Cuộc chia li giữa nhân dân ViệtBắc và những người cán bộ cách mạng được diễn tả như là cuộc chia tay của một đôi bạn tìnhđầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến… -Với hình thức một khúc giao d
Trang 1TUYÊN NGƠN ĐỘC LẬP (Hồ Chí Minh) PHẦN I : TÁC GIA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH
I TIỂU SỬ : (1890 -1969)
- Quê quán : tỉnh Nghệ An
- Tên thật : Nguyễn Sinh Cung ,các tên khác Nguyễn Tất Thành ( thời dạy học ) ; Nguyễn
Ái Quốc , Hồ Chí Minh
- Gia đình: cĩ truyền thống khoa bảng , bản thân biết nhiều thứ tiếng ( tự học ).
- Thời kì hoạt động cách mạng:
+ 1911 ra đi tìm đường cứu nước
+ 1919 gởi yêu sách của dân An Nam về quyền tự do bình đẳng đến hội nghị Vecxay
+ 1920 dự đại hội Tua , là một trong những thành viên sáng lập Đảng CS Pháp
+ 1925 thành lập VN thanh niên CM đồng chí hội và hội liên hiệp bị áp bức Á Đơng + 1930 thành lập Đảng CSVN tại Hương Cảng (TQ)
+ 1941 bí mật về nước lãnh đạo nhân dân đánh Pháp , đuổi Nhật
+ 1945 đọc bản “ tuyên ngơn độc lập ” , khai sinh nước VNDCCH và được bầu làm chủtịch cho đến ngày qua đời (02/9/1969)
- Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh HCM, Tổ chức UNESCO công nhận vàsuy tơn Người là “Anh hùng giải phĩng dân tộc, Danh nhân văn hĩa thế giới”
- Bên cạnh sự nghiệp CM vĩ đại, Người cịn để lại di sản văn học quý giá Người là nhàvăn, nhà thơ lớn của dân tộc
II SỰ NGHIỆP VĂN HỌC :
1 Về quan điểm sáng tác :
- Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng Nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, gĩp phần đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội Quan
điểm này thể hiện rõ trong hai câu thơ: “Nay ở trong thơ nên cĩ thép - Nhà thơ cũng phải biết
xung phong” (“Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”) và trong Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951, Người lại khẳng định: “Văn hố nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ
trên mặt trận ấy”
- Hồ Chí Minh luơn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương Tính
chân thật được coi là một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật Người nhắc nhở người nghệ
sĩ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và đề cao sự sáng tạo, chớ gị bĩ họ vào khuơn, làm mất vẻsáng tạo
- Khi cầm bút, Hồ Chí Minh luơn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm Người luơn đặt câu hỏi: Viết cho ai? (đối tượng),
(viết để làm gì? (mục đích); sau đĩ mới quyết định Viết cái gì? (nội dung) và Viết thế nào? (hìnhthức)
=> Giữa quan điểm sáng tác và sự nghiệp văn học của người cĩ sự thống nhất cao độ vànhất quán Chính điều này tạo nên sự đa dạng, phong phú trong văn chương của Người
2 Di sản văn học : Sáng tác chủ yếu trên 3 lĩnh vực.
a Văn chính luận ( luận chiến ):
- Mục đích : phục vụ nhiệm vụ CM , đấu tranh chính trị
- Nội dung : lên án thực dân Pháp , kêu gọi thức tỉnh nơ lệ , đấu tranh giải phĩng dân tộc
- Nghệ thuật : văn ngắn gọn , dễ hiểu , lí lẽ đanh thép , thuyết phục , thủ pháp linh hoạt.
- Tp tiêu biểu : Bản án chế độ thực dân Pháp , Tuyên ngơn độc lập , Di chúc …
Trang 2b Truyện kí : Gồm những sáng tác bằng tiếng Pháp, sáng tác khi Bác hoạt động ở nước ngoài ( 1922-1925)
- Nội dung : lên án thực dân , tay sai , dự báo khả năng phát triển của CM.
- Nghệ thuật : cô đọng , cốt truyện sáng tạo , kết cấu độc đáo , ý tưởng thâm thúy , lạc
quan , phong cách hiện đại
- Tác phẩm tiêu biểu : Con rồng tre, Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội
+ “Thơ chữ Hán”: viết về đề tài kháng chiến, tình bạn và những tâm tình riêng
3 Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh : Phong cách nghệ thuật HCM độc đáo,
đa dạng:
- Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy
thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp Văn chính luận àm vẫn thấm đượm tìnhcảm, giàu hình ảnh Giọng văn khi ôn tồn, thấu tình đạt lí; khi đanh thép, mạnh mẽ hùng hồn
- Truyện và kí : hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén.
- Thơ ca: thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh Có sự hòa hợp độc
đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại; giữa chất trữ tình và chất thép; giữa sự trong sánggiản dị và sự hàm súc, sâu sắc
III KẾT LUẬN :
- Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là
một nhà văn , nhà thơ lỗi lạc Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh cho thấy Người không chỉ làmột nhà thơ trữ tình lớn mà còn là một cây bút chính luận tài năng
- Văn thơ HCM thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu thương & tâm hồn cao cả của Người , làtiếng nói đấu tranh , niềm lạc quan , tin tưởng , mang giá trị và bài học tinh thần phong phú
Tác phẩm ra đời vào thời điểm đặc biệt của lịch sử dân tộc: Chính quyền cách mạng non
trẻ vừa mới thành lập đã phải đối mặt với nhiều thử thách khó khăn Các thế lực phản động trong
Trang 3và ngoài nước đang cấu kết với nhau hòng tước đoạt thành quả CM mà cả dân tộc vừa giành lại
bằng xương máu của bao thế hệ Vào thời điểm đó tại phía Bắc, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đang ngấp nghé ở cửa biên giới, đằng sau là đế quốc Mĩ muốn can thiệp vào Đông Dương.Ở phía Nam, lính viễn chinh Pháp nấp sau lưng quân đội Anh(thay mặt Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương Bác viết bản Tuyên ngôn khi biết rõ âm mưu đó của Anh, Pháp và Mĩ.
b.Mục đích sáng tác:
-Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân – phong kiến
- Tuyên bố quyền độc lập trước quốc dân đồng bào; vạch trần , bác bỏ những luận điệuxảo trá, ngăn chặn âm mưu đen tối của những thế lực thù địch và cơ hội quốc tế, nhất là Phápđang muốn tái chiếm đất nước ta
2 Đối tượng bản tuyên ngôn hướng tới:
- Đồng bào cả nước
- Nhân dân thế giới và đặc biệt là bọn thực dân đế quốc đang có âm mưu xâm lược nước
ta, nhất là Pháp
3 Bố cục: 3 phần
a.Phần 1: Nêu nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn
b.Phần 2: Bản luận tội thực dân Pháp, quá trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta c.Phần 3:Lời tuyên bố với thế giới về độc lập tự do của dân tộc
=> Mạch lập luận thuyết phục người đọc ở tính lôgic chặt chẽ: từ cơ sở lí luận đối chiếuvào thực tiễn, rút ra kết luận phù hợp, đích đáng để không thể không công nhận
II NỘI DUNG CƠ BẢN: Tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập được đánh giá là áng văn
chương mẫu mực của thời đại
1.Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập:
a.Hồ Chí minh nêu nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn: Đó là quyền bình đẳng, quyền sống tự do, sung sướng, hạnh phúc của mỗi một cá nhân, mỗi một dân tộc.
Chân lí đó không ai “chối cãi được” vì nó đã rành rành ghi lại trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” năm 1791 của Pháp Đây là
những văn kiện lịch sử có tầm vóc toàn nhân loại, đã nêu cao quyền con người
Khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, là nguyên lí thiêng liêng, caođẹp của thời đại
- Cách trích dẫn dùng đòn “gậy ông đập lưng ông” như thế để mở đầu cho bản Tuyênngôn là vừa khéo léo, mềm mỏng, vừa cứng cỏi,kiên quyết Khéo léo mềm mỏng bởi vì HCM
tỏ ra rất trân trọng những tuyên ngôn bất hủ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp Cứng cỏi, kiênquyết vì Bác muốn ngăn chặn âm mưu xâm lược nước ta của Pháp và Mĩ Nếu họ cố tình đingược lại chân lí đã được khẳng định trong bản Tuyên ngôn tức là họ đã phủ nhận chính tổ tiênmình, làm vấy bẩn lá cờ nhân đạo đã từng là niềm tự hào của cha ông họ
b Đóng góp, sáng tạo của Hồ Chí Minh:
-Từ nguyên lí chung về quyền con người làm tiền đề vững chắc cho lập luận, Hồ ChíMinh đã suy rộng ra về quyền sống, quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc trên thế giới, trong
đó có dân tộc Việt Nam qua câu : “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là…quyền sung sướng và quyền tự do”
Lời suy rộng ra trên được đánh giá là một đóng góp có ý nghĩa quan trọng của HCM
Trang 4vào phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới Nó là phát súng lệnh mở đầu cho cơn bãotáp cách mạng, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân, giành độc lập ở các nước thuộc địa.
-Chỉ trong một đoạn văn ngắn, chúng ta đã thấy được cách lập luận chặt chẽ, cách dùngvăn chương để đánh địch khéo léo, hiệu quả của HCM Bên cạnh đó, đoạn văn còn cho thấyniềm tự hào kín đáo của Bác khi Người đặt ba bản Tuyên ngôn, ba cuộc cách mạng ngang hàngnhau; trong đó cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc thực hiện được hai nhiệm vụ mà cáchmạng Pháp và cách mạng Mĩ đã làm: độc lập dân tộc và tự do dân chủ
- Cách mở bài rất đặc sắc, từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi
đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc Câu văn “Đó là những
lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập,
Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ
- Cách đặt vấn đề rất hay, hùng hồn và trang nghiêm Người không chỉ nói với nhân dânViệt Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2 vừakết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thếgiới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm ĐôngDương làm thuộc địa của bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng.Nói “lẽ phải” tức là nóiđến chân lí khách quan, đúng đắn, thuyết phục được mọi người và được mọi người thừa nhận
Và như thế là HCN đã bác bỏ được mọi lời “chối cãi” đi ngược với “lẽ phải”
2 Bản cáo trạng tội ác của thực dân Pháp và quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:
a Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp:
-Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.
-Pháp kể công khai hóa đối với Việt Nam, thì bản Tuyên ngôn đã chỉ ra:
Năm tội ác về chính trị: 1- tước đoạt tự do dân chủ, 2- luật pháp dã man, chia để
trị, 3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngudân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện
Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất
cảng và nhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế cácnhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta
của thực dân Pháp, trái hẳn với chính sách khoan hồng và nhân đạo của Việt Minh
b Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:
- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địacủa Pháp nữa Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh
- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độDân chủ Cộng hoà Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị
- Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn bị chấm dứt và xoá bỏ
- Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể
Trang 5không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:
“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gangóc về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do Dân tộc đó phảiđược độc lập
Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế
và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những
lí lẽ đanh thép, hùng hồn
3 Lời tuyên bố với thế giới:
- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập (cơ sở pháp lí), và sự thật đãthành một nước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng xươngmáu và lòng yêu nước)
III VĂN PHONG CỦA HCM QUA BẢN TUYÊN NGÔN:
-Hàm súc cô đọng về nội dung, tư tưởng (tư tưởng lớn lao được hàm chứa trong mộthình thức ngắn gọn)
-Sắc sảo, chặt chẽ về mặt tư duy, lập luận đanh thép
-Bằng chứng xác thực, có sức thuyết phục
-Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu tính biểu cảm
* LUYỆN TẬP:
ĐỀ 1: Hãy phân tích và chứng minh Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực
của thời đại
ĐỀ 2: Hãy bình luận ngắn về tên bài Tuyên ngôn Độc lập
ĐỀ 3: Tư tưởng nhân văn trong Tuyên ngôn độc lập
-TÂY TIẾN (Quang Dũng)
I GIỚI THIỆU CHUNG : ( Tác giả - Tác phẩm)
- Quang Dũng là một trong những nhà thơ nổi bật trong thơ ca thời kì kháng chiến chốngPháp với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa Hai nguồn mạch cảm hứngquan trọng trong thơ Quang Dũng chính là xứ Đoài- quê hương yêu dấu và người lính Tây Tiến-đơn vị quân đội mà nhà thơ từng tham gia
- “Tây Tiến” là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách
nghệ thuật của nhà thơ
+ Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948, ghi lại những kỉ niệm của nhà thơ về đoàn
quân Tây Tiến Lúc đầu, bài thơ có tên là “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi thành “Tây Tiến”, được in trong tập “Mây đầu ô” (1986).
+ Cảm hứng chủ đạo của bài thơ chính là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồngđội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến Đặc biệt, bài thơ đã khắc họa thành cônghình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng, vừa hào hùng lạirất đỗi hào hoa
II NỘI DUNG CƠ BẢN:
1/ Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở: (Đọan 1)
* Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không
gian & thời gian
Trang 6a Hai câu đầu: Mở đầu đoạn thơ (bài thơ) là lời thơ mang âm điệu da diết:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- Câu cảm, điệp từ “nhớ” kết hợp với vần “ơi” đã gieo vào lòng người đọc một sức gợi
cảm to lớn Bởi câu thơ đã diễn tả nỗi nhớ của một người không muốn rời xa nơi mà mình đã
từng gắn bó Nỗi nhớ trào dâng bật thành tiếng gọi “Tây Tiến ơi!”.
