêu điểm kiểm soát bên trong ảnhhưởng theo hướng nâng cao sự hài lòng với cuộc sống.
Meier và cộng sự (2008) đã thử nghiệm mô hình về ảnh hưởng của sự đòihỏi, kiểm soát của công việc đến cảm nhận hạnh phúc của người lao động thôngqua khả năng điều hòa của tiêu điểm kiểm soát Chỉ báo về cảm nhận hạnh phúccủa người lao động là mức độ đau mỏi cơ khớp, các cảm xúc tiêu cực Các tác giảxuất phát từ nhận định rằng người có tiêu điểm kiểm soát bên trong tận dụng đượcnhững yêu cầu cũng như cơ hội từ môi trường, vì họ tin rằng chính nỗ lực cá nhân
là điều củng cố kết quả, họ có thể đạt mục tiêu từ chính năng lực của mình, họ sửdụng cách ứng phó tập trung vào vấn đề nhiều hơn (Sorensen & cs, 2006, theoMeier & cs, 2008) Ngược lại, người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài tin rằngmình ít có khả năng thay đổi hoàn cảnh, do vậy, họ ít sử dụng cách ứng phó tậptrung vào vấn đề Nghiên cứu được thực hiện trên 96 nhân viên Thụy Sỹ, tuổi từ 19đến 61 Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả gợi ý rằng niềm tin về kiểm soát có thểảnh hưởng đến cảm nhận về sự đòi hỏi của công việc Người có tiêu điểm kiểmsoát bên trong có thể nhìn nhận công việc mang tính đòi hỏi và kiểm soát bản thânhơn, vì vậy mà họ bị căng thẳng và trải nghiệm cảm xúc tiêu cực nhiều hơn
Sobati và cộng sự (2015) dựa trên kết luận của Kutlar (2006, theo Sobati &
cs, 2015) rằng người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có xu hướng cảm thấy mấtkiểm soát tình huống và cơ thể tiết ra cortisol nhiều hơn để từ đó thực hiện nghiêncứu trên 312 người trưởng thành Iran (163 nữ, 149 nam đang điều trị hiếm muộn).Kết quả hồi quy chỉ ra rằng tiêu điểm kiểm soát bên trong có khả năng dự báo trầmcảm 8.3%, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài ít có ý nghĩa dự báo (khoảng 1%) Cáctác giả kết luận rằng cần chú trọng vấn đề tâm lý đối với những người đang điều trị
Trang 34hiếm muộn, giúp họ tăng cường tiêu điểm kiểm soát bên trong và các chiến lượcứng phó giải quyết vấn đề.
Như vậy, những nghiên cứu trên chỉ ra rằng, tiêu điểm kiểm soát có liên hệvới cách con người tri giác tình huống Tiêu điểm kiểm soát bên trong giảm thiểustress, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài gia tăng stress Nâng cao tiêu điểm kiểm soátbên trong giúp cá nhân đối diện với stress tốt hơn, từ đó tăng cường cảm nhận hạnhphúc
1.2.2 Ảnh hưởng thông qua cách ứng phó
Kiểm soát cá nhân đã được nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh là cóảnh hưởng lớn và có khả năng dự báo tình trạng sức khỏe tinh thần và cảm nhậnhạnh phúc ở người trưởng thành (Lachman & cs, 1994, theo Smith & cs, 2000).Nhiều nghiên cứu đã xem xét cách cá nhân sử dụng khả năng và nguồn lực của bảnthân (xuất phát từ niềm tin kiểm soát bên trong) hay cách cá nhân cố gắng thôngqua những người có ảnh hưởng và quyền lực để thực hiện hành vi cho họ (xuấtphát từ niềm tin kiểm soát bên ngoài) sẽ khiến họ cảm thấy hạnh phúc hơn Có hai
xu hướng ứng phó điều tiết ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnhphúc, đó là, (1) cách ứng phó về mặt hành vi, (2) cách ứng phó về mặt nhận thức
1.2.2.1 Ảnh hưởng thông qua cách ứng phó về mặt hành vi
