Tình hình nghiên cứu đề tài Qua tìm hiểu về đề tài của luận văn có thể thấy việc tuyên bố một người là đã chết và hậu quả pháp lý khi người đó trở về thì tình hình nghiên cứu được thể hi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THẢO
HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI VỢ, CHỒNG BỊ TUYÊN BỐ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG)
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THẢO
HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI VỢ, CHỒNG BỊ TUYÊN BỐ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu được tôi sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 41.1.3 Khái niệm“Hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về” 12 1.1.4 Ý nghĩa của việc quy định hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã
1.2.1 Điều kiện pháp lý để tuyên bố cá nhân chết 14 1.2.2 Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân chết 23 1.3 Sơ lược quy định về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết
1.3.1 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là
đã chết trở về trước khi BLDS 1995 và Luật HN&GĐ 2000 có hiệu lực 26 1.3.2 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là
đã chết trở về trong BLDS 1995 và Luật HN&GĐ 2000 27 1.3.3 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là
đã chết trở về theo Luật HN&GĐ 2014 và BLDS 2015 28
Trang 52.1.1 Thủ tục pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về 31 2.1.2 Hậu quả pháp lý khi vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở về 33 2.2 Thực tiễn thực hiện thông qua một số vụ việc cụ thể 41
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế cuộc sống có rất nhiều trường hợp cá nhân vắng mặt tại nơi cư trú trong một thời gian dài mà không xác định được họ ở đâu, còn sống hay
đã chết Tình trạng này ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan Pháp luật dân sự quy đnh chế định tuyên bố một người là
đã chết nhằm giải quyết các quan hệ pháp luật giữa người vắng mặt lâu ngày tại nơi cư trú với các chủ thể có liên quan
Khi một cá nhân bị tuyên bố chết, sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả pháp lý khác nhau, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể khác trong các mối quan hệ dân sự mà chủ thể đó đang tham gia Chính vì vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết thì phải xem xét trên nhiều khía cạnh, nhiều điều kiện khác nhau Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp vì nhầm lẫn sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó
mà sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực, thì người bị tuyên bố chết quay trở về bởi ở đây cái chết chỉ là sự suy đoán, chỉ dựa trên căn cứ là không thấy
họ sống ở đâu Thực tế nhiều vụ việc đã xảy ra như vậy và trong trường hợp này, mọi việc sẽ trở nên vô cùng phức tạp Dự đoán trước được điều đó, các nhà làm luật đã quy định trong BLDS cũng như Luật HN&GĐ về cách thức giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp người bị Tòa án tuyên bố chết quay trở về
Sự tồn tại của mỗi cá nhân bao giờ cũng nằm trong mối liên quan với nhiều cá nhân trong cộng đồng xã hội Vì thế, khi thiếu vắng sự hiện diện của
họ sẽ làm thay đổi các quan hệ mà họ đang tham gia Khi cá nhân chết thì tư cách chủ thể của họ hoàn toàn chấm dứt Vì vậy, các quan hệ pháp luật mà họ tham gia đương nhiên chấm dứt hoặc có sự xáo trộn về chủ thể Có nhiều trường hợp cá nhân vắng mặt quá lâu ngày mà không thể xác định là họ còn sống hay đã chết Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ mà họ đang tham
Trang 8gia và ảnh hưởng tới quyền lợi của chính họ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan Cụ thể trong mối quan hệ vợ chồng, khi một bên vợ hoặc chồng “vắng mặt” lâu ngày trong cuộc hôn nhân của mình thì sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là không thể duy trì đời sống hạnh phúc, ảnh hưởng đến người chồng, vợ còn lại và con cái cũng như những người liên quan Vì vậy, nhằm duy trì trật tự của các quan hệ pháp luật hoặc chấm dứt một số quan hệ pháp luật mà người tham gia đã vắng mặt quá lâu ngày, góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể, việc nghiên cứu đề tài “Hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về theo pháp luật Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu về đề tài của luận văn có thể thấy việc tuyên bố một người là đã chết và hậu quả pháp lý khi người đó trở về thì tình hình nghiên cứu được thể hiện như sau: Trước khi có BLDS năm 1995 và BLDS năm
2005, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy định về việc quân nhân bị mất tích trong chiến tranh; trường hợp này được coi như quân nhân đã chết,
đó là:
- Quyết định số 193/CP ngày 02/8/1978 của Hội đồng Chính phủ quy định
về chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở miền Nam đã tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đến nay chưa rõ tin tức;
- Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ bổ sung tiêu chuẩn liệt sỹ và thương binh, bổ sung chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ
Đây là hai quyết định được ban hành phù hợp với tình hình chính trị xã hội thời điểm đó để kịp thời giải quyết những trường hợp đặc biệt trong chiến tranh
Trang 9Khi BLDS 2005 và BLDS 2015 ra đời thì vấn đề hậu quả pháp lý khi một người bị tuyên bố là đã chết lại trở về được quy định rõ ràng và cụ thể hơn Có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài hậu quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở, có thể đưa ra một số
công trình như Luận văn Thạc sĩ Luật học “Các trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014”, Chu Minh Khôi, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2015, bài đăng trên Tạp chí như “Tuyên bố chết
đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về”, ThS Phạm
Văn Tuyết, Tạp chí Luật học số 02/2000 Đi sâu hơn vào việc giải quyết hậu quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về,
cụ thể là về các vấn đề liên quan đến quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ con, quan hệ vợ chồng,…được đề cập đến trong các công trình sau: Nguyễn Thị
Hồng Vân (2016), Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội; Đèo Thị Thiết (2016), Áp dụng pháp luật trong giải
quyết các vụ án xác định cha, mẹ, con trên địa bàn tỉnh Sơn La, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài
sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,Nxb Tư
pháp, Hà Nội; Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự
của nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp
Ngoài ra còn có các giáo trình chuyên khảo như “Giáo trình Luật Hôn
nhân và gia đình” của Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh, “Giáo trình Luật Dân sự tập 1” do PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện chủ biên, “Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1” do PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân
