1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biểu tượng vô ngã trong tranh dân gian Đông Hồ

8 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 795,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu tượng Vô ngã trong tranh dân gian Đông Hồ có nguồn gốc từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước, hình thành trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến văn hóa với các quốc gia đồng văn châu Á, được các nghệ nhân Đông Hồ chuyển hóa thành những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu.

Trang 1

Biểu tượng vô ngã trong tranh dân gian Đông Hồ

The symbol of “vô ngã” in Dong Ho folk painting

Nguyễn Đình Kỳ Trường Đại học Thủ Dầu Một

Nguyen Dinh Ky

Thu Dau Mot University

Tóm tắt

Biểu tượng Vô ngã trong tranh dân gian Đông Hồ có nguồn gốc từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước,

hình thành trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến văn hóa với các quốc gia đồng văn châu Á, được các nghệ nhân Đông Hồ chuyển hóa thành những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu Điển hình là những hình tượng

được tạo dựng trong ba tác phẩm: Thổi sáo trên lưng trâu; Thả diều trên lưng trâu và Cá chép trông trăng

Ba tác phẩm này đã đạt đến trình độ biểu tượng nghệ thuật, biểu đạt cho tư tưởng giải thoát, giả lập bản thể

tâm hồn con người đến cảnh giới Vô ngã, tự do tự tại, hòa nhập với thiên nhiên vô cùng vô tận

Từ khóa: biểu tượng, vô ngã, tranh dân gian Đông Hồ

Abstract

The symbol of Selflessness in Dong Ho folk painting originated from the agricultural civilization of wet

rice cultivation, being formed by the context of exchanges, acquired and transformed by the same language countries in Asia, transformed into the typically art image by Dong Ho Craftsman Typically,

the images were created in three works: Thoi sao tren lung trau; Tha dieu tren lung trau and Ca chep

trong trang These three works have reached the level of artistic symbolism, expressing the idea of

liberation, emulating the essence of human soul to the high limit of Selflessness, freedom, integration

with boundless nature

Keywords: symbol, selflessness, Dong Ho folk painting

1 Đặt vấn đề

Biểu tượng là một bộ phận quan trọng

không thể thiếu trong đời sống tinh thần của

con người, nó vừa mang những đặc trưng

văn hóa chung vừa chứa đựng những sắc

thái văn hóa riêng của mỗi cộng đồng, dân

tộc, quốc gia và thời đại Vì thế, hành trình

tìm kiếm và nghiên cứu biểu tượng trong

nghệ thuật tạo hình là hành trình khám phá

con đường trở về cội nguồn văn hoá và

cũng là cuộc hành trình hướng đến những

giá trị chân - thiện - mĩ của con người Tranh dân gian Đông hồ là một trong những thành tố có tính đặc thù của nền văn hóa, trải qua hơn 500 năm tồn tại và phát triển nó đã trở thành bức tranh sinh động

đa sắc màu về thế giới biểu tượng Trong

đó nhóm biểu tượng Vô Ngã dù xuất phát

từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng đã được các nghệ nhân Đông Hồ chuyển hóa qua hình tượng nghệ thuật một cách sáng tạo Điển hình là những hình tượng được