Headey (2008) khảo sát trên 12408 người trưởng thành ở Đức và Öc, quacác năm từ 1990 đến 2005 và đưa ra bằng chứng về ảnh hưởng của các mục tiêucuộc sống đối với hạnh phúc con người Các mục tiêu không mang tính được thua(non zero-sum goals) như cam kết với hôn nhân, chăm sóc con cái, có tình bạn lâubền, giúp đỡ người khác, tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội không mangtính cạnh tranh đều thúc đẩy hạnh phúc, ngược lại, mục tiêu mang tính được thua(zero-sum goals) như thành công trong công việc, có cuộc sống vật chất giàu sanglàm hạn chế hạnh phúc Kết quả cho thấy, tiêu điểm kiểm soát không phải là mộtcấu trúc nhân cách ổn định giống như các yếu tố theo thuyết Big Five, mà là mộtcấu trúc tâm lý có liên hệ chặt hơn với sự kiên nhẫn và các cơ chế ứng phó tốt Cóthể tiêu điểm kiểm soát bên trong giúp cho cá nhân có sự kiên nhẫn và các cơ chế
23
Trang 35ứng phó tốt hơn để theo đuổi lâu dài các mục tiêu không mang tính được thua (mụctiêu gia đình, mục tiêu vị tha), từ đó giúp nâng cao cảm nhận hạnh phúc.
Jones (2009) đã tổ chức một nghiên cứu thực nghiệm trong khuôn khổchương trình Claming Your Connections, thực hiện trên 76 nữ sinh viên da màu từ
17 đến 24 tuổi ở Mỹ với mục tiêu nâng cao cảm nhận hạnh phúc tâm lý – xã hội.Các biến tác động là: tiêu điểm kiểm soát, ứng phó chủ động, giảm stress Mỗi buổitrong chương trình có một chủ đề riêng liên quan đến mục tiêu nâng cao hạnh phúctâm lý Chẳng hạn, buổi can thiệp mang tên “Bình yên Tâm hồn” (Reconciliation ofthe Soul) có mục tiêu làm giảm tiêu điểm kiểm soát bên ngoài, tiếp cận cụ thể làgiúp nữ sinh viên da màu nhận diện các yếu tố bên ngoài mà họ tin rằng có ảnhhưởng lớn đến việc ngăn cản họ thực hiện mục tiêu cuộc đời, từ đó loại bỏ dầnnhững yếu tố này Sau quá trình 10 tuần can thiệp, khách thể giảm stress, giảm tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài, tăng cách thức ứng phó chủ động So sánh nhóm đốichứng và nhóm can thiệp sau 10 tuần cho thấy sự thay đổi mức độ stress không có
ý nghĩa thống kê, còn thay đổi điểm tiêu điểm kiểm soát, ứng phó có ý nghĩa thống
kê Nhưng so sánh tiêu điểm kiểm soát trong chính nhóm can thiệp thì không có ýnghĩa thống kê Có thể các yếu tố dán nhãn xã hội như “da màu”, “phụ nữ” lànhững yếu tố bên ngoài mà trong 10 tuần, cá nhân chưa thể thay đổi được căn bảnniềm tin
Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa lo âu xã hội, trầm cảm, tiêu điểm kiểmsoát, sức mạnh cái tôi và các cách ứng phó của sinh viên đại học do Shepherd vàEdelman (2009) thực hiện đã chỉ ra rằng người có lo âu xã hội cao có xu hướngtrầm cảm, sức mạnh cái tôi yếu, thiên về tiêu điểm kiểm soát bên ngoài, sử dụngcách ứng phó tập trung vào cảm xúc nhiều hơn cách ứng phó tập trung vào vấn đề.Tham gia vào nghiên cứu này có 141 sinh viên người Anh, độ tuổi từ 18 đến 54.Kết quả chỉ ra tương quan thuận có ý nghĩa giữa tiểu thang ám sợ xã hội và tiêuđiểm kiểm soát bên ngoài may mắn, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài quyền lực Tồntại tương quan thuận giữa lo âu, trầm cảm với tiêu điểm kiểm soát bên ngoài maymắn, quyền lực Tiêu điểm kiểm soát bên ngoài có quan hệ với lo âu xã hội vì các
cá nhân lo âu xã hội tin rằng mình không có nhiều khả năng kiểm soát tình huống
Trang 36Họ tập trung vào ứng phó với cảm xúc Những người có tiêu điểm kiểm soát bêntrong hay sử dụng cách ứng phó tập trung vào vấn đề hơn.