chủ biên
Một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề thủ tục tuyên bố một người đã chết theo quy định của pháp luật như Luận văn Thạc sĩ Luật học
Trang 10“Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết trong
Tố tụng dân sự Việt Nam” của Nguyễn Văn Tiến, Luận văn Thạc sĩ Luật học
“Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với một cá
nhân theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Tòa
án nhân dân huyện Đông Anh” của Hoàng Xuân Hiếu bài viết “Xác định thời điểm trong trường hợp tuyên bố một người đã chết theo quy định của pháp luật dân sự” của Lê Hồng Hải đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư
pháp số 09/2004
Những tài liệu nêu trên đây chủ yếu đi vào nghiên cứu và phân tích hậu quả pháp lý khi một người bị Tòa án tuyên bố chết lại trở về dưới góc độ Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, bàn về trình tự thủ tục xét đơn yêu cầu tuyên bố chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố chết, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế của pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên các công trình khoa học chuyên sâu tìm hiểu về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về thì còn khá ít, nếu có cũng chỉ được nhắc đến trong phạm vi hẹp Vì vậy, thông qua luận văn nghiên cứu về đề tài này tác giả hi vọng sẽ góp một phần hữu ích cho ngành Luật học có thêm một tài liệu chính thống để tham khảo, tranh luận và đánh giá
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu, phân tích các nhóm đối tượng của việc giải quyết hậu quả pháp lý khi vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về, cụ thể là
về quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ tài sản giữa người bị tuyên bố chết trở về với những người có liên quan,….theo pháp luật Dân sự nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động xét xử và thực tiễn thi hành án
Trang 11 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hậu quả pháp lý khi vợ hoặc chồng bị tuyên bố là
đã chết trở về theo pháp luật dân sự nói chung và theo pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng Cũng trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung đi vào tìm hiểu pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều chỉnh về vấn đề này mà không bao gồm các quan hệ có yếu tố nước ngoài
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Với đề tài hậu quả pháp lý khi vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở
về, luận văn cần làm rõ được những vấn đề lý luận có liên quan trong BLDS
là luật gốc và đặc biệt là Luật HN&GĐ với tư cách là Luật chuyên ngành như: Điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chết; Thủ tục và hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về; thực tiễn giái quyết và chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết hậu quả pháp lý khi
vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về; đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về xây dựng luật pháp
Bên cạnh đó, luận văn còn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát, sử dụng kết quả xét xử thực tiễn,…nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn
Trang 126 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống về vấn đề hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về theo pháp luật Việt Nam Thông qua những nghiên cứu, phân tích và đánh giá có thể thấy ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn do luận văn mang lại như sau:
Thứ nhất, luận văn đã nghiên cứu một cách tổng thể lý luận và thực tiễn
về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về; làm rõ được quy định của pháp luật dân sự nói chung cũng như pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng quy định về vấn đề này
Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã rút ra được một số những khó khăn vướng mắc đang gặp phải trong thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về Qua đó chỉ ra những khó khắn, vướng mắc trong quá trình giải quyết do những quy định của luật chưa thật sự
rõ ràng và đầy đủ dẫn đến tình trạng có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau Chính vì vậy trong khuôn khổ luận văn cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, tạo ra một khung pháp lý chuẩn để việc giải quyết vấn đề này được thuận tiện dễ dàng hơn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên
bố đã chết trở về
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về và thực tiễn thực hiện thông qua một số vụ việc cụ thể
Chương 3: Khó khăn, vướng mắc và một số giải pháp hoàn thiện pháp
Trang 13luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về
Trang 14CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI VỢ,
Quan hệ vợ chồng được xác lập tuân thủ quy định của pháp luật
về điều kiện kết hôn
Để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp thì quan hệ vợ chồng được xác lập phải tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 Cụ thể các điều kiện bao gồm:
Về độ tuổi: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Độ tuổi này được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và rất phù hợp với thực tế vì ở độ tuổi như vậy, cả nám và nữ đều đã là người đủ năng lực hành
vi dân sự, có thể tự lao động để nuôi bản thân cũng như có đủ trưởng thành để xây dựng cuộc sống hôn nhân
Về ý trí: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định Việc kết hôn cũng được coi như một giao dịch dân sự vậy, các bên tham gia vào quan
hệ vọ chồng phải tự mình tham gia, tự mình thỏa thuận và tự nguyện, không được lừa dối, cưỡng ép kêt hôn
Về năng lực chủ thể: nam nữ kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự Tại thời điểm kết hôn, nam nữ tham gia đăng ký kết hôn phải là người
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Điều kiện này đi kèm với điều kiện về ý
Trang 15trí, khi các bên tham gia đăng ký kết hôn mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự mình tham gia, không thể tự mình quyết định việc đăng ký kết hôn
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có
họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng
là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
Trường hợp kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kết hôn: Theo khoản 2 Điều 11 Luật HN&GĐ 2014 thì tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu
cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà các bên kết hôn đã đáp ứng đủ điều
kiện kết hôn và có yêu cầu công nhận quan hệ đó thì Tòa án có thể ra quyết định công nhận quan hệ hôn nhân của họ theo yêu cầu và thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân trong trường hợp này được tính từ thời điểm các bên không còn vi phạm điều kiện kết hôn nữa Như vậy trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân hợp pháp sẽ được công nhận kể từ thời điểm các bên không còn vi phạm điều kiện kết hôn nữa
