1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di chúc chung của vợ chồng

97 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều công trình nghiên cứu có đề cấp đến vấn đề này đã được công bố như: các bài viết đăng trên các tạp chí về luật học như: “Một số trao đổi về di chúng của một bên vợ, chồng định đoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Quốc Nguyên

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trung Thị Quỳnh Anh

Trang 4

1.1.2 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng

1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng

1.3 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

1.3.1 Điều kiện về mục đích và nội dung

1.3.2 Điều kiện về hình thức

1.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng

1.5 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quy định về di

Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TẠI TOÀ ÁN

VÀ NGUYÊN NHÂN KHI BÃI BỎ QUY ĐỊNH NÀY

Trang 5

TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợ

chồng tại Toà án

2.2 Nguyên nhân khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ

chồng trong Bộ luật dân sự năm 2015

Kết luận chương 2

Chương 3: SỰ CẦN THIẾT CỦA DI CHÚC CHUNG

CỦA VỢ CHỒNG VÀ KIẾN NGHỊ ÁP DỤNG TRONG

PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

3.1 Sự cần thiết của di chúc chung của vợ chồng trong pháp

luật dân sự Việt Nam

3.2 Kiến nghị áp dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự LHNGĐ: Luật hôn nhân và gia đình

TAND: Toà án nhân dân

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Dọc theo chiều dài lịch sử thế giới, từ nhà nước chủ nô đến nhà nước xã hội chủ nghĩa đang được hình thành, vấn đề thừa kế luôn được coi trọng và là một trong những vấn đề cốt lõi của mỗi nhà nước, là hình thức chủ yếu để bảo vệ các quyền công dân Ngoài ra, quyền thừa kế chính là

sự thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của mình trước khi chết bằng việc chuyển tài sản của mình cho người còn sống, quyền và nghĩa vụ của người sống đối với khối di sản của người chết, là động lực để các cá nhân lao động, sáng tạo tích luỹ tài sản mà không phải lo sợ sau khi mình chết đi, khối tài sản

đó sẽ không được để lại theo ý muốn của bản thân hoặc cho những người thân của mình

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành có hai hình thức thừa

kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Đối với hình thức thừa kế theo di chúc, đây chính là sự thể hiện ý chí của người chết đối với khối di sản của mình, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ Ngoài việc các cá nhân để lại

di sản của mình thông qua thừa kế theo di chúc thì pháp luật Việt Nam trước đây cũng đã quy định về di chúc chung của vợ chồng Nguyên nhân của quy định này là do quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, do vậy khuyến khích việc vợ chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung Chính vì lẽ đó, ngay từ nhà nước Đại Việt thời Lê Sơ,

Bộ luật Quốc Triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức đã ghi nhận khả năng vợ chồng “cùng lập di chúc chung” Tiếp đó, “việc dùng chúc thư chung để sử dụng gia sản” đã được bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và bộ Dân luật Trung

Kỳ năm 1936 công nhận Sau năm 1975, pháp luật nước ta cũng đã có quy

Trang 8

2

định cho loại di chúc này, từ Thông tư số 81 năm 1981 của TAND tối cao đến BLDS năm 2005 [3] Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đang có hiệu lực được Quốc hội thông qua vào ngày 24/11/2015 với tên gọi là Luật số 91/2015/QH13 đã không giữ lại những quy định về di chúc chung của vợ chồng

Sau một thời gian BLDS năm 2015 được áp dụng trong thực tiễn, dù các nhà làm luật đã đưa ra những hướng xử lý khi không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng nhưng đó cũng không phải cách giải quyết triệt để

và hiệu quả, đồng thời phủ nhận những ưu việt của di chúc chung của vợ chồng và được người viết phân tích cụ thể tại phần sau của luận văn

Do vậy, tôi lựa chọn đề tài:"Di chúc chung của vợ chồng" làm đề tài

nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng

và cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến nội dung di chúc chung của vợ chồng thì đã có nhiều khoá luận tốt nghiệp, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan Nhiều công trình nghiên cứu có đề cấp đến vấn đề này đã được công bố như: các bài viết đăng trên các

tạp chí về luật học như: “Một số trao đổi về di chúng của một bên vợ, chồng

định đoạt tài sản chung” của tác giả Hoàng Tuấn Trọng và Nguyễn Thị Thuý

Hương đăng trong Tạp chí Toà án nhân dân số 05/2010, “Những bất ngờ và

hướng xử lý khi không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng” của

PGS.TS Đỗ Văn Đại đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 05/2016…,

luận văn thạc sĩ luật học“Di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự

Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuyên bảo vệ tại Trường Đại học

Luật Hà Nội năm 2011, luận văn thạc sĩ luật học “Vấn đề di chúc chung của

vợ, chồng” của tác giả Bùi Văn Lợi bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 9

3

năm 2014, luận văn thạc sĩ “Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân

sự Việt Nam” của tác giả Đỗ Thu Hiền bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại

học quốc gia Hà Nội năm 2010, luận văn thạc sĩ “Di chúc chung của vợ

chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Đinh Thuỳ Dung bảo vệ

tại Học viện khoa học xã hội năm 2018

Các công trình nói trên chỉ tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý

luận và thực tiễn của di chúc chung của vợ chồng, tuy có luận văn thạc sĩ “Di

chúc chung của vợ chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”của tác giả Đinh

Thuỳ Dung có đề cập đến việc di chúc chung của vợ chồng không còn được quy định trong BLDS năm 2015, nhưng luận văn chưa làm rõ nguyên nhân, hướng xử lý khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015 của các nhà làm luật và đưa ra những cơ sở về sự cần thiết phải có quy định về di chúc chung của vợ chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam Đối với công trình nghiên cứu của PGS.TS Đỗ Văn Đại có đề cập đến những vấn đề nêu trên, tuy nhiên với sự hạn chế là một bài viết trên tạp chí về luật học cũng không thể đi sâu và truyền tải hết được nội đung

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Pháp luật về di chúc chung của vợ chồng tuy không phải là một lĩnh vực quá rộng lớn và phức tạp nhưng được quy định trong các văn bản trước đây đã hết hiệu lực do các văn bản pháp luật hiện hành không còn quy định Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu luận văn thạc sĩ được giới hạn trong các văn bản pháp luật quy định về di chúc chung của vợ chồng như: BLDS năm 2005, BLDS năm 1995, LHNGĐ năm 2000… Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về di chúc chung của vợ chồng được

pháp luật Việt Nam quy định qua các thời kỳ

Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tác giả mong muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định về di

