Tạp chí Y dược thực hành 175: Số 18/2018 trình bày các nội dung chính sau: Nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim ở bệnh nhân hội chứng WollfParkinson-White, đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, biến chứng sớm của mở thông ruột ra da trong phẫu thuật ống tiêu hóa,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết của tạp chí.
Trang 13 Biến chứng sớm của mở thông ruột ra da trong phẫu thuật ống tiêu hóa
Nguyễn Thành Nam, Trịnh Văn Thảo, Cửu Nguyễn Thiên Thanh,
Lã Văn Tuấn, Nguyễn Phú Thông
23
4 Lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt túi mật kết hợp nội soi mật tụy ngược dòng điều trị sỏi đường mật đồng thời
Mai Đức Hùng, Nguyễn Văn Nghĩa
7 So sánh đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính u phổi lao và ung thư phổi
Nguyễn Thanh Lễ, Nguyễn Văn Chương, Võ Duy Ân
60
Trang 2Trần Đức Tài, Đỗ Thị Thảo Ngọc, Võ Thị Phúc, Bùi Thị Hiền
Thái Thị Thùy Linh, Nguyễn Lê Hằng
9 So sánh hiệu quả hóa giải giãn cơ rocuronium của sugammadex với
neostigmin sau gây mê toàn thể tại Bệnh viện Quân y 103
Nguyễn Lưu Phương Thúy, Nguyễn Đức Hải, Phạm Quách Tuấn Anh, Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Đức Trọng
78
10 Kết quả bước đầu hóa xạ trị đồng thời ung thư cổ tử cung giai đoạn IIB
và IIIB tại Bệnh viện Quân y 175
Phan Thế Nhật, Đào Tiến Mạnh, Hồ Ngọc Toàn, Võ T Thuỳ Linh,
Nguyễn Thị Trúc, Nguyễn Thị Như Ngọc, Nguyễn Thị DuyÊN, Bùi Thị Hằng, Trần Thanh Thảo, Nguyễn Thị Cẩm Phương
87
11 Bệnh wilson: báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp
Bùi Đức Thắng,Nguyễn Thị Huyên
Lê Thị Hồng Minh, Trương Đình Cẩm
95
12 Nhân 03 trường hợp: Nhiễm trùng thần kinh trung ương
Nguyễn Phương Thảo, Lưu Hoài Nam,
Lê Đình Nam, Trương Như Quân
101
13 Báo cáo hai trường hợp thoát vị vùng thượng vị nguyên phát ít gặp điều
trị tại Bệnh viện Dã Chiến 2.1
Nguyễn Thông Phán, Vũ Văn Tuấn, Lại Bá Thành,
Lê Văn Bình, Nguyễn Văn Đức, Phạm Thị Thùy
108
Trang 3SỐ 18 - 6/2019 CONTENTS
1 Evaluate electrophysiology in patients with Wolff-Parkinson-White
syndrome
Truong Dinh Cam, Le Minh
5
2 Imagery characteristics of computerized tomography of primary lung
cancer patients treated at Pham Ngoc Thach Hospital
Vo Duy An, Nguyen Thanh Le, Nguyen Van Chuong
15
3 Early complications of intestinal stoma in gastrointestinal surgery
Nguyen Thanh Nam, Trinh Van Thao, Cuu Nguyen Thien Thanh,
La Van Tuan, Nguyen Phu Thong
23
4 Clinical, subclinical manifestations of the gallbladdder and bile duct gallstone patients were treated with laparoscopic cholectomy and endoscopic retrograde cholangiopancreatography under the same general anethesia
Mai Duc Hung, Nguyen Van Nghia
36
5 Research the rusult of povidone iod pleurodesis via small – bore catheter
in the treatment of malignant pleural effusions
Nguyen Minh The, Hoang Thanh Toan Pham Thi Nhu Y, Nguyen Hai Cong
Trang 4Tran Duc Tai, Do Thi Thao Ngoc, Vo Thi Phuc, Bui Thi Hien
Thai Thi Thuy Linh, Nguyen Le Hang
9 Comparison of rocuronium blockade quality using sugammadex and
neosstigmine after total anesthesia
Nguyen Luu Phuong Thuy, Nguyen Duc Hai, Pham Quach Tuan Anh, Trinh Anh Tuan, Nguyen Duc Trong
87
11 Wilson’s disease: rare clinical case report
Bui Duc Thang, Nguyen Thi Huyen
Le Thi Hong Minh, Truong Dinh Cam
95
12 Three-case report of central nervous system infection
Nguyen Phuong Thao, Luu Hoai Nam,
Le Dinh Nam, Truong Nhu Quan
101
13 Report two uncommonly epigastric hernia patients treated at Vietnam
level 2 field Hospital in Bentiu, South Sudan
Nguyen Thong Phan, Vu Van Tuan, Lai Ba Thanh,
Le Van Binh, Nguyen Van Duc, Pham Thi Thuy
108
Trang 51 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Trương Đình Cẩm (truongcam1967@gmail.com)
Ngày nhận bài: 20/5/2019, ngày phản biện: 25/5/2019
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2019
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN SINH LÝ TIM Ở
BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG WOLLF-PARKINSON-WHITE
Trương Đình Cẩm 1 , Lê Minh 1
TÓM TẮT
Hội chứng Wolff-Parkinson-White, còn được gọi là hội chứng tiền kích thích, là một hội chứng đặc trưng bởi những cơn loạn nhịp tim do rối loạn dẫn truyền có tính chất bẩm sinh Đặc trưng của hội chứng Wolff-Parkinson-White là hiện tượng kích hoạt sớm tâm thất thông qua đường dẫn truyền phụ nhĩ thất Biểu hiện của hội chứng Wolff- Parkinson-White trên lâm sàng là những cơn nhịp nhanh xảy ra bất kỳ Thăm dò điện sinh lý tim nhằm đánh giá chính xác cơ chế của cơn nhịp nhanh, vị trí của đường dẫn truyền phụ và các thông số điện học bao gồm: thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh, thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền, thời gian trơ hiệu quả đường phụ… nhằm làm
cơ sở áp dụng phương pháp triệt đốt sử dụng năng lượng sóng tần số radio.
EVALUATE ELECTROPHYSIOLOGY IN PATIENTS WITH WOLFF-PARKINSON-WHITE SYNDROME
SUMMARY
Wolff-Parkinson-White syndrome, also known as pre-stimulatory syndrome, which was a syndrome characterized by arrhythmias due to congenital conduction disorders The hallmark of Wolff-Parkinson-White syndrome is early ventricular activation through atrioventricular accessory pathways The clinical manifestation of Wolff-Parkinson-White syndrome was supra-ventricular tachycardia can occur at any time Electrophysiology study could evaluate accurately the mechanism of tachycardia, location of accessory pathways and electrophysiological parameters including tachycardia cycle time, pacemaker cycle time caused conductive blockage and inert
Trang 6time of the accessory pathways… as a basis for application of radio frequency ablation.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng (HC)
Wolff-Parkinson-White (WPW) tập hợp các dấu hiệu điện
tâm đồ mô tả hiện tượng kích hoạt sớm
tâm thất thông qua một đường dẫn truyền
phụ nhĩ thất (atrial-ventricular accessory
pathways) HC WPW lần đầu tiên được
mô tả vào năm 1930 bởi Louis Wolff, John
Parkinson và Paul Dudley White Tỷ lệ
mắc hội chứng này ước tính khoảng 0,1 -
0,3% dân số chung và tỷ lệ rối loạn nhịp
tim (RLNT) trên bệnh nhân có HC WPW
dao động từ 12 - 80% Dạng RLNT hay
gặp trong HC WPW là cơn nhịp nhanh
vào lại nhĩ thất điển hình kiểu xuôi chiều
(orthodromic) và thể không điển hình
với cơn nhịp nhanh theo chiều ngược
(antidromic) chiếm 5% Rung nhĩ cũng
là loại rối loạn nhịp thường gặp trong HC
WPW và là một tình huống khá nguy hiểm
do xung động dẫn truyền từ nhĩ xuống thất
đi qua đường phụ đẩy tần số thất lên rất
cao và có thể gây ra rung thất [4][10]
Vai trò của thăm dò điện sinh lý
tim (ĐSLT) trong HC WPW là nhằm đánh
giá chính xác cơ chế của cơn tim nhanh
xuất hiện trên lâm sàng, đặc điểm điện
sinh lý của đường dẫn truyền phụ cũng
như đường dẫn truyền bình thường qua
nút nhĩ thất, xác định số lượng và vị trí
của đường phụ cũng như đánh giá hiệu quả
của phương pháp cắt đốt bằng sóng năng
lượng radio hay điều trị bằng thuốc [7]
Kết quả từ một số nghiên cứu trên thế giới
và trong nước đã cho thấy những lợi ích vượt trội của thăm dò ĐSLT về mặt chẩn đoán và điều trị cũng như triển vọng áp dụng trong thực hành lâm sàng tại các cơ
sở y tế ở nước ta Chúng tôi thực hiện đề
tài này nhằm mục tiêu: Khảo sát các thông
số điện sinh lý tim ở bệnh nhân HC WPW điều trị tại bệnh viện quân y 175.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm những bệnh nhân nhập viện điều trị tại Bệnh viện
Trang 7+ Bệnh nhân không hợp tác làm
thủ thuật
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu
mô tả
Các bước tiến hành:
- Khám lâm sàng, xét nghiệm cơ
bản và xét nghiệm phục vụ thủ thuật và lập
bệnh án nghiên cứu theo mẫu riêng
- Giải thích cho bệnh nhân và gia
đình các vấn đề liên quan đến thủ thuật, ký
giấy cam kết đồng ý thực hiện thủ thuật
- Tiến hành thủ thuật khảo sát
ĐSLT, đo đạc các thông số điện học, xác
định bản chất và vị trí đường phụ để lựa
chọn phương pháp điều trị thích hợp
- Ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng,