Hai bên nam nữ phải tiến hành đăng ký kết hôn theo Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ 2014
Theo thủ tục đăng ký kết hôn, ngày đăng ký kết hôn sẽ được tính từ ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kết hôn, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn Ngày nào cũng là ngày tổ chức đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam nữ để họ trở thành vợ chồng Ngày đăng ký kết hôn được xác định là thời
Trang 16điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và quan hệ vợ chồng được coi là hợp pháp
Trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền Theo quy định tại Điều 13 Luật HN&GĐ 2014 thì trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền khi có yêu cầu, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về
hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng hợp pháp sẽ công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước vì kể từ thời điểm đó quan hệ hôn nhân thực tế đã tồn tại
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ 2014: “1 Nam, nữ
có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng ” Mặc dù pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ
chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nhưng vẫn có
2 ngoại lệ sau đây được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp:
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
Khoản 1 Thông tư liên tịch số
01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định: "Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày
03/01/1987 (ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực) mà chưa có đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung"
Như vậy, trường hợp này pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp mặc dù không đăng ký kết hôn và thời kỳ hôn nhân được tính kể từ ngày hai bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng
Trang 17 Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày
03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 thì phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng Kể từ sau ngày 01/01/2003 mới đăng ký kết hôn quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn
Do đó, trong trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 và thực hiện việc đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003 thì pháp luật công nhận họ là vợ chồng hợp pháp kể từ trước ngày đăng ký kết hôn Thời kỳ hôn nhân được tính kể từ ngày hai bên xác lập quan hệ chung
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm vợ chồng hợp
pháp như sau: “Vợ chồng hợp pháp là quan hệ vợ chồng được xác lập theo
quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trừ các trường hợp sau:
1 Nam nữ kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, các bên kết hôn đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và có yêu cầu công nhận quan hệ đó
2 Nam nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn lại tại cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền do việc đăng ký kết hôn trước đó không đúng thẩm quyền
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 hoặc từ ngày 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 mà thực hiện việc đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003”
1.1.2 Khái niệm “Tuyên bố chết”
Trang 18Trong thực tiễn có rất nhiều trường hợp một người vắng mặt lâu ngày ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không hề có tin tức chứng minh rằng người đó còn sống hay đã chết Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc vắng mặt lâu ngày của cá nhân đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể liên quan khác có liên quan trong các quan hệ dân sự mà người đó đang tham gia Trong trường hợp này, để giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp cho những người liên quan, thông qua trình tự và thủ tục luật định, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người đó là đã chết Cái chết này là cái chết về mặt pháp lý Tuyên bố chết là một trong những chế định pháp lý được quy định trong BLDS Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định nào đề cập đến khái
niệm tuyên bố chết Tuy nhiên có thể hiểu tuyên bố chết là việc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền công nhận một cá nhân đã qua đời trên cơ sở yêu cầu của những người có quyền và lợi ích liên quan thông qua thủ tục thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có thông tin xác thực về sự tồn tại của cá nhân
đó 1
Tuyên bố chết là một trong những hình thức chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân và là cơ sở để giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khác trong mối quan hệ dân sự mà người đó đang tham gia
1.1.3 Khái niệm“Hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về”
Khi xảy ra sự kiện pháp lý là một trong hai bên vợ, chồng chết bao gồm
cả cái chết sinh học và cái chết pháp lý (Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết) thì quan hệ hôn nhân giữa họ đương nhiên chấm dứt, bên còn sống không cần thực hiện bất kỳ thủ tục nào để chấm dứt quan hệ hôn nhân Nói cách khác là bên vợ (chồng) còn sống không phải tiến hành thủ tục đăng ký việc chấm dứt hôn nhân này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà
1
Xác định thời điểm trong trường hợp tuyên bố một người đã chết theo quy định của pháp
luật dân sự”, Lê Hồng Hải, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 09/2004
Trang 19chỉ cần thực hiện hành vi khai tử cho bên vợ (chồng) đã chết theo quy dịnh của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch mà thôi
Sở dĩ pháp luật quy định khi sự kiện pháp lý là một trong hai bên vợ, chồng chết xảy ra thì quan hệ hôn nhân giữa họ đương nhiên chấm dứt là bởi
lẽ hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, xuất phát từ bản chất của quan
hệ hôn nhân là chia sẻ các giá trị vật chất và tinh thần giữa vợ chồng với nhau Khi sự chia sẻ không thể thực hiện được do một trong hai bên vợ chồng chết thì không có lý do gì để hôn nhân giữa họ tiếp tục tồn tại
Khi sự kiện pháp lý là một trong hai bên vợ, chồng chết (bao gồm cả trường hợp chết sinh học hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết) thì quan hệ nhân thân giữa họ chấm dứt, bên vợ (chồng) còn sống được quyền kết hôn với người khác.Vấn đề tài sản thì giải quyết theo quy định của pháp luật: một bên
vợ (chồng) chết, nếu có yêu cầu thì tài sản chung của vợ chồng được đem chia, phần tài sản của người đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau
Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều trường hợp vì nhầm lẫn, sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó mà sau khi quyết định của Tòa án
có hiệu lực thì người bị tuyên bố chết quay trở về Dự đoán trước được điều
đó, bên cạnh các quy định liên quan đến việc tuyên bố một bên vợ, chồng là