Trang 10

4

chúc chung của vợ chồng Trên cơ sở đó và từ thực tiễn áp dụng, đưa ra các nguyên nhân khi quy định trên bị bãi bỏ trong BLDS năm 2015, làm cơ cở, căn cứ cho sự cần thiết phải có trong pháp luật dân sự Việt Nam Đồng thời,

dựa vào đó để nghiên cứu đưa ra những giải pháp, đề xuất áp dụng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn cần

phải giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, đề cập khái quát một số vấn đề lý luận về di chúc chung của

vợ chồng và trình bày tổng quát việc hình thành các quy định về di chúc

chung của vợ chồng trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Thứ hai, từ thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợ chồng tại Toà án để phân tích và đánh giá, từ đó đưa ra những nguyên nhân khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015

của các nhà làm luật

Thứ ba, sự cần thiết phải có quy định về di chúc chung của vợ chồng và hướng xử lý khi không còn quy định này trong BLDS năm 2015 Trên cơ sở

đó, sẽ giải quyết câu hỏi di chúc chung của vợ chồng sẽ được quy định như

thế nào trong pháp dân sự Việt Nam để phù hợp với thực tiễn đặt ra

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình

nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt các vấn đề về di chúc chung của vợ chồng trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh khi quy định này được áp dụng

trong các văn bản đã hết hiệu lực cũng như đang có hiệu lực

Trang 11

5

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng và sự cần thiết của quy định này trong pháp luật dân

sự Việt Nam

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét nguyên nhân dẫn đến việc bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015 hiện hành, việc đưa ra hướng xử lý của các nhà làm luật có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật

của các nước khác để đưa ra những đề xuất áp dụng

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến di chúc chung của vợ chồng, đặc biệt là hướng đề xuất áp dụng Cụ thể như trên cở sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm

rõ nội dung của kiến nghị đó…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý của vấn đề di chung của vợ chồng, nguyên nhân, hướng xử lý khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015 và sự cần thiết của quy định này trong pháp luật dân sự Việt Nam

Cụ thể: Xây dựng được khái niệm và đưa ra những nội dung cơ bản về di chúc chung của vợ chồng, từ thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợ chồng tại Toà án để phân tích và đánh giá, từ đó đưa ra những nguyên nhân khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS

năm 2015 của các nhà làm luật

Trang 12

6

Làm rõ được sự cần thiết phải có quy định về di chúc chung của vợ chồng và hướng xử lý khi không còn quy định này trong BLDS năm 2015, qua đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về di chúc chung của vợ

chồng tại Việt Nam

Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tương ứng Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật về

thừa kế nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng ở Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận về di chúc chung của vợ chồng

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợ chồng tại Toà án và nguyên nhân khi bãi bỏ quy định này trong Bộ luật dân

sự năm 2015

Chương 3: Sự cần thiết của di chúc chung của vợ chồng và kiến nghị áp

dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 13

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

1.1 Khái niệm di chúc và di chúc chung của vợ chồng

Thuật ngữ “Di chúc” được hình thành từ rất sớm và từng được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “Chúc thư, văn khế, lời dặn …”

Tại Điều 366 (25) Bộ luật Hồng Đức quy định rằng “Những người làm

chúc thư văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế

ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được”; mặc dù bộ luật có đề

cập đến khái niệm Chúc thư nhưng không có quy định nào làm rõ về hành vi pháp lý từ khái niệm Chúc thư văn khế là gì, cho đến các vấn đề khác về chủ thể, đối tượng, tạo lập, điều kiện, hiệu lực…[28] Cũng tại Điều thứ 320, Điều

thứ 321 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định “Người cha được lập ra chúc

thư để xử trí tài sản của mình tuỳ theo ý mình …”, “Người nào đã thành niên, hoặc đã thoát quyền mà có đủ trí khôn, thì đều có tư cách được di chúc và lập

ra chúc thư để xử trí về tất cả tài sản của mình…” chỉ đưa ra mục đích của

việc lập chúc thư mà chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào Tuy nhiên,

trong phần Danh từ giải nghĩa của cuốn sách đã đưa ra “Chúc thư là tờ dặn

lại, giối lại, nghĩa là cái thư của người trước khi lâm chung đã làm thành

Trang 14

8

khoản ước để làm bằng cứ mà để lại của cải cho cháu về sau” [6] Ngoài ra,

“Chúc thư là văn bản chính thức ghi những ý muốn của một người, đặc biệt là

xử lý những tài sản của mình sau khi chết” [26]

Theo từ điển tiếng Việt, di chúc được hiểu là lời dặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm và nên làm [27] Từ xa xưa, di chúc là những lời căn dặn của người chết đối với con cháu cách sống, phải yêu thương lẫn nhau, giao các nghĩa vụ đạo đức cho họ… Như vậy, di chúc ở đây không nhằm chuyển dịch bất cứ loại tài sản nào của người chết nhưng nó có ý nghĩa nhất định về mặt tinh thần đối với những người còn sống Đây là loại di chúc khá phổ biến, nó được thể hiện ở lời căn dặn của người chết với những con cháu và được con cháu nghe theo Nói đến loại di chúc này, chúng ta không thể không nhắc đến Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bác viết lần đầu năm 1965 và hoàn thành năm 1969 Di chúc của Bác được công bố đến nay

đã tròn nửa thế kỷ nhưng vẫn như ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Để từ đó,

ta thấy được giá trị không thể thay thế của loại di chúc này Tuy nhiên, xét theo góc độ pháp lý, những di chúc này không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự do nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là nghĩa vụ tự nhiên, dù họ không thực hiện cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý, nghĩa là khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến di chúc loại này, pháp luật sẽ không can thiệp, việc giải quyết tranh chấp này chủ yếu là sự phê phán, lên án của xã hội của dòng họ hay của gia đình Pháp luật chỉ được xem xét trong trường hợp này khi các tranh chấp đó dẫn đến các bên xảy ra xung đột và có dấu hiệu của vi phạm pháp luật Căn cứ pháp lý được áp dụng để giải quyết xung đột trong trường hợp này không phải là các quy phạm pháp luật thừa kế trong pháp luật dân sự mà là các quy phạm thuộc các ngành luật khác có liên quan ví dụ như hình sự hay hành chính

Trang 15

9

Từ BLDS năm 1995 (Điều 649) đến BLDS năm 2005 (Điều 646) và

hiện nay là BLDS năm 2015 (Điều 624) đều quy định “Di chúc là sự thể hiện

ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Việc điều luật quy định từ “người khác” ở đây không chỉ theo ý hiểu

thông thường là một cá nhân, một con người mà được hiểu theo nghĩa rộng đó

có thể còn là một tổ chức Theo đó, người lập di chúc dựa vào ý chí chủ quan của mình định đoạt cho bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào mà họ muốn được hưởng

di sản sau khi mình qua đời Việc pháp luật dân sự quy định về sự định đoạt tài sản của mình trong di chúc không làm triệt tiêu đi lời dặn dò con cháu, người thân của họ hay những nghĩa vụ tự nhiên như đã nêu trên Đối với phần nội dung của di chúc quy định về việc chuyển tài sản sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, phần còn lại sẽ không bị vô hiệu trong di chúc mà không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự

Di chúc theo loại này có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc

Chủ thể lập di chúc là cá nhân mà không phải chủ thể khác, do pháp luật quy định cụ thể cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện “việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không thể thực hiện bằng lối ủy quyền Không ai có thể ủy quyền cho người khác để thay mình lập chúc thư mà pháp luật cũng không có quyền chỉ định một thụ ủy luật định để lập chúc thư thay thế một người khác” [5] Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai không phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, thân thích hay hôn nhân với người lập di chúc và có quyền cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật Như vậy, việc có lập di chúc

Trang 16

10

hay không, trong di chúc chỉ định ai được hưởng di sản, được hưởng bao nhiêu, truất quyền thừa kế của ai… đều do người để lại di chúc quyết định mà không cần thoả thuận bàn bạc, trao đổi hay thống nhất với người khác và cũng không ai có quyền can thiệp vào Di chúc là một giao dịch dân sự thể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương Khác với khế ước là một hợp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển hữu, tác động hay bất tác động Phản chiếu một sự ưng thuận, khế ước đòi hỏi ít nhất sự hiện diện của hai người trái chủ và phụ trái Tuy nhiên, cũng

có trường hợp đặc biệt những khế ước ký chính với đích thân mình (le contrat envers soi même), (tiếng Đức seldst conltrakt) Song, sự thực đây chỉ là một

kỹ thuật pháp lý đặc biệt để che đậy quyền lợi của hai người riêng biệt … [12]

Thứ hai, mục đích của việc lập di chúc là để chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Như đã phân tích ở trên, xét theo góc độ pháp lý, những di chúc không nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự do nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là nghĩa

vụ tự nhiên Có thể nói, đây là đặc điểm quan trọng nhất của di chúc bởi lẽ đó

là sự hướng đến của người lập di chúc, là cơ sở để chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi chết Thông qua di chúc, người để lại thừa

kế thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của mình và có ý nghĩa về mặt vật chất đối với người được thừa kế Như vậy, quyền sở hữu đối với tài sản của người chết sẽ không bị mất đi mà chỉ chuyển từ người này sang người khác, đời này sang đời khác, không những vậy còn có thể làm tăng giá trị của tài sản, tạo tiền đề cho sự phát triển không những của chính bản thân họ mà còn của đất nước Việc pháp luật dân sự ghi nhận và tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản

Trang 17

11

của người lập di chúc cũng chính là việc bảo đảm quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản của họ dã được quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013

Thứ ba, di chúc có hiệu lực khi người lập di chúc chết

Di chúc là một giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng hành vi pháp

lý đơn phương Cũng là giao dịch dân sự nhưng hợp đồng là sự thể hiện ý chí của hai bên và có hiệu lực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác) thì di chúc là sự thể hiện ý

chí của một bên và “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế”

(Khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2015), tức thời điểm người có tài sản chết Như vậy, dù người để lại di sản đã lập di chúc nhưng vẫn còn sống thì người thừa kế theo di chúc cũng chưa được chuyển tài sản hay không có bất kỳ quyền nào đối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng không thể chắc chắn sẽ được nhận tài sản người lập di chúc Khi người lập di chúc chết thì họ mới được hưởng di sản thừa kế vì người lập di chúc còn sống họ vẫn có quyền định đoạt khối di sản của mình cho ai, cho họ bao nhiêu tài sản trong khối di sản, truất quyền thừa kế của ai … Tuy nhiên, trên thực tế khi lập di chúc thì người để lại di chúc vì lý do nào đó chưa muốn người thừa kế hưởng

di sản ngay khi mở thừa kế mà muốn họ chỉ được hưởng di sản khi đạt được những điều kiện nhất định, làm được một số điều kiện, nghĩa vụ nhất định mà người lập di chúc đặt ra Khi đó di chúc trở thành di chúc có điều kiện Tại

Điều thứ 334 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định “Người được tặng dữ

mà không thi hành những điều kiện của người lập chúc thư đã bắt buộc mình, thì sẽ bị bãi mất của tặng dữ ấy” Mặc dù pháp luật hiện hành không có quy

định ở một điều luật cụ thể nhưng chúng ta có thể hiểu các nhà lập pháp

“ngầm” chấp nhận di chúc có điều kiện với nội dung ở Khoản 2 Điều 631 BLDS năm 2015 thì di chúc có thể có các nội dung khác ngoài Khoản 1 Điều

631 BLDS năm 2015 Vấn đề đặt ra đối với di chúc này là hiệu lực được xác

Trang 18

1.1.2 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng

Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt Tính chất đặc biệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hình thức… nhưng lại không được pháp luật quy định rõ Cụ thể, di chúc chung của vợ chồng chỉ quy định ở ba điều luật duy nhất là Điều 666, Điều 667, Điều 671 BLDS năm 1995, cũng ở ba điều luật duy nhất là Điều 663, Điều

664, Điều 668 BLDS năm 2005 và không còn được quy định trong BLDS năm 2015 nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đến nhiều điều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam như LHNGĐ, Luật đất đai

Nhìn vào hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, theo từng quan điểm lập pháp chúng ta thấy có sự khác nhau rõ rệt về quy định di chúc chung của vợ chồng trong BLDS các quốc gia Theo đó, các nhà làm luật tại Pháp đã thể hiện rõ trong BLDS Cộng hoà Pháp không chấp nhận vấn đề di chúc chung của vợ chồng Tại Điều 968 BLDS Cộng hoà Pháp năm 1804 quy

định: “Hai hoặc nhiều người không thể làm chung một di chúc để lại tài sản

cho một người thứ ba hoặc để lại tài sản cho nhau” Tuy rằng pháp luật của

Pháp tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản nhưng lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sản này, được thể hiện qua việc không cho phép, cấm vợ chồng lập di chúc chung dù cho để lại tài sản cho nhau

Trang 19

13

Cũng giống như pháp luật dân sự của Pháp, pháp luật dân sự của Nhật Bản, pháp luật dân sự của Thái Lan, pháp luật dân sự của Thuỵ Sỹ cũng không quy định di chúc chung của vợ chồng Về khía cạnh lập pháp, việc xây dựng pháp luật của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ lập pháp của quốc gia đó Do vậy, trên thực tế khó có thể

áp dụng nguyên vẹn một hệ thống pháp luật của một quốc gia vào một quốc gia khác và chúng ta còn chưa nói đến việc ngay trong cùng một quốc gia cũng có thể có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, ví dụ như Trung Quốc Việc quốc gia này quy định một vấn đề mà quốc gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên Do vậy có những quốc gia vẫn quy định di chúc chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của mình như Cộng hoà liên bang Đức

Như đã nêu trên, di chúc chung của vợ chồng chỉ được quy định trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, tuy nhiên trong hai bộ luật dân sự này đều không định nghĩa thế nào là “di chúc chung của vợ chồng” mà đều chỉ

quy định “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”