- Từ láy “chơi vơi” dùng rất sáng tạo đã hình tượng hóa, cụ thể hóa nỗi nhớ Đó là nỗi
nhớ da diết, bồng bềnh, khắc khoải, tràn ngập cả không gian và thời gian Nó như ám ảnh vàhiện hữu trong tâm hồn Quang Dũng
b Sáu câu giữa: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
………
Pha Luông nhà ai mưa xa khơi”
-Nhớ Tây tiến là nhớ những địa danh rừng núi Tây Bắc: Bằng biện pháp liệt kê một
loạt địa danh đầy xa lạ đối với người đọc nhưng lại rất gần gũi với người lính Tây Tiến “Sài Khao, Mường lát, Mường Hịch, Mai Châu, Pha Luông…” đi đôi với những hình ảnh giàu sức
liên tưởng, núi rừng Tây Bắc hiện ra trong kí ức của tác giả hùng vĩ, hiểm trở với cảnh núi cao,dốc thẳm chìm lấp trong mây mù, sương phủ và hình ảnh người lính trèo đèo vượt dốc gian lao,khó nhọc
- Nhớ Tây tiến là nhớ kỉ niệm về những chặng đường hành quân gian khổ:
“Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
………
Pha Luông nhà ai mưa xa khơi”
+ Âm điệu câu thơ biến đổi với nhiều thanh trắc trong câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” và hình ảnh độc đáo “Cồn mây súng ngửi trời” Những từ láy giàu giá trị tạo hình “khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút” cùng thanh trắc với âm sắc cao, trúc trắc khó đọc gợi hình dung con
đường vượt núi cheo leo hiểm trở, men theo những vực sâu thăm thẳm Câu thơ tả đường đi đầykhó khăn, ta như nghe được nhịp thở dồn dập, nặng nhọc của người lính lúc vượt dốc trong độcao ngất trời của núi rừng miền Tây
+ Biện pháp nhân hóa, thậm xưng “ Heo hút cồn mây súng ngửi trời” cho thấy núi cao
phủ mây trời giống như những cồn mây heo hút, mênh mông Đầu súng trên lưng người lính
chạm vào mây núi đã được miêu tả bằng hình ảnh ngộ nghĩnh “súng ngửi trời” thể hiện tính
cách hồn nhiên, tinh nghịch, vui vẻ của những người lính trẻ Họ luôn lạc quan, tìm thấy đượcniềm vui trong gian khổ
+ Trong câu thơ “Ngàn thước… xuống”, tác giả đã sử dụng phép đối lập với hai từ trái nghĩa “lên/ xuống” và điệp từ “ngàn thước” Câu thơ như bẻ đôi, diễn tả con đường hành quân
cực kì nguy hiểm, khó khăn: dốc vút lên chót vót, rồi đổ xuống thăm thẳm, hun hút… Và lúcđoàn quân tạm dừng chân bên dốc núi, phóng tầm mắt nhìn ra xa thì thấy những ngôi nhà củangười dân Pha Luông thấp thoáng sau màn mưa rừng mênh mông như ở giữa biển khơi Câu thơ
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” toàn thanh bằng, gợi nên một không gian mịt mùng sương
rừng mưa núi Câu thơ mang âm hưởng êm ái nhẹ nhàng, thể hiện cảm giác ấm áp, êm ả tronglòng người lính khi họ chinh phục được độ cao của đèo dốc và nhìn thấy nếp nhà sàn sau nhữngngày lặn lội trong núi rừng heo hút. Bốn câu thơ giàu chất họa, kết hợp với những nét vẽ vừagân guốc vừa mềm mại tạo nên âm hưởng đặc biệt
Trang 7c Sáu câu cuối :
- Hình ảnh những đồng đội hi sinh gợi ấn tượng sâu sắc : Trong kí ức về Tây tiến còn cóhình ảnh của những đồng đội đã hi sinh trên chặng đường gian khổ:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Trong chiến đấu, đoàn quân Tây Tiến chịu nhiều đau thương, mất mát Hình
ảnh những đồng đội hi sinh đã để lại trong lòng tác giả ấn tượng sâu sắc Từ « dãi dầu » gợi lên
những thử thách khắc nghiệt của cuộc hành quân: bệnh sốt rét hoành hành, sinh hoạt thiếu
thốn đã làm người lính “không bước nữa, bỏ quên đời” Âm điệu câu thơ chợt trầm và chùng xuống diễn tả bước chân người lính từng bước chậm dần và anh đã “gục lên súng mũ bỏ quên đời” : Bằng nghệ thuật nói giảm, nói tránh “bỏ quên đời”,nhà thơ diễn tả được cái chết thầm
lặng, nhẹ nhàng của người lính trên đường hành quân gian khổ Câu thơ bộc lộ niềm tiếc thương
vô hạn của tác giả về sự hi sinh của đồng đội, đồng thời ngợi ca tinh thần chiến đấu can trường
của người chiến sĩ Tây Tiến Họ hy sinh trong tư thế không bỏ cuộc, chết mà “súng mũ” vẫn bênmình
- Người lính Tây Tiến có ấn tượng đặc biệt về một miền Tây dữ dội hoang sơ, âm uhuyền bí Vì vậy, nhớ Tây Tiến không chỉ là nhớ núi cao dốc thẳm mà còn nhớ những âm thanh
dữ dội của « thác gầm thét, cọp trêu người » Âm thanh của “thác gầm thét” và “cọp trêu ngươi” cùng một lúc đã tỏ rõ hết oai linh tột bậc của núi rừng miền Tây Từ láy «chiều chiều, đêm đêm »
cho thấy sự dữ dội của núi rừng miền Tây luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với ngườilính Tây Tiến Thiên nhiên hoang sơ, bí hiểm đang chực chờ nuốt chửng đoàn quân mỏi mệt
- Nhớ Tây Tiến còn là nhớ về cuộc sống bình dị và tình người ấm áp của nhân dân Tây
Bắc Khép lại đoạn thơ là hai câu thơ thể hiện cảnh tượng thật đầm ấm:
“ Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Từ cảm thán “ôi” giữa câu và từ “mùa em” rất lạ đã gợi được hương vị ngọt ngào ấm
áp của bữa cơm dẻo thơm, những bát xôi ngon ấm tình quân dân khi người lính dừng chân ở cácbản làng…Ta có cảm giác nỗi nhớ da diết đó như bật ra từ trong trái tim tác giả Chính nhữngtình cảm nồng ấm đó đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người lính vượt qua gian khổ, hoànthành nhiệm vụ
* Sơ kết : Với những từ chỉ địa danh, những hình ảnh giàu chất tạo hình, những câu thơ
nhiều vần trắc gối lên những câu thơ nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đoạn thơ mở đầu đãnêu được cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, vềnhững kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến Đặc biệt, đoạn thơ đã khắc họa thành công bức tranhthiên nhiên núi rừng miền Tây vừa hiểm trở, dữ dội vừa hùng vĩ, thơ mộng Và xuất hiện loángthoáng trong cảnh núi rừng hiểm trở là hình ảnh người lính Tây Tiến ngang tàng, rắn rỏi luônbền lòng, vững bước hành quân Hình ảnh đó như hòa vào với rừng núi uy nghi, bí hiểm Núirừng càng hùng vĩ, đường hành quân càng khắc nghiệt thì càng tôn lên chất hào hùng, ý chí kiêncường, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ Tây Tiến
Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ QD
2 Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng : (Đoạn 2 _ 8 câu)
a Bốn câu đầu thể hiện nỗi nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ :
Trang 8« Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
.
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ »
- Ấn tượng mà 4 câu thơ đem đến cho người đọc là cảnh đêm liên hoan văn nghệ củanhững người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi
tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng Từ « bừng » diễn tả không khí lễ hội tưng bừng, sôi nổi.
Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cảcon người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực
- Hai chữ « kìa em » thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui
sướng của người lính Tây Tiến Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái
nơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ trang phục lộng lẫy « xiêm áo tự bao giờ » Các cô vừa e thẹn, vừa tình tứ « e ấp » trong vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ « man điệu » đã
thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến Họ đã nhập cuộc, hòa mình say sưa theo âm điệudìu dặt, đưa hồn vào những giấc mơ, những chân trời chưa tới, xây hồn thơ với bao mộng ước
ngọt ngào « Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ ».
b Bốn câu cuối tái hiện cảnh sông nước miền Tây thơ mộng :
« Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
.
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa »
- Trong bốn câu thơ này, tác giả chỉ phác họa đôi nét, chủ yếu để đánh thức, gợi cảm nhận
ở người đọc Những chữ « có thấy, có nhớ » là hỏi lòng mình đầy bâng khuâng, lưu luyến Cảnh trong thơ tĩnh lặng, buồn Tâm tình con người được gửi trong cái xôn xao nỗi niềm của « hồn lau nẻo bến bờ »
- Ngòi bút tài hoa, tinh tế của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, làm hiển hiện lên trướcmắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên và còn gợi lên cả cái phần hồn của cảnh vật Trên dòngsông đậm màu sắc huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái
trên chiếc thuyền độc mộc Những đóa hoa rừng duyên dáng, tình tứ biết « đong đưa » làm
duyên trên dòng nước lũ Tất cả những cảnh ấy, người ấy làm sao không thấy và không nhớ ?
* Sơ kết : Chất thơ và chất nhạc hòa quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt Thiên
nhiên và con người có sự sóng đôi tạo nên hình ảnh thơ giàu chất trữ tình Bút pháp lãngmạn, tài hoa của tác giả đã khắc họa nên bức tranh đặc sắc về cảnh và người miền Tây, qua đócho thấy tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống của người lính Tây Tiến
3 Chân dung người lính Tây Tiến : (Đoạn 3 _ 8 câu)
a Bốn câu đầu : Khắc họa ngoại hình, khí chất, tâm hồn của người lính Tây Tiên :
« Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm »
- Bằng bút pháp tả thực, hình ảnh người lính Tây Tiến được khắc họa rất gân guốc, độc
đáo : cả đòan quân « không mọc tóc » là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp do
rừng thiêng nước độc, gian khổ thiếu thốn, thuốc men không có
- « Quân xanh màu lá » cũng là thực tế hiển nhiên, một thể chất xơ xác vì đói rét, bệnh
tật Hiện thực nghiệt ngã của chiến trường đã biến những chàng trai Hà Nội ngày nào thành
Trang 9những anh « Vệ trọc » có màu da xanh như lá Hai đặc điểm vừa khác lạ vừa đáng buồn nhưng
nó lại được nhắc đến bằng giọng thơ bình thản pha chút tự hào: các anh ý thức nhiệm vụ mìnhđang thực hiện là đặc biệt gian khổ, không phải ai cũng đảm đương được Những cái đầu
« không mọc tóc » là dấu hiệu khẳng định ý chí, tinh thần chịu đựng, vượt gian khổ của các anh.Hai chi tiết trên với cái nhìn đậm chất lãng mạn của Quang Dũng chẳng những không gợi cảmxúc bi lụy mà ngược lại còn tôn lên vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến Ẩn sau thể chấtxanh xao ấy là khí chất « dữ oai hùm» mạnhmẽ, uy nghi, dữ dội Sức mạnh, sự oai phong lẫmliệt của các anh như những con hổ nơi rừng thiêng đủ sức áp đảo quân thù
- « Mắt trừng » là chi tiết cực tả cái phẫn nộ sôi sục của nội tâm hướng về nhiệm vụ
chiến đấu.Thủ pháp đối lập được sử dụng trong việc khắc họa sự tương phản giữa ngoại hình ốm
yếu và nội tâm mãnh liệt dữ dội, ngang tàng « Mắt trừng » cũng là chi tiết cường điệu thể hiện
tâm trạng băn khoăn trằn trọc, khó ngủ của người lính vì nhớ quê hương, nhớ người thương Sựkhắc nghiệt của chiến trường vẫn không làm xơ cứng tâm hồn các anh, vẫn không làm mất đi
những mơ mộng lãng mạn hào hoa đời thường Đêm đêm, các anh vẫn mơ về Hà Nội với «dáng kiều thơm » « Dáng kiều thơm » gợi vẻ đẹp yêu kiều, thướt tha, thanh lịch của người thiếu nữ
Hà Thành Giấc mơ ấy giúp người người chiến sĩ cân bằng, thư thái tâm hồn sau những chặnghành quân gian khổ chứ không hề làm họ nhụt chí, nản lòng Chính giấc mơ ấy đã trở thànhđộng lực giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thúc giục họ tiến lên phía trước Đó
là sợi dây thiêng liêng của niềm tin mang họ vượt qua bom đạn trở về
Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa Họ là nhữnganh hùng trận mạc, nhưng cũng có tâm hồn lãng mạn, đầy mơ mộng, những trái tim khao khát,rạo rực yêu thương
b Bốn câu cuối : thể hiện tính cách, lý tưởng của người lính Tây Tiến
« Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chằng tiếc đời xanh»
- Bút pháp tả thực « Rải rác biên cương mồ viễn xứ » cho ta thấy một hình ảnh thương
tâm : Gian khổ, bệnh tật làm nhiều người lính gục ngã trên đường hành quân Những nấm mồcủa người chiến sĩ chết xa quê nằm rải rác suốt một dải biên cương cô quạnh, không một nénhương, không người tưởng niệm – họ đều là những chiến sĩ vô danh Từ láy « rải rác » đi đôivới những từ Hán Việt « biên cương, viễn xứ, chiến trường » đã làm câu thơ có không khí trangnghiêm, trầm lắng, gợi cảm xúc tiếc thương, ngậm ngùi trong lòng người đọc về sự hi sinh thầmlặng và cao cả của người người lính Tây Tiến
-Nhưng âm điệu câu thơ kế lại vút lên mạnh mẽ, hào hùng như lời thề « Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh » thể hiện dũng khí mạnh mẽ của người lính Tây Tiến Họ có lý tưởng
cao đẹp, có khát vọng được ra đi, được dâng hiến tuổi trẻ, xả thân vì đất nước Hào khí thời đại,cảm hứng bi tráng đã ùa vào chắp cánh cho câu thơ này Nó gợi lên âm vang hào sảng của một
thời lịch sử hào hùng Người lính sẵn sàng ra trận, thề « quyết tử cho Tố quốc quyết sinh » Vì nghĩa lớn, họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng và mang tinh thần « nhất khứ bất phục hoàn » của
những người chinh phu, tráng sĩ xưa khi ra trận Bức tượng đài về những người chiến sĩ bỗngtrở nên sáng rực rỡ, oai phong đến lạ thường !