đã chết, pháp luật cùng dự liệu trước trường hợp người bị tuyên bố là đã chết
đó trở về và có quy định quyền và nghĩa vụ của họ trong các mối quan hệ gia đình và xã hội mà họ phải thực hiện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ và những người có liên quan Từ đó có thể rút ra khái niệm hậu quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về như sau:
“Hậu quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở về là
tổ hợp các vấn đề pháp lý điều chỉnh về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản liên quan đến bản thân người bị tuyên bố là đã chết trở về và giữa người đó với những chủ thể khác có liên quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 20của của chính người bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về và của các chủ thể
Việc quy định hậu quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về có ý nghĩa quan trọng, nhằm giải quyết các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản xung quanh cá nhân này Cụ thể là xác định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người bị tuyên bố chết trở về với người chồng hoặc vợ của mình, với con đẻ (con nuôi) và với những người có liên quan trong một số quan hệ pháp luật khác ở những lĩnh vực khác nhau
mà người bị tuyên bố chết trở về là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật đó
Ngoài ra, đây còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân cũng như tranh chấp về tài sản trong thực tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân
1.2 Lý luận chung về tuyên bố cá nhân chết
1.2.1 Điều kiện pháp lý để tuyên bố cá nhân chết
Chế định tuyên bố chết trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa quan trọng bởi
vì trong quan hệ dân sự mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá
Trang 21nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, việc một người vắng mặt lâu ngày ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người đó còn sống hay đã chết sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể liên quan khác Sự kiện pháp lý này kéo theo một loạt các hậu quả pháp lý khác nhau Nhận thức được tầm quan trọng đó, Điều 71 BLDS 2015 quy định:
“ 1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này
2 Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
Có thể nói đây là một chế định đặc biệt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân cũng như các chủ thể khác liên quan Cái chết của cá nhân là sự kiện pháp lí làm chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân Nhưng cái chết đó
Trang 22phải xác định một cách chính xác và theo quy định của pháp luật phải được khai tử Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau không thể xác định được một cách chính xác người đó còn sống hay đã chết Để hạn chế trường hợp biệt tích vẫn còn sống nhưng đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết, trước khi đưa ra quyết định tuyên bố một người đã chết thì Tòa án phải xem xét đầy đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, điều kiện về thời gian: đã qua thời hạn quy định mà cá
nhân đó vẫn không có tin tức là còn sống Theo quy định tại Điều 144 BLDS
2015 thì "Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này
đến thời điểm khác" Theo điều kiện thì trên Tòa án chỉ tuyên bố một cá nhân
là đã chết nếu quá thời hạn luật định mà vẫn không có tin tức xác thực về việc
cá nhân đó còn sống Thời hạn đó là khoảng thời gian bao lâu thì sẽ tùy theo
từng trường hợp cụ thể để xác định
Trường hợp tuyên bố chết với cá nhân đã thông qua thủ tục mất tích:
Thời hạn là 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu
lực pháp luật mà người bị tuyên bố mất tích vẫn không trở về và không có thông tin xác thực nào về việc người đó còn sống hay đã chết Trong trường hợp này, việc tạm dừng năng lực chủ thể của cá nhân sẽ được giải quyết theo hướng chấm dứt tư cách chủ thể của người đó bằng việc ra quyết định tuyên
bố người đó đã chết
Trường hợp tuyên bố chết đối với người biệt tích trong chiến tranh Đối
với cá nhân bị biệt tích trong chiến tranh, sau 5 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà không có tin tức xác thực rằng người đó còn sống hay đã chết Theo điểm b khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 không quy định việc phải thông báo tìm kiếm trong trường hợp biệt tích trong chiến tranh bởi đây là trường hợp biệt tích đặc biệt Việc tổ chức thông báo tìm kiếm người thân trong chiến tranh là một việc khó, bởi thiếu rất nhiều căn cứ xác thực và các thông tin để có thể tìm kiếm người biệt tích Hơn nữa số người biệt tích trong chiến
Trang 23tranh cũng khá nhiều nên việc tìm kiếm sẽ càng khó khăn Ngày chiến tranh kết thúc có thể có nhiều quy định khác nhau như ngày chiến thắng, ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, ngày ký hiệp định đình chiến, hiệp định hòa bình hoặc ngày tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh… Tùy theo hoàn cảnh của các cuộc chiến tranh mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định ngày kết thúc chiến tranh
Trường hợp tuyên bố một người là đã chết trong tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai Thời hạn trong trường hợp này là 2 năm sau khi thảm họa,
thiên tai đó chấm dứt và không có bất kì tin tức gì về việc người đó còn sống hay đã chết Người đó được xác nhận là một trong số những người có trong tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai (cư dân trong vùng bị động đất, núi lửa, sóng thần; hành khách trong các tai nạn giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không; người trong hầm, lò, mỏ bị sập hoặc hư hỏng ) mà không xác định được hoặc không tìm thấy thi thể nạn nhân Việc xác định chính xác sự có mặt của người biệt tích trong các tai nạn, thảm họa, thiên tai
là một việc quan trọng vì việc xác định những thông tin này có liên quan đến công việc tìm kiếm cứu hộ cứu nạn Nếu như những thông tin này không chính xác thì sẽ gây khó khăn cho công việc tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, công việc cứu hộ sẽ có thể bị kéo dài thêm không cần thiết hoặc có nhiều trường hợp xác định nhầm người bị nạn Trong trường hợp khác, nếu người đó thực
sự không ở trong tai nạn hay thảm họa thiên tai mà vẫn biệt tích thì sẽ phải áp dụng pháp luật theo điểm d khoản 1 Điều 71 chứ không áp dụng theo điểm c Việc này có liên quan đến lợi ích của người có quyền và lợi ích liên quan nên cần xác định chính xác để tránh trường hợp khai không đúng sự thật nhằm mưu lợi cho cá nhân2
Trường hợp tuyên bố đã chết đối với người biệt tích lâu ngày Đối với
cá nhân biệt tích lâu ngày mà chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải đáp
2
Xác định thời điểm trong trường hợp tuyên bố một người đã chết theo quy định của pháp
luật dân sự”, Lê Hồng Hải, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 09/2004
