Khi tình cảm vợ chồng rạn nứt, đổ vỡ, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận chia tài sản chung của họ, nhưng khi họ không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định khi vợ chồng có yêu cầu giải quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THỊ HƯƠNG GIANG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TẠI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
LƯU THỊ HƯƠNG GIANG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu được tôi sử
dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung
thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả
Lưu Thị Hương Giang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 9
1.1 Khái niệm chung về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 9
1.1.1 Khái niệm ly hôn 9
1.1.2 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng 12
1.1.3 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 14
1.2 Khái lược quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta 17
1.3 Pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 21 1.3.1 Chia tài sản chung của vợ chông khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận 21
Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy định tương ứng của luật định để phân chia 21
1.3.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 36
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 36
2.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 36 2.2 Thực trạng chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn của Tòa án nhân dân tại
Trang 5thành phố Hải Phòng 39
2.2.1 Số liệu các vụ án ly hôn 39
2.2.2 Tính chất phức tạp trong xác định tài sản chung của vợ chồng để chia khi có tranh chấp 42
2.3 Một số trường hợp cụ thể chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn của Tòa án nhân dân tại thành phố Hải Phòng 48
2.3.1 Một số vụ việc điển hình 48
2.3.2 Một số nhận xét 59
2.4 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 60
2.4.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tài sản và chia tài sản chung của vợ chồng 60
2.4.2 Kiến nghị giải pháp bảo đảm hiệu quả chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6HN&GĐ Hôn nhân và gia đình
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Báo cáo số liệu án HN&GĐ của TAND quận Đồ Sơn, thành
phố Hải Phòng
40
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình tốt thì xã hội mới tốt; xã hội tốt
thì gia đình càng tốt (Hồ Chủ Tịch) Gia đình là một thiết chế xã hội, là môi trường hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục thể chất, nhân cách đạo đức con người Lợi ích của nhà nước, của xã hội luôn ẩn chứa trong từng quan hệ gia đình - hạt nhân của xã hội Chính vì vậy, Nhà nước luôn bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ); bảo đảm lợi ích của các thành viên gia đình; bảo đảm sự tồn tại bền vững của gia đình Mặc dù hôn nhân luôn có tính chất tồn tại lâu dài, bền vững; Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động dẫn đến mâu thuẫn, xung đột giữa vợ chồng và khi không còn tình cảm yêu thương gắn bó giũa vợ chồng thì ly hôn được đặt ra nhằm chấm dứt
quan hệ vợ chồng như một yếu tố khách quan
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án1 Ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Vấn đề ly hôn được Tòa án giải quyết đều thể hiện trên hai phương diện tích cực và tiêu cực Ly hôn thực chất nhằm giải phóng cho vợ chồng thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn gia đình; nhưng cũng đồng thời làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, dẫn đến tình trạng “tan đàn, xẻ nghé”; ly tán giữa cha mẹ với các con Hậu quả pháp lý của việc ly hôn thường ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng của vợ chồng và các con Do vậy, pháp luật luôn định rõ trong trường hợp nào thì vợ chồng được ly hôn và giải quyết hậu quả của ly hôn như thế nào
Vấn đề ly hôn ở nước ta trong những năm gần đây gia tăng về số lượng, phức tạp khi giải quyết hậu quả pháp lý, trong đó việc chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn thường có tranh chấp gay gắt, kéo dài; nhất là việc xác định tài sản chung của vợ chồng Thực tiễn những năm qua cho thấy nhiều
1
Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 9trường hợp khi ly hôn, vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung, vợ chồng thường xảy ra các tranh chấp liên quan đến các quyền dân sự như quyền nhân thân và quyền tài sản Trong đó đặc biệt các tranh chấp về quyền tài sản rất phức tạp bởi đặc tính pháp lý của sở hữu chung giữa
vợ chồng Quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân và nhiều khi không xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là rất khó khăn Khi gia đình hạnh phúc ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng ít người để ý và quan tâm Khi tình cảm vợ chồng rạn nứt, đổ vỡ, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận chia tài sản chung của
họ, nhưng khi họ không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định khi vợ chồng
có yêu cầu giải quyết, việc vận dụng những quy định của pháp luật Hôn nhân
và gia đình để giải quyết tranh chấp chia tài sản của vợ chồng là điều cần thiết
để đảm bảo quyền, lợi ích của các bên
Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời, Nhà nước đã tuyên truyền và phổ biến rộng rãi để mọi người dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyền lợi của mỗi thành viên và xây dựng gia đình hạnh phúc Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đã được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Xuất phát từ thực tế, Luật HN&GĐ năm 2014 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ trước đó, tiếp tục quy định về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng Trong nhiều năm qua, chế định này đã từng bước đi vào cuộc sống phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ HN&GĐ Việt Nam Trên thực tế nhiều Tòa án địa phương trong khi thụ lý, xét xử giải quyết tranh chấp về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đã được đánh giá khách quan là phương hướng giải quyết phù hợp đảm bảo chính sách pháp luật, quan tâm đúng mức quyền lợi của người vợ và con cái, phù hợp với thực tế Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cho thấy vẫn còn có những vướng mắc, bất cập trong việc xác định và giải quyết hậu quả pháp lý về chia tài sản chung
Trang 10của vợ chồng Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có tính thời sự Đặc biệt, nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại thành phố Hải Phòng, một địa phương có sự phát triển về kinh tế, xã hội của
cả nước Một mặt nhằm luận giải các quy định của pháp luật liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, mặt khác, góp phần kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn là rất cần thiết Xuất phát từ lý do nêu trên, học viên đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài: “Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại thành phố Hải Phòng” để thực hiện luận
văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói chung đã được nhiều tác giả nghiên cứu, bởi tính thời sự và phức tạp của nó Từ các quy định của pháp luật đến việc áp dụng trong thực tiễn vẫn còn có những “khoảng cách” nhất định Vẫn còn nhiều những quan điểm, nhận định, đánh giá khác nhau từ phía những nhà nghiên cứu và thực tiễn áp dụng liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Kể từ khi ban hành Luật HN&GĐ năm 2000, đặc biệt từ ngày Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực (từ ngày 01/01/2015), đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Nhóm luận án, luận văn:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Nguyễn Thanh Mai (2012), “Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
Trang 11- Đinh Thị Minh Mẫn (2014), “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
- Lã Thị Tuyền (2014), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Chu Minh Khôi (2015), “Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Lò Thị Thu Hoa (2016), “Áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Nguyễn Thanh Hà (2016), “Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Lữ Thu Thùy Dung (2019), “Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam và thực trạng xét xử tại Tòa án”, Luận văn thạc
sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Lộc Sơn Thái (2020), “Thực tiễn áp dụng các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhóm giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo:
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), “Giáo trình Luật HN&GĐ Việt nam”;
- Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường (2002), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Nguyễn Ngọc Điện (2004), “Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh;
- Học viện Tư pháp (2007), “Giáo trình Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự|, , Nxb Công an nhân dân;
- Nguyễn Văn Cừ (2008), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam”, Nxb Tư pháp;
Trang 12Các công trình này đều đề cập nghiên cứu đến các nội dung pháp lý cơ bản và khái quát về chế độ tài sản của vợ chồng, về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng (chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước; chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và khi vợ chồng ly hôn)
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành pháp luật như:
- Nguyễn Hồng Nam, “Chia nhà, đất khi vợ chồng ly hôn”, Tạp chí TAND số 06/2006;
- Ngô Thị Hường, “Đăng ký quyền sở hữu tài sản và việc xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng”, Tạp chí Luật học số 10/2008;
- Nguyễn Văn Cừ, “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 10/2012;
- Thu Hương, Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ, thực tiễn giải quyết”, Tạp chí TAND số 4;
- Nguyễn Hoàng Long (2015), “Bàn về công sức trong vụ án HN&GĐ”, Tạp chí TAND, số tháng 5;
- Nguyễn Văn Cừ (2015), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật HN&GĐ năm 2014”, Tạp chí Luật học, số 4
Các bài viết này đã đề cập một cách khái quát về các căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; các trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng; chưa đi sâu nghiên cứu việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại một địa phương cụ thể như thành phố Hải Phòng Các công trình nghiên cứu
kể trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho học viên trong quá trình thực hiện luận văn, với việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại thành phố Hải Phòng; hy vọng luận văn sẽ là công trình khoa học nghiên cứu đi sâu phân
Trang 13tích về việc áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ở một địa phương cụ thể - thành phố Hải Phòng
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn phân tích, luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản và nội dung các quy định pháp luật hiện hành; luận văn phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng, giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn của TAND tại thành phố Hải Phòng; nhận biết một số nội dung còn có hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn giải quyết của Tòa
án, đồng thời kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án ly hôn hiện nay nói chung và của TAND tại thành phố Hải Phòng nói riêng
*Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện với nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích, luận giải để làm rõ một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn;
- Phân tích nội dung quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn;
- Phân tích để làm rõ thực trạng cũng như nêu ra các vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn từ thực tiễn xét xử của TAND tại thành phố Hải Phòng;
- Từ đó, Luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học, các quy định pháp luật về giải quyết các vụ việc điển hình qua thực tế một số bản án, quyết
Trang 14định về giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn do TAND tại
thành phố Hải Phòng đã thụ lý, giải quyết
*Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 Luận văn không nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có yếu tố nước ngoài,
mà chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đối với quan hệ hôn nhân trong nước theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn xét xử của TAND tại thành phố Hải Phòng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
*Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế,
về cải cách tư pháp; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam trong tình hình mới
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện với các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu khoa học, như:
- Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp được áp dụng để nghiên cứu các giai đoạn, quá trình về giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu khi phân tích các vấn đề liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng khi xem xét các vấn đề về nội dung giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam
Trang 15- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được thể hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án nói chung, của TAND tại thành phố Hải Phòng nói riêng; với các số liệu cụ thể giải quyết các tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, tìm ra mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa, từ đó, xem xét nội dung quy định của pháp luật về vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn với thực tiễn của đời sống xã hội
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nội dung Luận văn khi hoàn thành nhằm trang bị thêm kiến thức
chuyên sâu cho bản thân, đồng thời có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề về chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn tại Toà án Từ đó luận văn đề xuất một số kiến nghị để giải quyết những vướng mắc, bất cập và hoàn thiện pháp luật về giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Luận văn như một tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứ, giảng dạy, cũng như kiến nghị sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày với nội dung thể hiện trong 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn
Chương 2: Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn áp
dụng của Tòa án nhân dân tại thành phố Hải Phòng
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1 Khái niệm chung về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn
Dưới góc độ xã hội: Ly hôn được hiểu là một hình thức chính thức
nhằm chấm dứt việc xác lập quan hệ là vợ chồng
Khái niệm dưới góc độ pháp lý: Trong các văn bản pháp luật, ly hôn có
thể được xem xét với tư cách là một sự kiện pháp lý hoặc là một chế định pháp lý
Với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý: Ly hôn là một thuật ngữ pháp lý
được sử dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình như một trong những trường hợp làm chấm dứt quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, trên cơ sở đó quyền và nghĩa vụ của người ly hôn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “chế định” có thể được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nghĩa là chế ước, quy định; Thứ hai, có thể được hiểu là
“định chế” (Institute), tức là một bộ phận cấu thành của một ngành luật, tiếp cận theo cấu trúc bên trong của hệ thống ngành luật cụ thể nào đó.Mỗi chế định có những quy phạm pháp luật và mỗi quy phạm có ba yếu tố cấu thành là giả định, quy định và chế tài
Trong phạm vi luận văn này, chế định ly hôn được tiếp cận theo nghĩa thứ nhất, tức là những quy định về ly hôn
Chế định ly hôn trong luật HN&GĐ là tổng thể nhóm các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi hai người còn sống do một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình, bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về quyền yêu cầu và các trường hợp ly hôn, căn cứ ly hôn cùng các vấn đề hậu quả pháp lý khi ly hôn
Trang 17phát sinh về quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con, hình thức xử lý đối với các trường hợp ly hôn, phân chia tài sản chung khi ly hôn
Chế định ly hôn bao gồm các vấn đề:
- Quyền yêu cầu ly hôn, những trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn và thẩm quyền giải quyết ly hôn
- Căn cứ giải quyết ly hôn và các trường hợp ly hôn
- Hậu quả pháp lý của ly hôn về con cái và tài sản
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp đó, ly hôn là một việc làm cần thiết cho cả vợ chồng và cho xã hội vì nó giải phóng cho tất
cả các cặp vợ chồng, các con cũng như các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi xung đột mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống
Từ khi xã hội phân chia giai cấp thì pháp luật bao giờ cũng bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Ở mỗi xã hội, mỗi giai cấp đều có quan điểm riêng về HN&GĐ Quan điểm về HN&GĐ của giai cấp thống trị được thể hiện rõ nhất thông qua sự điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật Hôn nhân dưới
thời phong kiến thường dựa trên cơ sở cưỡng ép “cha mẹ đặt đâu con ngồi
đấy” Pháp luật của Nhà nước phong kiến thừa nhận quan hệ bất bình đẳng
giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền gia trưởng trọng nam, khinh
nữ, coi người đàn ông là trụ cột, coi rẻ quyền lợi của người phụ nữ và con cái Luật pháp phong kiến quy định ly hôn như một đặc quyền của người đàn ông Pháp luật của Nhà nước tư sản lại coi hôn nhân như là một hợp đồng dân sự
do hai bên đương sự thỏa thuận Sự thỏa thuận đó được xác lập giữa nam và
nữ, dù muốn hay không cũng không thể thoát khỏi những ràng buộc về kinh
tế và địa vị giai cấp Nghĩa vụ của vợ chồng cũng giống như nghĩa vụ của chủ thể của hai bên chủ thể của hợp đồng Việc chấm dứt hôn nhân cũng giống như việc hủy hợp đồng khi một bên đương sự vi phạm hợp đồng, nghĩa là một bên vợ hay chồng phải có lỗi Chính vì coi hôn nhân như một hợp đồng nên
Trang 18giai cấp tư sản quy định việc chấm dứt quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở lỗi của các bên
Như vậy trong xã hội có giai cấp, pháp luật về HN&GĐ cũng thể hiện tính giai cấp V.I Lênin đã từng khẳng định rằng nếu không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn cho phụ nữ và nếu thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp
lớn đối với phụ nữ Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Nếu
không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” 2
Khi xem xét việc bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn thì không thể tách rời việc nghiên cứu về quyền và bảo vệ quyền con người của phụ nữ Theo Mác:
"Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách
là con người, là thành viên xã hội loài người"3
Nhà nước XHCN một mặt thừa nhận tự do ly hôn, mặt khác quy định việc giải quyết ly hôn dựa vào bản chất của quan hệ vợ chồng, thực trạng của hôn nhân còn hay đã chết Ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của một bên hoặc của hai bên vợ chồng với sự phán quyết của Tòa án Ly hôn có mặt tích cực đó là sự giải phóng cho cả hai vợ chồng khi họ không còn tình yêu với nhau, cuộc hôn nhân của họ đã chết
Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn
được hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận
hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”4
Theo khái niệm này, ly hôn được phản ánh rõ nét đó là “việc chấm dứt quan
hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn
nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng
2 Hồ Chí Minh toàn tập, t8, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1989), tr.498
3 C.Mác và Ph.Ăngghen - Về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội (1998), tr.14
4
Từ điển luật học (2003), NXB Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Hà Nội, Tr.460
Trang 19pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước, tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập những điều kiện, căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ hay chấm dứt quan hệ hôn nhân Như vậy, về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối quan hệ
vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau Còn xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa vụ, quyền giữa vợ và chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ chồng và được Tòa án công nhận
Khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN&GD nói riêng, việc đưa khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quan
hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác
Theo Khoản 8 Điều 8 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 giải thích:
“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”
Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 cũng giải thích:
“Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật của Tòa án”
Như vậy, ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng5
Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
5
Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 201.1.2.1 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, có hai chế độ tài sản của