Từ khái niệm “di chúc” đã đưa ra và theo quy định của pháp luật thì di chúc chung của vợ chồng là ý chí chủ quan và thống nhất chung của vợ chồng được thể hiện dưới một hình thức nhất định do pháp luật quy định để chuyển tài sản chung hợp nhất của vợ chồng cho người khác sau khi chết

1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng

Là một loại di chúc đặc biệt nên di chúc chung của vợ chồng cũng mang những đặc điểm của di chúc thông thường đã nêu trên là hành vi pháp

lý đơn phương nhằm để chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

và di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết Tuy nhiên, do xuất phát từ tính chất đặc biệt nên di chúc chung của vợ chồng mang những đặc điểm riêng sau:

Trang 20

Ý chí đơn phương là điểm khác biệt của di chúc cụ thể hơn là di chúc chung của vợ chồng so với giao dịch dân sự khác, nó được thể hiện ở việc vợ, chồng toàn quyền tự định đoạt tài sản chung của mình cho bất kỳ ai, cho ai bao nhiêu, cho nhiều hay ít, mục đích sử dụng tài sản chung khác như có để lại một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, hay những vấn đề khác không phải định đoạt di sản như giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí chủ quan của vợ, chồng nhưng đã được thống nhất và không bị chi phối bởi ý kiến của bất kỳ ai Vợ chồng khi lập di chúc chung tự quyết định việc để lại di sản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào và người được hưởng thừa kế không bắt buộc phải có quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng đối với họ Đây là sự thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân và ở đây là vợ chồng, hai cá nhân độc lập được pháp luật tôn trọng

Thứ hai, di chúc chung của vợ chồng được lập trong khi quan hệ hôn nhân còn hiệu lực

Từ khái niệm “di chúc chung của vợ chồng” đã nêu trên thì chủ thể lập

di chúc chung của vợ chồng phải là “vợ chồng” mà không phải là một cá nhân riêng lẻ Khi đó, di chúc phải do đồng thời cả người vợ và người chồng cùng

Trang 21

15

thống nhất ý chí lập nên, như vậy mối quan hệ hôn nhân của họ phải đang còn hiệu lực được pháp luật công nhận

Theo quy định tại khoản 13, Điều 3 LHNGĐ năm 2014 xác định:

“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Như vậy, di chúc chung

của vợ chồng phải được lập trong thời gian sau khi đăng ký kết hôn đến trước khi chấm dứt hôn nhân Cũng theo quy định của Luật này thì việc đăng ký kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bằng chứng hôn nhân và từ đó là bằng chứng của quan hệ vợ chồng hợp pháp là Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng

Tuy nhiên trên thực tiễn có những trường hợp không đáp ứng được những điều kiện về nội dung, hình thức kết hôn theo LHNGĐ năm 2014 như trường hợp có nhiều vợ hoặc nhiều chồng; trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đây là những trường hợp do hoàn cảnh lịch sử để lại nhưng quan hệ hôn nhân của họ vẫn có hiệu lực và được pháp luật công nhận

Luật hôn nhân và gia đình được ban hành lần đầu tiên năm 1959 và có hiệu lực vào ngày 13/01/1960 Khác với chế độ đa thê trước đây, LHNGĐ

năm 1959 đã quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người

khác” (Điều 5) Đây chính là khởi nguồn của chế độ hôn nhân một vợ, một

chồng, là sự thay đổi tư tưởng mạnh mẽ so với tư tưởng lạc hậu đã xuyên suốt

từ thời kỳ phong kiến, đề cao quan hệ bình đằng giữa nam và nữ bấy lâu nay luôn bị bỏ qua Tuy nhiên, đối với quan hệ hôn nhân của vợ, chồng được xác lập trước ngày 13/01/1960 vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng nhưng vẫn được pháp luật thừa nhận và công nhận Nguyên tắc hôn nhân một

vợ, một chồng chỉ được thực hiện từ ngày LHNGĐ năm 1959 có hiệu lực

Trang 22

16

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định và thừa nhận trường hợp “chung sống tay ba” trong Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của TAND tối cao hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, chồng khác Theo đó, tại điểm c Mục 1 Phần II của Thông tư này

quy định: “… người chồng xin ly hôn với người vợ trước hoặc người vợ sau

với những lý do không chính đáng thì Tòa án cần hòa giải giúp đỡ để họ chung sống tay ba” Như vậy, trong trường hợp ngoại lệ này pháp luật vẫn

công nhận việc người chồng có hai người vợ

Pháp luật chỉ ghi nhận di chúc chung của vợ chồng được lập trong thời

kỳ hôn nhân mới được coi là hợp pháp Trên thực tế, có những người không phải vợ, chồng hoặc đã từng là vợ, chồng của nhau do đã ly hôn mà lập di chúc chung của vợ chồng thì di chúc đó không được pháp luật công nhận và không có hiệu lực Tuy nhiên, có những trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn vẫn được coi là vợ chồng và di chúc chung được lập trong thời kỳ chung sống với nhau như vợ chồng vẫn được coi là hợp pháp

Có thể nói quan hệ hôn nhân còn hiệu lực được pháp luật công nhận đều hợp pháp tuy nhiên trên thực tế không phải quan hệ hôn nhân còn hiệu lực nào cũng đều hợp pháp, cũng có trường hợp quan hệ hôn nhân này là không hợp pháp có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Đối với những trường hợp này, việc huỷ kết hôn trái pháp luật dẫn đến hậu quả pháp

lý của của di chúc chung của vợ chồng mà họ đã lập trước đó, cụ thể là dù họ

có lập di chúc chung và đến khi có tranh chấp về thừa kế xảy ra thì di chúc chung của vợ chồng mà quan hệ hôn nhân của họ không hợp pháp đã lập cũng không được pháp luật công nhận và không có hiệu lực pháp luật

Trang 23

17

Thứ ba, tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

Theo quy định của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 thì: “Vợ,

chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”, như vậy tài sản

được định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng phải là tài sản chung của vợ chồng Khi xây dựng một gia đình, ngoài vấn đề về tình cảm giữa vợ và chồng, sự quan tâm chăm sóc đến con cái thì vấn đề nền tảng của một gia đình không thể thiếu đó là kinh tế Kinh tế ở đây là muốn nói đến chính là tài sản của vợ chồng Khi vợ chồng chung sống thì sẽ tạo lập nên một khối tài sản nhất định, khối tài sản này bao gồm tài sản riêng của người vợ, người chồng và tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, đối với truyền thống một nước phương Đông, để gắn kết một gia đình thì người ta luôn quan tâm đến tài sản chung của vợ chồng Tại Điều 33 LHNGĐ năm2014 quy định:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

Trang 24

18

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi

là tài sản chung”

Cũng theo quy định tại Điều 207 và Điều 210 BLDS năm 2015: “Sở

hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung

mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa

vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung”