Trang 24ứng điều kiện về thời hạn là 5 năm kể từ ngày, tháng, năm biết được tin tức cuối cùng của người đó về sự sống còn của họ Thời điểm biệt tích là ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng Thời hạn 5 năm phải là liên tục, không thể cộng các thời gian biệt tích để tính Và những người có quyền và lợi ích liên quan khi yêu cầu Tòa án tuyên bố người biệt tích chết phải đưa ra các bằng chứng xác thực về tin tức cuối cùng của người biệt tích để có thể xác định thời hạn
Thứ hai, phải thông qua thủ tục thông báo tìm kiếm
Xuất phát từ mục đích của việc thông báo tìm kiếm là nhằm xác định lại lần cuối cùng về tin tức sống còn của một người trước khi Tòa án quyết định về số phận pháp lý của họ Vì vậy, nếu thủ tục này là không thể thiếu khi tuyên bố cá nhân mất tích thì cũng không thể thiếu khi tuyên bố cá nhân chết Việc thông báo được diễn ra công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài
Việc thông báo tìm kiếm là thủ tục rất cần thiết để tuyên bố chết đối với một cá nhân khi chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích Vậy đối với người đã tuyên bố mất tích, sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa
án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức còn sống thì BLDS không quy định có bắt buộc phải thông qua thủ tục thông báo tìm kiếm hay không Đối với trường hợp này, có ý kiến cho rằng việc thông báo tìm kiếm đã được thực hiện trong thủ tục tố tụng trong khi tuyên bố người đó mất tích nên khi tuyên bố là họ đã chết thì không cần thiết phải thực hiện lại nữa Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân, đối với trường hợp người đã bị tuyên bố mất tích nhưng sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức gì để xác định người đó còn sống thì khi có
Trang 25yêu cầu tuyên bố người đó đã chết thì vẫn phải tiến hành thông báo thủ tục tìm kiếm Vì trong thực tế có thể trong khoảng thời gian 3 năm đó, bản thân người bị tuyên bố mất tích hoặc những người liên quan vì một hoặc một số lý
do nào đó mà không yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố mất tích Ví dụ như trường hợp những người liên quan biết người bị tuyên bố mất tích xuất hiện nhưng giấu giếm để khi tuyên bố chết không phải tính lại thời hạn khi
người đó xuất hiện nhằm mục đích hưởng thừa kế
Như vậy, mặc dù Bộ Luật Dân sự không quy định về thủ tục thông báo tìm kiếm nhưng thực tế cho thấy điều kiện về thủ tục thông báo tìm kiếm là thủ tục không thể thiếu khi muốn tuyên bố một người đã chết Bởi lẽ qua thủ tục này có thể nâng cao tính xác thực, khách quan, chính xác trong quyết định của Tòa án Mặt khác, về nguyên tắc, Tòa án chỉ được phép tuyên bố một người là đã chết khi họ “vẫn không có tin tức là còn sống”3
Thứ ba, phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Thực chất mục đích của việc yêu cầu tuyên bố chết với cá nhân là tạo
ra cơ sở pháp lý cho việc những người có quyền, lợi ích liên quan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình Khi một cá nhân bị tuyên bố chết thì đồng nghĩa với việc tư cách chủ thể của họ bị chấm dứt hoàn toàn Việc một người vắng mặt quá lâu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của những người liên quan đó
Tại khoản 1, Điều 71 BLDS 2015 đã quy định về việc tuyên bố một người đã chết, trong đó có điều kiện về việc phải có người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu và phải thỏa mãn các điều kiện nhất định thì Tòa án mới có
thể ra quyết định tuyên bố mất tích: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể
yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây ”
3
Tuyên bố chết đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về, ThS Phạm
Văn Tuyết, Tạp chí Luật học số 02/2000
Trang 26Tính tới thời điểm hiện tại, BLDS chưa có giải thích cụ thể thế nào là người có quyền, lợi ích liên quan Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu: Người có quyền, lợi ích liên quan là người có mối quan hệ nào đó với người bị yêu cầu tuyên bố đã chết như quan hệ dân sự, quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính và sự vắng mặt của người bị yêu cầu tuyên bố chết ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ Ví dụ như: chủ nợ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người (vốn là một con nợ của mình) là đã chết khi họ đã biệt tích lâu ngày nhằm thu hồi khoản nợ từ tài sản mà người đó để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế; những người được thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người để lại thừa kế là đã chết để được hưởng di sản thừa
kế
Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ thụ
lý vụ việc khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự Hay nói cách khác, Tòa án chỉ có thể ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết khi có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Thứ tư, chỉ tuyên bố một người là đã chết nếu người đó không nằm trong tình trạng bị truy nã theo lệnh truy nã của cơ quan điều tra
Trong thực tế, có nhiều trường hợp cá nhân bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật vì vậy cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã đối với họ Tình trạng trên sẽ ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của một số người nhất định vì vậy họ sẽ yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân đó đã chết để bảo vệ và thực hiện quyền lợi của mình
Trong trường hợp này, mặc dù có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện và thời hạn được quy định tại khoản 1, Điều 71 BLDS 2015 thì Tòa án cũng có thể không ra quyết định tuyên bố chết Điều này xuất phát từ thực tiễn trong đời sống xã hội bởi
vì việc tuyên bố cá nhân đang bị cơ quan điều tra ra lệnh truy nã là đã chết sẽ
Trang 27trở thành căn cứ đình nã Quyết định truy nã chỉ hết hiệu lực khi người bị truy
nã đã chết, bị bắt hoặc có quyết định đình nã của cơ quan điều tra Kể từ khi quyết định của tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì mọi quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người đó sẽ được giải quyết như đối với người đã chết Khi sự kiện pháp lý là cá nhân đang bị truy nã chết xảy
ra thì quyết định truy nã đó ngay lập tức hết hiệu lực, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình điều tra, khởi tố vụ án của cơ quan điều tra
Như vậy, trước khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết thì việc xem xét xem người đó có nằm trong tình trạng bị truy nã theo lệnh truy nã của cơ quan điều tra hay không là hết sức cần thiết4
Ngoài ra, so với BLDS 2005 thì Điều 71 BLDS 2015 còn bổ sung thêm
một quy định “3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải
được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch” Việc bổ sung này là
hoàn toàn hợp lý bởi UBND cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết cần phải nắm được các thông tin về hộ tịch, từ đó làm cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh chấp vướng mắc liên quan đến tài sản, quyền nhân thân của người này