Trang 2

tạo dựng trong ba tác phẩm Thổi sáo trên

lưng trâu; Thả diều trên lưng trâu và Cá

chép trông trăng Các tác phẩm này đã trở

thành những biểu tượng nghệ thuật tiêu

biểu biểu đạt cho thế giới quan, nhân sinh

quan và khát vọng vươn lên xây dựng cuộc

sống tươi đẹp, ấm no hạnh phúc của người

dân lao động vùng Kinh Bắc xưa

2 Nội dung

2.1 Khái niệm biểu tượng và

biểu tượng Vô ngã

+ Biểu tượng

Biểu tượng (symbol) là thuật ngữ xuất

hiện rất sớm từ ngôn ngữ cổ châu Âu

(trong tiếng La Mã gọi là symbolus và

trong tiếng Hy Lạp gọi là symbolon) Xuất

phát từ mục đích sử dụng của các ngành

khoa học mà thuật ngữ này có sự biến ảo

cả về sắc thái lẫn ý nghĩa

Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng

có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là hình ảnh

tượng trưng, nghĩa thứ hai là hình ảnh

nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình

ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc

khi tác động của sự vật vào giác quan ta

đã chấm dứt [6; tr 140]; Đồng với quan

điểm trên, Từ điển Tiếng Việt của Viện

Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Ngôn

ngữ học lại cho ví dụ cụ thể hơn, biểu

tượng có hai nghĩa: “1) Hình ảnh tượng

trưng Chim bồ câu tượng trưng cho hòa

bình 2) Hình thức nhận thức, cao hơn

cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn

giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của

sự vật tác động vào giác quan ta đã chấm

dứt” [7; tr 80]; Với từ điễn Oxford

Advancer lean’s Dictionary (2000) xem

“biểu tượng là một người, một vật hay

một sự kiện tượng trưng cho cái chung

hay một tình huống nào đó” [9, tr 780];

Còn Từ điển biểu tượng của J.E Cirlot thì

giải thích rằng: “những gì được gọi là biểu

tượng khi nó được một nhóm người đồng

ý rằng nó có nhiều hơn một nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” [8; tr 25] Từ các khái niệm trên, chúng ta thấy rằng biểu tượng là một thuật ngữ có nội hàm phong phú, đa dạng, tùy theo ngữ cảnh mà biểu tượng được giải thích một cách cụ thể hoặc có tính bao quát

Trong bài viết này, chúng tôi vận dụng lý thuyết biểu tượng, triết học, tư tưởng Phật giáo vào giải mã biểu tượng

“Vô ngã” trong tranh dân gian Đông Hồ

Qua đó, chỉ ra các tầng nghĩa văn hoá cũng như lối tư duy hình tượng đặc trưng của nghệ nhân dân gian Đông Hồ trong việc chuyển hóa biểu tượng thành hình

tượng nghệ thuật trong ba tác phẩm: Thổi sáo trên lưng trâu, Thả diều trên lưng trâu

và Cá chép trông trăng

+ Biểu tượng Vô ngã

Trang Tử, một nhà triết học uyên bác của Trung Hoa cổ đại là người kịch liệt phản đối xem con người cá nhân là trung tâm của vũ trụ Ông cho rằng: “Cái tôi là một giới hạn trong không gian và thời gian, chỉ có quên tôi, quên vật (vong ngã, vong

kỷ, vong vật), đạt tới cõi vật ngã lưỡng vong, vô kim cổ thì con người mới có thể hòa đồng với vũ trụ, sống một cuộc đời vô tận, vô cùng” [3; tr 74] Nói như vậy không

có nghĩa là phủ định cá nhân một cách giản đơn, mà lại là một sự khẳng định cá nhân

trong giới hạn khác, giới hạn của Vô ngã

Nơi đó con người được trở về bản tính tự nhiên, tự do, thoát khỏi luân lý và chính trị theo kiểu Nho giáo đầy rẫy những trói buộc, nặng về công danh

Theo Đại đức Thích Phước Tiến:

“Khái niệm Vô ngã của Phật giáo bắt nguồn từ khái niệm Ngã, một thuật ngữ

được dịch từ tiếng Ba Li gọi là atman để chỉ một ngã bản thân con người, cái tôi

Trang 3

con người trong bản thân con người, một

tiểu ngã trong đại ngã (anatman) của con

người Còn Ngã trong tiếng Anh gọi là

ego hoặc là self là từ chỉ một bản ngã, là

cái tôi, cái hình thành nên bản chất, cá

tính của mỗi con người” [5] Xét trong thế

đối lập với Bản ngã, Vô ngã là biểu hiện

của một chủ thể bất biến, vĩnh cửu, vượt

ra khỏi mọi giới hạn của không gian và

thời gian Chủ thể này có thể hữu hình, có

thể vô hình, có thể nằm ngoài mọi đối

tượng cụ thể và cũng có thể nằm trong tất

cả những đối tượng

Để diễn giải khái niệm Vô ngã, Phật

pháp mô tả quá trình vận động của 12 yếu

tố (Thập nhị nhân duyên) Qua đó, mỗi

một sự vật hay hiện tượng đều nằm trong

quy luật sinh - trụ - dị - diệt (vô thường)