Kazemi và cộng sự (2015) đã thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữatiêu điểm kiểm soát bên trong, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài may mắn, tiêu điểmkiểm soát bên ngoài quyền lực với phong cách ứng phó ở vận động viên Khách thể
là 130 vận động viên nam môn bóng chuyền người Iran, tuổi từ 18 đến 30 Kết quảchỉ ra rằng, người có tiêu điểm kiểm soát bên trong tin rằng bản thân có thể gâyảnh hưởng lên kết quả của sự kiện xảy đến với mình, nên họ lựa chọn phươngpháp đối diện, tập trung vào vấn đề để ứng phó với stress Hai dạng tiêu điểm kiểmsoát bên ngoài cũng sử dụng phương pháp tập trung vào vấn đề để giảm stress,nhưng tương quan này có mức độ thấp hơn Ở nam vận động viên bóng chuyềnIran, dù ở dạng tiêu điểm kiểm soát nào thì tập trung vào cảm xúc cũng không phải
là cách họ sử dụng để ứng phó với stress Đáng ngạc nhiên là vận động viên có tiêuđiểm kiểm soát bên trong lại sử dụng phương pháp né tránh để ứng phó với stress,còn vận động viên càng có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài, càng ít sử dụng phươngpháp này để ứng phó
Những nghiên cứu trên đều tương đối thống nhất về xu hướng ảnh hưởngcủa tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc thông qua cách ứng phó Tiêuđiểm kiểm soát bên trong thúc đẩy các cách ứng phó tập trung vào vấn đề, giúp cánhân đương đầu được với tình huống, từ đó hạnh phúc hơn Tiêu điểm kiểm soátbên ngoài khiến cá nhân né tránh hoặc tập trung vào cảm xúc, ít đối diện được vớivấn đề, từ đó giảm cảm nhận hạnh phúc Tuy nhiên, cũng có trường hợp, tiêu điểmkiểm soát bên ngoài thúc đẩy cách ứng phó tập trung vào cảm xúc để nâng cao cảmnhận hạnh phúc
1.2.2.1 Ảnh hưởng thông qua cách ứng phó về mặt nhận thức
Hướng nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng rằng tiêu điểm kiểm soátkhông phải là một cấu trúc tâm lý ổn định suốt cuộc đời, mà là một cấu trúc có khảnăng thay đổi theo lứa tuổi giúp cá nhân ứng phó với cuộc sống theo tuổi tác
Đầu tiên, phải kể đến Lý thuyết Kiểm soát theo Giai đoạn Cuộc đời (TheLife-Span Theory of Control (Heckhausen & Schulz, 1995) tập trung vào việc sử
25
Trang 37dụng chiến lược kiểm soát sơ cấp và thứ cấp để đạt được các mục tiêu cuộc sống.Theo lý thuyết này, hành vi của con người rất đa dạng và linh hoạt Theo lý thuyếtnày, con người sử dụng cả hai chiến lược để tối đa hóa việc thực hiện các mục tiêucuộc đời Ở mỗi thời điểm, chỉ có một số mục tiêu được thực hiện thành công, do
đó, cần lựa chọn nguồn lực kiểm soát của chính bản thân (kiểm soát sơ cấp primary control) Ở những sự kiện mà con người không thực hiện được mục tiêu,
-cơ chế bù trừ thất bại là cần thiết để tạo động -cơ cho những mục tiêu tương lai(kiểm soát thứ cấp - secondary control) Cả hai quá trình kiểm soát sơ cấp và thứcấp đều được sử dụng để thực hiện mục tiêu thành công và bù trừ cho những thấtbại