các thông số kỹ thuật liên quan
Địa điểm tiến hành: Phòng thông
tim can thiệp thuộc Bệnh viện quân y 175
Trang thiết bị dụng cụ:
+ Máy kích thích tim có chương
trình Micro-pace
+ Hệ thống phân tích dữ liệu
ĐSLT của hãng BARD, máy có thể ghi
đồng thời 128 chuyển đạo thăm dò khác
nhau
+ Hệ thống chụp tim mạch số hóa
1 bình diện
+ Ống thông đặt đường vào mạch
máu (sheath introducer), các catheter điện
cực thăm dò lập bản đồ điện học nội mạc
+ Máy phá rung, máy tạo nhịp tim tạm thời và đầy đủ dụng cụ thuốc men cấp cứu
Tiêu chuẩn điện sinh lý học chẩn đoán HC WPW
- Nhịp tim nhanh vào lại nhĩ-thất orthodromic dẫn truyền theo chiều xuôi
(nhĩ - thất) qua hệ thống nút nhĩ thất/ Purkinje bình thường và dẫn truyền theo chiều ngược (thất - nhĩ) qua đường dẫn truyền phụ:
His-+ Trong cơn nhịp tim nhanh không thấy phức bộ QRS giãn rộng:
+ Có thể gây cơn nhịp tim nhanh bằng kích thích nhĩ và kích thích thất có chương trình Trong cơn nhịp tim nhanh sẽ thấy hình ảnh phức bộ điện thế His-thất-nhĩ (H-V-A)
+ Hoạt động nhĩ sớm theo chiều ngược theo kiểu lệch tâm
+ Nếu đường dẫn truyền phụ ở phía trước hoặc bên bên trái thì hoạt động nhĩ sớm hơn thường ghi được ở cặp điện cực xoang vành đầu xa Nếu đường dẫn tuyền phụ ở thành sau bên trái thì hoạt động nhĩ sớm hơn ghi được thường ở cặp điện cực xoang vành đầu gần
+ Nếu đường dẫn truyền phụ ở trước vách thì hoạt động nhĩ sớm hơn ghi được ở vị trí điện thế bó His đầu xa Nếu đường phụ ở sau vách thường điện thế
Trang 8sớm hơn ghi được ở điện cực xoang vành
đầu gần
+ Nếu đường phụ ở thành tự do
bên phải sẽ thấy hoạt động thất và nhĩ trên
những cặp điện cực xoang vành song song
với nhau
+ Khi trong cơn nhịp nhanh mà
xuất hiện blốc nhánh cùng bên với đường
dẫn truyền phụ thì tần số nhịp tim nhanh
sẽ giảm đi và khoảng VA sẽ kéo dài ra
Nếu xuất hiện blốc trái bên với đường dẫn
truyền phụ thì tần số nhịp tim nhanh không
thay đổi
- Nhịp nhanh vào lại nhĩ-thất
antidrromic dẫn truyền theo chiều xuôi
(nhĩ-thất) qua đường dẫn truyền phụ và
dẫn truyền theo chiều ngược (thất-nhĩ)
qua đường hệ thống nút nhĩ-thất / His -
- Chẩn đoán xác định vị trí đường phụ dựa vào lập bản đồ nội mạc
Chỉ định áp dụng kỹ thuật
- Chỉ định thăm dò điện sinh lý học tim dựa trên hướng dẫn của ACC/AHA năm 1995 có nhập nhật hướng dẫn của ACC/AHA/ESC năm 2006 và Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam 2006 về chẩn đoán và xử trí rối loạn nhịp tim [4]
Xử lý số liệu
Số liệu lưu trữ trên máy vi tính
cá nhân với chương trình phần mềm Microsoft Excel 2013 và xử lý bằng các thuật toán thống kê y sinh học SPSS 16.0
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm điện tâm đồ bề mặt ở nhóm bệnh nhân hội chứng W-P-W
Trang 9Bảng 3.2 Đặc điểm cơn nhịp nhanh ở bệnh nhân hội chứng W-P-W
(n = 48)
Tỷ lệ (%)Xuất hiện cơn tự nhiên hay do thao tác catheter 13 27,08Gây cơn do kích thích tim theo chương trình 24 50,0Gây cơn do kích thích tim chương trình + thuốc 11 22,92
NNVLNT*: nhịp nhanh vào lại nhĩ thất
Chiếm xấp xỉ 90% số bệnh nhân có cơn nhịp nhanh vào lại nhĩ thất theo chiều xuôi (orthodromic), khoảng 10% là số bệnh nhân có cơn nhịp nhanh vào lại nhĩ thất theo chiều ngược (antidromic), 50% số bệnh nhân gây cơn nhịp nhanh do kích thích tim có chương trình, 22,9% số bệnh nhân gây cơn phải phối hợp thuốc và 27,1% số bệnh nhân xuất hiện cơn tự nhiên hay do catheter thăm dò kích thích 8,33% số bệnh nhân có phối hợp với rung nhĩ, cuồng nhĩ
Bảng 3.3 Phân bố đường phụ theo đặc tính dẫn truyền và vị trí giải phẫu
Đặc điểm Thành tự doBên phảiVùng vách Thành tự doBên tráiVùng váchW-P-W điển hình
Trang 103.2 Đặc điểm điện sinh lý tim ở bệnh nhân hội chứng WPW
Bảng 3.3 Thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh vào lại nhĩ thất
Loại cơn nhịp nhanh TGCK** cơn nhịp nhanh (ms) p
Cơn NNVLNT* chiều xuôi
Cơn NNVLNT* chiều ngược
NNVLNT*: nhịp nhanh vào lại nhĩ thất , TGCK** : Thời gian chu kỳ
Thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh theo chiều xuôi lớn hơn theo chiều ngược với
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.4 Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền nhĩ-thất và dẫn truyền thất-nhĩ
Nhóm bệnh nhân Thời gian chu kỳ tạo nhịp
Nhĩ-thất (ms) Thất-nhĩ (ms)WPW điển hình
< 0,001
Ghi chú: So sánh : * với **: p < 0,01; † với ‡: p > 0,05
Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền nhĩ thất ngắn hơn so với thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền thất nhĩ ở cả 2 nhóm WPW điển hình và nhóm WPW đường phụ dạng ẩn với p < 0,001 Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền nhĩ thất ở bệnh nhân W-P-W đường phụ dạng ẩn ngắn hơn so với nhóm W-P-W điển hình với p < 0,01 So sánh thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền ngược thất nhĩ giữa 2 nhóm này thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.5 Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây bốc dẫn truyền và giai đoạn trơ có hiệu
Trang 11quả của đường dẫn truyền bất thường
Nhóm
bệnh nhân
Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyềnđường bất thường (ms)
Thời gian trơ hiệu quả đường dẫn truyền bất thường (ms)Chiều xuôi Chiều ngược Chiều xuôi Chiều ngượcWPW điển hình
có thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn
truyền đường phụ theo chiều ngược ngắn
hơn so với nhóm WPW điển hình với p
< 0,01, thời gian trơ hiệu quả đường phụ
giữa 2 nhóm này không có sự khác biệt với
p > 0,05
4 BÀN LUẬN
4.1 Về đặc điểm chung của đối
tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chúng tôi có 48 bệnh
nhân có HC WPW, trong đó thể điển hình
chiếm 60,41% và 39,59% có dạng đường
phụ ẩn. Kết quả khảo sát ĐSLH tim ở
nhóm bệnh nhân này cho thấy có 27,08%
có cơn nhịp nhanh xuất hiện tự nhiên hay
do thao tác catheter, 50% số bệnh nhân
gây được cơn nhịp nhanh do kích thích tim
có chương trình và 22,92% số trường hợp
phải gây cơn nhịp nhanh bằng kích thích
tim kết hợp với thuốc Về đặc điểm cơn
nhịp nhanh vào lại nhĩ thất, kết quả cho thấy có đến 89,58% số trường hợp cơn nhịp nhanh dẫn truyền theo chiều xuôi với thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh là 337,8 46,2 ms và chỉ có 10,42% số trường hợp
là dạng cơn nhịp nhanh dẫn truyền theo chiều ngược với thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh là 282,7 39,4 ms Kết quả này của chúng tôi tương tự như các tác giả Phạm Quốc Khánh (2001) và Trần Văn Đồng (2004) [1][2]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy vị trí giải phẫu đường phụ nhĩ thất cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác Nghiên cứu của Trần văn Đồng cho thấy trong 3 vùng: thành tự do bên phải, vùng vách bên phải
và thành tự do bên trái thì số lượng đường phụ nhĩ thất ở thành tự do bên trái nhiều nhất (56,9%), tiếp theo là vùng vách (gồm
cả vùng vách bên phải và trái) chiếm tỷ
Trang 12lệ 25%, sau cùng là vùng thành tự do bên
phải chiếm 18,1% [1] Trong vùng thành tự
do bên phải thì vùng sau bên phải có nhiều
đường phụ nhĩ thất nhất, còn ở vùng vách
thì đường phụ vùng sau vách bên phải gặp
nhiều hơn Còn ở vùng thành tự do bên
trái thì đường phụ hay gặp ở thành bên,
vùng trước và sau bên bên trái có số đường
phụ nhĩ thất xấp xỉ bằng nhau Chen Y J
nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân có 856
đường dẫn truyền bất thường ghi nhận vị
trí đường phụ thành tự do thất trái chiếm
nhiều nhất có 59%, vùng vách có 23% và
thành tự do bên phải có 18% Etheridge
P.S thấy 55% các đường dẫn truyền bất
thường ở thành tự do bên trái Jackman
thấy tỷ lệ các đường dẫn truyền bất thường
ở thành tự do bên trái chiếm 50%, 31% ở
giữa 2 phân nhóm cho thấy bệnh nhân
W-P-W điển hình có thời gian chu kỳ tạo
nhịp gây blốc dẫn truyền nhĩ thất cao hơn
so với phân nhóm bệnh nhân W-P-W có
đường phụ dạng ẩn với sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p < 0,01) nhưng thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền thất nhĩ không có khác biệt giữa phân nhóm này (p > 0,05)