vợ chồng là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định, theo đó, Khoản 1 Điều 28 quy định “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận” Việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật Điều 7 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân
và gia đình 2014 nêu rõ “Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa
án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình”
Từ Điều 47 đến Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định về chế
độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Luật đã quy định rõ hình thức, thủ tục cũng như điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận Thỏa thuận về chế
độ tài sản của vợ chồng phải được lập trước khi kết hôn, được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực kể từ ngày đăng
ký kết hôn Việc quy định như vậy làm tăng thêm tính chặt chẽ của văn bản thỏa thuận được xác lập, kiểm soát tính xác thực và tự nguyện của hai bên cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng cũng như đảm bảo cho vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận, hạn chế các xung đột, tranh chấp xảy ra liên quan đến chế
độ tài sản của vợ chồng trong thực tế
1.1.2.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được Luật quy định cụ thể
về căn cứ xác định nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương
Trang 21thức thanh toán liên quan tới các khoản nợ chung hay riêng của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba
Xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống, văn hóa, tập quán của mỗi quốc gia mà thiết lập một chế độ tài sản của vợ chồng cho phù hợp, thông thường chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thiết lập phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, văn hóa của các dân tộc, quốc gia
Từ Luật HN&GĐ năm 1986 đến nay, nhà làm luật ở Việt Nam đã lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản là chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định (giống với các nước Pháp, Đức, Nhật, Thái Lan ) Với đặc điểm và nội dung: giữa vợ chồng vừa có tài sản chung, vừa có tài sản riêng theo luật định
Chế độ tài sản này được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản
Theo đó, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra, những thu nhập nghề, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Tài sản chung được sử dụng đáp ứng nhu cầu đời sống chung của gia đình; thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung
1.1.3 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trên thực tiễn, tài sản là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người Nó tồn tại để đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho con người Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình tồn tại và phát triển cần phải có các điều kiện vật chất - cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình
Để đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ vợ chồng cần có tài sản Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu
Trang 22cầu vật chất, tinh thần của gia đình Kể từ thời điểm kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung sống, gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn các nhu cầu về vật chất khác và tinh thần của các thành viên trong gia đình
“Tài sản là vật, tiền, các giấy tờ có giá và quyền tài sản”6
Về mặt pháp
lý, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn các quan
hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, rất khó để định nghĩa cụ thể
Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành, các lợi ích
và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng vì thế mà hình thành Do tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại nên vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là sau khi vợ chồng ly hôn Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản Sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc qui định về chế độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình nước ta ngày càng trở nên bất cập Kế thừa BLDS năm
2005, BLDS năm 2015 sử dụng định nghĩa liệt kê để xác định tài sản Tại
Điều 105 có quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền
tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản" Ở đây, BLDS năm 2015
đã có sự liệt kê cụ thể và rõ ràng hơn về khái niệm tài sản Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền tài sản trong Luật Dân sự là nguồn gốc, cơ sở để luật chuyên ngành xây dựng khái niệm tài sản cụ thể theo tính chất của ngành luật mình
Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng là tài sản riêng của từng cá nhân Kể từ khi xác lập quan hệ hôn nhân vấn đề tài sản giữa vợ chồng mới bị
6
Điều 105, Bộ Luật Dân sự năm 2015
Trang 23ràng buộc: xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung này
Tài sản của vợ chồng gồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập vấn đề tài sản chung của vợ chồng
Theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, tài sản chung của vợ chồng
gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều
40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng Trong trường hợp không có căn cứ
để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của
mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung
Như vậy có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản
và động sản Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
đối với khối tài sản chung đó
Ngày nay, do xã hội phát triển, tính gắn kết của gia đình có nhiều biến đổi Việc chia tài sản chung của vợ chồng đang trở thành một nhu cầu tất yếu Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội Mặt khác giúp cho các Toà án giải quyết
Trang 24Do vậy, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn chính là việc chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phần khối tài sản chung của vợ chồng Sau khi phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phần tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của của vợ, chồng đối với phần tài sản được chia
1.2 Khái lược quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945) Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Theo Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về vấn đề ly hôn cũng đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa vợ chồng khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn; công nhận quyền tự
do ly hôn của vợ chồng và các căn cứ chung để Tòa án giải quyết việc ly hôn (Điều 2); bảo đảm quyền yêu cầu thuận tình ly hôn của vợ chồng (Điều 3); hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng khi người vợ đang có thai (Điều 5) Về hiệu lực của việc ly hôn, Sắc lệnh số 159/SL không quy định rõ về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Điều 6, Sắc lệnh số 159/SL
quy định: “Tòa án sẽ căn cứ quyền lợi của các con vị thành niên để ấn định
việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên tùy theo khả năng của mình.”