Smith và cộng sự (2000) nghiên cứu trên 482 người trưởng thành Mỹ vềtiêu điểm kiểm soát, dạng kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc Kết quả cho thấytrong các lĩnh vực mang tính cá nhân, con người thường sử dụng kiểm soát sơ cấp,trong các lĩnh vực mang tính liên cá nhân, con người thường sử dụng kiểm soátthứ cấp Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng cần chú ý đến các yếu tố đóng góp cho vàokiểm soát liên cá nhân, điều này tốt hơn việc tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữacác thành tố của các mối quan hệ (sự hài lòng với các mối quan hệ, sự thân mật,quan hệ chính thức, không chính thức,…) và cảm nhận hạnh phúc
Nghiên cứu của Grob (2000) chỉ ra rằng thanh thiếu niên có mức độ cảmnhận về tự kiểm soát cao báo cáo thái độ tích cực hơn với cuộc sống, tự trọng cao,nhiều niềm vui cuộc sống, ít trạng thái cảm xúc tiêu cực hơn so với thanh thiếuniêm có mức độ cảm nhận về tự kiểm soát thấp Tuy nhiên, kết quả này trở nênphức tạp hơn khi nghiên cứu xuyên thời gian 2 năm Grob nghiên cứu ba biến cảmnhận tự kiểm soát, cảm nhận kiểm soát bên ngoài, sự hài lòng cuộc sống và thấyrằng kết luận cảm nhận tự kiểm soát dẫn đến cảm nhận hạnh phúc không được ủng
hộ Tác giả cho rằng thanh thiếu niên có thể đã đánh giá cao trên thực tế cảm nhận
về mức độ tự kiểm soát của mình (ảo tưởng về kiểm soát – control illusion) Ảotưởng kiểm soát làm suy giảm cảm nhận hạnh phúc nếu như thanh thiếu niênkhông hiện thực hóa được sự kiểm soát lên các hoạt động thường nhật của mình
Trang 38Nghiên cứu của Haynes và cộng sự (2009) nhận định khi đối diện với vấn đềhạn chế trong các hoạt động thời kì tuổi già, để tăng cường cảm nhận hạnh phúccủa người cao tuổi, cần thiết người cao tuổi phải tự thay đổi các mục tiêu cuộcsống Một trong những chiến lược thay đổi họ thực hiện là sử dụng các chiến lượckiểm soát sơ cấp và thứ cấp Các tác giả đã đánh giá trên 190 người cao tuổiCanada (79-98 tuổi) và tìm ra rằng người cao tuổi sử dụng bốn nhóm chiến lược:kiểm soát sơ cấp (Primary Control Group 42,1%), đa chiến lược kiểm soát (Multi-Strategy Group 16,3%) gồm cả kiểm soát sơ cấp lẫn kiểm soát thứ cấp, chiến lược
từ bỏ kiểm soát (Relinquished Control Group 22,1%) – từ bỏ kiểm soát sơ cấp, chỉ
sử dụng rất ít chiến lược thứ cấp mang tính bù trừ; cuối cùng là nhóm thất bại bùtrừ (Failure to Compensate Group (19,5%) – thay đổi chiến lược kiểm soát sơ cấp(đổi nhệm vụ), nhưng cũng không tự thay đổi bản thân Nghiên cứu cho thấy nhóm
sử dụng chiến lược kiểm soát sơ cấp và nhóm đa chiến lược kiểm soát có cảmnhận hạnh phúc thể chất và tâm lý cao hơn hai nhóm còn lại
Owusu-Ansah và cộng sự (2012) khi đánh giá trên 69 sinh viên khuyết tậtGhana từ 19 đến 54 tuổi, đã tìm ra tương quan quan thuận nhưng không cao giữa cảmnhận hạnh phúc và kiểm soát sơ cấp, cảm nhận hạnh phúc và kiểm soát thứ cấp Kếtquả nghiên cứu chỉ ra rằng, nữ giới thể hiện kiểm soát thứ cấp nhiều hơn, nhất là đốivới dạng hạ thấp nguyện vọng và so sánh xã hội Nữ giới cũng có xu hướng thể hiện