Khảo sát đặc tính dẫn truyền và thời gian trơ đường phụ nhĩ thất, chúng tôi nhận thấy ở bệnh nhân W-P-W điển hình thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền đường phụ theo chiều ngược là 285,7 94,6 cao hơn so với theo chiều xuôi (268,5 58,3) và so với nhóm bệnh W-P-W
có đường phụ ẩn (252,3 31,9) với p < 0,01 Trong khi đó, thời gian trơ hiệu quả đường dẫn truyền bất thường so sánh giữa chiều xuôi, chiều ngược và giữa 2 nhóm nói trên đều không có sự khác biệt có ý nghĩa (p
> 0,05) Nghiên cứu của Trần Văn Đồng trên bệnh nhân 96 bệnh nhân WPW điển hình, thời gian chu kỳ tạo nhịp nhĩ gây blốc dẫn truyền chiều xuôi qua đường dẫn truyền bất thường từ 190ms đến 540ms, trung bình là 271,4 ± 57,0 ms Thời gian chu kỳ tạo nhịp thất gây blốc dẫn truyền theo chiều ngược qua đường dẫn truyền bất thường thay đổi từ 200 ms đến 680
ms, trung bình là 289,2 ± 97,8 ms Ở 56 bệnh nhân WPW có đường phụ dạng ẩn, thời gian chu kỳ tạo nhịp thất gây blốc dẫn truyền theo chiều ngược qua đường phụ có giới hạn từ 210 ms đến 360 ms, trung bình
là 252,5 ± 32,4 ms
Calkin H nghiên cứu trên 40 bệnh nhân WPW thấy thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc đường phụ chiều xuôi là 296 ± 80ms và chiều ngược là 282 ± 76ms Chen S.A thấy thời gian chu kỳ tạo nhịp gây
Trang 13blốc đường dẫn truyền bất thường chiều
xuôi là 313±87ms, chiều ngược là 274 ±
61ms [9] Kết quả một số nghiên cứu cho
thấy thời gian trơ có hiệu quả của cơ nhĩ và
cơ thất của bệnh nhân WPW thấp hơn so
với người bình thường Phạm Quốc Khánh
nghiên cứu trên 19 người bình thường thấy
thời gian trơ có hiệu quả cơ nhĩ là 209 ±
36ms, và cơ thất là 224 ± 25ms Joephson
thấy ở người bình thường, thời gian trơ có
hiệu quả cơ nhĩ từ 170 - 300ms và cơ thất
từ 170 - 290 ms Điều này cho thấy ở bệnh
nhân WPW thường có hoạt tính giao cảm
cao hơn nên thời gian trơ có hiệu quả cơ
nhĩ, cơ thất ngắn hơn người bình thường,
dễ xuất hiện các ngoại tâm thu nhĩ, ngoại
tâm thất và khởi phát các cơn nhịp nhanh
ở những bệnh nhân này
Trong nghiên cứu chúng tôi có 44
bệnh nhân có 1 đường dẫn truyền phụ nhĩ
thất chiếm tỷ lệ 91,67% và 4 bệnh nhân
có 2 đường dẫn truyền phụ (8,33%) đưa
số lượng đường phụ/bệnh nhân lên 52/48
Trong đó số đường phụ bên trái chiếm ưu
thế hơn đường phụ bên phải (55,76% và
44,24%) Khảo sát vị trí đường phụ ở bảng
3.25 cho thấy đối với các đường phụ bên
phải vị trí ở vùng vách chiếm số lượng
nhiều hơn là ở thành tự do (14/23), trong
khi đó đối với đường phụ bên trái thì vị trí
ở thành tự do chiếm ưu thế hơn là ở vùng
vách (18/29) Nghiên cứu của Phạm Quốc
tự như kết quả của nhiều tác giả khác [1] Jackman điều trị cho 166 bệnh nhân WPW
và phát hiện có 177 đường phụ nhĩ-thất với
155 bệnh nhân (93,4%) có 1 đường phụ và
11 bệnh nhân (6,6%) có 2 đường phụ nhĩ thất Weng K P nghiên cứu điện sinh lý và điều trị cho 317 bệnh nhân WPW thấy 28 bệnh nhân có nhiều dẫn truyền bất thường, chiếm tỷ lệ 9% Teo S.W thấy 91,6% bệnh nhân có 1 đường dẫn truyền bất thường, 8,4% có nhiều đường dẫn truyền bất thường [8]
5 KẾT LUẬN
Qua kết quả thăm dò ĐSLT trên
48 bệnh nhân HC WPW chúng tôi nhận thấy:
- Thời gian chu kỳ cơn nhịp nhanh vào lại theo chiều xuôi là 337 46,2 ms, theo chiều ngược là 282,7 39,4 ms
- Thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền theo chiều ngược thất nhĩ lớn hơn thời gian chu kỳ tạo nhịp gây blốc dẫn truyền theo chiều xuôi nhĩ thất ở cả
2 nhóm bệnh nhân W-P-W điển hình và W-P-W đường phụ dạng ẩn
- Dẫn truyền nhĩ thất theo chiều xuôi ở bệnh nhân W-P-W đường phụ dạng
Trang 14ẩn tốt hơn so với W-P-W điển hình (p <
0,01)
- Dẫn truyền đường phụ theo chiều
xuôi ở nhóm bệnh nhân W-P-W đường
phụ dạng ẩn tốt hơn so với W-P-W điển
hình (p < 0,01)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Văn Đồng, Phạm Quốc
Khánh, Trần Song Giang (2004), Nghiên cứu
điện sinh lý tim và điều trị hội chứng
Wollf-Parkinson-White bằng năng lượng sóng có tần
số radio, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 38,
tr 20-26
2 Phạm Quốc Khánh, Trần Văn
Đồng, Nguyễn Lân Việt, Vũ Đình Hải, Phạm
Gia Khải (2001), Điều trị hội chứng tiền kích
thích bằng năng lượng sóng có tần số radio
qua catheter Tạp chí Tim mạch học Việt nam,
số 25, Tr: 19-25
3 Tôn Thất Minh, Trương Quang
Khanh, Trần Văn Kiệt, Trần Thị Kim Nguyên
(2006), Tổng kết 1000 trường hợp điều trị
loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số
radio qua Catherter, Hội nghị Tim mạch học
TP.HCM lần thứ 8
4 Camm A, Zipes P (2006), “ACC/
AHA/ESC 2006 guidelines for management
of patients with ventricular arrhythmias and
the prevention of sudden cardiac death: A
report of the American College of Cardiology/
American Heart Association Task Force and the
European Society of Cardiology Committee
for Practice Guidelines”, Europace, 8(9), pp.746 – 837
5 Bastani H, Schwieler J (2009), Acute and long-term outcome of cryoablation therapy of typical atrioventricular nodal reentrant tachycardia, Europace (2009), 11,
1077 - 1082
6 Hoffmann BA, Brachmann J, Andresen D, et al (2011), “Ablation of atrioventricular nodal reentrant tachycardia in the elderly: results from the German Ablation Registry”, Heart rhythm : the official journal
of the Heart Rhythm Society, 8 (7), pp 981-7
7 Kim SS, Knight BP(2017), Long term risk of Wolff-Parkinson-White pattern and syndrome Trends Cardiovasc Med; 27(4):260-268 doi: 10.1016/j.tcm Epub 2016 Dec 5
8 Takenaka Sou, Yeh J San, Wen
S Ming et al (2005): Characteristics and radiofrequency ablation in posteroseptal and left free wall subepicardial accessory pathways J Electrcardiol, 38: 69-76
9 Yamabe Hiroshige, Shimasaki Yukio et al (2001): Localization of the ventricular insertion site of concealed left-sided accessory pathways using ventricular pace mapping PACE 25: pp 940-950
Zipes M (2009), “Clinical arrhythmology and Electrophysiology”, A Companion to Braunwald’s heart disease , Saunders Elvevier
Trang 151 Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
2 Bệnh viện Vĩnh Long, 3 Phân Hiệu Phía Nam HVQY
Người phản hồi (Corresponding): Võ Duy Ân (chuong@live.com)
Ngày nhận bài: 15/4/2019, ngày phản biện: 28/4/2019
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2019
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI NGUYÊN PHÁT ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHẠM
NGỌC THẠCH
Võ Duy Ân 1 , Nguyễn Thanh Lễ 2 , Nguyễn Văn Chương 3
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của ung thư phổi
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 79 bệnh nhân ung thư phổi được điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.
Kết quả: Chụp CLVT trên 79 bệnh nhân ung thư phổi (52 nam, 27 nữ) Đường
bờ tua gai chiếm đa số 55,7%; đa cung 25,3%; tròn đều 19,1% Kích thước khối u < 3
cm 21,5%; 3-5 cm 34,2%; > 5 cm 44,3% Tỷ lệ bệnh nhân có hạch trung thất là 29,1%; hủy xương 2,5%; bắt thuốc mạnh 60,8%
Kết luận: Hình ảnh đường bờ tua gai và đa cung, hạch trung thất hoặc có tổn thương hủy xương trên chụp cắt lớp vi tính lồng ngực là những dấu hiệu có giá trị trong chẩn đoán ung thư phổi.
Từ khoá: ung thu phổi, hạch trung thất, bờ tua gai.
IMAGERY CHARACTERISTICS OF COMPUTERIZED TOMOGRAPHY OF PRIMARY LUNG CANCER PATIENTS TREATED AT
PHAM NGOC THACH HOSPITAL
ABSTRACT
Objective: Describe the characteristics of computerized tomography images of lung cancer.
Trang 16Methods: Retrospective study on 79 lung cancer patients treated at Pham Ngoc Thach Hospital.
Result: Computerized tomography on 79 lung cancer patients (52 man and
27 women) Dendritic shoreline majority 55.7%; multiple bank offers 25.3%; 19% rounded Size of tumor: < 3 cm 21.5%, 3-5 cm 34,2%, > 5 cm 44.3% The proportion of patients with mediastinal lymph node was 29.1%, 2.5% of bone destruction, the highest Hounsfield increased 60.8%.
Conclusion: The images of dendritic shoreline majority, multiple bank offers and mediastinal lymph nodes or destruction of bone lesions on computed tomography chest are signs have value in diagnostic imaging of lung cancer.