và tiến triển theo 12 bước (vô mình - hành

- thức - danh sắc - lục nhập - xúc - thọ - ái

- thủ - hữu - sinh - lão tử) Mười hai bước

này vừa tương tác lẫn nhau vừa đồng sinh

đồng diệt trong một sát na Nói một cách

khái quát: do cái này sinh khởi nên cái kia

sinh khởi, do cái này diệt vong nên cái kia

diệt vong Dân gian gọi nôm na: “Có lửa

mới có khói” Còn triết học duy vật biện

chứng thì cho rằng: “thế giới không có gì

ngoài vật chất, bản chất của thế giới là vật

chất; thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô

tận, không tự sinh ra và cũng không tự

mất đi mà chỉ chuyển hóa lẫn nhau từ

dạng này sang dạng khác; chúng là nguồn

gốc, là nguyên nhân và là kết quả của

nhau” [2; tr 289]

Với người dân Kinh Bắc, may mắn

hơn khi được cư ngụ trên mảnh đất được

xem là cái nôi phật giáo Đại Việt, xác lập

vào triều đại nhà Lý Trải qua biết bao

thăng trầm lịch sử, tư tưởng phật giáo đã

lắng lại như những trầm tích văn hóa,

phóng chiếu năng lượng vào tâm thức dân

gian, tạo ra nét đặc trưng trong tư tưởng sáng tác của các nghệ nhân Đông Hồ, khiến nó không hề trộn lẫn với bất kỳ một dòng tranh dân gian nào khác

Triết lý vô ngã của tranh Đông Hồ là biểu hiện của sự giải thoát, vượt lên bản ngã đời thường, cái bản ngã đã dồn nén

con người đến chỗ cùng cực Thêm nữa, trong điều kiện xã hội có nhiều tập đoàn phong kiến nổi lên, đấu đá, tranh dành, vơ vét tài sản của dân chúng để củng cố quyền lực, dồn ép tầng lớp người lao động đến chỗ lầm than Đã tạo xung lực mạnh mẽ dẫn họ tìm đến tôn giáo, nghệ thuật như liệu pháp tinh thần, giả lập bản thể tâm hồn

để vượt qua thực tại khắc nghiệt

Với cách hiểu như vậy, tác phẩm Thổi sáo trên lưng trâu, Thả diều diều trên lưng trâu, Cá chép trông trăng là một hình thức phóng chiếu, giải phóng tâm hồn đến cảnh

giới vô ngã, tự do, tự tại, hòa nhập với thiên nhiên vũ trụ

2.2 Tính Vô ngã trong tranh dân gian

Đông Hồ qua ba tác phẩm: Thổi sáo trên lưng trâu; Thả diều trên lưng trâu; Cá chép trông trăng

+ Thổi sáo trên lưng trâu

Chăn trâu thổi sáo là hình ảnh quen thuộc mang dấu ấn văn hóa đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước, là biểu tượng cho mối quan hệ cộng sinh, gần gũi, gắn bó giữa con người với vật nuôi trong đời sống

thôn quê xưa Tục ngữ có câu: “Con trâu

là đầu cơ nghiệp”, quả đúng như vậy, đất

nước ta đã trải qua thời kỳ dài trong lịch sử

có trên 90% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp Hoạt động cày xới phụ thuộc hoàn toàn vào sức kéo của trâu, do đó con trâu

có vị thế hết sức quan trọng trong đời sống nông thôn Trâu không chỉ là vật nuôi mà còn là hiện thân cho các giá trị tinh thần, biểu hiện cho sức mạnh bền bỉ, dẻo dai;