Theo quy định này, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng phải được chia, tùy theo khả năng của mỗi bên vợ, chồng phải cùng có nghĩa vụ trong
Trang 25việc nuôi dạy con Đáng tiếc là Sắc lệnh số 159/SL không dự liệu về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Tuy vậy, cứ chiểu theo tinh thần của những văn bản này, chúng ta cũng có thể suy luận rằng: Tài sản chung của vợ chồng phải được chia đôi, mỗi bên vợ, chồng được một nửa giá trị tài sản chung (nguyên tắc này cũng đã được áp dụng theo Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung kỳ trước đây)
Năm 1959, Luật HN&GĐ đầu tiên được nhà nước ta ban hành (còn gọi
là Đạo luật số 13), là công cụ pháp lý của Nhà nước ta được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản: Xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ HN&GĐ mới XHCN Theo quy định tại
Điều 15: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau
đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Quy định này thể hiện, toàn bộ các
tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai
vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng Về nguyên tắc, khi vợ chồng
ly hôn “ sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài
sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái
và lợi ích của việc sản xuất”7 Ngoài ra, luật cũng quy định: “Khi ly hôn, cấm
đòi trả của” 8
nhằm xóa bỏ một trong những tập tục lạc hậu của chế độ
HN&GĐ phong kiến trước đây
Ngày 25/10/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định thành lập Ban dự thảo Luật HN&GĐ mới; Dự luật đã được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03/01/1987
Trang 26Theo Điều 14, Luật HN&GĐ năm 1986, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Các tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền hưu trí, các thu nhập hợp pháp mang lại
từ kinh tế gia đình; các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng các khoản thu nhập nói trên); Các tài sản do vợ chồng được tặng cho chung, được thừa
kế chung
Bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng, bao gồm: Các tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn; Các tài sản mà vợ hoặc chồng được tặng cho riêng hay được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân
Người vợ, chồng có tài sản riêng có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng
Đây là quy định mới so với Luật HN&GĐ năm 1959, xuất phát từ thực tiễn trước khi kết hôn, mỗi bên vợ, chồng (có thể) đã có khối tài sản riêng có giá trị lớn, mà xét về bản chất kinh tế hay pháp luật, tài sản đó không phải là
do hai vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân Luật ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ chồng Mặt khác, tạo điều kiện cho vợ chồng được quyền tự định đoạt tài sản riêng của mình với tư cách là chủ sở hữu, không bị lệ thuộc bởi ý chí của bên kia; cũng như sự linh hoạt trong các quan hệ gia đình và xã hội có liên quan đến vấn đề tài sản: Thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng tài sản riêng; trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng gây ra bằng tài sản riêng của vợ, chồng…
Khi vợ chồng ly hôn, về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng, Luật
HN&GĐ năm 1986 đã dự liệu “Nguyên tắc chia đôi tài sản chung”9
, nguyên
tắc xác định, chia đôi tài sản chung chỉ mang tính ước lệ (xuất phát từ kỷ phần
tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung là bằng nhau một đặc điểm của tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất); khi chia, Tòa án vẫn phải dựa vào công
9
Điều 42, Luật hôn nhân và gia đinh năm 1986
Trang 27sức đóng góp trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của
vợ chồng, vẫn có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo tỷ lệ nhiều, ít khác nhau cho các bên vợ, chồng
Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/6/2000 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 Cũng như Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về phạm vi thành phần khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung và hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng
Trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng, khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó Nếu có tranh chấp về tài sản riêng, bên nào cho rằng đó là tài sản riêng của mình, phải có nghĩa vụ chứng minh (việc chứng minh tài sản riêng có thể bằng sự công nhận của bên kia hoặc bằng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu của mình); nếu không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng10
Nhà làm luật đã sử dụng cả nguyên tắc suy đoán để xác định tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn xảy ra tranh chấp nhưng không đủ cơ sở xác định
là tài sản riêng của vợ, chồng thì được coi là thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000, xuất phát từ thực tế tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng; cuộc sống chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sau nhiều năm tháng, các loại tài sản được sử dụng nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình, khi vợ chồng ly hôn xảy ra tranh chấp, có loại tài sản khó chứng mình được là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng
Đối với tài sản chung của vợ chồng: Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình
10
Khoản 3, Điều 27, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 28trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định về tài sản chung của vợ chồng cụ thể hơn, đồng thời bổ sung một số quy định để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Luật HN&GĐ năm 1986
Ngày 01/01/2015 Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực So với Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 có rất nhiều điểm mới, tiến bộ
và phù hợp với tình hình phát triển của đất nước cũng như đời sống xã hội ở nước ta hiện nay, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc xác định tài sản
vợ chồng khi ly hôn như: Công nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận,
bổ sung thêm các căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng
và quy định cụ thể các nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn,…
1.3 Pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
1.3.1 Chia tài sản chung của vợ chông khi ly hôn trong trường hợp
vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận
Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy
Trang 29định tương ứng của luật định để phân chia11