-Đọan thơ khép lại bằng câu thơ nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến với hình ảnhthơ hùng tráng và có màu sắc cổ điển:
« Áo bào thay chiếu anh về đất
Trang 10Sông Mã gầm lên khúc độc hành »
- Sự thật bi thảm :người lính hi sinh chỉ có manh chiếu bó thây, đã được nhà thơ lãng
mạn hóa thành hình ảnh « áo bào thay chiếu » Chi tiết độc đáo « áo bào » làm hình ảnh người
lính Tây Tiến phảng phất giống hình ảnh người tráng sĩ kiêu hùng ngày xưa Cái bi như vơi đikhi người đọc liên tưởng đến hình ảnh của người chiến sĩ hào hùng ngã xuống với chiến bàothấm đẫm máu quân thù
- Cách nói giảm « về đất » thay thế cho từ «chết, hi sinh » lại càng có tác dụng làm dịu
nỗi đau, tạo cảm giác ấm áp: anh đang trở về với đất mẹ, về với quê hương Cái chết của ngườichiến sĩ thầm lặng nhưng cao đẹp và bất tử ! Tiễn anh đi không phải bằng khúc nhạc vĩnh biệt
hay những phát súng tiễn đưa mà là bằng khúc nhạc dữ dội, trầm hùng, uy nghi của dòng «sông
Mã », của thiên nhiên núi rừng bí hiểm Trong cái hùng tráng, dữ dội của tiếng « gầm » sông
Mã, có cả tiếng khóc cố nén của sự tiếc thương vô hạn những người con trung hiếu, dũng cảmkiên cường của Tổ Quốc đã mãi mãi ra đi Đó là sự hi sinh thấm đẫm tinh thần bi tráng !
* Sơ kết : Hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ được xây dựng bằng bút pháp
lãng mạn, sử thi Với giọng điệu trang trọng, cảm hứng lãng mạn, bi tráng đã khắc họa nên bứctượng đài tập thể người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa Đọan thơđồng thời thể hiện thái độ trân trọng kính cẩn và niềm tiếc thương vô hạn của nhà thơ trước sự
hi sinh thầm lặng nhưng anh dũng của người lính Tây Tiến
Đọan thơ cũng như bài thơ Tây Tiến đã góp phần làm phong phú thêm cho thơ ca viết
về hình tượng người lính trong văn học Việt Nam Đây cũng là đoạn thơ tiêu biểu cho phongcách thơ Quang Dũng : phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa
4./Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây : (Đoạn 4 _ 4 câu)
Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ : Tây Tiến người đi không hẹn ước
.
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi »
- Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn khắc họa hình ảnh ra đi của người lính không xác định
thời gian trở về Cả loạt từ « thăm thẳm, không hẹn ước, chia phôi, chẳng về xuôi », thể hiện
một cuộc trường chinh nhiều gian khổ, hi sinh, mất mát Biết vậy nhưng người lính vẫn ra đivới quyết tâm dứt khoát sống chết cùng đồng đội và gắn bó với miền Tây
Hai câu kết vang lên khỏe khoắn như một lời thề sắt son đối với Tổ Quốc Lý tưởngcủa họ cao cả biết bao, làm toát lên vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân Tây Tiến trong một thờiđiểm lịch sử một đi không trở lại
III.KẾT LUẬN :
- Tây Tiến là một thi phẩm đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp
- Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hìnhtượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội
và mĩ lệ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng không chỉ gợilên niềm tự hào về tuổi trẻ Việt Nam anh hùng trong những ngày đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp mà nó sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc bởi lí tưởng sống cao cả, sẵnsàng xả thân vì Tổ quốc của các anh
-VIỆT BẮC (Tố Hữu)
A PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
Trang 111 Vài nét về tiểu sử: Tố Hữu (1920-2002)
(SGK)
2 Đường cách mạng, đường thơ:
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ CM Việt Nam Các chặngđường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường CM của dân tộc,đồng thời thể hiện sự vận động, phát triển trong tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ
* Con đường thơ của Tố Hữu với hơn 60 năm gồm 7 tập thơ được chia thành 5 chặng :
1.Tập thơ Từ ấy (1937-1946)
2 Tập thơ Việt Bắc (1946-1954)
3 Tập thơ Gió lộng (1955-1961)
4 Hai tập thơ Ra trận (1962- 1971) , Máu và hoa (1972-1977)
5 Hai tập thơ Một tiếng đờn (1992)và Ta với ta (1999)
3 Phong cách thơ T ố H ữu:
1.Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình – chính trị rất sâu sắc:
- Thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của
người CM, của cả dân tộc
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi
- Những tư tưởng, tình cảm lớn của con người, những vấn đề lớn lao của đời sống được
Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình ngọt ngào, tha thiết
2 Về nghệ thuật, thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà:
- Về thể thơ: Tố Hữu đặc biệt thành công khi vận dụng các thể thơ truyền thống của dân
tộc như thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ STLB,…
- Về ngôn ngữ : Sử dụng nhuần nhuyễn từ ngữ và cách nói dân tộc, phát huy tính nhạc
phong phú của tiếng Việt qua các từ láy, vần điệu, nhịp điệu…
Đường đời, đường thơ Tố Hữu luôn song hành cùng con đường cách mạng của cảdân tộc Với những tác phẩm giàu chất trữ tình chính trị và đậm đà tính dân tộc, Tố Hữu là mộttrong những nhà thơ xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại
B PHẦN HAI: TÁC PHẨM “VIỆT BẮC” (trích)
I GIỚI THIỆU CHUNG :
1 Hòan cảnh sáng tác:
- Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến, nơi đã
che chở, đùm bọc cho Đảng, Chính Phủ, bộ đội trong suốt những năm tháng kháng chiến chốngPháp
- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được
kí kết Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựngcuộc sống mới Một trang sử mới của đất nước được mở ra
- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi Trung
ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội Nhân sự kiện lịch sử ấy,
Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.
- Bài thơ được in trong tập Việt Bắc.
2 Nội dung- Chủ đề:
Trang 12- Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và
con người kháng chiến Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân
gian-tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu : Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất , ân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người VN.
Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là thành tựu xuất sắc của thơ cakháng chiến chống Pháp
- Đoạn trích (phần mở đầu của Việt Bắc) là những hoài niệm về một Việt Bắc gian khó và
nghĩa tình trong kháng chiến Qua đó, bài thơ bộc lộ tình cảm thủy chung, ân tình sâu nặng giữanhững người cán bộ cách mạng với Việt Bắc, với Đảng, với Bác và nhân dân
II NỘI DUNG CƠ BẢN:
A
CẢM NHẬN CHUNG ( Thể loại - Kết cấu ) :
- Bài thơ kết cấu theo lối hát đối đáp với thể thơ lục bát ngọt ngào như ca dao phù hợp với
khung cảnh chia tay Tác giả đã dùng hai đại từ Ta – Mình gần gũi, thân mật để nói lên mối quan
hệ tình cảm sâu nặng giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng Cuộc chia li giữa nhân dân ViệtBắc và những người cán bộ cách mạng được diễn tả như là cuộc chia tay của một đôi bạn tìnhđầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến…
-Với hình thức một khúc giao duyên tâm tình giữa người đi (người cán bộ về xuôi) và kẻ ở
(nhân dân Việt Bắc), bài thơ đã vượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư để chuyển tải một vấn đề tưtưởng rất lớn của cách mạng, đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân
B PHÂN TÍCH:
Tâm trạng bao trùm bài thơ là nỗi nhớ da diết của người cán bộ cách mạng về chiến khuViệt Bắc Qua đó, tác giả ca ngợi phong cảnh Việt Bắc đẹp, hùng vĩ ghi dấu nhiều chiến công vànhiều kỉ niệm của những ngày tháng kháng chiến gian khổ nhưng anh dũng…; ca ngợi con ngườiViệt Bắc đáng yêu vì sống có tình nghĩa, cần cù, nhẫn nại, chịu đựng hy sinh nhưng rất lạc quan,yêu đời…
1 Đoạn 1(Câu 1-8): Tâm tình buổi chia tay : Đoạn thơ tái hiện cuộc chia tay lưu luyến
giữa người dân Việt Bắc và người cán bộ về xuôi Đó là cảnh chia tay với tâm trạng bâng khuâng,bồn chồn của hai người đã từng gắn bó sâu nặng, bền lâu
a 4 câu đầu: là lời người Việt Bắc nói với người cán bộ CM: gợi nhớ những kỉ niệm gắn bó, những cội nguồn nghĩa tình.
- Mở đầu bài thơ là lời ướm hỏi chân tình của Việt Bắc (người ở lại) đối với người cán bộcách mạng về xuôi:
“Mình về mình có nhớ ta……….Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
- Khổ thơ có kết cấu theo lối hát giao duyên, giọng thơ lục bát êm đềm diễn tả cuộc chiatay giữa người Việt Bắc với người CM đằm thắm và lưu luyến
- Cụm từ “Mười lăm năm ấy” là chi tiết thực, gợi lại một chặng đường dài kháng chiến
đầy gian khổ; từ thời kháng Nhật cho đến lúc chia tay ( 1940 - 1954) - đồng thời cũng là chi tiếtgợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn
- Cách xưng hô "mình - ta" mộc mạc, gần gũi, gợi liên tưởng đến ca dao: "Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ"
- Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ “có nhớ ta” “ có nhớ không”, tràn
đầy thương nhớ; vừa là lời hỏi, vừa như lời nhắn nhủ, gợi nhớ của người ở lại về nguồn cội tìnhnghĩa mà người đi phải ghi trong tim mình mãi mãi…
Trang 13 Bốn câu thơ điệp lại 4 chữ “mình”, 4 chữ “nhớ”, 1 chữ “ta” hòa quyện trong một câuhỏi về thời gian (15 năm ) và một câu hỏi về không gian (nhìn cây ) Qua đó thể hiện tình cảmthiết tha mặn nồng, sự gắn bó thủy chung sâu sắc giữa người ở lại (đồng bào Việt Bắc) và người
đi (người cán bộ kháng chiến về xuôi )
b 4 câu cuối: Diễn tả tâm trạng đầy lưu luyến, bịn rịn của người cán bộ kháng chiến đối với cảnh và người Việt Bắc
“Tiếng ai tha thiết ……… hôm nay”
- Đoạn thơ là tiếng lòng của người về với tâm trạng buồn nhớ lâng lâng xen lẫn niềmluyến tiếc, ngẩn ngơ Trong lời người ra đi có nỗi nhớ, niềm xúc động, cảm giác bịn rịn khôngmuốn xa rời
- Từ láy “ tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” gợi tả tâm trạng người cán bộ kháng chiến lúc về xuôi: vui, buồn lẫn lộn Lòng bồi hồi nên bước chân cũng bồn chồn…
- Hình ảnh hoán dụ “áo chàm”, màu áo quen thuộc của người dân Việt Bắc như gợi nhớ
đến tấm lòng chân thành mộc mạc, thủy chung son sắt của Việt Bắc dành cho cách mạng
- Câu thơ bỏ lửng với nhịp thơ ngập ngừng “ Cầm tay nhau- biết nói gì- hôm nay” diễn tả
tinh tế tâm trạng người ra đi- vấn vương, xúc động đến nghẹn ngào không nói nên lời
SK: - Hai khổ đầu của bài thơ đã khắc họa cảnh chia tay đầy xúc động với những lờitâm tình chứa chan cảm xúc của hai nhân vật trữ tình Người đọc thấy được trong đó tình yêuthương tha thiết, sự gắn bó sâu nặng giữa người đi và người ở Qua đó, nhà thơ đã diễn tả nỗi xúcđộng, sự lưu luyến, tình cảm thắm thiết của đồng bào Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến
- Kết cấu đối đáp, cách sử dụng hai đại từ nhân xưng Mình- Ta vừa diễn đạt được
tư tưởng nghệ thuật vừa tạo tính dân tộc đậm đà cho tác phẩm Tố Hữu đã diễn đạt vấn đề chínhtrị bằng một hình thức nghệ thuật trữ tình nên gây được sự đồng cảm sâu sắc trong lòng ngườiđọc
2 Đoạn 2 (Câu 9-20): Là lời người Việt Bắc (người ở lại) nhắn với người ra đi đừng quên Việt Bắc- mảnh đất cách mạng gắn bó với quá khứ chiến đấu hào hùng, với những khó khăn gian nan trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc.
a 4 câu đầu: Việt Bắc gợi kỷ niệm những ngày đầu kháng chiến gian khổ, đầy ân tình
- Việt Bắc hỏi “Mình đi, có nhớ…” Người về có nhớ Việt Bắc, cội nguồn quê hương
CM ?
- Những không gian, địa điểm cứ hiện dần từ mưa nguồn, suối lũ, mây mù đến chiến khu dậy lên sức mạnh “khi kháng Nhật”, “thuở còn Việt Minh”… và những địa danh lịch sử Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa Gợi nhắc lại những kỉ niệm đầy gian khổ nhưng đậm
đà tình nghĩa ở Việt Bắc
- Liệt kê hình ảnh “ mưa nguồn, suối lũ”: tả thực về sự khắc nghiệt của thiên nhiên.