Trang 4

cho đức tính hiền lành, chịu thương, chịu

khó; là hiện thân đời sống nông nghiệp…

đồng thời là đề tài hấp dẫn cho các loại

hình nghệ thuật khám phá, thể hiện

Hình 3.1 Thổi sáo trên lưng trâu

Bên cạnh biểu tượng trâu, chú bé mục

đồng cũng là một biểu hiện sinh động cho

những ký ức tuổi thơ, gắn liền với nếp

sinh hoạt chăn trâu, thả diều, bắt cá…

Song đứng trên bình diện biểu tượng chú

bé mục đồng còn mang nhiều lớp nghĩa

khác nữa tùy thuộc vào cấu trúc biểu

tượng Cũng có khi chú bé mục đồng là

hiện thân của bản tính tự nhiên con người,

nhưng cũng có khi mang ý nghĩa là sự

khởi đầu của một kiếp người…

Để hiểu được ý đồ sáng tác của nghệ

nhân Đông Hồ trong tác phẩm Thổi sáo

trên lưng trâu, chúng ta không thể không

chú ý đến hình ảnh sen - một hình tượng

tưởng chừng như chỉ mang tính chất phụ

họa, song thiếu nó bức tranh chỉ là một bản sao của hiện thực Sen không chỉ là một loài hoa có cấu trúc đẹp mà còn mang những phẩm chất cao quý, thoát tục, thanh khiết, tinh khôi gắn liền với tư tưởng phật giáo Trong tâm thức dân gian, sen được ví với người có khí chất thanh bạch, thâm trầm nhưng đầy bản lĩnh, sống nơi bụi trần nhưng không bị ràng buộc, cám dỗ bởi lợi danh…

Nếu như các nhà nghiên cứu mĩ thuật Nguyễn Bá Vân, Chu Quang Trứ, Nguyễn Phi Hoanh, Nguyễn Khắc Phi, Phạm Thị Chỉnh… luôn chú ý đến vẻ đẹp của hình tượng chú bé mục đồng ngồi vắt vẻo thổi sáo trên lưng trâu với lá sen che đầu, đặt trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, ở thế tương quan loại hình nghệ thuật

có tính đồng đại Thì các nhà nghiên cứu văn hóa lại đặc biệt chú ý đến nguồn gốc

và ý nghĩa của các cổ mẫu chứa đựng giá

trị văn hóa trong đời sống cộng đồng Điển hình cho hướng nghiên cứu này là công

trình Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam của Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Trong đó, ông đặc biệt chú trọng đến các dấu hiệu biểu trưng cho triết lý Đông phương thâm trầm Đó là hình ảnh có tính phá chấp trong quan niệm phật giáo được thể hiện qua hình tượng chú bé mục đồng ngồi lên hoa sen; hay dòng chữ “Diệp cái

hà thanh thanh” (một chiếc lá sen che trời xanh) được ông liên hệ với hình tượng cây nêu, biểu tượng thái cực trong văn hóa Lạc Việt [1; tr 79]

Với hai hướng nghiên cứu như đã trình bày, xét thấy giữa họ đã có sự bổ sung cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên đứng trên quan điểm tiếp cận biểu tượng,

chúng tôi nhận thấy tác phẩm Thổi sáo trên lưng trâu còn có một giá trị mang tính biểu

trưng cần được nghiên cứu, đó là biểu

Trang 5

tượng Vô ngã [H 3.1]

Trong số các công trình bàn về tính

chất của biểu tượng, chúng tôi đặc biệt lưu

ý đến cuốn Ký hiệu học Văn hóa của

Nguyễn Tri Nguyên Theo tác giả biểu

tượng gồm ba tính chất cơ bản: “1) Tính

thống nhất giữa cấp độ bản thể và cấp độ

biểu hiện; 2) Tính quy ước và tính võ đoán;

3) Tính đa nghĩa và tính linh hoạt” [4; tr

127 - 132]