cả hai dạng kiểm soát hơn so với nam giới Điều này có thể khẳng định rằng sinh viên
nữ có xu hướng hạ thấp nguyện vọng và so sánh người khác với mình Khi so sánhkiểm soát sơ cấp và kiểm soát thứ cấp, kết quả chỉ ra kiểm soát sơ cấp tương quannghịch với dạng hạ thấp nguyện vọng, nghĩa là người cam kết theo đuổi mục tiêu lâudài ít có xu hướng hạ thấp nguyện vọng Tuy nhiên, kiểm soát sơ cấp lại tương quanthuận với so sánh xã hội, cũng tương quan thuận với sự đánh giá lại tích cực Ngườitin vào khả năng thay đổi tình huống của bản thân mình (kiểm soát sơ cấp) có xuhướng tự so sánh với người khác (so sánh xã hội) và tìm ra điểm sáng ngay cả trongcác tình huống tiêu cực (đánh giá lại tích cực)
Bên cạnh những nghiên cứu về sự thay đổi kiểm soát theo lứa tuổi, mộthướng nghiên cứu khác được tiến hành dựa trên luận đề mới Đó là tiêu điểm kiểm
27
Trang 39soát được đa dạng hóa theo hệ quả tốt hay xấu mà cá nhân tiếp nhận Sự quy gántrách nhiệm cho bản thân hay cho bên ngoài có khả năng ảnh hưởng đến cách cánhân tự đánh giá hạnh phúc của mình ra sao.
Vickers và cộng sự (1989) đặt ra giả thuyết rằng các dạng cảm nhận về sựkiểm soát bên trong có mối liên hệ với cách ứng phó thích nghi với stress, còn kiểmsoát bên ngoài có liên hệ với việc kém thích ứng Một nghiên cứu trên 2648 quânnhân thuộc lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, tuổi trung bình 18,9 đã đượcthực hiện để kiểm định giả thuyết này Khách thể được chia ngẫu nhiên thành 3nhóm để xem xét độ ổn định của mối quan hệ giữa tiêu điểm kiểm soát và cáchphòng vệ Các tác giả tập trung vào đánh giá mười cách ứng phó và mười loạiphòng vệ Mười cách ứng phó là: đối tượng hóa (objectivity), tập trung vào lý trí(intellectuality), phân tích logic (logical analyse), tập trung (concentration), bỏ quađối với sự mập mờ (tolerance of ambiguity), đồng cảm (empathy), tập trung vàobản thân (regression in Service/Ego), thăng hoa (sublimation), thay thế(substitution), bỏ qua (suppression) Mười loại phòng vệ là: tách biệt (isolation), lýtrí hóa (intellectualization), hợp lý hóa (rationalization), chối bỏ (denial), nghi ngờ(doubt), phóng chiếu (projection), thoái lui (regression), chuyển di (displacement),hình thành phản ứng (reaction formation), dồn nén (repression) Kết quả cho thấy,người kiểm soát bên trong có xu hướng sử dụng phòng vệ là chối bỏ stress hay cốgắng tìm ra điều gì đó tích cực từ tình huống căng thẳng Người kiểm soát bênngoài phòng vệ bằng cách sử dụng các hành vi nhi tính và xu hướng đổ lỗi chongười khác về vấn đề gây căng thẳng ở mình Kết quả gợi ý rằng hai đặc điểmnhân cách này có liên hệ độc lập với quá trình thích ứng, có thể thông qua học tập
để có được những chiến lực ứng phó với stress phù hợp