Keywords: lung cancer, mediastinal lymph nod, dendritic shoreline majority, multiple bank offers.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo GLOBOCAN 2018, ở khu
vực Đông Nam Á tỉ lệ nam giới bị ung thư
phổi là 26,3% và nữ giới là 9,6% [1] Tại
Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng thứ nhì
chỉ sau ung thư gan với tỉ lệ mắc mới là
14,4% Bệnh thường gặp ở nam giới, với
tỉ lệ mắc mới là 18,4% ở nam và 9,4% ở
nữ giới [2], ước tính mỗi năm có khoảng
22.000 trường hợp mới mắc (16.000 nam
và 6.000 nữ) và tử vong khoảng gần 19.600
bệnh nhân [3] Tại thành phố Hồ Chí Minh
năm 2003, UTP xếp hạng thứ nhất ở nam
giới với xuất độ 29,5/ 100.000 và đứng
hàng thứ ba ở nữ giới sau ung thư vú, cổ tử
cung với xuất độ 12,4/ 100.000 [4]
Trên thế giới ở cả hai giới ung thư
phổi chiếm 11,6% tổng số ca ung thư trên
toàn cầu và nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong chiếm 18,4% Dự báo năm 2018 có
2,1 triệu trường hợp ung thư phổi mắc mới
và 1,8 triệu ca tử vong Ở nam giới ung thư phổi là ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư với 40,4% trong khi đó tỉ lệ này ở nữ
là 19,1% [1]
Biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học của ung thư phổi gây ra nhiều khó khăn cho việc chẩn đoán xác định và đánh giá giai đoạn điều trị cũng như tiên lượng
Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm
mục tiêu sau: Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của ung thư phổi.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trên 79 bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh có phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) được điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng
Trang 17Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân
có tuổi từ 18 trở lên Có phim chụp CLVT
lồng ngực theo quy trình thống nhất Hồ
sơ được lưu trữ đầy đủ tại Bệnh viện Phạm
Ngọc Thạch Kết quả giải phẫu bệnh được
chẩn đoán xác định là ung thư phổi Đồng
ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân
không có phim chụp CLVT, không có kết
quả chẩn đoán tế bào học Không đồng ý
tham gia nghiên cứu
2.2 Phương Pháp Nghiên Cứu
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, cắt
ngang
Tất cả các bệnh nhân đều được thăm khám lâm sàng nghi nhận các triệu chứng lâm sàng, các yếu tố nguy cơ, chụp
X quang qui ước và chụp CLVT lồng ngực, chẩn đoán mô bệnh học
Đánh giá các tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: vị trí, kích thước, đường bờ, bắt quang, hạch trung thất và các tổn thương kèm theo
Xử lý số liệu theo các thuật toán thống kê sử dụng trong Y sinh học
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trên 79 bệnh nhân có tuổi trung bình 61,96±9,84 Tỉ lệ Nam/ nữ
= 52/27
Bảng 3.1 Phân bố vị trí khối u theo giới tính
Vị trín
Nhận xét: Thuỳ trên của cả hai phổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 24,1% ở phổi phải
và 29,1% ở phổi trái Nếu chỉ tính riêng tổn thương số lượng thuỳ phổi tương ứng phổi thì phổi phải có tỉ lệ tổn thương cao nhất với 63,3% và trái là 59,5%
Trang 18Bảng 3 2 Đặc điểm đường bờ và mật độ của khối u
Về mật độ: Mật độ đồng nhất chiếm 58,2%; Không đồng nhất 41,8% Tỉ lệ vôi hoá 8,9% Tỉ lệ khối u tạo hang là 17,7% trong đó chiều dày trung bình thành hang là 2,03±0,63 mm (1,0-3,0)
Bảng 3 3 Đặc điểm về kích thước khối u
Trang 19Bảng 3 4 Đặc điểm đường bờ, mật độ theo kích thước khối u
Trang 20Về phân bố vị trí khối u kết quả
nghiên cứu cho thấy thuỳ trên của cả hai
phổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 24,1% ở phổi
phải và 29,1% ở phổi trái Nếu chỉ tính
riêng tổn thương số lượng thuỳ phổi tương
ứng thì thì phổi phải có tỉ lệ tổn thương cao
nhất với 63,3% và trái là 59,5%
Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu cũa
một số tác giả trong và ngoài nước là
phổi phải có tỉ lệ tổn thương cao hơn phổi
trái Đỗ Quyết trên chụp CLVT phát hiện
được 6,5% khối u ở cả hai bên; phổi phải
48,4%; phổi trái 45,1% Xác định vị trí tổn
thương theo phân thùy tác giả cho biết:
Phổi phải thùy trên chiếm 20,4% thùy giữa
7,5%; thùy dưới 23,6% Phổi trái thùy trên
33,3%; thùy dưới 15,1% [5] Đoàn Thị
Phương Lan vị trí tổn thương hay gặp nhất
ở nhóm UTP là thuỳ trên 2 bên, trong đó
thùy trên phải gặp nhiều hơn với 34,8%
so với 24,6% Thùy giữa phải 8,6%; thùy
dưới phải 17,4%; thùy dưới trái 14,5% [9]
Wang H., và cộng sự tổn thương ở phổi phải thuỳ trên chiếm tỉ lệ 29,9%; thuỳ giữa 7,7%; thuỳ dưới 17,1% Ở phổi trái tổn thương tại thuỳ trên cao nhất với 31,6%; thuỳ dưới 15,7% 92,3% khối u ở ngoại vi Tổn thương 1 thuỳ 2,6%; 2 thuỳ 29,1%; 3 thuỳ 41%; 4 thuỳ 23,9% và 5 thuỳ 2,6% [10] Saji H., tổn thương ở thuỳ trên ở 111 bệnh nhân (38,4%) và thuỳ dưới ở 178 bệnh nhân (61,6%) Kích thước tổn thương trung bình là 21,0±14,2 mm (dao động 3 đến 90 mm) Độ sâu trung bình từ màng phổi đến tổn thương là 16,1±14,9 mm (dao động 1 đến 65 mm) [8]
Về đặc điểm đường bờ và mật độ của khối u theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bờ đa cung và tua gai chiếm đa số ở đối tượng nghiên cứu Bờ tua gai, lởm chởm có tỉ lệ cao nhất 55,7% với 44 trường hợp Tiếp đến là bờ đa cung 25,3% với 20 trường hợp và bờ tròn đều với 19,0% Về mật độ: Mật độ đồng nhất chiếm 58,2%; Không đồng nhất 41,8% Tỉ
lệ vôi hoá 8,9% Tỉ lệ khối u tạo hang là 17,7% trong đó chiều dày trung bình thành
Trang 21hang là 2,03±0,63 mm (1,0-3,0).
Đồng Đức Hưng bờ rõ 15,2%; bờ
đa cung 59,2%; bờ lởm chởm 16%; tổn
thương tạo hang 6,4%; vôi hóa 3,2% [7]
Theo Wang H., khối u có vết nứt là 30,8%;
bờ tròn chỉ có 6%; bờ tua gai và đa cung
94% [10] Cung Văn Công bờ tua gai và đa
thùy chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 41,1%
và 34,8% [6] Dấu hiệu bờ tua gai rất có
giá trị trong chẩn đoán UTP, mặc dù dấu
hiệu này cũng có thể gặp trong một số các
tổn thương lành tính khác như viêm phổi
tổ chức hóa, u lao hay trong các khối xơ
hóa trong bệnh phổi silicosis
Kết quả nghiên cứu khối u có kích
thước > 5 cm chiếm tỉ lệ cao nhất 44,3%;
tiếp đến là kích thước khối u từ 3 – 5 cm
có tỉ lệ 34,2%; Kích thước khối u < 3 cm
chiếm tỉ lệ 21,5% Kích thước càng lớn thì
bờ đa cung, tua gai càng cao, p<0,0001
Ở nhóm > 5 cm vôi hoá 17,1%; tạo hang
34,3% Mật độ không đồng nhất tăng dần
theo kích thước khối u (từ 5,9% tăng lên
65,7%), trong khi đó tỉ lệ mật độ đồng nhất
tỉ lệ nghịch với tăng kích thước khối u (từ
94,1% giảm xuống còn 34,3%) có ý nghĩa
thống kê p<0,0001
Theo kết quả nghiên cứu bắt
thuốc cản quang mạng ở 60,8% đối tượng
nghiên cứu, trung bình 34,2% và bắt thuốc
cản quang yếu 5,1% Bắt thuốc cản quang
đó là sự thể hiện tăng sinh mạch máu của
khối ung thư Trong nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy thì động mạch bắt thuốc cản
quang rất mạnh Cung Văn Công tỷ trọng trung bình của khối u trước tiêm là 37,9 ± 7,67 (HU), sau tiêm là 60,5 ± 12,11 (HU),
sự chênh lệch về tỷ trọng khối u giữa trước
và sau tiêm là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Đại đa số BN có khối u ngấm thuốc vừa và mạnh, 75,7% số BN có tỷ trọng u sau tiêm tăng lên > 15HU [6]
Về hạch ở phổi và trung thất nếu tính riêng từng vị trí kết quả nghiên cứu thu được hạch trung thất có 24 trường hợp chiếm tỉ lệ 30,4% Hạch rốn phổi có 3 trường hợp chiếm tỉ lệ 3,8% Carina 1,3% Xét trên từng bệnh nhân cụ thể thì có 29,1% bệnh nhân có hạch trung thất Hạch rốn phổi, trung thất + rốn phổi, carina + rốn phổi mỗi loại có 1 trường hợp chiếm tỉ
lệ 1,3%; huỷ xương 2,5%
5 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu hình ảnh CLVT trên 79 bệnh nhân ung thư phổi chúng tôi rút ra các kết luận sau:
- Thuỳ trên của cả hai phổi chiếm
tỉ lệ cao nhất với 24,1% ở phổi phải và 29,1% ở phổi trái Khối u có kích thước >
5 cm chiếm tỉ lệ cao nhất 44,3%
- Đường bờ tua gai chiếm đa số
với tỷ lệ 55,7%; đa cung 25,3%; tròn đều
19,0% Tỷ lệ bắt thuốc cản quang mạnh 60,8% Kích thước càng lớn thì tỉ lệ bờ đa cung càng cao, p<0,0001
- Tỷ lệ bệnh nhân có hạch trung thất là 19,1%; hủy xương là 2,5 Tạo hang
Trang 22Hình ảnh hạch trung thất, đường
bờ tua gai và đa cung hoặc có tổn thương
hủy xương trên chụp cắt lớp vi tính lồng
ngực là những dấu hiệu có giá trị trong
chẩn đoán hình học ung thư phổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Freddie Bray, Jacques
Ferlay, Isabelle Soerjomataram, et al
(2018), “Global Cancer Statistics 2018:
GLOBOCAN Estimates of Incidence and
Mortality Worldwide for 36 Cancers in
185 Countries”, CA CANCER J CLIN
2018;0:1–31
2 Global Cancer Observatory,
(2018), “Viet Nam: Globocan 2018”,
September, 2018:1-2
3 Bộ Y Tế (2018), “Hướng dẫn
chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không
tế bào nhỏ”, Quyết định số 4825/QĐ-BYT
ngày 06 tháng 08 năm 2018 của bộ trưởng
Bộ Y Tế, tr.1-23
4 Nguyễn Hữu Lân (2018), “Ung
thư phổi nguyên phát”, Bài giảng Sau đại
học, Học viện Quân y, Tr 1-60
5 Đỗ Quyết, Đặng Đức Cảnh
(2012), “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh
ung thư phổi nguyên phát trên phim X
quang chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc”, Y học
Việt Nam, tháng 9, số 1:38-43
6 Cung Văn Công (2015),
“Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu ngực trong chẩn đoán ung thư phổi nguyên phát ở người lớn”, Luận án Tiến sĩ Y học, Viện nghiên cứu khoa học Y Dược Lâm sàng 108
7 Đồng Đức Hưng (2014), Nghiên cứu phương pháp sinh thiết xuyên thành ngực trong chẩn đoán tổn thương phổi, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Tp
Hồ Chí Minh
8 Saji H., Nakamura H., Tsuchida T., et al (2002), “The Incidence and the Risk of Pneumothorax and Chest Tube Placement After Percutaneous CT-Guided Lung Biopsy: The Angle of the Needle Trajectory Is a Novel Predictor”, CHEST 2002; 121:1521–1526
9 Đoàn Thị Phương Lan (2015),
“Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán các tổn thương dạng u ở phổi”, Luận án tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y
Hà Nội
1 Wang H., Schabath MB., Liu Y.,
et al (2015) “Semiquantitative Computed Tomography Characteristics for Lung Adenocarcinoma and Their Association With Lung Cancer Survival”, Clinical Lung Cancer, 16(6): e141-e163
Trang 231 Bệnh viện Quân y 175
2 Bệnh viện Từ Dũ, 3 Bệnh viện Chợ Rẫy
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thành Nam ( dr.nam175vn@gmail.com )
Ngày nhận bài: 5/4/2019, ngày phản biện: 17/4/2019
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2019
BIẾN CHỨNG SỚM CỦA MỞ THÔNG RUỘT RA DA TRONG
PHẪU THUẬT ỐNG TIÊU HÓA
Nguyễn Thành Nam 1 , Lâm Việt Trung 3 , Trịnh Văn Thảo 1 , Cửu Nguyễn Thiên Thanh 2 , Lã Văn Tuấn 1 , Nguyễn Phú Thông 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật mở thông ruột ra da (MTRRD) là một phần không thể thiếu của chiến lược điều trị một số bệnh đường tiêu hóa như tắc ruột, ung thư đại trực tràng, tắc mạch mạc treo Các nghiên cứu khác nhau cho tỉ lệ biến chứng từ 6 – 96% [6] Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với hai mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và chỉ định phẫu thuật của MTRRD trong phẫu thuật ống tiêu hóa; biến chứng sớm của MTRRD trong phẫu thuật ống tiêu hóa.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu – mô tả cắt ngang, tại khoa Ngoại Tiêu Hóa – Bệnh viện Chợ Rẫy trong 1 năm từ 01/01/2017 đến 31/12/2017 Tiêu chuẩn chọn bệnh
là những bệnh nhân được phẫu thuật MTRRD tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Kết quả: Từ 01/01/2017 đến 31/12/2017, chúng tôi thu thập được 348 trường hợp (TH) được phẫu thuật MTRRD đủ tiêu chuẩn chọn bệnh Tỉ lệ biến chứng sớm của MTRRD là 6,9% Độ tuổi trung bình làm MTRRD là 59,2 ± 17,1 tuổi, nam (57%) so với nữ (43%) Chỉ định chiếm tỉ lệ cao nhất là u đại trực tràng (39,9%) Có 7 loại biến chứng sớm của MTRRD được gồm viêm da quanh MTRRD (2,6%), xuất huyết và máu
tụ MTRRD (1,4%), nhiễm trùng quanh MTRRD (0,8%), thiếu máu và hoại tử MTRRD (0,6%), sa MTRRD (0,6%), viêm phúc mạc do tụt MTRRD (0,6%), thoát vị thành bụng cạnh MTRRD (0,3%).