Với tác phẩm Thổi sáo trên lưng trâu,

nếu xét biểu tượng Vô ngã ở tính chất thứ

nhất thì cái biểu đạt (hình ảnh trâu, chú bé

mục đồng, hình ảnh sen) và cái được được

biểu đạt (bản thể đời sống nông nghiệp,

bản tính tự nhiên con người và tư tưởng

giải thoát phật giáo) đã có sự thống nhất

giữa cấp độ vật chất và cấp độ tinh thần

Trong trường hợp thứ hai tính quy ước

(bản thể đời sống nông nghiệp, bản tính tự

nhiên con người và tư tưởng giải thoát phật

giáo) không đồng nhất với tính võ đoán (vô

ngã), bởi mối liên hệ nội tại giữa vật biểu

(trâu, chú bé mục đồng, sen) và hàm biểu

(vô ngã) đã bị nhòe mờ Khi đó biểu tượng

Vô ngã mang bản chất ngôn ngữ nghệ thuật

- tín hiệu thẩm mĩ Xét về mặt cấu trúc, hệ

thống tín hiệu thẩm mĩ (vô ngã) lấy ngôn

ngữ tự nhiên (trâu, sen, chú bé) làm chất

liệu để biểu đạt Do đó, hệ thống tín hiệu

thẩm mĩ trong trường hợp này là một biểu

tượng nghệ thuật hàm biểu, biểu tượng Vô

ngã Ở tính chất thứ ba, biểu tượng Vô ngã

cũng được thể hiện ở tính đa nghĩa tồn tại ở

cả bình diện hệ thống, trừu tượng (ý nghĩa

biểu trưng của hình tượng) và bình diện

hoạt động cụ thể của đối tượng (hình thức

biểu đạt của tác phẩm) Mặt khác, ý nghĩa

biểu tượng không phải là một ý nghĩa ổn

định mà là một tiềm năng Vì thế khả năng

biểu hiện và khai thác ý nghĩa của biểu

tượng cũng được thực hiện ở nhiều cấp độ

khác nhau

Tóm lại, Thổi sáo trên lưng trâu là

một biểu tượng điển hình thuộc nhóm biểu

tượng Vô ngã, thể hiện cho sự vượt lên bản

ngã cá nhân để đạt đến bản tính tự nhiên,

tự do, tự tại hòa nhập với thiên nhiên vô cùng vô tận

+ Thả diều trên lưng trâu Thả diều trên lưng trâu cũng là một biểu hiện của triết lý Vô ngã [H 3.2], tuy

nhiên các biểu hiện triết lý Vô ngã ở tác phẩm này mang đậm dấu ấn dân gian và có

phần trực tiếp hơn tác phẩm Thổi sáo trên lưng trâu, thể hiện qua việc tác giả lựa

chọn biểu tượng hoa cúc và nón mê để bổ sung ý nghĩa cho khát vọng giải thoát của con người trước đời sống thực tại Chúng

ta đều biết nón mê là một thuật ngữ văn hóa để chỉ một loại nón lá ở trạng thái cũ

kỹ, bình dị Trong bài thơ Ngồi buồn nhớ

mẹ ta xưa của Nguyễn Duy có câu:

“Mẹ tôi không có yếm đào Nón mê thay nón quai thao đội đầu”

Hình 3.2 Thả diều trên lưng trâu

Trang 6

Nguyễn Duy đã tạo ra hai hình tượng

đối lập giữa yếm đào và nón mê, đặt trong

trạng thái không và có để chỉ hoàn cảnh,

thân phận của mẹ trong xã hội Với ý nghĩa

tương tự như vậy, nón mê trong tác phẩm

Thả diều trên lưng trâu là một hình ảnh có

tính biểu tượng, biểu đạt cho đời sống bình

dị của người dân vùng thôn quê Song

trong sự bình dị, chất phác, mộc mạc đó lại

chứa đựng nguồn nội lực và ý chí vươn lên

mạnh mẽ như Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã

cảm nhận: “Chiếc nón vốn đội trên đầu chú

bé mục đồng lại bay bổng lên cao như sự

vươn lên của trí tuệ” [1; tr 81]