Xuất phát từ tính chất đặc biệt của di chúc chung của vợ chồng thì tài sản được định đoạt chỉ là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Việc các nhà làm luật quy định như vậy căn cứ vào chủ thể lập di chúc là vợ chồng và từ những đặc điểm riêng có của tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Tài sản chung hợp nhất của vợ chồng không nhất thiết phải do cả người vợ và người chồng trực tiếp tạo ra tài sản đó (như từ lao động, sản xuất hoặc kinh doanh),

có nghĩa là chỉ cần một trong hai bên vợ hoặc chồng tạo ra là đã xác định là tài sản chung của hai vợ chồng Khi hai bên vợ chồng thực hiện các quyền trong quyền sở hữu đối với tài sản chung thì không phụ thuộc vào công sức đóng góp của từng người mà họ đều có quyền ngang nhau đối với tài sản chung này Do vậy, vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản là hoàn toàn hợp lý [22]

Chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ, chồng được quy định nhằm xác định các loại tài sản trong mối quan hệ giữa vợ, chồng và thể hiện các quyền

và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản này Tài sản chung của vợ, chồng chỉ hình thành sau khi quan hệ hôn nhân hợp pháp được xác lập

và được pháp luật quy định những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng, tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng mà không được tự vợ chồng thoả

Trang 25

1.3 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

1.3.1 Điều kiện về mục đích và nội dung

Như đã phân tích ở trên, việc lập di chúc chung của vợ chồng là hành vi pháp lý đơn phương trong giao dịch dân sự Tuy nhiên, pháp luật không quy định riêng các điều kiện có hiệu lực đối với loại di chúc này mà sẽ được áp dụng như các điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự và của di chúc thông thường

Theo Điều 122 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”

Như vậy, điều kiện đầu tiên để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực

là điều kiện về chủ thể, cụ thể chủ thể lập di chúc chung phải là vợ chồng và người vợ, người chồng lập di chúc chung phải có năng lực hành vi dân sự, nghĩa là phải có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Ngoài ra, theo Điều 647 BLDS năm 2005 quy định:

Trang 26

20

“1 Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó

bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”

Tuy nhiên, do quan hệ hôn nhân phải chịu sự điều chỉnh của LHNGĐ nên độ tuổi của người lập di chúc chung của vợ chồng, ở đây là người vợ và người chồng phải đáp ứng độ tuổi kết hôn theo LHNGĐ Tại Điều 9 LHNGĐ năm 2000 quy định: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các

điều kiện sau đây: 1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên ” và tại Điều 8 LHNGĐ năm 2014 quy định: “1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ

đủ 18 tuổi trở lên ”

Điều kiện tiếp theo để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực là điều kiện mục đích và nội dung của di chúc Theo Điều 652 BLDS năm 2005 quy

định: “Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di

chúc không trái quy định của pháp luật” Như vậy, điều kiện về mục đích và

nội dung của di chúc thông thường hay di chúc chung của vợ chồng là “không trái pháp luật, đạo đức xã hội” đã thu hẹp hơn so với điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch dân sự đó là “không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”

Theo Điều 123 BLDS năm 2005 quy định: “Mục đích của giao dịch

dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”, trong trường hợp đối với di chúc chung của vợ chồng thì mục đích

của di chúc là sự chuyển tài sản chung của vợ chồng cho người khác theo ý chí chung của vợ chồng, như vậy những người mà được chỉ định trong di chúc chung sẽ được hưởng di sản là tài sản chung của vợ chồng đã định đoạt,

Trang 27

21

trừ trường hợp những người thừa kế đó từ chối hoặc không được quyền hưởng di sản theo Điều 642 và Điều 643 BLDS năm 2005 Đối với những di chúc chung của vợ chồng lập ra không nhằm mục đích định đoạt tài sản chung của vợ chồng cho người khác, mà chỉ là căn dặn con cháu cách sống, phải yêu thương lẫn nhau, giao nghĩa vụ đạo đức… thì những di chúc chung này không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự, khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến di chúc loại này pháp luật cũng không can thiệp, việc giải quyết tranh chấp này chủ yếu là sự phê phán, lên án của xã hội của dòng họ hay của gia đình

Nội dung di chúc chung của vợ chồng là những vấn đề cụ thể được vợ chồng thể hiện trong bản di chúc chung đó và nội dung này không trái pháp luật, đạo đức xã hội Đối với nội dung của di chúc hay di chúc chung của vợ

chồng được lập bằng văn bản thì tại Điều 653 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

2 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chú”

Trong nội dung của di chúc chung dù dưới hình thức nào cũng phải thể hiện đối tượng được hưởng di sản và giá trị phần di sản được hưởng Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là khi lập di chúc chung, vợ và chồng không loại trừ khả năng chỉ định lẫn nhau làm người thừa kế được hưởng toàn bộ tài

Trang 28

22

sản chung của vợ chồng hoặc một phần tài sản chung của vợ chồng, phần còn lại định đoạt cho người khác Như vậy, trong trường hợp này pháp luật có công nhận nội dung trong di chúc chung này không? Điều 646 BLDS năm

2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài

sản của mình cho người khác sau khi chết” Mặc dù, pháp luật tôn trọng

quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân nhưng trong trường hợp này, di chúc chung của vợ chồng không phải của một cá nhân thông thường mà là của vợ chồng, một chủ thể đặc biệt, do vậy việc vợ chồng lập di chúc chung phải định đoạt tài sản chung cho “người khác” mà không thể là một trong hai người là người vợ hoặc người chồng Đối với trường hợp, vợ và chồng chỉ định lẫn nhau làm người thừa kế được hưởng một phần tài sản chung của vợ chồng, phần còn lại định đoạt cho người khác thì sẽ phải giải quyết như thế nào? Trong trường hợp này, khi người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết và di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực thì phần di chúc chung định đoạt di sản là tài sản chung của vợ chồng cho những người thừa

kế khác vẫn có hiệu lực, phần di chúc chung định đoạt di sản là tài sản chung của vợ chồng cho nhau sẽ không có hiệu lực và sẽ được chia theo pháp luật

Nói tóm lại, việc có tài sản chung và thỏa thuận thống nhất nội dung chuyển tài sản chung cho người khác là điều kiện cần để vợ chồng có thể lập

di chúc chung

Cũng theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005 thì “Người tham gia

giao dịch hoàn toàn tự nguyện” Đối với di chúc chung của vợ chồng thể hiện

ý chí đơn phương của vợ chồng, là hai cá nhân nhưng cùng chung một ý chí

và việc thể hiện ý chí này là tự nguyện Di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí chủ quan của vợ, chồng nhưng đã được thống nhất và không bị chi phối bởi ý kiến của bất kỳ ai Vợ chồng khi lập di chúc chung tự quyết định việc để lại di sản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào và người được hưởng

Trang 29

23

thừa kế không bắt buộc phải có quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng đối với họ