Kết luận: Nguy cơ xảy ra biến chứng sớm giảm dần theo thứ tự từ MTRRD kiểu
Trang 24quai, kiểu có miệng tách đôi và kiểu tận Điểm ASA trước phẫu thuật của bệnh nhân càng cao thì nguy cơ xảy ra biến chứng sớm càng lớn Có sự liên quan giữa những TH chỉ định làm MTRRD do viêm phúc mạc – vỡ u ruột và biến chứng sớm.
Từ khóa: Mở thông ruột ra da, biến chứng của mở thông ruột ra da.
EARLY COMPLICATIONS OF INTESTINAL STOMA IN
GASTROINTESTINAL SURGERY
ABSTRACT
Background: Intestinal stoma creation is an integral part of the treatment strategy for several gastrointestinal diseases, such as intestinal obstruction, colorectal cancer, acute mesenteric ischemia Various studies reported the early complications with a range of 6 – 96% [6] The objectives of this study were to describe: the clinical characteristics and surgical indications of intestinal stoma in gastrointestinal surgery; the early complications of stoma in gastrointestinal surgery.
Methods: A retrospective descriptive study, at the Digestive Surgery department, Cho Ray hospital for 1 year from 01 January 2017 to 31 December 2017 All patients with temporary or permanent intestinal stomas were included in the study
Results: From 01 January 2017 to 31 December 2017, a total of 348 stomas were recorded, of which 24 (6,9%) were identified as problematic The median age was 59.2 ± 17.1 years, male (57%) vs women (43%) The highest indication of stoma was colorectal tumors (39.9%) There are seven types of early stomal complications including peristomal dermatology (2.6%), hemorrhage and hematoma (1.4%), peristomal infection (0.8%), ischemia and necrosis (0.6%), prolapse (0.6%), peritonitis due to stoma retraction (0.6%), parastomal hernia (0, 3%).
Conclusions: The risk of early stomal complications decreases in the order of loop, double-barrel and end stoma The higher ASA score, the greater risk for early complications There is evidence of an increase in incidence of problematic stomas with indication of peritonitis due to perforated tumors.
Key words: Intestinal stoma, complications of intestinal stoma.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mở thông ruột ra da (MTRRD)
là phẫu thuật tạo lỗ mở chủ động của ruột
trực tiếp ra ngoài ổ bụng, MTRRD gồm hậu môn nhân tạo (HMNT) và mở thông ruột non ra da (MTRNRD) [1]…
Trang 25Phẫu thuật làm MTRRD là một
phần không thể thiếu của chiến lược điều
trị một số bệnh đường tiêu hóa như tắc
ruột, ung thư đại trực tràng, tắc mạch mạc
treo Tại khoa Ngoại Tiêu Hóa – Bệnh
viện Chợ Rẫy trong một năm có khoảng
400 TH làm MTRRD Tại Anh, gần 20800
ca MTRRD được thực hiện mỗi năm [8]
Các nghiên cứu khác nhau cho tỉ
lệ biến chứng từ 6 – 96% [6] Khi MTRRD
có biến chứng thì bệnh nhân phải trả cái
giá không hề nhỏ, cả về tài chính lẫn tâm
lý, và họ có thể phải gánh chịu thêm những
cuộc phẫu thuật để sửa chữa các biến chứng
đó [18] Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài
“Biến chứng sớm của mở thông ruột ra
da trong phẫu thuật ống tiêu hóa” với hai
mục tiêu nghiên cứu như sau: Mô tả đặc
điểm lâm sàng và chỉ định phẫu thuật của
MTRRD trong phẫu thuật ống tiêu hóa,
biến chứng sớm của MTRRD trong phẫu
thuật ống tiêu hóa
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được phẫu thuật
mở thông ruột ra da tại khoa Ngoại Tiêu
Hóa - Bệnh viện Chợ Rẫy trong 1 năm từ
01/01/2017 đến 31/12/2017
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Các bệnh
nhân có MTRRD tạm thời hoặc vĩnh viễn
Tiêu chuẩn loại trừ:
Các bệnh nhân phẫu thuật dẫn lưu nước tiểu qua một quai ruột ra da
Các bệnh nhân được làm MTRRD tại cơ sở khác không phải tại bệnh viện Chợ Rẫy
2 Phương pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu: hồi cứu – mô
tả cắt ngang
Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập danh sách bệnh nhân có
mã ICD tương ứng với các cụm từ: “Hậu môn nhân tạo”, “Mở thông hỗng tràng ra da”, “Mở thông hồi tràng ra da” trong vòng
1 năm – từ 01/01/2017 đến 31/12/2017 tại khoa Ngoại Tiêu Hóa bệnh viện Chợ Rẫy
Sàng lọc và chọn các hồ sơ thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh
Các biến số được ghi nhận và tổng hợp theo biểu mẫu
Phân tích và xử lý số liệu:
Xử lý và phân tích thống kê số liệu bằng phần mềm Excel, phần mềm Stata 13
So sánh các biến định tính bằng phép kiểm Chi bình phương, kiểm định (KĐ) Fisher và dùng KĐ t cho các biến định lượng
KẾT QUẢ
Từ 1/2017 đến tháng 12/2017 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi thu thập được 348 TH được phẫu thuật MTRRD
Trang 26đủ tiêu chuẩn chọn bệnh, được đưa vào
nghiên cứu
1 Đặc điểm chung
Độ tuổi trung bình làm MTRRD
là 59,2 ± 17,1 tuổi Phân bố nhiều nhất
trong khoảng từ 40 – <80 tuổi và ít nhất
là dưới 20 tuổi Trẻ nhất là 16 tuổi và cao
tuổi nhất là 94, nam giới (57%) cao hơn so
với nữ giới (43%)
Các TH phẫu thuật MTRRD của
chúng tôi có điểm ASA từ I đến IV, ASA
II chiếm đa số với 62%, thấp nhất là ASA
IV (3%) Mối liên quan giữa điểm ASA và
biến chứng sớm của MTRRD là có ý nghĩa
thống kê (p = 0,001 – KĐ Fisher)
BMI trong giới hạn bình thường là
chủ yếu (66,1%), các TH thừa cân chiếm
(0,3%)
Đại tràng chậu hông được làm MTRRD nhiều nhất (47,1%), tương ứng với vị trí được chọn làm MTRRD nhiều nhất là hố chậu trái (59,2%).Ít nhất là đại tràng lên chỉ có 3 TH (0,9%) Hồi tràng cũng được thực hiện MTRRD khá nhiều với 95 TH (27,3%)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phẫu thuật MTRRD cấp cứu (67,2%) gấp hơn 2 lần phẫu thuật chương trình (32,8%) MTRRD kiểu quai chiếm tỉ lệ cao nhất với 79,6%, phẫu thuật cấp cứu chiếm đa số so với chương trình Thứ 2 là MTRRD một đầu tận (14,9%), nhưng phẫu thuật chương trình cao hơn nhiều so với cấp cứu, điều này có thể giải thích là do MTRRD một đầu tận trong nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện chủ yếu trong bệnh lý ung thư đại tràng chậu hông, trực tràng với phương pháp là phẫu thuật Miles hoặc phẫu thuật Hartmann Ít nhất là MTRRD
có miệng tách đôi (5,5%)
Trang 27Có 7 loại biến chứng sớm của
MTRRD được ghi nhận (Bảng 2) Nhiều
nhân có mở thông ruột non ra da và 4 TH
mở thông đại tràng ra da, thời gian xảy ra
biến chứng từ hậu phẫu ngày 1 đến 6 Trong
đó 3 TH ghi nhận biến chứng vào ngày thứ
1 sau mổ, 2 TH viêm da quanh MTRRD
vào ngày thứ 2 sau mổ, 2 TH biểu hiện vào
hậu phẫu ngày thứ 4, 2 TH còn lại xảy ra
biến chứng lần lượt vào ngày thứ 5 và thứ
6 sau mổ Tất cả các TH này đều được điều
trị bằng đắp kẽm oxit thành công
5 TH xuất huyết và tụ máu MTRRD đều ở mức độ nhẹ, xảy ra trong khoảng từ hậu phẫu ngày thứ 1 đến 9 và được điều trị bảo tồn Cụ thể, có 4 TH xuất huyết MTRRD (Hình 2), trong đó có 2 TH
xày ra ngày thứ 2 sau mổ và 1 TH xày ra biến chứng ở ngày thứ 3; TH còn lại xảy