Thêm một hình tượng có tính biểu

trưng nữa đó là hoa cúc được các nghệ

nhân điểm xuyết lên thân trâu, sắp xếp

theo hướng vươn lên với cánh diều, biểu

hiện cho mối liên hệ giữa ước mơ bay cao

khám phá thế giới của con người Trong

cảm quan người Việt, hoa cúc mang ý

nghĩa tượng trưng cho mùa thu, sự vĩnh

cửu, chung thủy, thanh cao, trong sáng…

Nếu như biểu tượng hoa sen biểu thị cho

sự chân tu, thoát tục của phật giáo thì biểu

tượng hoa cúc mang màu sắc thế tục

nhiều hơn

Điểm nhấn của tác phẩm là hình ảnh

con trâu và chú bé mục đồng được nghệ

nhân thể hiện rất động Tư thế chú bé nằm

trên lưng trâu giong diều thật thoải mái làm

sao, trâu và bé phối hợp với nhau nhịp

nhàng đến mức chúng ta có cảm giác thân

thiết tự nhiên như những người bạn, một

biểu hiện của sự hòa hợp giữa con người

với thiên nhiên

Như vậy, với việc sử dụng biểu tượng

chú bé mục đồng thả diều bằng nón mê,

trâu và hoa cúc các nghệ nhân Đông Hồ

đã tạo nên một biểu tượng thẩm mĩ hàm

biểu mang ý nghĩa giải thoát bản ngã

trong dân gian

+ Cá chép trông trăng

Hình 3.3 Cá chép trông trăng

Nằm trong nhóm biểu tượng thể hiện

triết lý Vô ngã nhưng Cá chép trông

trăng [H 3.3] lại có một hình thức biểu

trưng hoàn toàn khác so với hai tác phẩm

Thổi sáo trên lưng trâu và Thả diều trên lưng trâu

Ở bức tranh này nghệ nhân không sử dụng hình tượng con người hay vật nuôi quen thuộc để thể hiện tư tưởng sáng tác

mà sử dụng hình tượng cá chép, một loài

cá sống trong môi trường tự nhiên để biểu đạt cho khát vọng và triết lý sống của con người Truyền thuyết kể rằng: Vào năm nọ trời hạn hán, vì số Rồng quá ít, không đủ làm mưa xuống khắp mọi nơi nên Ngọc Hoàng mới đặt ra một kì thi chọn các con vật lên làm Rồng Cuộc thi có ba kì, mỗi kì vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức,

Trang 7

đủ tài, vượt được cả ba đợt thì mới được

hóa Rồng Nếu như Cá Rô chỉ vượt qua

được đợt sóng thứ nhất, Tôm vượt qua

được đợt sóng thứ hai thì Cá Chép phóng

luôn một lượt vượt qua cả ba con sóng và

hóa thành Rồng Theo truyền thuyết, để đạt

được thành công đó Cá Chép phải tự chặt

vây, vứt hết vẩy cả, chịu đau đớn mới có

thể hóa Rồng, vì thế ngoài tài ba, con cá

còn phải biết hy sinh, phải chấp nhận đối

mặt với thử thách Cá ước mơ hóa rồng,

cũng như con người mong ước trở thành

những con người tốt đẹp, có bản lĩnh, trí

tuệ để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc

viên mãn Thông qua hình tượng Cá Chép

hóa Rồng người ta còn muốn đề cập tới

vấn đề con người muốn đạt được ước mơ

thì phải tu thân lập chí chứ không thể ngồi

mong chờ may mắn được

Trong văn hóa Việt Nam hình ảnh cá

chép xuất hiện rất nhiều trong những dịp lễ

tết như Cá chép chơi trăng đi vào trong

những chiếc bánh trung thu đêm rằm tháng

tám, là con vật được chọn trong lễ phóng

sinh trong ngày rằm tháng bảy của Phật

giáo Thậm chí cá chép còn là phương tiện

đi lại của Táo Quân khi về chầu trời vào

dịp 23 tháng chạp hàng năm, một số nơi

còn coi cá chép là cá thần, cá thiêng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh

cho rằng: “Hình tượng cá chép trong tranh

kết hợp với một hình tượng quy ước làm

nên tính minh triết của bức tranh Đó chính

là mặt trăng và bóng trăng soi đáy nước

Trên thực tế, không có bóng trăng soi đáy

nước, mà chỉ có bóng trăng soi mặt nước”