1.3.2 Điều kiện về hình thức

Về hình thức của di chúc chung của vợ chồng được áp dụng tương tự

như đối với di chúc cá nhân thông thường Theo đó, “Di chúc phải được lập

thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình” (Điều 649 BLDS năm 2005) Như vậy, có

hai hình thức để thể hiện di chúc chung của vợ chồng, di chúc bằng văn bản hoặc di chúc miệng Đối với di chúc được lập bằng văn bản phải thể hiện những nội dung đã được nêu ở phần trên Đối với di chúc được lập bằng

miệng thì chỉ được áp dụng khi: “Trong trường hợp tính mạng một người bị

cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ” (Điều 651 BLDS năm 2005) Tuy nhiên để di

chúc miệng này hợp pháp thì phải thoả mãn điều kiện:“người di chúc miệng

thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực” (Khoản 5 Điều 652

BLDS năm 2005)

Như vậy, việc lập di chúc chung của vợ chồng bằng miệng là hình thức bất đắc dĩ và trên thực tế rất hiếm trường hợp này, bởi phải tuân theo những điều kiện rất khó thực hiện của pháp luật

Trang 30

24

1.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng

Hiệu lực pháp luật của di chúc chung được hiểu là di chúc được thực hiện trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc do vợ chồng cùng lập, phù hợp với các quy định của pháp luật [11]

Điều 668 BLDS năm 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có

hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Như vậy, theo quy định của Bộ luật này thì di chúc chung của vợ

chồng chỉ có hiệu lực trong hai thời điểm

Thứ nhất, từ thời điểm người sau cùng chết

Trong trường hợp mà người vợ hoặc người chồng chết trước thì di chúc chung sẽ không phát sinh hiệu lực ngay Sau khi người vợ hoặc chồng chết thì người còn sống sẽ quản lý di sản (trừ trường hợp có thoả thuận khác) và sau khi người này chết thì di chúc chung sẽ phát sinh hiệu lực Đối với những người thừa kế thì phải đợi thời điểm người sau cùng chết mới được quyền chia thừa kế Mọi tranh chấp về thừa kế trước thời điểm người sau cùng chết không được giải quyết Tuy nhiên, có những trường hợp khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, người còn sống lại sống lâu hơn so những người thừa

kế hợp pháp của người chết trước sẽ làm những người này mất quyền được hưởng di sản

Tại Điều 623 BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa kế

yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản,

kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó ” Cũng theo Điều 611 của Bộ luật này quy định:

“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết…” Như vậy, khi

người vợ hoặc người chồng chết trước thì thời điểm mở thừa kế bắt đầu và lúc này sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế trong đó có quyền yêu cầu chia di sản Tuy nhiên, đối với di sản là tài sản chung của vợ chồng được

Trang 31

25

định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng thì những người thừa kế không

có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản này do di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực Như vậy, nếu sau mười năm (đối với động sản) hoặc ba mươi năm (đối với bất động sản) mà người vợ hoặc người chồng vẫn còn sống thì quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của những người thừa

kế còn lại sẽ không còn và di sản trong tài sản chung của vợ chồng sẽ thuộc

về người thừa kế đang quản lý di sản đó Việc quy định như vậy là đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ Đặc biệt, có trường hợp di chúc chung của vợ chồng bị vô hiệu toàn bộ hay một phần, nhưng mãi đến nhiều năm sau mới phát hiện, thì quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của những người thừa kế của người vợ hoặc người chồng chết trước bị bỏ lỡ mà không còn cơ hội để khắc phục được, nếu người thừa kế đó

Trang 32

26

Thứ hai, tại thời điểm vợ, chồng cùng chết

Trong trường hợp này khi cả hai vợ, chồng cùng chết thì sẽ giống với việc một cá nhân chết và di chúc chung của vợ chồng sẽ có những đặc điểm của di chúc thông thường Do vậy, hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

sẽ tương tự như hiệu lực của của di chúc do một cá nhân lập:

- Di chúc chung sẽ không có hiệu lực khi người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc chung Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm người lập di chúc chung chết

- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc chung mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc chung, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung không còn tồn tại vào thời điểm người lập di chúc chung chết thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực

- Di chúc chung không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm người lập di chúc chung chết; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực

Đối với vấn đề vợ chồng có quyền thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc thì không được BLDS năm 2005 đề cập đến trong khi BLDS năm 1995 lại cho phép vợ chồng được thỏa thuận thời điểm

có hiệu lực của di chúc chung: “…nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc

về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”

(Điều 671 BLDS năm 1995) Tuy nhiên, các nhà làm luật đã thấy được bất cập của quy định này đó là nếu vợ chồng thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của

di chúc không phải là thời điểm người sau cùng chết thì sự thỏa thuận ấy có

Trang 33

27

được chấp nhận không? Nếu không được chấp nhận thì liệu thời điểm có hiệu lực của di chúc lúc này sẽ quay lại quy định “cứng” của Điều 671 BLDS năm

1995 là: “một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di

sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật” không?

Do vậy, BLDS năm 2005 đã không quy định vợ chồng được thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung mà sẽ được xác định theo quy định của pháp luật Từ đó chúng ta thấy rằng mọi sự tự do, tự nguyện thoả thuận của cá nhân chỉ được đảm bảo khi nó nằm trong khuôn khổ nhất định, không trái với quy định của pháp luật

1.5 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quy định về di chúc chung của vợ chồng

1.5.1 Trước năm 1990

Trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn thiện, các quy định về pháp luật dân sự nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng là không nhiều và nằm rất rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, một phần do trình độ lập pháp chưa cao và các nhà lập pháp cũng chưa thể dự liệu được hết các quan hệ xã hội nảy sinh mặc dù các quan hệ xã hội phát sinh trong thời kỳ này chưa nhiều và chưa phức tạp Pháp luật về thừa kế trong thời gian này chủ yếu là quy định về một số vấn đề cơ bản

* Thời kỳ pháp luật phong kiến

Trong xã hội phong kiến, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là bất bình đẳng, pháp luật hầu như không bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, ở nhà chồng, tài sản làm ra thuộc sở hữu của nhà chồng, khi chồng còn sống, người

vợ không có quyền lợi về kinh tế, khi chồng chết, tài sản không thuộc về họ

mà thuộc về con cái và dòng họ nhà chồng, như vậy vợ và chồng không có quan hệ tài sản, càng không thể có sự thoả thuận về tài sản giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân [23]

Trang 34

28

Trong thời kỳ này hệ thống văn bản pháp luật của nước ta khá rời rạc Tuy là thời kỳ phong kiến nhưng quan điểm của các nhà làm luật thời này lạikhá gần với quan điểm hiện đại về thừa kế Đối với việc lập di chúc chung của vợ chồng, quan điểm của các nhà làm luật lại khác nhau trong hai bộ luật thời kỳ này là Bộ luật Quốc Triều hình luật và Bộ luật Hoàng Việt luật lệ