- Hình ảnh đối lập: “ Miếng cơm chấm muối- mối thù nặng vai”- vế đầu nói về hiện thực
gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc Đó là lòng căm thù giặcsâu sắc, ý chí kiên định, sắt son mà Việt Bắc dành cho cách mạng
- Những câu hỏi của Việt Bắc liên tiếp thốt ra cùng các điệp từ mình, về, đi và nhịp thơ
2/4, 4/4 đều đặn, tha thiết nhắn nhủ người về nghe thật tình cảm
* Trong trí nhớ của người chiến sĩ cách mạng, Việt Bắc có những ngày mưa nguồn, suối
lũ, những mây cùng mù…Thời gian không gian mờ trong sương khói hoài niệm Thiên nhiên rất
Trang 14đặc trưng cho không gian núi rừng Việt Bắc nhưng cái gợi nhớ nhung nhiều nhất chính là nhữngngày gian nan, đắng cay mà tình nghĩa
b 4 câu giữa: Việt Bắc thể hiện nghĩa tình gắn bó sâu nặng của mình đối với người cán bộ cách mạng :
- Việt Bắc băn khoăn Người về có nhớ Việt Bắc, với những kỉ niệm đầy ân tình? Và thổ lộ tình cảm của mình: “Mình về, rừng núi nhớ ai- Trám bùi để rụng, măng mai để già”
- Những chi tiết về cuộc sống và tình người từ “ miếng cơm chấm muối”, quả trám bùi, đọt măng mai…đến mối thù hai vai chung gánh …sẽ sống mãi trong lòng người về chăng?
- Phép nhân hóa, ẩn dụ “ rừng núi nhớ ai”, “Trám để rụng, măng để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng - "Trám rụng - măng già" không ai thu hái bộc lộ sự quyến luyến của nhân dân Việt
Bắc với người về xuôi Nỗi nhớ da diết đến ngẩn ngơ …
- Nghệ thuật tiểu đối trong câu thơ: “ hắt hiu lau xám – đậm đà lòng son”
+ Hình ảnh hắt hiu lau xám: gợi khung cảnh hoang vu của núi rừng mang ý nghĩa biểu
tượng cho cuộc sống nghèo khó, thiếu thốn về vật chất tương phản với tấm lòng người dân Việt
Bắc đậm đà lòng son giàu tình yêu nước-> khẳng định nghĩa tình sâu nặng của người Việt Bắc
dành cho cách mạng
Với tâm trạng bùi ngùi, lưu luyến, nhớ nhung, Việt Bắc (người ở lại) bày tỏ tình cảmgắn bó, yêu thương dành cho cán bộ kháng chiến, cho cách mạng Nỗi nhớ trào dâng trong lòngngười, bao trùm cả không gian núi rừng
c 4 câu cuối: Việt Bắc (người ở lại) nhắn nhủ chân thành đối với người cán bộ cách mạng (người về) là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’
“Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”
- Câu thơ “Mình đi mình lại nhớ mình”: nhớ mình- tức nhớ người ở lại nhưng cũng như là
nhắc nhở chính mình hãy nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đẫm nghĩa tình Mình đã sống với
Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy! Mình với Ta viết lên những trang sử
oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa” Bây giờ xa cách, Mình về thành
thị, nhớ đừng thay lòng đổi dạ với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình!
“Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”
Nghệ thuật sử dụng phép điệp từ (mình đi, mình về), cấu trúc đối…đã diễn tả tình cảm
sâu đậm, thủy chung của người dân Việt Bắc đối với cách mạng
═> 12 câu cấu tạo thành 6 câu hỏi Mỗi câu thơ đều khắc khoải tâm tình da diết, khắc khảm vàolòng người đi những kỉ niệm từ ngày đầu cách mạng khó khăn gian khổ nhưng vẫn một lòng đoàn kếtxây dựng lực lượng, cùng nhau đánh giặc để giành lại độc lập tự do
3 Đoạn 3 ( Câu 21- 90) : Lời người Cách mạng bộc lộ nỗi nhớ về Việt Bắc
a Câu 21-24:* Người cán bộ cách mạng (người về) khẳng định tấm lòng sắt son chung thủy của mình đối với Việt Bắc :
- Người cán bộ cách mạng (người về) đã nghe và hiểu được tấm lòng tha thiết của Việt
Bắc nên đã có tâm trạng bâng khuâng, tha thiết, bồn chồn: “Tiếng ai tha thiết… hôm nay”
- Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, người về xuôi đinh ninh trong lòng một
Trang 15nỗi nhớ tha thiết quê hương cách mạng, một niềm thủy chung son sắt với những người con ViệtBắc đã từng chia ngọt sẻ bùi, cưu mang, bảo vệ cách mạng Nỗi nhớ và niềm tin đầy ắp trong lờingười về cũng chí tình chí nghĩa:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh, Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”
- Hai đại từ ta – mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn
- Nghệ thuật so sánh, phép tăng tiến “bao nhiêu- bấy nhiêu”: lời khẳng định nghĩa tình
của người cách mạng dành cho Việt Bắc như nước trong nguồn không bao giờ vơi cạn
Chỉ 4 câu thơ, người cán bộ kháng chiến khẳng định chắc chắn tấm lòng thủy chungkhông dời đổi của mình với VB Đó chính là tình cảm sắt son của CM với nhân dân
b.
Câu 25- 4 2 : Thể hiện nỗi nhớ về cảnh và người Việt Bắc
* Đây là đoạn thơ thể hiện rõ nét âm hưởng chủ đạo của bài thơ cũng như những đặc sắc
nghệ thuật thơ Tố Hữu Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với Việt Bắc thật da diết,chân tình
b1 Câu 25- 30 : Nỗi nhớ về thiên nhiên và cuộc sống của người Việt Bắc
“ Nhớ gì như nhớ người yêu
.
Ngòi Thia , sông Đáy, suối Lê vơi đầy”
- Hình ảnh so sánh độc đáo: “ Nhớ gì như nhớ người yêu ” thể hiện nỗi nhớ mãnh liệt, da
diết
- Từ nỗi nhớ như nhớ người yêu, Việt Bắc hiện lên với những hình ảnh, nét đẹp rất riêng,gợi cảm đầy thi vị
+ Nhớ cảnh thơ mộng trữ tình :« Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương »
+ Nhớ cảnh bản làng ấm cúng :“Nhớ từng bản khói………… người thương đi về
+ Cùng những tên gọi, địa danh cụ thể: Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê gợi nhắc những
nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóa tha thiết, mãnh liệt
- Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại làm cho nỗi nhớ thêm da diết Vẻ đẹp thiên nhiên nên
thơ sẽ còn đọng mãi trong kí ức của người ra đi
* SK : - Đoạn thơ chỉ là một mảng nhỏ trong hồi tưởng của nhà thơ về những kỉ niệm
không thể quên với cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống của con người Việt Bắc Tuy nhiên, dadiết và đậm sâu hơn cả vẫn là nỗi nhớ về con người, về những kỉ niệm kháng chiến ở chiến khu
b2 Câu 31- 42 : Nỗi nhớ về những kỉ niệm kháng chiến ở Việt Bắc
*2 câu đầu: Khái quát về tình cảm, cảm xúc của người ra đi nhớ về những kỉ niệm của
cuộc sống gian khổ, vất vả nhưng đầy niềm vui, hạnh phúc trong kháng chiến:
- Nỗi nhớ mở ra theo chiều thời gian : “Ta đi ta nhớ những ngày ”
- Cụm từ “Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi” mang dáng dấp của thành ngữ cho thấy sự gắn bó khắng khít giữa mình và ta trong gian khổ, khó khăn cũng như trong hạnh phúc, sung
Trang 16Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
- Hình ảnh: "củ sắn lùi”, “bát cơm”, “chăn sui” kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng" Những hình ảnh mộc mạc, giản dị gợi về một thời đồng cam cộng khổ,
chia ngọt sẻ bùi Cuộc sống tuy thiếu thốn gian khổ nhưng thật vui vẻ, lạc quan và nặng nghĩatình
- Nhớ cảnh lao động gian khổ của đồng bào Việt Bắc: “Nhớ bà mẹ bắp ngô”.
+ Hai chữ cháy lưng gợi liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ
chiến sĩ Các mẹ cũng như đồng bào Việt Bắc đã đùm bọc, cưu mang cán bộ cách mạng Đó làhình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình thời kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức củangười về xuôi
- Nhớ cảnh sinh hoạt kháng chiến ở chiến khu : “Nhớ sao lớp …… ca vang núi đèo”
+ Điệp ngữ “ nhớ sao”: đặt ở đầu câu lục như lời tự vấn nhằm đánh thức kỉ niệm của
người về xuôi ở chiến khu Việt Bắc
+ Hình ảnh “ lớp học i tờ” gợi nhắc những ngày diệt giặc dốt đáng nhớ và tràn đầy
niềm vui
+ Hình ảnh “ đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan” tái hiện những sinh hoạt ở
chiến khu Việt Bắc vui tươi, sôi động dù còn lắm gian khổ, thiếu thốn
- Nhớ những ngày công tác với tinh thần lạc quan cách mạng, vượt qua mọi khó khăn,
gian khổ: "Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo".
- Nhớ những âm thanh quen thuộc, bình dị của cuộc sống thanh bình nơi chiến khu ViệtBắc :
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều……….đều đều suối xa ”
+ Tiếng mõ rừng chiều, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa là những âm thanh gợi cảm
và quen thuộc ở núi rừng phản ánh sinh hoạt êm ả, bình dị Đó là nét đặc trưng của Việt Bắc
Trong nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi, cảnh thiên nhiên Việt Bắc đẹp và thi vị,người Việt Bắc vất vả, lam lũ nhưng tình nghĩa, yêu thương, cần cù chịu khó
*SK : Người cán bộ cách mạng (người về) nhớ phong cảnh quê hương cách mạng, con
người Việt Bắc và những sinh hoạt đời thường của cán bộ kháng chiến Qua nỗi nhớ, nhà thơ gợilên một Việt Bắc thi vị, hài hòa; nhắc lại một thời ở Việt Bắc gian khổ mà ấm áp nghĩa tình, trànđầy lạc quan => Âm hưởng trữ tình vang vọng đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tìnhđồng chí, nghĩa đồng bào, tình yêu đất nước, yêu đời
b3 Câu 43- 52 : Nỗi nhớ về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc
Cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc mang vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, nhưngtiêu biểu nhất và đẹp nhất là “bức tranh tứ bình” của Việt Bắc qua bốn mùa được thể hiện trongđoạn thơ
*2 câu đầu: Nêu cảm xúc chủ đạo của cả đoạn thơ : Khái quát nỗi nhớ về Việt Bắc
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
- Nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về Việt Bắc là nỗi nhớ da diết về “ hoa” cùng
“người” là những gì đẹp nhất, tiêu biểu nhất của Việt Bắc Hình ảnh thiên nhiên và con người
Việt Bắc hòa quyện trong nỗi nhớ của người cách mạng về xuôi
Trang 17* 8 câu sau: Ở đoạn thơ này, cảnh và người Việt Bắc hiện lên rất đẹp, rất trữ tình, thơ
mộng trong nỗi nhớ của người đi xa Bốn cặp câu lục bát có kết cấu đan xen độc đáo: câu lục nóiđến thiên nhiên, câu bát nói tới con người Nói đến hoa như hiển hiện hình người, nói đến ngườilại lấp lóa bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bức tranhthơ Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc về thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa
* Cảnh mùa đông: Cảnh mùa đông không tàn lụi, lạnh lẽo mà sống động, ấm áp Giữa
rừng xanh bạt ngàn tha thiết lại đột ngột bùng lên màu “hoa chuối đỏ tươi” như ngọn lửa của
rừng, ấm áp tình yêu:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Thiên nhiên toát lên vẻ đẹp hoang sơ, rực rỡ Vẻ đẹp của màu sắc, của hoa lá, của ánh
sáng, của hương hoa hòa quyện với vẻ đẹp của con người Giữa “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”
đã nổi bật lên hình ảnh người lao động miền núi chăm chỉ làm việc: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
* Cảnh mùa xuân: Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển
màu trong bức tranh thơ Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của
hoa mơ khi mùa xuân đến “Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.
Ngày xuân, rừng núi Việt Bắc phủ bạt ngàn một màu trắng của hoa mơ Màu trắng tinh khiếtcủa hoa mơ như lấn át tất cả màu xanh của cây lá, làm bừng sáng cả khu rừng hình ảnh lãngmạn, gợi vẻ đẹp thanh khiết trong sáng Câu thơ đem lại cho người đọc cảm nhận không khí xuânlan tràn, không gian núi rừng mênh mông, thiên nhiên Việt Bắc giàu sức sống
Trong sắc xuân của thiên nhiên đất trời hiện lên hình ảnh con người lao động làm việc
chăm chỉ cần mẫn, miệt mài với dáng vẻ thanh mảnh, dịu dàng: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Cụm từ “chuốt từng sợi giang” gợi lên vẻ cẩn trọng tài hoa Dường như bao yêu
thương đợi chờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi giang- từng sợi nhớ, sợi thương để kết nên vànhnón
* Cảnh mùa hè : Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua “rừng phách” - một loại cây rất thường
gặp ở Việt Bắc hơn bất cứ nơi đâu Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh,những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá Khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoanhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Bức tranh gợi sự chú ý cho người đọc bằng thị giác lẫn thính giác Tác giả đã sử dụngbút pháp ấn tượng: Tưởng chừng như tiếng “ve kêu” đậm đặc, làm rung chuyển cả cây rừng,
khiến cho lá “phách đổ vàng”…
- Câu thơ gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt “mưahoa” rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảnh khắc hè sang Tácgiả mượn âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnhthực mà vô cùng huyền ảo
- Cảnh thiên nhiên đẹp và rực rỡ lại càng trở nên lãng mạn hơn Vì trong cánh rừng bạt
ngàn ấy có thêm bóng dáng của một sơn nữ đang làm việc cần cù, lặng lẽ “hái măng một mình”.
Phong cảnh thật là hữu tình!