ra biến chứng vào hậu phẫu ngày 9 Biến chứng tụ máu MTRRD (Hình 3) được ghi nhận vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật
Nhiễm trùng quanh MTRRD chiếm tỉ lệ 0,8% với 3 TH, trong đó có 2 tạo thành ổ abscess quanh MTRRD (Hình 4) được phát hiện vào ngày thứ 11 và ngày thứ 13 sau phẫu thuật, được xử trí rạch ổ abscess TH còn lại loét quanh MTRRD (Hình 5) được ghi nhận vào hậu phẫu ngày thứ 13 và được điều trị bảo tồn thành công
Trang 28ra vào ngày thứ 3 sau mổ phải chỉ định
mổ cấp cứu làm lại MTRRD, nguyên nhân
hoại tử MTRRD được xác định là do mạch
viền bị đứt vì căng mạc treo đại tràng TH
còn lại biểu hiện thiếu máu (Hình 7) xảy
ra vào hậu phẫu ngày thứ 2 được điều trị
bảo tồn
Sa MTRRD (Hình 8) chúng tôi có
2 TH, 1 TH xảy ra ngày thứ 10 sau mổ trên
bệnh nhân mang MTRRD đại tràng chậu
hông kiểu quai với ghi nhận trong hồ sơ
bệnh án niêm mạc đại tràng bị sa ra khá
nhiều sau cơn ho của bệnh nhân, TH này
được mổ cấp cứu và được ghi nhận do lỗi
kỹ thuật khi lỗ đưa MTRRD trên thành
bụng quá rộng, sau đó xử trí bằng cách đẩy
niêm mạc lại vào trong lòng đại tràng và
khâu hẹp lại lỗ cân thành bụng TH còn lại
xảy ra sau khi xuất viện hậu phẫu ngày thứ
23 với mở thông hồi tràng ra da kiểu quai
và được phẫu thuật sửa MTRRD
Viêm phúc mạc do tụt MTRRD (Hình 9) chúng tôi có 2 TH (0,6%), đều xảy ra biến chứng trên bệnh nhân có mở thông đại tràng chậu hông ra da sau phẫu thuật viêm phúc mạc do ung thư đại tràng chậu hông vỡ TH thứ nhất xảy ra vào ngày thứ 10 sau phẫu thuật, được mổ lại cấp cứu với xử trí di động thêm đại tràng, làm lại MTRRD TH còn lại được ghi nhận vào hậu phẫu ngày thứ 30 ở bệnh nhân được làm MTRRD do viêm phúc mạc – vỡ khối ung thư đại tràng chậu hông, được chỉ định
mổ cấp cứu làm lại MTRRD
Thoát vị thành bụng cạnh MTRRD (Hình 10) có 1 TH (0,3%), xảy ra trên MTRRD đại tràng chậu hông một đầu tận trong phúc mạc vĩnh viễn sau phẫu thuật Hartmann, hậu phẫu ngày thứ 5 xuất hiện khối thoát vị khá lớn, được phẫu thuật sửa lại lỗ MTRRD trên thành bụng do chỉ đính ruột vào phúc mạc bị đứt làm ruột non thoát vị lên cạnh MTRRD
Trang 29Về liên quan giữa chỉ định MTRRD
và biến chứng sớm, chỉ định MTRRD do
viêm phúc mạc – vỡ u ruột là có ý nghĩa
thống kê (p=0,025 – KĐ Fisher) Sự khác
biệt về biến chứng sớm xảy ra ở các vị trí
ruột làm MTRRD không có ý nghĩa thống
kê (p = 0,610 – KĐ Fisher) Không có
mối liên quan giữa vị trí của MTRRD trên
thành bụng và biến chứng sớm (p = 0,145
– KĐ Fisher)
Chúng tôi ghi nhận được 24 TH
làm MTRRD có biến chứng thì trong đó
MTRRD kiểu quai chiếm nhiều nhất với tỉ
lệ 4,3%, MTRRD kiểu có miệng tách đôi
có (1,4%) và kiểu một đầu tận (1,2%) Sự liên quan giữa các kiểu MTRRD và biến chứng sớm của MTRRD có ý nghĩa thống
kê (p = 0,007 – KĐ Fisher) Theo đó, nguy
cơ xảy ra biến chứng sớm giảm dần theo thứ tự ở MTRRD kiểu quai, kiểu có miệng tách đôi và kiểu tận
Mối liên quan giữa thời điểm mở thông ruột ra da với biến chứng sớm là không có ý nghĩa thống kê (p = 0,197 –
có ý nghĩa thống kê (p = 0,419 – KĐ t)
Hình 4: Abscess quanh MTRRD
Hình 3: Tụ máu quanh MTRRD
Hình 2: Xuất huyết quanh
MTRRD
Hình 1: Viêm da quanh
MTRRD
Hình 8: Sa MTRRD Hình 7: Thiếu máu
MTRRD Hình 6: Hoại tử MTRRD
Hình 5: Loét quanh
MTRRD
Trang 30
Thời gian nằm viện sau phẫu
thuật trung bình của bệnh nhân được làm
MTRRD trong nghiên cứu của chúng tôi
là 7,7 ± 3,7 ngày (1 – 31 ngày) Sự khác
biệt về thời gian nằm viện sau phẫu thuật
giữa 2 nhóm có biến chứng và không biến
chứng là không có ý nghĩa thống kê (p =
0,237 – KĐ t)
Có 1 TH tử vong sau phẫu thuật
ngày thứ 11, nguyên nhân được xác định
là tình trạng bệnh quá nặng do sốc nhiễm
trùng nhiễm độc – viêm phúc mạc do vỡ
khối ung thư đại tràng chậu hông di căn
gan đa ổ, suy đa cơ quan không hồi phục,
chiếm tỉ lệ 0,3% Không có TH nào tử
vong sau mổ liên quan đến biến chứng
MTRRD
BÀN LUẬN
1 Đặc điểm chung
Tuổi nhỏ nhất mà chúng tôi gặp
là 16 tuổi, độ tuổi tập trung được làm
MTRRD thường là trung niên (>40 tuổi)
Kết quả cho thấy tuổi trung bình trong
nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng
so với các tác giả Nguyễn Quang Trung
[13] và Harris [8]
Bệnh nhân được làm MTRRD có
tỉ lệ nam giới (57%) cao hơn nữ (43%) Kết quả này khá tương đồng với Lê Đức Tuấn [10] và Harris [8] Hiện nay, bệnh viện Chợ Rẫy là nơi tiếp nhận hầu hết các
ca bệnh nặng, các ca cấp cứu phức tạp từ thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh miền Nam, các ca bệnh này thường do nam giới bị tai nạn giao thông hay tai nạn lao động, chính vì vậy làm cho tỉ lệ nam cao hơn nữ trong nghiên cứu này
2 Phẫu thuật làm mở thông ruột ra da
Về chỉ định làm MTRRD, theo Qamar A Ahmad [16] nghiên cứu 85 TH MTRRD thì vết thương bụng chiếm 5,5%; vết thương và chấn thương đại tràng chúng tôi gặp 6 TH (1,7%) Sự khác biệt ở đây
là do Ahmad thực hiện nghiên cứu tại Pakistan, nơi mà bạo lực luôn thường trực Chỉ định làm MTRRD do ung thư đại trực tràng, ung thư ruột non và đại trực tràng
có biến chứng tắc ruột, vỡ, hay xuất huyết Hình 9: Viêm phúc mạc do tụt
MTRRD Hình 10: Thoát vị thành bụng cạnh MTRRD
Trang 31trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ
lệ 78,7% cao hơn so với Harris (66%) [8],
kết quả này là do ung thư đại trực tràng là
một trong những ung thư nhiều nhất hiện
nay
Thời điểm MTRRD của những
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi
đa phần là cấp cứu (67,2%), cao hơn khá
nhiều so với thực hiện phẫu thuật chương
trình (32,8%); so với Harris [7], Lê Đức
Tuấn [10] và Nguyễn Quang Trung [13]
có sự khác biệt, điều này là do các nghiên
cứu của chúng tôi được thực hiện ở các
trung tâm khác nhau, ở bệnh viện Chợ Rẫy
tiếp nhận rất nhiều các TH cấp cứu từ các
tuyến dưới nên dẫn đến số lượng MTRRD
trong cấp cứu cao Biến chứng sớm của
MTRRD hầu hết xảy ra tại các TH phẫu
thuật cấp cứu, sự khác biệt giữa 2 nhóm
này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,197),
kết quả nghiên cứu này của chúng tôi khác
so với kết quả nghiên cứu của Lê Đức
Tuấn [10] và các tác giả Nguyễn Quang
Trung, Harris [8], [13]
Vị trí ruột làm mở thông ruột ra
da được chọn làm nhiều nhất là đại tràng
chậu hông (47,1%) nhiều hơn Ghazi là
17,5% [7] và Ahmad là 11% [1] Hồi tràng
(27,3%) được chọn nhiều thứ hai sau đại
tràng chậu hông, so với Ghazi (49,8%) và
Ahmad (76%) Kết quả của chúng tôi có
vị trí ruột đưa ra thành bụng làm MTRRD
tương đối khác so với 2 tác giả trên có lẽ
vì mẫu nghiên cứu của chúng tôi ung thư
đại trực tràng chiếm đa số so với 2 tác giả Chúng tôi gặp MTRRD được thực hiện tại đại tràng lên là ít nhất, chỉ có 3 TH (0,8%) Đại tràng chậu hông xảy ra nhiều biến chứng sớm nhất với 14/348 TH (4,1%) Điều này có thể giải thích vì đại tràng chậu hông được thực hiện MTRRD nhiều hơn, là đoạn di động nên khó tìm dẫn đến đường mổ có thể dài hơn và số lượng biến chứng cao hơn Tuy nhiên, sự khác biệt ở đây giữa các vị trí ruột khi có biến chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,610)