Do nhu cầu phát triển của chế độ Trung ương tập quyền, các hoạt động lập pháp triều đại nhà Hậu Lê (sơ kỳ) - thời kỳ đất nước ta đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền,được đẩy mạnh nhằm xác lập sự thống trị của nhà Lê và đã cho ra đời Bộ luật Quốc triều hình luật Bộ luật đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ, đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành và là một bộ luật có tính chất tổng hợp, phạm vi điều chỉnh rất rộng nhưng chủ yếu tập trung xây dựng dưới dạng hình sự, áp dụng chế tài hình luật Bộ luật Quốc triều hình luật bao gồm 6 quyển, 722 điều, các vấn đề

về thừa kế theo được quy định tại quyển 6 Một điều tiến bộ trong Bộ luật này

đó là người con gái có quyền thừa kế ngang bằng người con trai; đã phân định được nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người và tài sản

chung của vợ chồng và đặc biệt là đã ghi nhận khả năng vợ chồng “cùng lập

di chúc chung” [24]

Bộ luật Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên Hoàng triều luật lệ, Quốc triều điều luật, Nguyễn triều hình luật, Bộ luật Gia Long là bộ luật chính thức và được thi hành trong suốt các triều đại nhà Nguyễn Bộ luật được vua Gia Long cho ban hành năm 1815 gồm 398 điều, chia làm 22 quyển Do chịu sự ảnh hưởng của Bộ luật Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc dưới thời nhà Thanh nên Bộ luật Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn đặt

nặng vấn đề “trọng nam khinh nữ” so với Bộ luật Quốc triều hình luật, cụ thể

đối với di sản chia theo pháp luật sẽ được chia đều cho các con trai không phân biệt con trai do thê thiếp sinh ra, con gái không được quyền thừa kế [7],

Trang 35

29

mặc dù luật có quy định về thừa kế theo di chúc khi có chúc thư nhưng vấn đề

di chúc chung của vợ chồng không được đề cập

Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, trong thực tiễn tục lệ tại các xã hội Việt Nam trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ chồng là hình thức di chúc thông dụng, việc lập di chúc chung của vợ chồng là hiện tượng phổ phiến thời bấy giờ và được đã thừa nhận từ lâu trong phong tục tập quán Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ chồng và luôn muốn củng cố tình yêu thương, sự gắn kết của các thành viên trong gia đình nên cũng khuyến khích việc vợ chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của

sự gắn kết, yêu thương giữa vợ và chồng [13]

* Thời kỳ Pháp thuộc

Trong thời kỳ này đã cho ra đời ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳnăm 1936 được áp dụng tại Nam kỳ, Bắc Kỳ và Trung kỳ Các bộ luật này đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp năm 1804 nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với lối sống, sinh hoạt của người Việt

Do sự ảnh hưởng của quan niệm “gia trưởng” nên thời kỳ này địa vị

của người chồng luôn được đề cao, coi trọng hơn người vợ Có thể thấy, tại Điều 346 Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Điều 341 Dân luật Trung kỳ năm

1936 đều quy định: “Nếu người chồng chết trước, thì người vợ chỉ được

hưởng tài sản riêng của mình, còn tài sản chung thì không được hưởng Người vợ goá chỉ trở thành sở hữu di sản của người chồng khi không còn thừa kế nào về bên nội, bên ngoại của người chồng” Như vậy, trong gia đình

người vợ không có quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợp người vợ chết trước, thì Điều 113 Dân Luật Bắc kỳ năm 1931 và Điều

Trang 36

30

111 Dân Luật Trung kỳ năm 1936 đều quy định: “Người chồng đương nhiên

trở thành chủ sở hữu duy nhất của tất cả tài sản chung của vợ chồng, trong

đó có cả tài sản riêng của vợ”

Tuy nhiên, việc ghi nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng đã phần nào coi trọng địa vị của người vợ Tại Điều 312 Dân luật Trung kỳ năm

1936 quy định: “Người cha được lập ra chúc thư để xử trí tài sản của gia

đình mình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính mình thuận tình và phải giữ quyền lợi cho vợ chính ấy… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được” Việc lập di chúc của người chồng do chính

người chồng lập ra nhưng vẫn phải có sự thuận tình của người vợ, đây chính

sự sự thống nhất ý chí trong di chúc chung của vợ chồng Tuy nhiên, trong trường hợp vợ chính không thuận tình thì việc lập di chúc của người chồng về bản chất không được coi là di chúc chung của vợ chồng Tại Điều 320 Dân

luật Bắc kỳ năm 1931 chỉ quy định việc “người cha lập chúc thư để xử trí tài

sản của mình tuỳ theo ý mình” mà không đề cập tới tài sản chung và sự thuận

tình của người vợ nhưng Điều 331 của Bộ luật này lại quy định: “Phàm chúc

thư đã do người chồng mệnh một và người vợ goá cùng làm ra, thì người vợ goá không được tự bãi đi …” Như vậy, Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 đã đề

cập tới việc “chúc thư do người chồng mệnh một và người vợ goá cùng làm

ra” nhưng không nêu rõ vấn đề di sản được định đoạt là tài sản chung hay tài

sản riêng và liệu chúng ta có thể hiểu ngầm đó là tài sản chung hay không trong khi cả người vợ và người chồng đều có thể lập chúc thư riêng để định đoạt tài sản riêng

* Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975

Dưới chính quyền Sài Gòn, các quy định về thừa kế được quy định tại

Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972, quyển thứ ba nói về Di sản từ Điều 498 đến

Trang 37

31

Điều 649 Và vấn đề di chúc chung của vợ chồng cũng được công nhận tại

Điều 572: “Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể

cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình” Như vậy, ngoài

việc quy định rõ di sản được định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng đã đề cập tới vấn đề hiệu lực, thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung

* Thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm 1990

Trong thời kỳ này thì chỉ có Thông tư 81/TANDTC ngày 24/07/1981 của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế

đề cập một cách tương đối toàn diện về chế định thừa kế, trong đó có đề cập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng Cụ thể, tại phần B mục IV của Thông

tư này quy định: “Di chúc do hai vợ chồng cùng làm để định đoạt tài sản

chung, nếu một người chết trước, thì chỉ riêng phần di sản của người đó được thi hành theo di chúc Người còn sống có quyền giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc đối với phần tài sản của mình” Sau khi Pháp lệnh thừa kế ban

hành, những quy định trong thông tư đã được giữ lại tương đối đầy đủ tại phần thứ tư - Thừa kế của BLDS năm 1995 Ngoài ra, luật Hôn nhân và gia