Ngoài những điều kiện đủ như đã phân tích ở trên thì việc tuyên bố một người là đã chết còn phải đáp ứng được điều kiện cần đó là phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết được quy định tại các điều từ Điều 391 đến Điều 393 BLTTDS 2015 Theo đó, để Tòa
án tuyên bố một người là đã chết, cần có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và tài liệu chứng cứ kèm theo để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp theo quy định của BLDS gửi đến Tòa án
4
Tuyên bố chết đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về, ThS Phạm
Văn Tuyết, Tạp chí Luật học số 02/2000
Trang 28có thẩm quyền
Việc chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết được thực hiện trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu Trong thời hạn này, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết Việc thông báo tìm kiếm được thực hiện tương tự với như đối với trường hợp tuyên bố một người mất tích theo Điều 385 BLTTDS quy định về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định, Tòa
án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của BLDS
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thông báo này phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp5 Chi phí liên quan đến việc thực hiện thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về
Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố chết là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên6 Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu Hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu cũng như không có các trường hợp đình chỉ việc xét đơn thì Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn
Trang 29yêu cầu trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báo Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết Trong quyết định đó, Tòa án phải xác định ngày chết của người bị Tòa án tuyên bố chết cũng như hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết theo quy định
1.2.2 Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân chết
Tuyên bố chết là một trong những hình thức chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân Khi quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cá nhân đó xem như đã chết Sự kiện pháp lý này kéo theo nhiều hậu quả pháp lý khác nhau liên quan đến tư cách chủ thể của người
bị tuyên bố chết, liên quan đến các vấn đề xung quanh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người đó
Thứ nhất, về tư cách chủ thể:
Khi quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu lực pháp luật thì tư cách chủ thể của cá nhân đó bị chấm dứt hoàn toàn Nếu người bị tuyên bố chết trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 thì hướng giải quyết đối với tư cách chủ thể của người đó là từ tạm dừng thành chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể
Người đó sẽ được khai tử theo trình tự và thủ tục của pháp luật Vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người bị Tòa án tuyên bố chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử trong thời hạn 15 ngày (khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch 2014) Ngay sau khi nhận được giấy tờ đăng
ký khai tử và thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử và Sổ hộ tịch (khoản 2 Điều 34 Luật Hộ tịch 2014) Kể từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó không thể tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào như vay tài sản, mua bán tài sản với tư cách là một chủ thể của quan hệ pháp luật đó
Trang 30Thứ hai, về quan hệ nhân thân:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 thì khi quyết định của Tòa án tuyên
bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết Trong trường hợp này, thời điểm chấm dứt hôn nhân được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án
Quan hệ hôn nhân đương nhiên chấm dứt, người vợ (chồng) của người
bị tuyên bố chết có quyền tự do kết hôn với người khác
Về quan hệ cha mẹ - con, theo Điều 88 Luật HN&GĐ thì trong thời hạn
300 ngày kể từ ngày chết được tòa án xác định trong quyết định tuyên bố chết, vợ của người bị Tòa án tuyên bố chết mà sinh con ra thì đứa con này vẫn được xác định là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân và được coi
là con chung của vợ chồng
Pháp luật cũng quy định cho người khác nhận người bị Tòa án tuyên bố chết là cha, mẹ,con (Điều 90,91 Luật HN&GĐ 2014)
Các quan hệ nhân thân khác cũng sẽ chấm dứt khi người đó bị tuyên bố
là đã chết Trường hợp quyền và lợi ích của bên có quyền gắn liền với yếu tố nhân thân thì về nguyên tắc, khi cá nhân đó chết thì nghĩa vụ dân sự cũng chấm dứt Ví dụ, quyền yêu cầu cấp dưỡng của cá nhân đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng Khi người có quyền yêu cầu cấp dưỡng chết, quan hệ cấp dưỡng cũng đương nhiên chấm dứt.Tuy nhiên quyền nhân thân của người
bị tuyên bố chết không hoàn toàn chấm dứt, người bị tuyên bố chết vẫn sẽ được bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, quyền tác giả về đối với sáng chế
Thứ ba, về quan hệ tài sản:
Khoản 2 Điều 72 BLDS 2015 quy định: “Quan hệ tài sản của người bị
Trang 31Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế” Tài
sản của người bị tuyên bố chết sẽ được sử dụng trước tiên để thanh toán chi phí quản lý với người được giao quản lý tài sản của người đó Sau đó sẽ được
đưa ra thành di sản để chia thừa kế
Khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là
thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của
Bộ luật này” Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì tùy
từng trường hợp tòa án xác định ngày chết của người đó, nếu không xác định được ngày chết thì thời điểm quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một
cá nhân có hiệu lực pháp luật được xác định là thời điểm mở thừa kế
Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế Nếu người bị tuyên bố chết có di chúc hợp pháp thì tài sản của họ để lại được chia theo di chúc Trường hợp không có di chúc hoặc rơi vào một số trường hợp đặc biệt của Điều 644 BLDS về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì di sản của người chết để lại được chia theo pháp luật
Mặt khác thời điểm mở thừa kế cũng đồng thời là thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Trường hợp người bị tuyên bố chết chưa giải quyết xong nghĩa vụ tài sản với chủ thể nào đó thì những người được hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi tài sản của người tuyên bố chết để lại
Như vậy, sự kiện pháp lý một cá nhân bị tuyên bố chết xảy ra sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả pháp lý khác nhau, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể khác Do vậy, trước khi ra quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết, Tòa án phải xem xét một cách hết sức tỉ mỉ, kỹ lưỡng các
Trang 32điều kiện cần và đủ Tuy nhiên, thực tế vẫn không thể tránh khỏi trường hợp