MTRRD kiểu quai chiếm nhiều nhất (79,6%), MTRRD kiểu một đầu tận (14,9%) và MTRRD kiểu có miệng tách đôi chiếm 5,5% Giải thích cho sự khác biệt này, chúng tôi nhận thấy chỉ định làm MTRRD cho rất nhiều TH cấp cứu (67,2%), đa số các TH đều là MTRRD tạm thời (60,9%) nên MTRRD kiểu quai chiếm tỉ lệ cao là điều dễ hiểu MTRRD một đầu tận trong nghiên cứu của chúng tôi đứng thứ 2 với 14,9% do tỉ lệ ung thư đại tràng chậu hông – trực tràng được phẫu thuật Miles (11,9%) hoặc phẫu thuật Hartmann (3,0%) Bên cạnh đó những TH
chấn thương, vết thương hay tắc ruột phải phẫu thuật cắt đoạn ruột, đưa 2 đầu đại tràng ra da, đó đều là những chỉ định phải thực hiện MTRRD kiểu có miệng tách đôi (5,5%)
Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng vị trí làm MTRRD ở hố chậu trái là nhiều nhất có tỉ lệ 59,2% so với các kết quả
Trang 32của Lê Đức Tuấn [10] và Lê Trường Chiến
[11] lần lượt là 82,4% và 70,5% Và thấp
nhất ở các công trình của Lê Đức Tuấn và
Lê Trường Chiến là vị trí hạ sườn phải và
hố chậu phải với tỉ lệ 3,1%, của chúng tôi
MTRRD ở hố chậu phải có 96 TH, chiếm
27,6% – đứng thứ 2 trong 4 vị trí MTRRD
trên thành bụng Điều này có thể lý giải vì
trong nghiên cứu của chúng tôi số lượng
mở thông ruột non, mở thông manh tràng,
mở thông đại tràng lên chiếm tổng cộng
37,1% các TH MTRRD Vị trí hạ sườn
trái (6,9%) và vị trí hạ sườn phải (2,3%)
là những vị trí lần lượt đứng sau vị trí hố
chậu phải trong nghiên cứu của chúng tôi,
các vị trí này thường dùng để đưa đại tràng
ngang ra da Theo các tác giả Husain [17],
Tjandra [20] thì vị trí thành bụng để làm
MTRRD nên đi qua cơ thẳng bụng để hạn
chế các biến chứng của MTRRD, đặc biệt
là thoát vị quanh MTRRD Các vị trí này
nên được đánh dấu trước mổ dựa theo các
tư thế, các đặc điểm thành bụng, các vết
sẹo cũ, các nếp gấp da…của người bệnh
MTRRD tạm thời chiếm đa số
với tỉ lệ 60,9%, MTRRD vĩnh viễn chiếm
34,2%; so với Lê Đức Tuấn nghiên cứu
414 TH có MTRRD vĩnh viễn chiếm
84% nhiều hơn MTRRD tạm thời [10]
Sự khác biệt này do các TH mổ cấp cứu
nhiều (67,2%) và các TH này thường sẽ
phẫu thuật 2 hay 3 thì, và thì đầu thường chỉ làm MTRRD tạm thời, thì sau sẽ giải quyết triệt để nguyên nhân
3 Biến chứng sớm của mở thông ruột ra da
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ biến chứng là 6,9% (Bảng 3), so với Umit Koc và cộng sự (CS) là 28,4% [21] và Lê Đức Tuấn là 4,6% [10] Điều này có thể được giải thích do phần lớn các bệnh nhân của chúng tôi được làm MTRRD trong cấp cứu, sự chuẩn bị của bệnh nhân lẫn phẫu thuật viên đều không được tốt như trong chương trình nên nguy cơ xảy ra biến chứng sẽ cao hơn so với nghiên cứu của
Lê Đức Tuấn, nhưng ít hơn so với nghiên cứu của Umit Koc và CS vì điều kiện thực hiện phẫu thuật khác nhau cả yếu tố khách quan và chủ quan
Viêm da quanh MTRRD chúng tôi ghi nhận được nhiều nhất với 9 TH (2,6%) cao hơn Umit Koc và CS là 5 TH (1,1%), biến chứng này được ghi nhận từ
3 - 42% tùy tác giả [9] Xuất huyết và tụ máu MTRRD có 5 TH (1,4%) cao hơn Lê Đức Tuấn là 4 TH (1%)
Nhiễm trùng quanh MTRRD chúng tôi có 3 TH (0,8%) cao hơn Lê Đức Tuấn là 0,7% và thấp hơn nhiều so với Umit Koc và CS là 19,5% Biến chứng
Trang 33này gặp với tỉ lệ từ 2 - 14,8% [14], [15];
nguyên nhân có thể do vị trí đặt MTRRD
trên vùng đã phẫu thuật trước đó, nhiễm
trùng, máu tụ, hay gặp ở các MTRRD
không được tạo hình
Thiếu máu và hoại tử MTRRD có
2 TH (0,6%), thấp hơn so với hai tác giả
Umit Koc và Lê Đức Tuấn lần lượt là 6 TH
TH chúng tôi ghi nhận xảy ra sớm sau
mổ được xem như do lỗi kỹ thuật khi tạo
đường hầm trên thành bụng quá rộng, có
lẽ các MTRRD được thực hiện trong điều
kiện cấp cứu nên dễ mắc sai sót và từ đó
có thể là nguyên nhân làm cho kết quả của
chúng tôi cao hơn
Tụt MTRRD gây viêm phúc mạc
chúng tôi ghi nhận 2 TH (0,6%), kết quả
của chúng tôi cao hơn Umit Koc và CS
với 0% và Lê Đức Tuấn với 1 TH (0,2 %)
Nguyên nhân của biến chứng này thường
do di động ruột không đủ dài dẫn đến căng thành ruột hay mạc treo ruột; ngoài ra, còn
do cơ địa bệnh nhân có thành bụng nhão, béo phì… hay bị nhiễm trùng cân cơ,
khoang quanh MTRRD trên thành bụng [12]
Tóm lại chúng tôi có 7 loại biến chứng sớm gồm 24 TH, chiếm tỉ lệ 6,9%, các biến chứng này theo chúng tôi đa phần
là do lỗi kỹ thuật và các lỗi này đều có thể tránh được
Nguy cơ xảy ra biến chứng nhiều nhất là trong vòng 5 năm đầu tiên sau mổ nhưng bệnh nhân vẫn phải mang những nguy cơ biến chứng tiềm ẩn đến suốt đời Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ ghi nhận các biến chứng xảy ra trong 30 ngày đầu
Trang 34Bảng 3 : So sánh các biến chứng sớm của MTRRD
Chúng tôi(n=348)
Umit Koc và CS [21] (n=462)
Lê Đức Tuấn [10](n=414)
Biến chứng xảy ra chủ yếu tại vị
trí hố chậu trái và hạ sườn trái, trong đó
vị trí hố chậu trái là nhiều nhất (4,6%)
Tuy có sự chênh lệch giữa các vị trí như
vậy nhưng không có ý nghĩa thống kê (p
= 0,145), điều này được giải thích do vị trí
này là vị trí mà đại tràng chậu hông hay
được đưa ra làm MTRRD
MTRRD xảy ra biến chứng đa số
là được mổ cấp cứu (5,5%), sự khác biệt
này không có ý nghĩa thống kê so với các
TH MTRRD có biến chứng được mổ theo
chương trình (p = 0,197) Harris [8] cũng
nhận thấy rằng hầu hết các biến chứng của
MTRRD xảy ra trong phẫu thuật cấp cứu
hơn là phẫu thuật chương trình
KẾT LUẬN
Phẫu thuật MTRRD được thực
hiện phần lớn trong phẫu thuật cấp cứu,
đại tràng chậu hông được thực hiện làm MTRRD nhiều nhất và có số lượng biến chứng tương ứng Nguy cơ xảy ra biến chứng sớm giảm dần theo thứ tự từ MTRRD kiểu quai, kiểu có miệng tách đôi
và kiểu tận; điểm ASA trước phẫu thuật của bệnh nhân càng cao thì nguy cơ xảy ra biến chứng sớm càng lớn; có sự liên quan giữa những TH chỉ định làm MTRRD do viêm phúc mạc – vỡ u ruột và biến chứng sớm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Đức Tuấn (2000) Các Biến Chứng Của Hậu Môn Nhân Tạo Luận văn Thạc Sĩ Y Học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
2 Lê Trường Chiến (1990) Chỉ định
và biến chứng hậu môn nhân tạo Tiểu luận tốt nghiệp bác sỹ nội trú Ngoại Tổng Quát Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
3 Nguyễn Quang Trung (2004)
Trang 35Nghiên Cứu Chẩn Đoán Và Xử Trí Các Biến
Chứng Của Hậu Môn Nhân Tạo Luận văn tốt
nghiệp Bác Sĩ Chuyên Khoa Cấp II Đại học
Y Dược Hà Nội
4 Ahmad, et al (2013) A clinical
study of intestinal stomas: its indications and
complications Int J Res Med Sci,1(4):
536-540
5 Arumugam PJ, et al (2003)
A prospective audit of stomas-analysis
of risk factors and complication and their
management Colorectal Dis, 5(1): 49-52
6 Bass E, et al (1997) Does
preoperative stoma marking and education by
the enterostomal therapist affect outcome?