Bryant (1989) đã cung cấp mô hình về bốn dạng kiểm soát là: Né tránh hệquả xấu (kiểm soát sơ cấp – tiêu cực); Đối diện với hệ quả xấu (kiểm soát thứ cấp –tiêu cực); Tiếp nhận hệ quả tốt (kiểm soát sơ cấp – tích cực); Tận hưởng hệ quả tốt(kiểm soát thứ cấp – tích cực) Tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự kiểmsoát và các yếu tố cảm nhận về sức khỏe (buồn phiền, cảm nhận hạnh phúc chủquan) trên 524 sinh viên đại học Mỹ, trung bình 18,6 tuổi Nghiên cứu cung cấp
Trang 40bằng chứng cho thấy con người đánh giá sự kiểm soát đối với các sự kiện xảy ratrong cuộc đời theo trải nghiệm tích cực hay tiêu cực Phân tích nhân tố cho thấychủ thể tự đánh giá về năng lực kiểm soát của mình theo (1) né tránh hệ quả xấu,(2) đối diện với hệ quả xấu, (3) tiếp nhận hệ quả tốt, (4) tận hưởng hệ quả tốt Hơnnữa, niềm tin vào né tránh và tiếp nhận có tương quan chặt hơn so với tương quangiữa đối diện và tận hưởng Điều này được giải thích bằng việc đối diện và tậnhưởng có các mẫu nhận thức và kĩ năng hành vi khác Phân tích hồi quy đa biếncho thấy niềm tin vào sự né tránh và đối diện liên quan mạnh hơn trong việc đánhgiá các phiền muộn ở con người, còn niềm tin vào sự tiếp nhận, tận hưởng có liênquan mạnh hơn khi đánh giá cảm nhận hạnh phúc chủ quan.
Ngoài hai nghiên cứu trên, Mirowsky và Ross (1990) qua nghiên cứu cảmnhận về sự kiểm soát đối với các hệ quả tích cực, tiêu cực và chứng trầm cảm trên
809 người trưởng thành Mỹ, độ tuổi từ 18 đến 85 đã phân chia các khách thể thành
4 nhóm với các kiểu kiểm soát khác nhau: người theo thuyết công cụ(instrumentalist), người theo thuyết số phận (fatalist), người phòng vệ (self-
defender), người tự chỉ trích (self-blamer) Số liệu nghiên cứu ủng hộ thuyết kiểm soátkhi cho rằng người theo thuyết số phận (tiêu điểm kiểm soát bên ngoài) dễ trầm cảm
ơn người theo thuyết công cụ công cụ (tiêu điểm kiểm soát bên trong) Số liệu nghiêncứu không ủng hộ thuyết phòng vệ khi cho rằng người tự chỉ trích (tiêu điểm kiểmsoát bên trong) dễ trầm cảm ơn người phòng vệ (tiêu điểm kiểm soát bên ngoài) Cáctác giả bình luận rằng ảo tưởng phòng vệ không có tác dụng giúp đưa ra các hành vihiệu quả, do đó không giúp con người cảm thấy hạnh phúc hơn
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng tiêu điểm kiểm soát khônghoàn toàn là một thuộc tính nhân cách không có khả năng thay đổi Tuy nhiên, cánhân khi đối diện với những sự kiện xảy ra với mình, thường có xu hướng duy trìnhững cách lý giải về mặt nhận thức như né tránh, tiếp nhận, đối diện, tận hưởng(Bryant, 1989); tin vào công cụ, tin vào số phận, phòng vệ, tự chỉ trích (Mirowsky
& Ross, 1990); hoặc sử dụng các cơ chế phòng vệ vô thức và ứng phó nhận thứcnhất định (Vickers & cs, 1989) Họ cũng có những cách ứng phó về mặt hành vi đặc thù,chẳng hạn, người có tiêu điểm kiểm soát bên trong thường lựa chọn cách
29