Việc thừa nhận chế định tài sản theo thỏa thuận cũng là một sự đổi mới thể hiện quan điểm pháp lý tôn trọng sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ dân sự Tại thời điểm kết hôn, khi hai vợ chồng còn thống nhất ý chí, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, thỏa thuận việc phân chia tài sản chung, riêng ngay từ đầu tránh tranh chấp không đáng có khi hai vợ chồng mâu thuẫn đặc biệt khi ly hôn thường thì vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng thường gay gắt nên rất khó để đưa ra tiếng nói chung đặc biệt đối với việc phân chia tài sản
Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế định tài sản theo thỏa thuận thì theo quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản trước khi đăng ký kết hôn Văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực Vì vậy, nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận; trong thỏa thuận tài sản có nội dung phân chia tài sản khi ly hôn Khi ly hôn, việc phân chia tài sản thực hiện theo nội dung thỏa thuận tài sản này
Nội dung của văn bản thỏa thuận được quy định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 gồm:
“a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế
độ tài sản;
d) Nội dung khác có liên quan”
Nhằm cụ thể hóa quy định này, Khoản 1 Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1 Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo
thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong
11
Khoản 1, Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 30các nội dung sau đây:
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của
vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng”
Trong trường hợp thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định Các quy định này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ, chồng đã lựa chọn là chế độ tài sản theo thỏa thuận hay chế độ tài sản theo luật định Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm
2014
1.3.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp
vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định
Trường hợp, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản sẽ ưu tiên, căn cứ trên cơ sở thỏa thuận của các bên Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng và cho phép vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng Pháp luật ghi nhận việc chia tài sản chung như thế nào trước hết phụ thuộc vào ý chí của các bên Pháp luật cho phép các bên được tự do ý chí, nhưng việc thỏa thuận phải được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật Thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn cũng chính là một giao dịch dân sự, vì vậy nó phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
Trang 31vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật nếu có quy định12 Ngoài
ra, do tính chất đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình nên nó có một số đặc điểm riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không
có khả năng lao động không có tài sản riêng để nuôi sống mình13
Khi ly hôn, nếu vợ chồng thỏa thuận được với nhau mọi vấn đề trong
đó có vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự14 Mặc dù luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể hình thức thể hiện việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, nhưng qua các quy định liên quan đến thủ tục ly hôn ta có thể thấy thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng theo chế định luật định được thể hiện trong quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án
Nếu không thỏa thuận được thì khi có yêu cầu của vợ, chồng hoặc của
cả vợ chồng Tòa án giải quyết phân chia theo nguyên tắc sau: Về cơ bản tài
sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố15:
Một là, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
Hai là, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và
phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập
Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh
và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
Bốn là, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng;
12 Điều 117, Bộ Luật Dân sự 2015
13 Khoản 5, Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
14 Điều 55, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
15
Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 32Năm là, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu
không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị Bên nào nhận được phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch
Sáu là, tài sản riêng của vợ chồng thuộc quyền sở hữu riêng của người
đó trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật HN&GĐ
Bảy là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên,
con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Quy định này là hoàn toàn hợp lý bởi hình hình thức sở hữu chung của
vợ chồng là hình thức sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng16 Sở hữu chung hợp nhất là trường hợp mà quyền sở hữu của các đồng chủ sở hữu (vợ - chồng) không được xác định đối với khối tài sản chung đó nên về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi khi ly hôn Tuy nhiên, để đảm bảo việc phân chia tài sản chung được thực hiện một cách công bằng khi công sức đóng góp của các bên vào khối tài sản chung là khác nhau, cũng như đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng pháp luật quy định việc phân chia này phải xem xét tới hoàn cảnh của các bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản này Chính điều này đặt ra yêu cầu đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết việc chia tài sản chung cần phải tiến hành thẩm tra, tìm hiểu mọi vấn đề liên quan đến tài sản chung: công sức đóng góp cũng như hoàn cảnh sống của các bên để có cơ sở phân chia một cách công bằng, hợp lý Yêu cầu này đặt ra buộc các cán bộ Tòa án khi thực hiện hoạt động tố tụng trong các
vụ án ly hôn có yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng phải xem xét, thu thập chứng cứ tài liệu một cách đầy đủ, toàn diện Trên thực tế, để xác
16
Khoản 2, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 33định công sức đóng góp của các bên Tòa án thường căn cứ vào mức thu nhập của các bên, xem xét công việc của các bên, nguồn gốc của tài sản chung của
vợ chồng Tuy nhiên, khi xem xét mức thu nhập của các bên, Tòa án cũng cần lưu ý đến mức đóng góp thực tế của vợ chồng vì không phải trường hợp nào có thu nhập cao là đương nhiên đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình nhiều hơn người có thu nhập thấp hơn Ngoài ra, Tòa án còn căn cứ vào nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợp, vợ hoặc chồng đem tài sản riêng của mình nhập vào khối tài sản chung
Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc khác đặt ra buộc các bên phải tuân thủ khi chia tài sản chung của vợ chồng nói chung và chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng đó là “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” 17 Bảo vệ bà mẹ, trẻ em trước hết là trách nhiệm của gia đình sau đó là
trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội Việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình thể hiện tính nhân đạo và bản chất tốt đẹp của Nhà nước Hiện nay, phụ nữ ngày càng bình đẳng và tham gia vào công tác xã hội nhiều hơn nhưng cũng còn nhiều phụ nữ không có công việc ổn định hoặc không đi làm mà chỉ làm việc nhà Vì vậy, khi ly hôn, họ là đối tượng dễ bị tổn thương
và thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Do đó, cần căn cứ vào điều này để khi phân chia tài sản đảm bảo quyền lợi của người vợ, đặc biệt hơn nữa những đứa trẻ chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất khả năng lao động, mất năng lực hành vi dân sự và không có tài sản để tự nuôi mình
Cùng với đó, một trong những nguyên tắc khác được pháp luật đề cập
tại điển c khoản 2 Điều 59 là “bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong
17
Khoản 5, Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 34sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo ra thu nhập” Quy định này giúp các bên có điều kiện tiếp tục sản xuất,
kinh doanh bình thường từ đó có thu nhập ổn định để tránh những hậu quả xấu xảy ra sau khi ly hôn Đối với những tài sản là tư liệu sản xuất, công cụ lao động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp của bên nào thì khi phân chia tài sản sẽ chia cho bên đó Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi nếu thực hiện việc chia tư liệu sản xuất sẽ làm cho các bên khó có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh hoặc không thể tiếp tục sản xuất kinh doanh Chẳng hạn nếu tài sản chung là nhà xưởng do người chồng đang thực hiện việc quản lý, kinh doanh Khi ly hôn, vợ yêu cầu chia đôi nhà xưởng cùng các
tư liệu sản xuất khác Nếu thực hiện theo yêu cầu này của người vợ thì hoạt động sản xuất khó có thể thực hiện được hoặc không thể diễn ra bình thường dẫn đến không chỉ ảnh hưởng đến công việc của người chồng mà có thể cả những người lao động tại nhà xưởng sản xuất đó, người chồng có khả năng sản xuất thì không có đủ tư liệu để sản xuất, người vợ không có khả năng quản lý, kinh doanh dẫn đến không sử dụng hiệu quả các tư liệu sản xuất, kinh doanh được phân chia Chính vì vậy cần có quy định này để bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp của họ khi chia tài sản chung của vợ chồng do ly hôn
Tài sản có thể là vật chia được, có thể là vật không chia được Vì vậy,
luật cũng quy định nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng “Tài sản
chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch”18 Quy định này góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những hệ quả xấu khi chia tài sản chung của vợ chồng, việc chia tài sản chung của vợ chồng có thể chia bằng vật hoặc theo giá trị, nếu chia bằng vật thì phải đảm bảo vật phải sử dụng được sau khi chia Trên thực tế, không phải tài sản nào cũng có
18
Khoản 3, Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 35thể chia, chia ra được các phần đồng đều mà giá trị sử dụng vẫn được bảo đảm Điều này dẫn đến, có trường hợp không chia được tài sản bằng hiện vật hoặc chia tài sản thành các phần nhưng giá trị của mỗi phần không bằng nhau
Vì vậy, pháp luật quy định bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phải có nghĩa
vụ thanh toán phần chên lệch của tài sản đó cho bên còn lại góp phần bảo đảm công bằng cho các bên Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định chính xác giá trị của một tài sản không phải đơn giản Vì vậy, khó tránh khỏi tranh chấp giữa các bên khi cho rằng việc định giá giá trị của tài sản là không thỏa đáng Để giảm bớt tranh chấp giữa các bên khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP:
“việc xác định giá trị khối tài sản chung của vợ chồng hoặc phần giá trị mà
họ phải thanh toán, họ được hưởng là căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử" 19
Việc quy định này tạo điều kiện cho đường
lối xét xử của các Tòa án được thống nhất, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của các bên một cách công bằng nhất có thể Trên thực tế, việc xác định được giá trị của một tài sản theo giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét
xử không phải lúc nào cũng dễ dàng Thứ nhất không phải tài sản nào, tại địa phương nào cũng thường xuyên có sự giao dịch Các tài sản tuy cùng loại nhưng giá trị giao dịch lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khấu hao tài sản, địa điểm của tài sản (đối với bất động sản) mà giá giao dịch trên thực tế cũng rất phức tạp Đây là các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định giá trị tài sản chung của vợ chồng cần phải phân chia khi Tòa án tiến hành định giá Thứ hai, nếu một bên nhận được hiện vật có giá trị có lớn hơn, phải thanh toán phần chênh lệch cho bên còn lại nhưng họ cố tình không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì bên nhận phần tài sản có giá trị thấp hơn hoặc không nhận được tài sản sẽ bị thiệt thòi trên thực tế Điều này dẫn đến tranh chấp, mẫu thuẫn kéo dài
19 Mục 12, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 36Luật HN&GĐ 2014 quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng tại Điều 37 như sau:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
a) Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng
cùng phải chịu trách nhiệm
b) Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của gia đình;
c) Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
d) Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển
khối tài sản cung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
e) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của
Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
f) Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan"
Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 Trước đây, luật HN&GĐ năm 2000 chỉ đề cập đến vấn đề thanh toán nghĩa vụ tài sản chung
của vợ chồng “Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do
vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”20.Tại khoản 1 Điều 60 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Quyền, nghĩa vụ
tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác” Quy định này góp
phần làm cho luật chuyên ngành phù hợp với quy định của luật chung - Bộ luật Dân sự Nếu chỉ căn cứ vào thỏa thuận của hai vợ chồng, người về nghĩa
vụ tài sản chung của vợ chồng, nhưng người có quyền tương ứng - người thứ
ba không đồng ý với thỏa thuận đó thì dẫn đến mâu thuẫn với quy định tại BLDS năm 2015 về thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới Người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ
20