đình năm 1986 khẳng định “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau

trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (Điều 15), đây là cơ

sở để vợ chồng thiết lập di chúc chung của vợ chồng để định đoạt tài sản chung

1.5.2 Từ năm 1990 đến năm 1995

Tại Pháp lệnh thừa kế ban hành kèm theo Lệnh công bố Pháp lệnh thừa

kế số 44-LCT/HĐNN8ngày 10/09/1990 của Hội đồng Nhà nước điều chỉnh

Trang 38

32

các vấn đề liên quan đến thừa kế Tại Pháp lệnh này di chúc chung của vợ, chồng không được đề cập tới một cách minh thị Tuy nhiên, tại Điều 23 của Pháp lệnh này quy định về hiệu lực di chúc đã gián tiếp thừa nhận khả năng

lập di chúc chung vợ chồng: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập

chung, mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực” Di chúc do nhiều người lập chung có thể là

di chúc do vợ chồng lập Tuy nhiên, pháp luật không quy định rõ di sản được định đoạt trong trường hợp di chúc do vợ chồng lập là tài sản chung của vợ chồng Với tính chất đặc thù là quan hệ vợ chồng thì ngoài tài sản riêng thuộc quyền tự định đoạt của mỗi người thì còn có tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng và vợ chồng có quyền như nhau đối với tài sản này Do vậy, vợ chồng sẽ định đoạt tài sản chung này trong di chúc chung của

vợ chồng Mặc dù di chúc chung của vợ chồng đã được gián tiếp thừa nhận nhưng lại chưa thể được lột tả đầy đủ, như quan hệ hôn nhân là cơ sở để hình thành khối tài sản chung không hề được đề cập tới Tuy nhiên, pháp lệnh về thừa kế năm 1990 là văn bản đầu tiên thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các vấn đề liên quan đến thừa kế để từ đó Cơ quan tư pháp có cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ việc trong lĩnh vực thừa kế

1.5.3 Từ năm 1995 đến năm 2005

Năm 1995, BLDS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu tiên được ra đời Các chế định tại BLDS năm 1995 đã có rất nhiều điểm được điều chỉnhcho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ Theo quy định tại

Điều 666 BLDS năm 1995: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt

tài sản chung” Như vậy BLDS năm 1995 đã trực tiếp ghi nhận hình thức di

chúc chung của vợ chồng; công nhận vợ, chồng có quyền định đoạt tài sản chung bằng hình thức lập di chúc chung Ngoài ra, BLDS năm 1995 công nhận vợ, chồng có quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc

Trang 39

33

chung bất cứ lúc nào, chỉ cần có sự đồng ý của phía bên kia Trong trường hợp cả hai người còn sống, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc chung được thực hiện bởi cả hai vợ chồng thì họ quyền tác động đối với toàn bộ tài sản chung Trong trường hợp một trong hai người đã chết mà người kia muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc thì chỉ có thể tác động đến phần di chúc liên quan đến tài sản của mình Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ

chồng được quy định tại Điều 671 của Bộ luật này: “Trong trường hợp vợ,

chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo dichúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó” Quy định này tương tự

với quy định về hiệu lực của di chúc trong Pháp lệnh thừa kế năm 1990 nhưng được bổ sung thêm trường hợp thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của di

chúc

1.5.4 Từ năm 2005 đến năm 2015

Tại Điều 27 LHNGĐ năm 2000 quy định: “Vợ chồng có quyền và

nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

và “Tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất” Điều đó có

nghĩa là vợ chồng đều bình đẳng với nhau trong việc định đoạt tài sản trong

đó có việc để lại di sản thừa kế là tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Đồng thời, kế thừa và phát triển quy định về di chúc chung của

vợ chồng trong BLDS năm 1995, Điều 668 BLDS năm 2005 quy định: “Di

chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Tuy có sự kế thừa và phát triển quy định

về di chúc chung của vợ chồng đặc biệt đã đơn giản hoá việc thực thi di chúc chung vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần, so với giải pháp của

Trang 40

Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã được Quốc hội cho ý kiến tựi vòng 1 và vòng 2, cũng không có ý kiến đề xuất bỏ các quy định về di chúc chung của vợ chồng Tuy nhiên, tại Báo cáo số 1002/BC-UBTVQH13 ngày 22/11/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội có nêu “bỏ các điều 641, 642 và 646 về di chúc chung vợ chồng, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ chồng và hiệu lực của di chúc chung vợ chồng” Điều này có nghĩa là ý kiến về việc bỏ các quy định về di chúc chung của vợ chồng ra khỏi Dự thảo để Quốc hội thông qua chỉ xuất hiện vào tuần cuối cùng trước khi Quốc hội thông qua Dự thảo BLDS năm 2015 vào ngày 24/11/2015 Quá trình sửa đổi BLDS để được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2015, việc bỏ các quy định về di chúc chung của vợ chồng ra khỏi BLDS là quá bất ngờ [3] Khi Quốc hội thông qua Dự thảo BLDS (sửa đổi), có rất nhiều người không biết có việc thay đổi này Một thay đổi hệ trọng như trên đáng lẽ phải được trao đổi, thảo luận một cách kỹ lưỡng

và lấy ý kiến nhân dân hay lấy ý kiến cụ thể của các đại biểu Quốc hội, nhưng thực tế thay đổi này chỉ được quyết định một cách nhanh chóng trước khi Quốc hội tiến hành thông qua Dự thảo BLDS (sửa đổi)

Ngày đăng: 07/10/2020, 19:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), Những bất ngờ và hướng xử lý khi không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 05/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất ngờ và hướng xử lý khi không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Năm: 2016
4. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án, tr. 314, 316, 324, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
5. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, tr. 61, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Dân luật thi hành tại các toà Nam - Án Bắc - Kỳ (1931), Imprimerie Ngo-Tu-Ha, Ha Noi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật thi hành tại các toà Nam - Án Bắc - Kỳ
Tác giả: Dân luật thi hành tại các toà Nam - Án Bắc - Kỳ
Năm: 1931
7. Nguyễn Hương Giang (2014), Thừa kế theo pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tr. 21, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2014
8. Đỗ Thu Hiền (2010), Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam, tr. 72-74, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thu Hiền
Năm: 2010
9. Hoàng Việt luật lệ (1994), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt luật lệ
Tác giả: Hoàng Việt luật lệ
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1994
10. Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1944), Impr. Tiếng dân, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
Tác giả: Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
Năm: 1944
11. Bùi Văn Lợi (2014), Vấn để di chúc chung của vợ chồng, tr. 36, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn để di chúc chung của vợ chồng
Tác giả: Bùi Văn Lợi
Năm: 2014
12. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo, Quyển II Khế ước và Nghĩa vụ, tr. 55, 57, NXB Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Dân luật lược khảo, Quyển II Khế ước và Nghĩa vụ
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Nhà XB: NXB Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản
Năm: 1963
13. Vũ Văn Mẫu (1999), Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1999
14. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1995
15. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
16. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
17. Quốc hội (2000), Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2000
18. Quốc hội (2014), Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
19. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
20. Quốc Triều hình luật (2003), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Triều hình luật
Tác giả: Quốc Triều hình luật
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
21. Quốc Hội (2000), Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2000
22. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2010), Di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam, tr. 13, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w