vì nhầm lẫn, sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó mà sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực thì người bị tuyên bố chết trở về Dự đoán trước được điều đó, BLDS 2015 đã có những quy định cụ thể về cách thức giải quyết trong trường hợp người bị tuyên bố chết trở về
1.3 Sơ lược quy định về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên
bố đã chết trở về theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ
1.3.1 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về trước khi BLDS 1995 và Luật HN&GĐ 2000 có hiệu lực
Trong thực tế, có nhiều trường hợp cá nhân vắng mặt quá lâu ngày mà không thể xác định là họ còn sống hay đã chết Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ mà họ đang tham gia và ảnh hưởng tới quyền lợi của chính họ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan Cụ thể trong mối quan hệ vợ chồng, khi một bên vợ hoặc chồng “vắng mặt” lâu ngày trong cuộc hôn nhân của mình thì sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là không thể duy trì đời sống hạnh phúc, ảnh hưởng đến người chồng, vợ còn lại và con cái cũng như những người liên quan
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trước khi có BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy định về việc quân nhân bị mất tích trong chiến tranh; trường hợp này được coi như quân nhân đã chết: Quyết định số 193/CP ngày 02/8/1978 của Hội đồng Chính phủ quy định về chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở miền Nam đã tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đến nay chưa rõ tin tức; Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ bổ sung tiêu chuẩn liệt sỹ và thương binh, bổ sung chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ Đây là hai quyết định được ban hành phù hợp với tình
Trang 33hình chính trị xã hội thời điểm đó để kịp thời giải quyết những trường hợp đặc biệt trong chiến tranh Tuy nhiên, pháp luật thời điểm đó mới chỉ dừng lại ở
việc quy định về việc “coi như đã chết” đối với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào
ở miền Nam đã tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chưa rõ tin tức mà chưa có bất cứ quy định nào dự liệu trường hợp người đó vẫn còn sống, trở về và giải quyết các hậu quả pháp lý trong với trường hợp người đó trở về
Sau này, khi Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời, vấn đề về tuyên bố chết
và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chết được quy định rõ ràng hơn Việc một bên vợ, chồng bị tuyên bố đã chết làm chấm dứt quan hệ nhân thân cũng như quan hệ tài sản giữa các bên Bên còn sống, nếu có yêu cầu thì tài sản chung của vợ chồng được đem chia Điều 17 Luật HN&GĐ năm 1986 chỉ quy
định: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì
chia đôi ” Theo đó, một nửa thuộc di sản của người đã bị tuyên bố chết,
một nửa thuộc tài sản riêng của người vợ, chồng còn sống
Như vậy, trước khi BLDS 1995 và Luật HN&GĐ 2000 có hiệu lực thì pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc quy định về tuyên bố chết mà chưa dự liệu được trường hợp sau khi quyết định tuyên bố chết đó có hiệu lực thì người bị tuyên bố chết đó lại trở về
1.3.2 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về trong BLDS 1995 và Luật HN&GĐ 2000
Khi quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cá nhân đó coi như đã chết Có thể có trường hợp trong thực tế người đó vẫn còn sống nhưng họ vẫn bị coi là đã chết về mặt pháp lý Vì vậy, tất cả các quan hệ mà người đó tham gia đều sẽ được giải quyết như đối với người đã chết Nếu mãi mãi người bị tuyên bố chết không trở về thì mọi sự sẽ
im lặng như sự im lặng của chính họ Tuy nhiên, mọi điều sẽ trở nên hết sức
Trang 34phức tạp khi họ lại trở về sau khi đã bị tuyên bố chết
Sau này khi BLDS 1995 và Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời, pháp luật
đã bước đầu đã có những quy định về giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp người bị tuyên bố chết quay trở về BLDS 1995 đã có dự liệu và quy định cách thức giải quyết đối với trường hợp trên tại Điều 93 Điều luật này kết hợp được giữa việc bảo vệ quyền lợi của người bị tuyên bố là đã chết nhưng còn sống với việc đưa ra những giải pháp để áp dụng đối với từng quan hệ cụ thể trong thực tế Tại Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ có quy định trường hợp một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về mà vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì hôn nhân đương nhiên được khôi phục, trường hợp
đã kết hôn thì hôn nhân sau có giá trị Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 mới chỉ bước đầu đề cập tới việc giải quyết hậu quả pháp lý đối với các quan hệ nhân thân mà cụ thể là quan hệ hôn nhân mà chưa có quy định nào quy định
về việc giải quyết các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản trong trường hợp này
1.3.3 Quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về theo Luật HN&GĐ 2014 và BLDS 2015
Khi Luật HN&GĐ 2014 và BLDS 2015 ra đời thì các quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi một người bị tuyên bố là đã chết lại trở về lại một lần nữa đã được quy định một cách rõ ràng và cụ thể hơn Đặc biệt Luật HN&GĐ 2014 đã có những thay đổi tiến bộ so với Luật HN&GĐ 2000 khi quy định rõ hơn về hậu quả pháp lý trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng
bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về Nếu như trước đây, Luật HN&GĐ 2000, chỉ quy đinh về cách thức giải quyết hậu quả đối với quan hệ nhân thân mà
cụ thể là quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng; không quy định hậu quả pháp lý
về tài sản Thì Luật HN&GĐ 2014 đã bổ sung thêm các điều luật giải quyết từng vấn đề cụ thể phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết trở
về, trong đó tập trung chủ yếu vào việc giải quyết quan hệ nhân thân và quan
Trang 35hệ tài sản Luật mới bổ sung thêm quy định về chấm dứt hôn nhân khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Bên cạnh việc quy định khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về như luật cũ thì luật mới bổ sung trường hợp người vợ hoặc chồng đã ly hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn
có giá trị Điều này đồng nghĩa là hai người muốn là vợ chồng thì phải đăng
ký kết hôn trở lại Ngoài ra Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định về nguyên tắc chia tài sản trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết cụ thể tại Điều 66 Theo đó, khi có yêu cầu chia tài sản thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc sẽ được chia đôi Sau khi chia tài sản, phần tài sản của
vợ, chồng đã chết trở thành di sản của người đó và được chia theo quy định pháp luật về thừa kế Trong trường hợp, người vợ, chồng bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết nay trở về thì sau khi có quyết định hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết thì quan hệ nhân thân, tài sản được giải quyết theo quy định tại Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2014 Việc quy định rõ ràng và