Trang 18* Cảnh mùa thu : Khép lại bức tranh là cảnh mùa thu với đêm trăng trữ tình, bình yên và
huyền ảo : “Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
- Cảnh thu Việt Bắc được miêu tả với hình ảnh bầu trời cao rộng và mảnh trăng thu thanh
bình, gợi cảm giác dịu dàng, yên bình Những đêm trăng thu, trong không gian yên ả, bốn bề
rừng núi tĩnh lặng, bỗng nổi lên “tiếng hát ân tình thủy chung” của con người Âm thanh ấy như
ghi tạc vào trong dạ người ra đi, nhắc người đi xa khi sống trong hòa bình không được quên ântình cách mạng của người dân Việt Bắc …
Đoạn thơ là bức tranh tứ bình tươi sáng, thơ mộng, giàu tính thẩm mỹ với cấu trúc hàihòa, cân đối, thể hiện nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng về thiên nhiên và con người Việt Bắc.Trong trí nhớ của người đi xa, thiên nhiên Việt Bắc đẹp rực rỡ, bốn mùa tươi tắn, thơ mộng Vàtrên nền phong cảnh Việt Bắc đầy màu sắc ấy nổi bật lên hình ảnh con người Việt Bắc đảm đang,tình nghĩa, thủy chung…
*SK : - Thể thơ lục bát và cách diễn đạt bằng lời đối đáp của kẻ ở với người đi bằng hai
đại từ nhân xưng “mình-ta”, khiến cho tình cảm trong bài thơ được thể hiện một cách vừa kín
đáo, tinh tế vừa đậm đà ý vị dân tộc
- Đoạn thơ giàu màu sắc hội họa, từ ngữ giàu giá trị tạo hình đã vẽ nên bức tranhđặc sắc về vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc Cảnh và người hòa quyện thắmthiết, tô điểm cho nhau, tạo nên nét riêng biệt của mảnh đất Việt Bắc mà không vùng quê nào cóđược Qua đó, thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ của những người cán bộ khángchiến về xuôi, của nhà thơ đối với miền đất Việt Bắc ân nghĩa thủy chung Đây là một trongnhững đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đồng thời rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu – giản
dị, đậm đà tính dân tộc
c Câu 53 – 74 : Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến đã được Tố Hữu khắc họa đẹp và đầy ấn tượng.
c1 Câu 53-62: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến hiện lên với
vẻ đẹp của “ thế trận ” rừng núi cùng ta đánh giặc:
“ Nhớ khi giặc đến giặc lùng
……….
Nhớ từ Cao-Lạng, nhớ sang Nhị Hà”
-Hình ảnh hào hùng: Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Thiên nhiên cùng con ngườihợp thành sức mạnh kháng chiến
- “ Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
- Phép nhân hóa, các động từ “ giăng”, “che”, “vây”, nghệ thuật tiểu đối: Thiên
nhiên Việt Bắc cũng như con người- biết yêu Tổ quốc, bảo vệ bộ đội và hình thành thế trận tiêudiệt kẻ thù
- Hình ảnh đối lập, gợi tả, cụm từ “một lòng” trong câu “Mênh mông………….một lòng”
Khẳng định sức mạnh của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng
- Liệt kê các địa danh : “ Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô… như những trang nhật kí
chiến trường nối tiếp xuất hiện để lại niềm sảng khoái, tự hào về chiến khu Việt Bắc và nhữngchiến công vang dội Có biết bao máu đổ xương rơi, bao chiến sĩ anh hùng ngã xuống mới có
Trang 19thể đưa những tên núi, tên sông, tên đèo ấy vào lịch sử, vào thi ca Cụm từ “ Nhớ từ nhớ sang ” như gợi tả nỗi nhớ dào dạt, mênh mông, tha thiết, bồi hồi.
*SK: Với thể thơ lục bát âm điệu sâu lắng, hình ảnh, từ ngữ chọn lọc, vận dụng thành
công các biện pháp nhân hóa, liệt kê, điệp từ…đoạn thơ đã bộc lộ nỗi nhớ, niềm tự hào củangười cán bộ kháng chiến về một Việt Bắc anh dũng, kiên cường
c2 Câu 63-74: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến được tái hiện qua b ức tranh “Việt Bắc xuất quân” đầy hào khí :
“Những đường Việt Bắc của ta,
………
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng”
* 8 câu đầu: Nhớ cảnh tượng hào hùng, sôi động, đấy khí thế của cuộc kháng chiến toàn dân của ở chiến khu Việt Bắc.
*
Miêu tả hình ảnh các con đường Việt Bắc trong những đêm kháng chiến:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
+ Giọng thơ sôi nổi, hào hùng với nhịp điệu nhanh, dồn dập
+ Từ láy gợi tả và hình ảnh so sánh độc đáo …“rầm rập như là đất rung” Tự hào về
đoàn quân đông đảo đang hành quân gấp rút khẩn trương, với một sức mạnh làm rung chuyển
cả mặt đất
*
Thể hiện sức mạnh và niềm lạc quan của những lực lượng kháng chiến:
- H
ình ảnh bộ đội hành quân: “Quân đi ……mũ nan”
+ Từ láy điệp điệp, trùng trùng Đoàn quân đông đảo, hùng mạnh, chỉ mới ra quân mà
như đã cầm chắc chiến thắng trong tay
tưởng cách mạng chỉ đường dẫn lối cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc?! Hìnhảnh lãng mạn đó là biểu tượng của lí tưởng, của niềm lạc quan chiến thắng trong tâm hồn ngườilính ra trận
- Hình ảnh dân công ra trận: “Dân công ……….bay”
+ Miêu tả thực “đỏ đuốc từng đoàn”: Những bó đuốc đỏ rực soi đường đã làm sáng
bừng lên hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn
+ So sánh, cường điệu “ bước chân nát đá…”
Khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân trong kháng chiến
- N iềm tin tưởng, lạc quan của những lực lượng kháng chiến: “Nghìn đêm ……mai lên”
+ Miêu tả thực: Ánh đèn pha của ô tô kéo pháo xuyên thủng màn đêm dày dặc, đấycũng là một dấu hiệu nữa về sự trưởng thành của quân đội ta, sự trưởng thành ấy là một nhân tốquan trọng quyết định thắng lợi
+ Hình ảnh tượng trưng “ nghìn đêm thăm thẳm sương dày”: ẩn dụ về quá khứ nô lệ, đau thương; hình ảnh so sánh “đèn pha bật sáng …lên” chỉ tương lai tươi sáng Hai câu thơ
tạo ra sự tương quan đối lập giữa bóng tối thăm thẳm cuả kiếp sống nô lệ và ánh sáng của niềmtin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng
Hình ảnh cuộc kháng chiến hiện lên thật hùng tráng, kỳ vĩ với con đường Việt Bắc “
rầm rập “ bước chân đi “ như là đất rung” , những đoàn “ quân đi điệp điệp trùng trùng” trong ánh đuốc rực rỡ “ muôn tàn lửa bay” Âm điệu thơ hùng tráng và những thủ pháp nghệ thuật
Trang 20như hoán dụ, đối lập, điệp từ, điệp ngữ, láy âm, thậm xưng giúp tác giả diễn tả rất thành côngkhí thế oai hùng của quân và dân ta trong những ngày chiến đấu và chiến thắng.
* 4 câu cuối: Nhớ về Việt Bắc kháng chiến là nhớ về những chiến công oanh liệt :
- Điệp từ: “vui từ”, “vui về”, “vui lên” Niềm tự hào, niềm vui chiến thắng
- Liệt kê các địa danh gắn liền với những chiến công “Việt Bắc ”, “Điện Biên”, “An Khê”…
Tin vui liên tục, dồn dập làm náo nức lòng người Chiến công của Việt Bắc là bảntổng kết những chiến dịch, những trận đánh từ nhỏ đến lớn trên khắp mọi miền đất nước và điđến kết thúc thắng lợi trong niềm vui phơi phới
* SK : Với bút pháp lãng mạn, đoạn thơ đưa người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến
đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng,những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức Đoạn thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mangdáng vẻ sử thi hiện đại và đã thể hiện hào khí ngất trời của quân dân ta trong cuộc kháng chiếnchống Pháp Qua đó, tác giả ca ngợi Việt Bắc, ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt,hào hùng và đầy thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta
d Câu 75-90 : Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến
Việt Bắc có vị trí đặc biệt quan trọng, là “quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”:
- Trong cách mạng, đặc biệt là thời kì đầu khởi nghĩa: Việt Bắc là căn cứ địa của CM,cái nôi của CM, nơi đầu nguồn CM với những địa danh lịch sử
- Trong kháng chiến chống Pháp: Việt Bắc là căn cứ địa, chiến khu của kháng chiến, nơicác cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, các binh đoàn chủ lực của cuộc kháng chiến
- Hình ảnh Bác Hồ được ngợi ca với một niềm tin yêu thành kính: Bác là ánh sáng soiđường, là niềm tin yêu của nhân dân Việt Nam
Từ nỗi nhớ về Việt Bắc, nhà thơ đã khẳng định Việt Bắc là quê hương cách mạng, đầunão của cuộc kháng chiến, là nơi hội tụ suy nghĩ, tình cảm, niềm tin và hy vọng của mọi ngườiViệt Nam yêu nước
III.KẾT LUẬN :
“Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến
và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào
về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thủy chung của dân tộc Việt Nam
-ĐẤT NƯỚC
(Trích trường ca “ Mặt đường khát vọng”- Nguyễn Khoa
Điềm)
I GIỚI THIỆU CHUNG : ( Tác giả , tác phẩm)
- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mỹ cứu nước Thơ ông hấp
dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, conngười Việt Nam
- Trường ca “ Mặt đường khát vọng” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm,
được tác giả hòan thành tại chiến khu Trị Thiên năm 1971, vào thời điểm cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc đang trải qua những năm tháng đầy thử thách khốc liệt Tác phẩm thể hiện sự
Trang 21thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh củathế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược.
- Đọan trích “Đất Nước” (phần đầu chương V của trường ca “ Mặt đường khát vọng”) là
một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại Đoạn thơ trình
bày cảm nhận và lí giải của tác giả về Đất Nước đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng Đất Nước của nhân dân, mỗi người phải có ý thức về trách nhiệm của mình đối với Đất Nước.
II NỘI DUNG CƠ BẢN:
A CẢM NHẬN CHUNG:
- Chương thơ Đất Nước được viết rất giản dị, truyền cảm với hình thức là lời tâm tình về
Đất Nước Những câu thơ tự do, có nhịp điệu nhưng không có vần, phù hợp với giọng điệu giảithích, tâm tình, nhắc nhở Câu thơ dài ngắn đan xen, nhịp thơ biến đổi linh hoạt, khi thâm trầm,sâu lắng, khi sôi nổi, thiết tha Hình ảnh thơ vừa cụ thể, gần gũi, giàu sức gợi cảm, vừa có ýnghĩa khái quát , giàu chất suy tư (kết hợp giữa chính luận và trữ tình) Các chất liệu của văn hóadân gian được sử dụng nhuần nhị, sáng tạo, đem lại sức hấp dẫn cho đọan trích
“Đất Nước” là đoạn thơ trữ tình – chính luận, vừa dồi dào cảm xúc vừa sâu lắng suy
tư Cái riêng biệt, độc đáo ở đoạn thơ này là sự cảm nhận, phát hiện về đất nước trong một cáinhìn tổng hợp, toàn vẹn qua những vẻ đẹp được phát hiện trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí,văn hóa…
- Đóng góp riêng của đọan trích là sự nhấn mạnh tư tưởng “ đất nước của nhân dân” bằnghình thức biểu đạt giàu suy tư qua giọng thơ trữ tình- chính trị sâu lắng, thiết tha
B PHÂN TÍCH:
1 Cảm nhận của tác giả về sự hình thành Đất Nước: (Câu 1 – 9)
- Đoạn thơ trả lời câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ? Đó là sự cảm nhận và lí giải của tác
giả Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước theo phương diện lịch sử - văn hóa
a 2 câu đầu: Nhà thơ tự hào khẳng định về nguồn cội Đất Nước:
Đất Nước đã hình thành từ lâu đời và gần gũi, gắn bó thân thương với mỗi con người
- Câu thơ mở đầu rất giản dị : Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi → Đất Nước đã có từ
rất lâu trước khi ta ra đời Không phải đang viết một câu thơ, nhà thơ chỉ muốn nói lên mộtđiều bình thường, một cảm nhận về chân lí đã trở thành lẽ bình thường với một niềm tự hào vàbiết ơn mênh mông
- Tiếp theo, nhà thơ khẳng định chân lí bằng những chứng cớ hiển nhiên mà bất kì ai cũngbiết:
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa " mẹ thường hay kể.