[1; tr 83] Tuy nhiên, chúng tôi lại xem

bóng trăng ở đáy nước là ảo ảnh của ánh

trăng trên không gian, đây là một hình ảnh

giả lập có tính biểu tượng trong tư tưởng

Phật giáo, thể hiện quan niệm giải phóng

bản thân, vượt qua bản ngã, tìm đến bản

tính tự nhiên của con người để có được cuộc sống tự do tự tại

3 Kết luận

Biểu tượng Vô ngã trong tranh dân

gian Đông Hồ là những biểu tượng được chuyển hóa thành hình tượng nghệ thuật

trong ba tác phẩm Thổi sáo trên lưng trâu; Thả diều trên lưng trâu và Cá chép trông trăng Trong ba tác phẩm này, biểu tượng

Vô ngã mặc dù được thể hiện ở nhều hình

thức với các mức độ tư duy nghệ thuật khác nhau, song nhìn chung chúng đã đạt đến trình độ biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu biểu đạt cho tư tưởng giải thoát, vượt qua thực tại khắc nghiệt, giải phóng tâm

hồn con người đến cảnh giới Vô ngã, tự do,

tự tại, hòa nhập với thiên nhiên vũ trụ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cơ chế thị trường cùng với khả năng liên kết thông tin bằng công nghệ số đã đưa con người sống trong các quốc gia, châu lục xích lại gần nhau, bổ sung cho nhau, mang đến nhiều lợi ích cho con người cả

về vật chất lẫn tinh thần Mặt khác vòng xoáy toàn cầu hóa cũng tạo thêm nhiều áp lực cho đời sống của mỗi cá nhân, làm mất cân bằng tâm lý, hình thành tư tưởng tiêu cực, dẫn đến những hành động sai lầm gây hậu quả nghiêm trọng Vì thế chế ngự bản ngã, lạc quan vượt qua nghịch cảnh là cách

để mỗi người rèn luyện, tu dưỡng cho tâm

trong sáng, an lạc trước những biến đổi nhanh chóng của nhịp sống hiện đại

Việc giữ gìn và phát huy các giá trị

biểu tượng Vô ngã của tranh dân gian

Đông Hồ trong mĩ thuật Việt Nam hiện đại là hết sức cần thiết Bởi qua đó không những bảo tồn được nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc mà còn làm phong phú tâm hồn, chiều sâu văn hóa và năng lực khái quát hình tượng nghệ thuật của người nghệ sĩ

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2001), Tính minh triết

trong tranh dân gian Việt Nam, Nxb VHTT

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình

triết học (dùng cho học viên cao học và

nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành

Triết học), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

3 Phương Lựu (2000), Đạo gia và văn hoá Việt

Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

4 Nguyễn Tri Nguyên, Cung Dương Hằng

(2015), Ký hiệu học văn hóa, Giáo trình đại

học, Nxb Thông tin và truyền thông Hà Nội

5 ĐĐ Thích Phước Tiến (2016), bài giảng Vô

ngã giữa đời thường, nguồn:

https://www.youtube.com/watch?v=OjBa9X0

vqhg, đăng ngày 12/02/2012

6 Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn

Quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn

hóa Sài Gòn, TP Hồ Chí minh

7 Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Ngôn

ngữ học (1995), Từ điển Tiếng Việt, Hoàng

Phê chủ biên

Tiếng Anh

8 J.E Cirlot (1971), A dictionary of symbols,

translated from the Spanish by Jack Sage, second edition published in the Taylor & Francis e-Library, 2001

9 Oford Advanced Learn’s Ditionary (2000),

sixth edition, Oford University Press

Ngày nhận bài: 27/01/2017 Biên tập xong: 15/3/2017 Duyệt đăng: 20/3/2017

Ngày đăng: 24/10/2020, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w