Dis Colon Rectum, 40(4): 440-442
7 Birnbaum W, Ferrier P (1952)
Complications of abdominal colostomy Am J
Surg, 83(1): 64-67
8 Cheung MT (1995) Complications
of an abdominal stoma: an analysis of 322
stomas Aust N Z J Surg, 65(11): 808-811
9 Cottam J, et al (2007) Results
of a nationwide prospective audit of stoma
complications within 3 weeks of surgery
Colorectal Disease, 9(9): 834-838
10 Ghazi MA, et al (2009) The
Trends and Outcome of Stoma Procedures in
Abdominal Surgery Pak Journal of Med and
Health Sciences, 3(2): 106
11 Harris, et al (2005) Complications
and mortality following stoma formation Ann
R Coll Surg Engl, 87(6): 427-431
12 Kann (2008) Early Stomal
Complications Clin Colon Rectal Surg, 21(1):
23-30
13 Luca A, et al (2010) Guidelenines
in the management of obstructing cancer of the left colon consensus conference of the world society of emergency surgery (WSES) and peritoneum and surgery (PnS) society World Journal of Emergency Surgery, 5(1): 29-39
14 Park JJ, et al (1999) Stoma complications: the Cook County Hospital experience Dis Colon Rectum, 42(12): 1575-1580
15 Pearl RK, et al (1985) Early local complications from intestinal stomas Arch Surg, 120(10): 1145-1147
16 Qamar AA (2010) Indications And Complications Of Intestinal Stomas-A Tertiary Care Hospital Experience Biomedica, 26: 144-147
17 Robertson I, et al (2005) Prospective analysis of stoma-related complications Colorectal Dis, 7(3): 279-285
18 Robin SM, Zane C (2004) Quality
of Life with a Stoma.In: Peter AC, John MM Intestinal Stomas: Principles, Techniques, and Management, 2nd edition, pp.91-110 Marcel Dekker, Inc., New York
19 Syed GH (2008) Late Stomal Complications Clinics In Colon And Rectal Surgery, 21(1): 31-40
20 Joe JT (2006) Intestinal stomas.In: Joe JT, Gordon JAC, Andrew HK, Julian
AS Textbook Of Surgery, 3rd edition,
pp.251-256 Blackwell Publishing, Melbourne
21 Umit K, et al (2017) A Retrospective Analysis of Factors Affecting Early Stoma Complications Ostomy Wound Management, 63(1): 28-32
Trang 36LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TÚI MẬT KẾT HỢP NỘI SOI MẬT TỤY NGƯỢC DÒNG ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang với 88 bệnh nhân có sỏi túi mật và sỏi đường mật được phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt túi mật kết hợp nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) điều trị sỏi đường mật đồng thời
từ 1/2015 đến 11/2017 tại Bệnh viện Nhân dân 115.
Kết quả: Tuổi trung bình là 59,8 ± 15,0; tỉ lệ nữ 59,1%; tỉ lệ có bệnh mạn tính kèm theo 40,9% Các triệu chứng cơ năng đau bụng gặp với tỉ lệ là 96,6%, vàng da 68,2%, sốt 30,1%; tam chứng Charcot là 29,5% Tỉ lệ các triệu chứng thực thể như sau: Sốt 34,1%, vàng da 67,0%, túi mật to 31,8%, ấn điểm túi mật đau hoặc dấu hiệu Murphy dương tính 52,3% Hội chứng nhiễm trùng đường mật có tỉ lệ 35,2%, biến chứng viêm tụy cấp 11,4%, kết quả giải phẫu bệnh viêm túi mật mạn là 85,2%.
Kết luận: Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt túi mật và nội soi mật tụy ngược dòng điều trị sỏi đường mật đồng thời là triệu chứng của viêm túi mật và nhiễm trùng đường mật do sỏi mật.
Từ khóa: sỏi túi mật, sỏi mật, phẫu thuật nội soi cắt túi mật, nội soi mật tụy
1 Phân hiệu Phía Nam HVQY
2 Bệnh viện Nhân dân 115
Người phản hồi (Corresponding): Mai Đức Hùng ( bsmaiduchung@gmail.com )
Ngày nhận bài: 03/5/2018, ngày phản biện: 25/5/2019
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2019
Trang 37ngược dòng.
CLINICAL, SUBCLINICAL MANIFESTATIONS OF THE GALLBLADDDER AND BILE DUCT GALLSTONE PATIENTS WERE TREATED WITH LAPAROSCOPIC CHOLECTOMY AND ENDOSCOPIC RETROGRADE CHOLANGIOPANCREATOGRAPHY UNDER THE SAME
GENERAL ANETHESIA SUMMARY
Objectives: To investigate the clinical and subclinical manifestations of the gallbadder and bile duct gallstone patients were treated with laparoscopic cholecystectomy and endoscopic retrograde cholangiopancreatography to removing the obstructing stones under the same general anesthesia.
Subjects and method: Cross-sectional retrospective study was conducted on
88 patients treated with laparoscopic cholecystectomy and endoscopic retrograde cholangiopancreatography to removing the obstructing stones under the same general
anesthesia from January 2015 to November 2017 at the People’s 115 Hospital Results: The mean age of patients was 59.8 ± 15.0 years; the rate of female was 59.1%; there were 40.9% of the patients with comorbidities The common symptoms were abdominal pain 96.6%, yellowing skin 68.2%, fever 30.1%, the Charcot’s triad 29.5% The common signes were high temperature 34.1%, jaundice 67.0%, distended gallbladder 31.8%, pain in gallbladder point or positive Murphy’s sign 52.3% There were 35.2% with cholangioinfectious syndrome, 11.4% acute panceatitis Anapath shows 85.2% chonic gallbladderitis.
Conclusion: The clinical, subclinical manifestations of the gallbadder and bile duct gallstone patients treated with laparoscopic cholecystectomy and endoscopic retrograde cholangiopancreatography to removing the obstructing stones under the same general anesthesia were the combined manifestations of gallbladderitis and cholangiotitis
Key words: gallstone, biliary lithiasis, laparoscopic cholecystectomy, endoscopic retrocholangiopancreatography
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi mật là bệnh lý ngoại khoa
thường gặp đứng hàng thứ hai trong các
bệnh đường tiêu hóa sau viêm ruột thừa,
có nhiều thể lâm sàng do vị trí và đặc điểm của sỏi mật, bệnh có thể là viêm túi mật
do sỏi túi mật và nhiễm trùng đường mật
do sỏi đường mật đặc biệt gặp sỏi ống mật
Trang 38chủ Khi có chỉ định cắt túi mật và lấy sỏi
ống mật chủ, phẫu thuật nội soi cắt túi mật
và nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi ống
mật chủ trong cùng một thì gây mê hiện
nay đang được áp dụng ở những cơ sở y
tế hiện đại có đủ trang thiết bị Kết quả
của phương pháp kết hợp hai phẫu thuật
đồng thời này cho nhiều ưu điểm do áp
dụng đồng thời hai phẫu thuật xâm nhập
tối thiểu như hạn chế xâm hại người bệnh,
ít đau sau mổ, sẹo mổ nhỏ, giảm thời gian
nằm viện, giảm chi phí điều trị, tránh được
hai cuộc mổ riêng biệt Song, để có cơ
sở chỉ định yêu cầu phẫu thuật viên cần
khám xét, đánh giá chặt chẽ để hạn chế tối
đa biến chứng phẫu thuật Vì vậy, chúng
tôi nghiên cứu đề tài này, nhằm mục tiêu:
Xác định đặc điểm triệu chứng lâm sàng,
cận lâm sàng của các bệnh nhân đã được
áp dụng hai phẫu thuật đồng thời này tại
Bệnh viện Nhân dân 115
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn: 88 trường
hợp (TH) có sỏi ống mật chính và sỏi
túi mật (TM) có viêm túi mật được thực
hiện PTNS cắt túi mật, NSMTND lấy sỏi
đường mật đồng thời trong một thì gây
mê tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 1
năm 2015 đến 11 năm 2017
Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ không
đủ thông tin nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứuHồi cứu mô tả cắt ngang
Các chỉ tiêu nghiên cứuĐặc điểm chung: Tuổi, giới, tiền
sử bệnh mạn tính, tiền sử phẫu thuật bụng, phân loại ASA
Đặc điểm lâm sàng: Các triệu chứng cơ năng như đau hạ sườn phải (HSP), sốt, vàng da, tiểu vàng, rối loạn tiêu hóa Các triệu chứng thực thể như nhiệt độ, da niêm vàng, túi mật to, ấn điểm túi mật đau, dấu hiệu Murphy
Đặc điểm cận lâm sàng: Xét nghiệm bilirubin máu, siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính bụng có cản quang (CLVT), chụp X quang đường mật ngược dòng (XQĐMND) ghi nhận có sỏi hay không,
vị trí sỏi, kích thước ống mật chủ (OMC)
Kết quả xét nghiệm chẩn đoán mô bệnh học túi mật xác định viêm cấp hay mạn
Một số hội chứng đánh giá dựa theo triệu chứng học: Tam chứng Charcot, hội chứng vàng da tắc mật, hội chứng nhiễm trùng đường mật
Biến chứng của sỏi đường mật, sỏi
Trang 39sử phẫu thuật bụng là 8,0%.
2 Triệu chứng lâm sàng
Bảng 3.1 Triệu chứng cơ năng (n=88)
Triệu chứng cơ năng Số TH Tỉ lệ (%)
Trang 403 Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3.3 Chẩn đoán siêu âm, CLVT, chụp X quang đường mật ngược dòng (n= 88).
[Số TH (%)] [Số TH (%)]Sỏi TM [Số TH (%)]Sỏi OMC [Số TH (%)]Cộng
sỏi túi mật kết hợp sỏi ống mật chủ và sỏi
ống gan (ống gan chung, ống gan phải,
ống gan trái)
Có 80 bệnh nhân xác định kích
thước OMC, ghi nhận kích thước OMC
trung bình là 13,6 ± 4,2 mm (6 – 25mm)
Xét nghiệm bilirubin máu: tỉ lệ
tăng bilirubin máu toàn phần, ưu thế tăng
bilirubin trực tiếp là 86,3%
Các biến chứng sỏi đường mật
Biến chứng viêm tụy cấp 10 TH,
chiếm tỉ lệ là 11,4% Các biến chứng viêm
mủ đường mật, áp xe đường mật, chảy
máu đường mật, thấm mật phúc mạc, viêm
cơ thể mỗi bệnh nhân Triệu chứng của sỏi ống mật chủ hoặc sỏi đường mật đơn thuần xuất hiện khi viên sỏi di chuyển gây tổn thương niêm mạc đường mật, gây viêm, phù nề, nhiễm trùng, co thắt cơ trơn đường mật, gây tắc mật Khi ống mật có
sự tắc nghẽn do sỏi mật thì phía trên chỗ tắc nghẽn có xu hướng giãn to hơn, tình trạng ứ trệ dịch mật làm vi trùng phát triển tạo nên biến chứng viêm mủ đường mật,
sự bít tắc lòng ống mật tăng lên, dịch mật không lưu thông được trào ngược vào máu gây nên tăng bilirubin trong máu, gây tăng bilirubin toàn phần, chủ yếu tăng bilirubin trực tiếp Triệu chứng điển hình của sỏi ống mật chủ tam chứng Charcot gồm ba triệu chứng xuất hiện từng đợt theo thứ tự đau bụng, sốt, vàng da và khi mất đi cũng theo thứ tự trên Đau tại hạ sườn phải hoặc thượng vị, lan lên vai hoặc ra sau lưng, cơn đau thường khởi phát đột ngột, đôi khi