Khoản 3 Điều 95, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 37nghĩa vụ Nếu vợ chồng thỏa thuận cho bên thực hiện toàn bộ nghĩa vụ mà không có sự đồng ý của bên thứ ba - bên có quyền thì thỏa thuận này có thể ảnh hưởng đến quyền của bên thứ ba Trên thực tế có trường hợp: vợ chồng E
và K vay vốn của ngân hàng D để mua sắm thiết bị sinh hoạt trong gia đình Sau đó, E ly hôn với K và thỏa thuận K được sử dụng tài sản này và phải có nghĩa vụ thanh toán phần nợ còn lại của E, K đối với ngân hàng D Ngân hàng
D không đồng ý với thỏa thuận này do khi vay là khoản vay tín chấp, E là lao động chính, có thu nhập ổn định, đủ khả năng để thanh toán trả dần theo hợp đồng tín dụng vay tín chấp để mua sắm tài sản theo phương thức trả nợ dần của E, K K không có công việc ổn định, không có thu nhập đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng Như vậy, thoả thuận của E, K khi ly hôn về việc xác định người thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba Thỏa thuận này không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, nhưng không hợp lý và có thể bị ngân hàng D yêu cầu hủy thỏa thuận này
Ngược lại, vợ chồng có quyền chung đối với người thứ ba: quyền đòi
nợ và chưa đến hạn thanh toán nghĩa vụ của người thứ ba Nếu khi ly hôn, vợ hoặc chồng yêu cầu bên thứ ba phải thanh toán nghĩa vụ thì không có căn cứ
và bên thứ ba có quyền từ chối chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với họ Như vậy, luật quy định quyền, nghĩa vụ với người thứ ba vẫn tiếp tục có hiệu lực là hoàn toàn hợp lý Sau khi vợ chồng ly hôn thì quyền và nghĩa vụ đối với người thứ ba trở thành quyền, nghĩa vụ liên đới và giải quyết theo quy định của luật dân sự
Trên thực tế trong một số trường hợp vì hoàn cảnh đặc biệt của vợ chồng mà việc xác định và phân chia tài sản chung cần phải có hướng dẫn cụ thể mà Luật HN&GĐ năm 2014 đã đề ra một số trường hợp Đối với tài sản là bất động sản (nhà ở, quyền sử dụng đất) thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cho nên Luật HN&GĐ 2014 đã quy định về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở, quyền sử dụng đất; các trường hợp mà vợ chồng
Trang 38còn sống với gia đình bên cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng21 Trong trường hợp
vợ chồng cùng chung sống với gia đình bên vợ hoặc gia đình bên chồng thì việc xác định tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung với gia đình là rất khó khăn Luật HN&GĐ 2014 kế thừa quy định của luật HN&GĐ 2000 xác định hai trường hợp cụ thể:
Trường hợp 1, nếu phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung
của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Tuy nhiên, trên thực tế để xác định được phần công sức đóng góp của vợ chồng vào khối tài sản chung của gia đình là điều không
hề đơn giản Khi vợ chồng hòa thuận vui vẻ, việc vợ chồng cùng nhau xây đắp, tạo lập khối tài sản chung với gia đình thường không có sự rạch ròi hoặc không lưu lại các tài liệu để chứng minh công sức đóng góp của mình vào khối tài sản chung của gia đình Khi ly hôn, các bên tranh chấp thì nhiều trường hợp vợ, chồng không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh cho công sức mà mình đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình Dó đó, quyền và lợi ích của họ ít nhiều bị ảnh hưởng Trước khi Tòa án quyết định phân chia thì pháp luật luôn ưu tiên sự tự thỏa thuận của họ với gia đình Trường hợp họ không thể tự thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
Trường hợp thứ 2, nếu phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản
chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó và chia theo nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng tại Điều 59 Luật HN&GĐ
Ngoài ra, xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng đặc biệt của quyền sử dụng đất Luật HN&GĐ năm 2014 đã dành riêng một điều luật để điều chỉnh
vấn đề này:“Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn được thực hiện như sau:
21
Điều 61, Điều 62, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 39a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 luật này
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai
3 Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền
sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của luật này”22
Qua quy định trên có thể thấy, Luật HN&GĐ năm 2014 có sự phân biệt đối với một số loại đất khác nhau và trong các trường hợp khác nhau, nếu ly hôn, vợ, chồng đang sống chung hoặc sống chung với gia đình của một bên
vợ hoặc chồng: quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc
về bên đó;
Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu
cả hai bên có nhu cầu và có điều kiện tiếp tục sử dụng thì được chia theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Trong trường hợp chỉ có một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng thì
22
Khoản 2, Điều 63, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 40bên đó được quyền tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị của quyền
sử dụng đất cho bên kia tương ứng với phần bên đó được nhận
Trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp, trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn, phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định trên
Đối với loại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản là loại đất
có giá trị khai thác theo mùa vụ Vì vậy, để tận dụng giá trị sử dụng đất đai, tránh lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này, Nhà nước đã giành riêng quy định điều chỉnh đối với loại đất này theo hướng ưu tiên giao đất này cho người có nhu cầu sử dụng trực tiếp Quy định này hoàn toàn phù hợp với Luật đất đai năm 2013
Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định của Điều 59 Luật HN&GĐ
Việc chia quyền sử dụng đất đối với các loại đất khác được thực hiện theo các quy định tương ứng của luật đất đai
Luật HN&GĐ năm 2014 còn bổ sung quy định quyền lưu cư của vợ
chồng: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung
thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể
từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”23 Đây là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 thể hiện tính nhân văn của pháp luật đã được luật hóa từ quy định tại Điều 30 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, ngày 03/10/2001 của Chính phủ Quy định này góp phần tạo điều kiện cho bên vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở có điều kiện và thời gian để tìm, tạo lập chỗ ở mới Còn việc thanh toán cho bên không phải là chủ
sở hữu nhà một phần giá trị căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà thì Luật HN&GĐ năm 2014 đưa vào nguyên tắc giải quyết tài
23
Điều 63, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014