Đất Nước hiện lên từ những huyền thoại, cổ tích “Ngày xửa ngày xưa” là những từ
quen thuộc khi bắt đầu kể một câu chuyện đời xưa….Từ "ngày xửa ngày xưa " đã có Đất
Nước Đất Nước đã có từ lâu đời, gắn liền với truyền thống yêu nước, lao động cần cù, gắn vớinhững thuần phong mĩ tục và lối sống tình nghĩa, thủy chung của dân tộc
b 7câu cuối: Nhà thơ cảm nhận về quá trình sinh tồn và phát triển của Đất Nước
* Câu 3,4,5,6: Đất Nước gắn liền với một nền văn hóa lâu đời của dân tộc Từ lâu đời đã
có đất nước Việt Nam, bởi đã bắt đầu có bản sắc văn hoá Việt Nam Có văn hoá Việt Nam tức là
đã hình thành một đất nước Việt Nam:
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”
Trang 22- Đất Nước bắt đầu cùng với sự hình thành phong tục ăn trầu → Câu thơ gợi lại “Sự tích trầu cau” thể hiện tình nghĩa anh em, vợ chồng gắn bó, thủy chung ” Miếng trầu bây giờ bà ăn” là điều giản dị, là một tập quán của dân tộc Việt Nam đã có từ hàng nghìn năm trước…
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” cho ta nhận thức: khởi đầu đất
nước là văn hóa được kết tinh từ tâm hồn Việt Từ truyền thuyết, truyện cổ tích đến ca dao, tục
ngữ, “miếng trầu ” đã là một hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mĩ, là hiện thân của tình yêu
thương, lòng thủy chung của tâm hồn dân tộc
- Rồi Đất Nước lớn lên, khẳng định sự trưởng thành Đất Nước lớn lên trong đau thương,vất vả cùng với sự nghiệp chiến đấu, hy sinh bảo vệ bờ cõi của dân tộc Việt Nam
+ Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc → Hình ảnh thơ gợi truyền
thuyết về Thánh Gióng – thể hiện truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất chống xâm lượccủa dân tộc ta từ thời dựng nước
+ Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc là nhận thức về tính cách
anh hùng của con người Việt Nam Từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ văn hiện đại,cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh quật cường của dân tộc trong sự nghiệp cứu nước
và giữ nước Cây tre là hình ảnh quen thuộc từ nghìn đời Biết trồng tre mà đánh giặc, nhân dân
Việt Nam thực sự đã trưởng thành trong ý thức về chủ quyền dân tộc
- Đất Nước còn được hình thành gắn với truyền thống văn hóa, phong tục của người Việt
Từ lâu đời, đã hình thành những vẻ đẹp con người Việt Nam từ ngoại hình đến tính cách :
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
+ Hình ảnh: “Tóc mẹ thì bới sau đầu” gợi một nét đẹp quen thuộc của người phụ nữ Việt
Nam Đó là nét văn hóa đặc thù của dân tộc Việt Nam không bao giờ bị ngoại lai dù trải quahàng ngàn năm Bắc thuộc
+ Đất Nước cũng được hình thành, gắn với những con người sống ân nghĩa, thủy chung :
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
Câu thơ ấy gợi ta nhớ đến câu ca dao “Tay bưng dĩa muối chén gừng - Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau” Gừng cay muối mặn là hình ảnh tượng trưng cho sự bền
vững, thuỷ chung trong tình yêu và tình vợ chồng Đó là một giá trị văn hóa, một truyền thốngđạo lí tốt đẹp, đáng trân trọng của con người Việt Nam ta
* Câu 7,8: Đất Nước lớn lên gắn liền với quá trình lao động cần cù để sinh tồn, từ việc
xây dựng mái nhà che mưa trú nắng “Cái kèo cái cột thành tên” đến lao động nông nghiệp vất
vả “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”.
- Từ lâu đời, con người Việt Nam đã biết thành thạo trong việc tạo dựng cửa nhà để ổn
định nơi sinh sống Đó là lúc “Cái kèo, cái cột thành tên” Cái kèo, cái cột là tên gọi những
bộ phận quan trọng trong cấu trúc một ngôi nhà truyền thống Việt Nam Cái kèo, cái cột cũng đã
trở thành những tên gọi bình dị, thân thương mà người Việt Nam xưa thường dùng đặt cho concái mình Đó là những tên gọi thuần tuý Việt Nam, gắn liền với ngôn ngữ Việt Nam, văn hóaViệt Nam
- Điều quan trọng nữa là nhân dân ta đã phải lao động vất vả, cơ cực để có được hạt gạo:
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng.
Với thành ngữ “Một nắng hai sương” kết hợp với những động từ mạnh “xay, giã, giần, sàng”, câu thơ như gói trọn cả quy trình lao động vất vả để làm nên lúa gạo Từ nghìn
Trang 23xưa, con người Việt Nam đã tự mình làm ra nguồn sống cho mình Từ nghìn xưa, con người
Việt Nam đã tạo dựng cho đất nước mình một nền văn minh lúa nước Việt Nam, nền văn minhsông Hồng
* Câu 9: Đoạn thơ khép lại bằng lời khẳng định ngắn gọn : Đất Nước có từ ngày đó
Đất Nước hình thành từ xa xưa và rất gần gũi trong cuộc sống mỗi người Đất Nước
có từ “ngày đó” - “Ngày đó” là ngày con người biết sống định cư (“Cái kèo cái cột thành tên”), biết gắn bó, yêu thương nhau (“gừng cay muối mặn”), biết tạo nên tập tục riêng (“miếng trầu bà ăn”, “tóc mẹ thì bới sau đầu ») Đất nước lớn lên qua quá trình lao động vất vả dựng nước
“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng” và quá trình đấu tranh đánh giặc giữ nước “khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
* SK: Đọan thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất liệu văn hóa dân gian với hình thức thơ
trữ tình - chính luận:
- Chữ “Đất Nước” được viết hoa và được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc vừa thểhiện ý nghĩa cao cả, thiêng liêng của Đất Nước vừa thể hiện tình cảm yêu quý, trân trọng ĐấtNước Từ đó, khắc sâu hình ảnh Đất Nước vào tâm trí người đọc
- Nói về Đất Nước, tác giả đã dùng những hình ảnh giàu sức gợi cảm, vừa cụ thể, gần gũi
(miếng trầu, búi tóc, hạt gạo, cái kèo, cái cột….) vừa có ý nghĩa khái quát vừa giàu chất suy tư
- Nhà thơ sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân gian:ca dao, truyện cổ, thành ngữ…tạo
chiều sâu văn hóa cho đoạn thơ, góp phần làm nổi bật tư tưởng “Đất Nước là của nhân dân”
Có thể nói, đoạn thơ là một định nghĩa độc đáo theo cách riêng của Nguyễn Khoa
Điềm về Đất Nước : Đất Nước không siêu hình, trừu tượng mà gắn bó, thân thuộc vối mỗi người, Đất Nước là của nhân dân.
2/ Cảm nhận Đất Nước từ phương diện thời gian- lịch sử , không gian - địa lí và văn hóa phong tục: (Câu 10 – 29)
- Đoạn thơ trả lời câu hỏi: Đất Nước là gì? Nguyễn Khoa Điềm đã suy tư về Đất
Nước với một niềm tự hào sâu sắc Đó là Đất Nước được cảm nhận trong sự thống nhất, hài hòatrên nhiều phương diện, qua chiều dài thời gian - lịch sử, không gian - địa lí và chiều sâu vănhóa phong tục, lối sống tính cách của người Việt Nam …
Theo tác giả Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được hình thành từ lâu đời cùng vớinhững điều hết sức giản dị, gần gũi và thân thương Đất nước gắn với không gian địa lí mênhmông, gắn với chiều dài của thời gian lịch sử , gắn với huyền thoại về Cha Lạc Long Quân và
Mẹ Âu Cơ…
a Câu 10 ->15: Không chỉ tự hào về Đất Nước mình có lịch sử lâu đời, Nguyễn Khoa
Điềm còn tự hào vì không gian mênh mông của Đất Nước Đất Nước là nơi ta sinh ra, là những
gì gần gũi, bình dị, thân thương nhất trong cuộc sống hằng ngày, trong mối quan hệ cộng đồng
và ngay trong mỗi con người Việt Nam
- Câu 10,11 : Đất Nước rất gần gũi, rất cụ thể, gắn bó với sinh hoạt đời thường, thể hiện
qua một ý thơ ngộ nghĩnh : Đất là nơi anh đến trường
Trang 24là không gian sinh tồn về vật chất của con người cá thể Nếu hợp lại thành một danh từ thì Đất Nước lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sống của cả cộng đồng – Đó là
Tổ Quốc Đất Nước không ở đâu xa, Đất Nước là Đất và Nước ở ngay bên ta, ngay dưới mỗi bước chân ta Từ thuở ấu thơ, cuộc đời ta đã gắn bó cùng Đất Nước Nơi anh đến trường, đó
là Đất của Đất Nước, nơi em tắm, đó là Nước của Đất Nước
- Câu 12,13 : Tiếp theo là một ý thơ độc đáo và thú vị - Đất Nước là nơi nảy nở của tình yêu đôi lứa, là nơi khắc ghi những kỉ niệm thơ mộng tuyệt vời:
« Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm ».
+ Câu thơ đẹp đã thể hiện ngòi bút tài hoa, tinh tế của tác giả Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai” đã dìu dặt trong ý thơ : « Khăn thương nhớ ai -Khăn rơi xuống đất -Khăn thương nhớ ai- Khăn vắt trên vai ” Một nỗi nhớ trong tình yêu, một
chốn để hẹn hò cho những người yêu nhau cũng cần đến Đất và Nước của Đất Nước
Bằng những hình ảnh cụ thể, gợi sự xao xuyến, bâng khuâng về “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”, câu thơ đã thể hiện và khắc ghi sâu đậm mối liên hệ mật thiết giữa tình yêu đôi
lứa à tình yêu Đất Nước Từ đó, tác giả khẳng định tình cảm gắn bó, hòa hợp với Đất Nướctrong mỗi con người
- Câu 14,15 : Đất Nước rất gần mà Đất Nước cũng rất xa Đó là Đất Nước với núi sông,
rừng bể, với một “không gian mênh mông” vô tận:
« Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi ".
+ Đất Nước là những nơi thật xa, tận bên kia chân trời, tận bên kia mặt biển Niềm tự
hào mở ra mênh mông trong câu thơ : Dù đứng ở đâu, thì trước mắt ta, cuối tầm nhìn xa xôi của
ta cũng là Đất và Nước của Đất Nước mình
Những câu thơ thấm đẫm chất dân gian, với những hình ảnh mượn từ dân ca Huế đã
nói lên cảm nhận của con người Việt Nam về Đất Nước mình : Không chỉ ngày nay, mà từ ngàyxưa, không chỉ người trí thức, mà cả những người mẹ, người chị bình thường nơi xóm quê cũng
đã nhận ra và tự hào về bờ cõi mênh mông, Đất và Nước mênh mông của Đất Nước mình.
b Câu 16 ->29 : Đất Nước với “Thời gian đằng đẵng – Không gian mênh mông” là Đất
Nước Việt Nam được cảm nhận qua chiều dài lịch sử, từ đến huyền thoại Lạc Long Quân và Âu
Cơ đến truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ
- Câu 16 -23 : + Đất Nước với “Thời gian đằng đẵng” là đất nước có bề dày lịch sử suốt
hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời vua Hùng mở cõi đến thời đại Hồ Chí Minhngày nay
+ Đất Nước là nơi sinh tồn của của cộng đồng : “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ” Đó là nơi đất lành nên chim bay về đậu, đó là nơi nước thiêng nên Rồng tìm đến : “Đất là nơi chim về- Nước là nơi Rồng ở”.
- Câu 24 - 29: Đất Nước được cảm nhận trên chiều dài “Thời gian đằng đẵng” Đó là Đất Nước với thời gian lịch sử lâu đời, bao gồm quá khứ, hiện tại và tương lai, được đo bằng sự
kế thừa, nối tiếp của các thế hệ “Những ai đã khuất – Những ai bây giờ » và đến « con cháu mai sau » trong truyền thống dựng nước và giữ nước
Trang 25 Theo chiều dài lịch sử, nhân dân luôn đóng vai trò chủ thể trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước Đất Nước luôn tiềm tàng mối quan hệ máu thịt với con người qua bao thờigian, bao thế hệ Đất nước hiện hữu trong sức mạnh đoàn kết dân tộc
+ Vì vậy, người Việt Nam luôn có ý thức sâu sắc về nguồn gốc tổ tiên, không quên cộinguồn dân tộc, nhất là những truyền thống, phong tục của cộng đồng:
“Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”.
* SK: Đọan thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất liệu văn hóa dân gian với hình thức thơ
trữ tình - chính luận
- Chữ “Đất Nước” được viết hoa và được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc vừa thểhiện ý nghĩa cao cả, thiêng liêng của Đất Nước vừa thể hiện tình cảm yêu quý, trân trọng ĐấtNước Từ đó, khắc sâu hình ảnh Đất Nước vào tâm trí người đọc
- Nói về Đất Nước, tác giả đã dùng những hình ảnh giàu sức gợi cảm, vừa cụ thể, gần gũivừa có ý nghĩa khái quát vừa giàu chất suy tư
- Nhà thơ sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân gian:ca dao dân ca, truyện cổ, …tạo chiều
sâu văn hóa cho đoạn thơ, góp phần làm nổi bật tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”
Đoạn thơ là những định nghĩa sâu sắc và hoàn chỉnh về Đất Nước, thể hiện sự gắn bócủa mỗi con người đối với Đất Nước Đất Nước được cảm nhận trên nhiều phương diện: từchiều dài của thời gian lịch sử, chiều rộng của không gian địa lý đến chiều sâu của văn hóa dântộc Đặc biệt, Đất Nước được cảm nhận trong sự thống nhất, hài hòa giữa cái riêng và cáichung, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thế hệ này với thế hệ khác nối tiếp nhau… Đó là cáchcảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước bằng quan niệm của tuổi trẻ vứa riêngbiệt vừa hết sức độc đáo
3/ Trách nhiệm của mỗi người đối với Đất Nước: (Câu 30 – 42)
* Câu 30-31: Đoạn thơ thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn
Khoa Điềm và thế hệ trẻ hiện tại về đất nước Theo đó, mối quan hệ giữa con người và ĐấtNước là mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời : Đất Nước gần gũi, là những gì ở quanh ta vàtrong ta
- Đất Nước quanh ta – là những gì gần gũi, thân thiết nhất trong cuộc sống hằng ngày củamỗi con người : trong mỗi câu chuyện kể « ngày xửa ngày xưa », trong những phong tục tậpquán « miếng trầu bà ăn, búi tóc của mẹ », nghĩa tình vợ chống chung thủy « gừng cay muốimặn »,
- Đất Nước còn ở trong ta - ở ngay trong máu thịt của anh và em :
“Trong anh và em hôm nay
Lời thơ giản dị nhưng có ý nghĩa sâu xa, nói đến vấn đề vị trí, trách nhiệm công dânmột cách nhẹ nhàng và thấm thía!
Trang 26* Câu 32 -35 : Tác giả đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, sự thống nhất
giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu Đất Nước trong những câu thơ :
“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thấm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn ”.
+ Hình ảnh “hai đứa cầm tay” gợi tả sự gắn bó lứa đôi, tượng trưng cho tình yêu, hạnh
phúc gia đình
+ “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm” gợi tả sự hòa hợp thân ái giữa cái riêng
và cái chung ; sự thống nhất giữa tình cảm lứa đôi và tình yêu Đất Nước Như nhà thơ Nguyễn
Đình Thi cũng đã từng khẳng định “Anh yêu em như anh yêu Đất Nước”.