cụ thể về hậu quả pháp lý khi một người bị tuyên bố chết trở về (quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản) làm cơ sở cho việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật ở các Tòa án trong thực tế giải quyết việc dân sự
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, luật học…BLDS 2015 nói chung cũng như Luật HN&GĐ nói riêng đã có những thay đổi đáng kể, phù hợp thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cuộc sống Các quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý khi
vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở về ngày càng hoàn thiện hơn, tạo tiền
đề, cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án giải quyết các vụ việc trong thực tiễn cuộc sống
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong phạm vi Chương 1, tác giả đã làm rõ được một số khái niệm cơ bản như khái niêm vợ chồng hợp pháp, khái niệm tuyên bố chết, khái niệm hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về và ý nghĩa của việc quy định hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về Đồng thời tác giả cũng phân tích cụ thể các điều kiện tuyên bố vợ, chồng chết; hậu quả của việc tuyên bố vợ, chồng chết nhằm đưa ra một cái nhìn chung nhất về “tuyên bố chết” Bên cạnh đó nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên
bố là đã chết trở về, tác giả cũng đã đánh giá sơ lược về quy định này trong các văn bản pháp luật, cụ thể là BLDS với tư cách là luật chung và Luật HN&GĐ với tư cách là luật chuyên ngành qua các thời kỳ Chỉ ra được sự kế thừa và phát triển trong các quy định về hậu quả pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố chết trở về của BLDS 2015 nói chung và Luật HN&GĐ 2014 nói riêng so với các Luật trước đó
Trang 37CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI VỢ, CHỒNG BỊ TUYÊN BỐ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN THÔNG QUA MỘT SỐ VỤ VIỆC CỤ THỂ
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hậu quả pháp
lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về
2.1.1 Thủ tục pháp lý khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết trở về
Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết với cá nhân thì cái chết đó chỉ là cái chết “pháp lý” mang tính suy đoán Việc suy đoán này có thể chính xác hoặc không chính xác Và khi quyết định tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà người bị tuyên bố chết trở về thì việc làm cần thiết về mặt pháp lý đầu tiên để bảo đảm quyền lợi về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố chết trở về là hủy bỏ quyết định tuyên bố chết đã có hiệu lực của Tòa án
Khi có yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án phải căn cứ vào các điều kiện cần và đủ mà pháp luật quy định thì mới có thể ra quyết định để tuyên bố một người là đã chết Do vậy, khi người bị tuyên bố chết quay trở
về, Tòa án cũng không thể chỉ dựa vào sự xuất hiện trở lại của người đó mà ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết mà phải xem xét trường hợp đó có đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định hay không
Cụ thể Điều 73 BLDS và Điều 394 BLTTDS quy định: Khi một người
bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
Như vậy, từ quy định nêu trên, để Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết thì cần đáp ứng hai điều kiện sau:
Thứ nhất, người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực
Trang 38là người đó còn sống
Sự xuất hiện trở lại của người bị tuyên bố là đã chết là một minh chứng
rõ ràng nhất cho việc họ đang còn sống Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người đó và của những người liên quan thì việc hủy bỏ quyết định tuyên bố chết là hết sức cần thiết Trong trường hợp người bị tuyên bố là đã chết không quay trở về nơi cư trú của mình trước đó, nhưng có thông tin xác thực về việc người đó đang còn sống thì cũng được Tòa án chấp nhận là căn
cứ để xem xét việc hủy bỏ quyết định tuyên bố chết Tin tức xác thực ở đây được hiểu là những thông tin về sự có mặt của người bị tuyên bố là đã chết ở một địa phương khác, đó có thể là các tài liệu, chứng cứ về việc người bị Tòa
án tuyên bố chết đang sinh sống tại một địa phương khác như giấy đăng ký tạm trú có dấu xác thực của địa phương hoặc là các giấy tờ liên quan khi họ tham gia vào các quan hệ xã hội,
Thứ hai, phải có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
Khi người bị Tòa án tuyên bố chết trở về thì họ cũng không đương nhiên được khôi phục tư cách chủ thể và các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân và tài sản mà cần phải có quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chết của Tòa án Bởi việc họ “đã chết” về mặt pháp lý là do Tòa án suy đoán dựa trên những điều kiện mà pháp luật quy định trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền lợi, lợi ích liên quan Chính vì lý do đó, khi người bị tuyên bố chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, trên cơ sở yêu cầu của chính bản thân người bị tuyên bố chết hoặc người có quyền, lợi ích liên
quan thì Tòa án mới xem xét việc hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người bị Tòa án tuyên
bố chết và của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật trao quyền gửi đơn yêu cầu hủy quyết định tuyên bố chết cho hai chủ thể đó là: bản thân người bị tuyên bố chết và những người có quyền, lợi ích liên quan Trong
Trang 39thực tế, không ít các trường hợp cá nhân bị Tòa án tuyên bố chết là do chiến tranh, do thiên tai, thảm họa mà khi họ quay trở về, bản thân họ cũng không biết hay không nhớ được mình là ai Chính vì vậy, việc trao quyền yêu cầu cho các chủ thể khác có liên quan là hết sức cần thiết Gửi kèm theo đơn yêu cầu là tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
2.1.2 Hậu quả pháp lý khi vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở
về
2.1.2.1 Hậu quả pháp lý về “quan hệ nhân thân”
- Quan hệ vợ và chồng
Luật HN&GĐ quy định về quan hệ hôn nhân của vợ chồng khi một bên
bị tuyên bố là đã chết trở về tại Điều 67 như sau: “Khi Tòa án ra quyết định
hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật”
Như vậy, khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở về thì quan hệ hôn nhân của họ với người kia có được khôi phục hay không còn phụ thuộc vào “tình trạng hôn nhân thực tế” của người còn lại tại thời điểm Tòa án
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
Có thể thấy việc Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
là tiền đề để xác định xem quan hệ hôn nhân trong trường hợp này được giải quyết như thế nào Vậy trong trường hợp chính người bị tuyên bố là đã chết trở về và những người có quyền, lợi ích liên quan không yêu cầu Tòa án ra