+ Trong đoạn thơ có sự phát triển từ chi tiết “hai đứa cầm tay” đến “chúng ta cầm tay mọi người” và hình ảnh “Đất Nước vẹn tròn, to lớn” thể hiện sự gắn bó giữa cá nhân với cộng
đồng, mở rộng từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu đồng bào, tình đoàn kết dân tộc
Không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả tương lai (hôm nay, mai này), con người luôn
giữ vai trò chủ thể trong mối quan hệ với Đất Nước : Đất Nước vẹn tròn, to lớn hay hài hòa nồng thắm là hoàn toàn do tình cảm yêu thương, ý thức đoàn kết của con người trong cộng đồng
dân tộc
* Câu 36 -38 : Từ hiện tại, tác giả vươn tới tương lai, thể hiện niềm tin:
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”
Khẳng định: Thế hệ mai sau sẽ “lớn lên”, sẽ mang hết tâm huyết để “Gánh vác phần
người đi trước”, xây dựng và gìn giữ một Đất Nước thanh bình và giàu đẹp, đưa Đất Nước bay
xa, vươn cao
* Câu 39 – 42 : Khi đã thấu hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, Nguyễn Khoa
Điềm gửi đến thế hệ trẻ thông điệp về trách nhiệm đối với Đất Nước Theo tác giả, trách nhiệmđối với Đất Nước là sự tự nguyện, xuất phát từ tình cảm yêu thương, bởi đối với mỗi người, Đất
Nước là máu xương của mình :
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”
- Bằng tiếng gọi tha thiết “Em ơi em” như lời thủ thỉ tâm tình kết hợp với điệp ngữ “phải biết” rắn rỏi như mệnh lệnh, tác giả đã đặt ra trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với Đất Nước
- Những động từ được liệt kê dồn dập: gắn bó, san sẻ, hóa thân…
- Dạng câu trùng điệp, từ ngữ gợi cảm,cách xưng hô ngọt ngào, lời thơ tâm tình, nhẹnhàng, tha thiết Tất cả tạo nên giọng điệu chính luận, giàu chất trí tuệ nhưng không khô khan
mà sôi nổi, chân thành như lời nhắn nhủ: phải cố gắng giữ gìn di sản của tiền nhân, phải đem tâm huyết, tài năng để phục vụ Đất Nước Đó là lời nhắc nhở tha thiết của Nguyễn Khoa Điềm
với thế hệ trẻ Lời nhắn nhủ này mang tính chính luận nhưng không có ý nghĩa giáo huấn màvẫn rất trữ tình bởi đó cũng đồng thời cũng là lời tác giả tự nhủ, tự dặn mình về trách nhiệm đốivới Đất Nước một cách chân thành, tha thiết
Trang 27* SK:
- Chữ “Đất Nước” được viết hoa và được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc vừa thểhiện ý nghĩa cao cả, thiêng liêng của Đất Nước vừa thể hiện tình cảm yêu quý, trân trọng ĐấtNước
- Hình ảnh giàu sức gợi cảm, vừa cụ thể, gần gũi vừa có ý nghĩa khái quát, giàu chất suy
tư
Với phong cách thơ trữ tình - chính luận, lời thơ ngọt ngào, tha thiết, đoạn thơ thể hiệnnhững suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Tác giả đã nhìn thấymối quan hệ khắng khít giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cá nhân và Đất Nước, giữa hiện tại vàtương lai Từ đó, khơi gợi trách nhiệm của mỗi người đối với Đất Nước Theo Nguyễn KhoaĐiềm, Đất Nước vừa cụ thể, gần gũi, vừa cao cả thiêng liêng, vừa chung vừa riêng trong mỗi
con người Cảm nhận mới mẻ đó xuất phát từ tư tưởng Đất Nước là của nhân dân.
4/ Tư tưởng « Đất Nước của nhân dân »: (Câu 43 – 89)
- Sự hình thành và phát triển của Đất Nước gắn liền với đời sống mọi mặt của nhân dân Đất Nước hình thành từ xa xưa và rất gần gũi trong cuộc sống mỗi người : Đất Nước bắt
đầu từ lúc con người biết sống định cư (“Cái kèo cái cột thành tên”), biết gắn bó, yêu thương nhau (“gừng cay muối mặn”), biết tạo nên tập tục riếng (“miếng trầu bà ăn”, “Tóc mẹ thì bới sau đầu ») Đất Nước lớn lên qua quá trình lao động vất vả “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng” và quá trình đấu tranh đánh giặc giữ nước “khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Tư tưởng chủ đạo của đoạn trích : « Đất Nước của nhân dân »
a Câu 43 – 54 : Nhân dân đã hóa thân mình để tạo nên dáng hình xứ sở
Đoạn thơ trả lời câu hỏi : Ai làm ra không gian địa lí- bức tranh văn hóa đất nước muôn màu muôn vẻ ?
*Câu 43-50 : Từ những cảnh ngộ, số phận, phẩm chất , những con người Việt Nam
không tên không tuổi đã làm nên những địa danh, những danh lam thắng cảnh cho đất nước :
“Những người vợ nhớ chồng Bà Đen, Bà Điểm”
- Nhà thơ đã kể ra, đã liệt kê một loạt kì quan thiên nhiên, trải dài trên lãnh thổ từ Bắcxuống Nam như muốn phác thảo tấm bản đồ văn hóa của đất nước Những cảnh quan kì thú như
đá Vọng Phu, núi Con Cóc, núi Con Gà hay hòn Trống Mái… là những danh lam thắng cảnh do bàn tay tự nhiên kiến tạo nhưng từ bao đời nay, ông cha ta đã phú cho nó tính cách, linh hồn lẽ
sống của dân tộc
+ Nếu không có những người vợ mòn mỏi nhớ chồng qua các cuộc chiến tranh và li tánthì cũng không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu
+ Cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì cũng không có sự
cảm nhận về vẻ hùng vĩ của vùng núi đồi xung quanh đền vua Hùng là “chín mươi chín con voi”.
+ Mỗi danh lam thắng cảnh tươi đẹp của Đất Nước gắn với những tên tuổi nôm na, bình
dị của nhân dân như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… đậm đà tình nghĩa, đầy chất thơ
Những ngọn núi, những dòng sông kia chỉ trở thành thắng cảnh khi gắn liền với conngười, được cảm thụ qua tâm hồn, qua lịch sử dân tộc Bao thế hệ con người Việt Nam đã tạcvào núi sông vẻ đẹp tâm hồn yêu thương thủy chung để ta có những núi Vọng Phu, hòn Trống
Trang 28Mái? Bao thế hệ con người Việt Nam có vẻ đẹp lẽ sống anh hùng để ta có những ao đầm ,những ngọn núi như những di tích lịch sử về quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng?
Khẳng định: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng đều do nhân dân tạo ra,đều là của nhân dân
* Câu 51 54 : Những câu thơ tiếp theo mang tính khái quát, khẳng định:
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
……….
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.
Cách nhìn của tác giả về những thắng cảnh, về địa lí - là một cách nhìn có chiều sâu
và là một phát hiện mới mẻ: Thiên nhiên Đất Nước chính là một phần máu thịt, tâm hồn củanhân dân – mang bóng dáng niềm khát khao, mơ ước của cha ông trong bốn nghìn năm dựngnước và giữ nước
* SK: Đoạn thơ có cấu trúc quy nạp, đi từ liệt kê các hiện tượng cụ thể đến khái quát
mang tính triết lí sâu sắc Dường như nhà thơ không thể kể ra hết những danh lam thắng cảnh,đồng thời cũng là những nét đẹp văn hóa dân tộc nên đã khắng định: Trên không gian- đía lí đấtnước, mỗi địa danh đều là một địa chỉ văn hóa được làm ra bởi sự hóa thân của bao cuộc đời,bao tâm hồn con người Việt Nam
b Câu 55 – 72 : Nhân dân đã làm nên tiến trình lịch sử của Đất Nước
Đoạn thơ trả lời câu hỏi : Ai đã làm ra lịch sử và truyền thống đất nước ?
- Theo tác giả Nguyễn Khoa Điềm, chính những người dân bình thường cần cù làm lụng
để xây dựng Đất Nước(Câu 56-60) Khi có giặc, họ đánh giặc để cứu nước, khi có nội thù thìvùng lên đánh bại (Câu 61-72)
- Chính nhân dân – những con người vô danh, bình dị đã làm ra Đất Nước :
“Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
… Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.
- Khi nghĩ về bốn nghìn năm của Đất Nước, tác giả không điểm lại các triều đại, các anhhùng nổi tiếng mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh, bình dị Theo quan niệmcủa tác giả, nhân dân là tập thể những anh hùng vô danh Họ sống rất đỗi bình dị, chết bình tâm– Họ âm thầm lặng lẽ hiến mình cho Đất Nước Có sự gặp gỡ giữa Nguyễn Khoa Điềm vàNguyễn Đình Thi ở quan niệm : Đất nước anh hùng được làm nên bởi những con người bìnhthường mà phí thường, giản dị, mộc mạc mà cao cả, kì vĩ :
« Ôm đât nước những người áo vải
người vô danh, bình dị Từ đó đi đến khẳng định tư tưởng « Đất Nước là của nhân dân » Đây
là một phát hiện thú vị và độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước
c Câu 73 - 80 : Tác giả biểu dương ca ngợi vai trò lịch sử, sức mạnh lớn lao kì diệu
của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
* Câu 73- 77 : Trong sự nghiệp dựng nước, chính nhân dân - những con người vô danh,
bình dị là những người đã sáng tạo, bảo vệ giữ gìn và truyền lại những giá trị văn hóa, văn minh
Trang 29tinh thần và vật chất cho dân tộc như : hạt lúa, ngọn lửa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán Đó là
công lao vĩ đại của nhân dân :
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”
+ Cách dùng từ « họ» : Họ là đại từ xưng hô số nhiều chỉ nhân dân - những con người
nhỏ bé, bình thường thuộc đám đông trong xã hội chứ không phải những cá nhân anh hùng
+ Hệ thống các động từ : giữ, truyền, gánh, đắp, be, dạy, được sử dụng đan dày trong
đoạn thơ ghi nhận đóng góp lớn lao của nhân dân đối với sự nghiệp dưng nước Nhân dân ,bằng những việc làm cụ thể, bé nhỏ, rất đỗi bình dị mà thiết thực, ý nghĩa đã làm nên Đất Nước
+ Gắn với chuỗi động từ này, tác giả đã sử dụng những hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi
cảm : hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, tên xã, tên làng… Một mặt, nhà thơ tiếp
tục thể hiện khám phá mới mẻ, độc đáo về Đất Nước trong bề rộng không gian địa lí và tầng sâucủa truyền thống văn hóa, tạo nên sự thống nhất trong cách cảm nhận về Đất Nước của toànchương thơ Mặt khác, tác giả khẳng định nhân dân chính là lực lượng đông đảo vừa kiến tạovừa bảo tồn, lưu giữ truyền thống giàu tình nghĩa, giàu tình yêu thương, cần cù lao động Đó lànhững giá trị văn hóa, tinh thần cao quý của Đất Nước
+ Nhân dân chủ động tạo nên ruộng đồng, bờ bãi phì nhiêu cho thế hệ sau « trồng cây hái trái”
+ Nhân dân cũng chính là những người góp phần mở mang bờ cõi Đất Nước, khai sông
lấn biển qua « mỗi chuyến di dân » đầy gian khổ.
* Câu 78- 79 : Trong công cuộc đấu tranh giữ nước, cũng chính nhân dân đã viết nên
trang sử bi tráng : « Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại »
+ Hai dòng thơ dược viết theo lối vừa điệp vừa tiểu đối đã khẳng định đầy tự hào sức
mạnh lớn lao của nhân dân chống lại các thế lực thống trị là ngoại xâm và nội thù
Nhân dân đã tạo dựng nền móng sự sống và họ luôn sẵn sàng vùng lên đánh đuổi giặcngoại xâm và nội thù để gìn giữ sự sống đó đồng thời bảo vệ nền độc lập tự do cho quê hương,đất nước Từ đấy, họ hun đúc nên truyền thống kiên cường, bất khuất Đó là truyền thống chứa
đựng bản lĩnh của một dân tộc mà « lịch sử thành văn trên mình ngựa ».
Nhà thơ khẳng định công sức, trí tuệ, tâm huyết của bao thế hệ con người Việt Namtrong quá trình dựng nước và giữ nước : Nhân dân đã tạo nên và lưu truyền ngọn lửa văn hóacủa các thế hệ Chính nhân dân - những người con người vô danh và bình dị ấy đã giữ gìn vàtruyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, tinh thần và vật chất của Đất Nước, của dântộc
* SK:
- Tác giả đã dùng những từ ngữ hình ảnh giàu sức gợi cảm, vừa cụ thể, gần gũi với đờisống vừa có ý nghĩa khái quát, giàu chất suy tư
Bằng giọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiết tha, đoạn thơ là bức tượng đài kì
vĩ khẳng định, ca ngợi vai trò chủ thể của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước Từ
đó góp phần làm nổi bật tư tưởng chủ đạo của đoạn trích “Đất Nước là của nhân dân”.
d.Câu 80 - 89 : Khẳng định tư tưởng « Đất Nước của nhân dân »
Mạch suy nghĩ của đoạn thơ dẫn đến tư tưởng cốt lõi, điểm hội tụ và cũng là cao
điểm của cảm xúc trữ tình “ Đất Nước của nhân dân – Đất Nước của ca dao thần thoại”:
Trang 30* Câu 80 - 81 : Tư tưởng chủ đề của tác phẩm « Đất Nước của nhân dân » được kết tinh
ở hai câu thơ : « Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”:
- Trong cụm từ « Đất Nước nhân dân », nhân dân là một tính từ, xác định tính chất dân
chủ của thể chế chính quyền nhá nước
- Trong cụm từ « Đất Nước của nhân dân », « nhân dân » là một danh từ, vừa xác định
vừa khẳng định nhân dân mới là chủ nhân thực sự của Đất Nước ; nhân dân là người có tráchnhiệm xây dựng, bảo vệ Đất Nước nên cũng là những người đầu tiên được thụ hưởng thành quảngọt ngào từ sự nghiệp đó
Hai dòng thơ là đỉnh điểm, kết quả thăng hoa cảm xúc về đất nước của tác giả trong
đoạn thơ, trong chương V và toàn bộ trường ca “Mặt đường khát vọng” Đó là lời kết, là khái
quát từ những gì đã được triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu củadòng cảm hứng trữ tình- chính luận
- Để chuyển tải tư tưởng «Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại », tác
giả đã tìm đến nguồn chất liệu dồi dào và vô cùng thích hợp là chất liệu văn hóa, văn học dângian
«Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quý công cầm vàng trong những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.
-Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại là sáng tạo ra đất nước.Tác giả trở về với cội nguộn phong phú, đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian, mà tiêu biểu là
ca dao, dân ca, truyện cổ tích
- Trong cả kho tàng ca dao, dân ca, tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diệnquan trọng nhất của truyền thống dân tộc:
+ Giàu lòng yêu thương, say đắm trong tình yêu: “yêu em từ thuở trong nôi”.
+ Quý trọng tình nghĩa: “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”.
+ Kiên cường và bất khuất, quyết liệt trong căm thù và chiến đấu: “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.
Tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm nhận thức được nhân dân làm nên lịch sử, làm ravăn hóa là sáng tạo đất nước để càng thêm tự hào và ngân lên khúc hát ngợi ca dạt dào saymê…Theo Nguyễn Khoa Điềm, tài sản quý giá nhất mà Đất Nước đã cho mỗi chúng ta chính làtruyền thống cao đẹp về đạo lí, tình cảm của người Việt Nam: Giàu lòng yêu thương, quý trọngtình nghĩa và kiên cường và bất khuất …
SK
: Trong cả đoạn thơ và cả chương V, từ « Đất Nước » luôn được viết hoa ở mọi vị
trí xuất hiện như một cách biểu đạt thái độ trân trọng và tình yêu sâu sắc của nhà thơ dành choĐất Nước
Đoạn thơ có sự đan dệt của những câu ca dao, tục ngữ, hàng loạt truyện cổ tích, vôvàn những tập quán phong tục một cách sáng tạo Điều có ý nghĩa nhất là chất liệu này được nhàthơ tái sinh bằng cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ am hiểu và vô cùng yêu quý, trân trọngkho tàng văn hóa, văn học do chính nhân dân tạo nên Tất cả cảm xúc được thể hiện trong nguồn
ánh sáng mới của tư tưởng «Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử ».
Trang 31e Đánh giá chung:
- Tư tưởng Đất Nước của nhân dân đã có từ trong lịch sử xa xưa Những nhà tư tưởng
lớn, những nhà thơ văn lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu,… đã từngnói lên vai trò của nhân dân trong lịch sử:
“Lật thuyền mới biết dân như nước” (Nguyễn Trãi)
“Dân là dân nước, nước là nước dân” (Phan Bội Châu)
- Đến văn học hiện đại, qua thực tiễn vĩ đại của cuộc cách mạng, nhiều người đã nhận
thức sâu sắc vai trò và những đóng góp to lớn của nhân dân, tiêu biểu như “Đất Nước” của Nguyễn Đình Thi, “Bên kia Sông Đuống” của Hoàng Cầm,…
- Trong dàn hợp xướng những khúc ca trữ tinh- chính trị về Đất Nước của thơ ca cách
mạng Việt Nam, đoạn thơ cũng như trường ca “Mặt đường khát vọng vẫn tìm được tiếng nói
riêng độc đáo, cảm động và sâu sắc Đó là tiếng nói biểu dương tôn vinh vai trò lịch sử, sứcmạnh kì diệu của nhân dân trong suốt trường kì lịch sử dân tộc Bằng những việc bình dị, họ đã,đang và sẽ mãi âm thầm, lặng lẽ làm nên Đất Nước
« Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm góp thêm một thành công trong dòng thơ vềđất nước thời chống Mỹ, làm phong phú thêm cho dòng thơ ca về đất nước của văn học ViệtNam
- Tên tuổi Nguyễn Đình Thi gắn liền với những ca khúc như “Diệt phát xít”, “Người
Hà Nội”, với tiểu thuyết “Xung kích”, “Vỡ bờ”,… với một số vở kịch, với các tập thơ: “Người chiến sĩ”, “Dòng sông trong xanh”, “Tia nắng”,…
- Thành tựu nổi bật nhất của ông là thơ: cảm xúc dồn nén, hàm súc, ngôn ngữ và hìnhảnh đầy sáng tạo, tính nhạc phong phú, hấp dẫn…
2.Tác phẩm:
- Bài thơ “Đất nước” in trong tập thơ “Người chiến sĩ” Nguyễn Đình Thi đã sáng tác bàithơ này trong một thời gian dài của cuộc kháng chiến chống Pháp (từ 1948 – 1955) Phần đầukhơi nguồn cảm hứng từ 2 bài thơ “Sáng mát trong” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949)
- Bài thơ mang tính chất lắp ghép nhưng vẫn thống nhất trong một cảm hứng chung: cảmhứng về đất nước Hình tượng đất nước được quan sát trong một không gian, thời gian đặc biệt:mùa thu
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN:
1 Đất nước trong hoài niệm (Mùa thu ở Hà Nội):
Trang 32a) Khơi nguồn cho những cảm xúc và suy ngẫm về đất nước là những cảm xúc được nảy sinh trong một buổi sáng mùa thu (thời hiện đại) Cách mở đầu này có phần giống với
thể hứng ca dao :
Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Cảm giác mát của thời tiết mùa thu được truyền qua chuỗi âm thanh trong trẻo, nhẹ
nhàng và êm dịu của câu thơ mở đầu, thấm vào hồn ngừơi đọc, gợi lên nỗi nhớ mùa thu năm xưa
ở Hà Nội Buổi sáng mùa thu trong lành, mát mẻ, gió nhẹ thổi và trong làn gió thoang thoảngmùi hương cốm mới Một mùi hương thanh tao rất đỗi quen thuộc của Hà Nội Chỉ bằng vài nét
mà Nguyễn Đình Thi đã gợi lên được cả không gian và thời gian, cả màu sắc và hương vị củamùa thu
b) Trong hòai niệm của nhà thơ, mùa thu Hà Nội với những cảnh vật và thiên nhiên
và con người hiện ra thật cụ thể, sinh động và gợi cảm:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người đi ra đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Với sự nhảy cảm, tinh tế, Nguyễn Đình Thi đã nhận ra cái chớm lạnh của buổi sáng mùathu, cảm nhận được cụ thể cái xao xác của gió heo may trên những thời gian ấy, nhà thơ đã ghilại thật sống động hình ảnh và tâm trạng của những chàng trai Hà Nội năm xưa rời thành phố rấtđỗi thân yêu ra đi, dứt khoát nhưng cũng đầy lưu luyến Hình bóng những con ngừơi hiện lêntrong bức tranh tâm cảnh vừa có hình khối, đường nét, vừa có màu sắc, ánh sáng, tạo được ấntượng sâu đậm, chất chứa những tâm trạng, nỗi niềm
Những chi tiết về mùa thu Hà Nội hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ với nỗi dadiết nhớ nhung Dáng vẻ trí thức tài hoa, lịch lãm và sự gắn bó máu thịt với Hà Nội của NguyễnĐình Thi được bộc lộ rõ qua những chi tiết gợi tả về Hà Nội rất đặc sắc Chỉ bằng vài nét pháchọa, tác giả đã gợi lên được thần thái, cái hồn của mùa thu Hà Nội và tâm trạng của những con
người năm xưa đẹp một cách hiu hắt, vắng lặng, phảng phất buồn Nỗi buồn đo vương vấn trong cái chớm lạnh của đầu thu, trong xao xác hơi may, trong khung ảnh thềm nắng lá rơi đầy, qua
thái độ của người ra đi càng dứt khóat lại càng bộc lộ sự lưu luyến, qua nhịp điệu khoan thai,man mác buồn của cả khổ khơ,… Có thể nói, mỗi chi tiết, hình ảnh về mùa thu Hà Nội năm xưanhư được chắt lọc từ máu thịt, tâm hồn của chính nhà thơ Đây là những câu thơ hay nhất, đẹp
nhất của bài thơ Đất nước Chỉ qua bốn câu thơ này, Nguyễn Đình Thi đã tự bộc lộ mình là một
nghệ sĩ đa tài về thơ, họa và nhạc
2 Đất nước trong kháng chiến :
(Bức tranh mùa thu ở chiến khu Việt Bắc và tâm trạng của nhà thơ).
Từ niềm hoài niệm về mùa thu năm xưa của Hà Nội, cảm xúc thơ lại trở về với không
gian và thời gian của ba câu thơ đầu – mùa thu hiện tại ở chiến khu Việt Bắc ( đoạn thơ từ “ Mùa thu nay khác rồi” đến “Những dòng sông đỏ nặng phù sa”)
Nếu như xem bốn câu thơ viết về mùa thu năm xưa ở Hà Nội là bức tranh thu thứ nhất,thì đoạn thơ này là bức tranh thu thứ hai – mùa thu ở chiến khu Việt Bắc trong những năm khángchiến chống thực dân Pháp
Trang 33- Bức tranh mùa thu này hiện ra với những hình ảnh bình dị, dân dã, khỏe khoắn vàtươi sáng.
- Không gian rộng lớn bao la, không còn vắng lặng, hiu hắt nữa mà rộn ràng, nhộnnhịp
- Tâm trạng của chủ thể trữ tình cũng có sự biến đổi rất rõ Từ tâm trạng phảng phấtmột nỗi buồn hiu hắt khi hoài niệm về mùa thu Hà Nội năm xưa đã chuyển sang tâm trạng
hào hứng, sôi nổi, tràn ngập niềm vui trước khung cảnh mùa thu ở chiến khi Việt Bắc Cái tôi trữ tình cũng chuyển thành cái ta Nhà thơ không chỉ nhân danh cá nhân mà còn nhân danh
cộng đồng, nói lên niềm tự hào chính đáng, ý thức làm chủ non sông, đất nước
Cảnh thu được cảm nhận qua tâm trạng, cảm hứng về mùa thu gắn liền với cảm hứng vềđất nước trong từng thời kì lịch sử, mùa thu đất trời gắn liền với mùa thu cách mạng Vì vậy, quanhững bức tranh về mùa thu, có thể thấy được sự biến đổi tâm trạng của nhà thơ
3 Những suy tư và cảm nhận của Nguyễn Đình Thi về đất nước.
Phần này tác giả tập trung khắc họa hình ảnh đất nước từ trong đau thương căm hờn đãanh dũng đứng lên chiến đấu
a Viết về sự khốc liệt của chiến tranh, Nguyễn Đinh Thi đã sáng tạo được những câu thơ thật xúc động, đầy ấn tượng:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quan nung nấu Bỗng bồn bồn nhớ mắt ngừơi yêu
Những câu thơ giàu giá trị tạo hình, gây ấn tượng sâu sắc bằng những hình ảnh đậpmạnh vào giác quan ngừơi đọc Cảnh tượng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa hư, vừa thực Nhữnghình ảnh này được xây dựng bằng thủ pháp ngược sáng của điện ảnh làm nổi bật nhưng tươngphản gay gắt: trong ánh chiều tà, những hàng dây thép gai rào quanh đồn bốt giặc giăng tua tủanhư đâm nát cả bầu trời quê hương; ráng đỏ của buổi chiều tà chiếu xuống những rãnh cày làmcho những cánh đồng vùng vành đai trắng đỏ rực lên như đang chảy máu Từ một hình ảnh thực
do quan sát được trong một chiều hành quân qua vùng Bắc Giang, Nguyễn Đình Thi đã nâng lênhình ảnh có ý nghĩa biểu tượng khái quát về sự đau thương của đất nước trong chiến tranh.Chiến tranh đã biến những cảnh tượng thanh bình như cánh đồng quê, buổi chiều tà trở thànhhoang vắng, đau thương, chết chóc Đó là bức tranh ngoại cảnh, đồng thời cũng là tâm trạng nữa– tâm trạng được miêu tả gián tiếp qua ngoại cảnh thể hiện nỗi đau xót vô hạn của nhà thơ trướccảnh quê hương đất nước bị tàn phá Đúng như Hoài Thanh đã nhận xét: “Có những nhà thơ chỉnói cái vui chiến đấu và chiến thắng Nguyễn Đình Thi còn nói thêm những xót xa, mất mát”
b Trên cái nền của đất nước đau thương, Nguyễn Đình Thi đã làm nổi bật tâm
trạng của ngừơi chiến sĩ: “Những đêm dài hành quân nung nấu – Bỗng bồn chồn nhớ mắt
người yêu”.
Nhà thơ cảm nhận sâu sắc những rung động tinh tế trong tâm hồn người ra trận
Những đêm dài đi nung nấu cùng với bồn chồn trong hai câu thơ đã diễn tả rất đạt mối quan hệ
giữa tình cảm thường trực và đột xuất, thể hiện thật tài tình và sâu sắc sự hài hòa giữa cái riêng
và cái chung, giữa tình yêu lứa đôi và tình yêu đất nước Cái riêng cũng không thể tách rời mà
hài hòa, trở thành một phần trong cái chung rộng lớn Đất nước cũng như nhiều bài thơ khác của
Nguyễn Đình Thi, cảm hứng về tình yêu – nhất là tình yêu trong chia li, xa cách – luôn hòaquyện với cảm hứng về quê hường, đất nước: