1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu lực của di chúc theo Bộ luật dân sự năm 2015

104 135 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, trình bày tổng quan về thừa kế nói chung và đi sâu vào nghiên cứu thừa kế theo di chúc nói riêng. Thứ hai, nghiên cứu chuyên sâu về hiệu lực của di chúc. Cụ thể các vấn đề liên quan đến: Năng lực chủ thể, nội dung di chúc, hình thức di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, xác định mức độ hiệu lực của di chúc được quy định theo pháp luật hiện hành, có so sánh với BLDS năm 2005. Thứ ba, nêu và phân tích giải quyết tranh chấp liên quan đến thừa kế theo di chúc tại Tòa án nhân dân các cấp. Trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân của thực trạng và đưa ra giải pháp.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ AN

HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ AN

HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380101.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và đƣợc trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị An

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 8

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 8

1.1.Lý luận chung về di chúc 8

1.1.1.Khái niệm của di chúc 8

1.1.2.Ý nghĩa của di chúc 10

1.1.3.Đặc điểm pháp lý của di chúc 14

1.2.Lý luận chung về hiệu lực của di chúc 16

1.2.1.Khái niệm hiệu lực của di chúc 16

1.2.2.Ý nghĩa của hiệu lực di chúc 17

1.3.Nội dung điều kiện có hiệu lực của di chúc 18

1.3.1.Điều kiện về chủ thể 18

1.3.2 Ý chí tự nguyện, đích thực của chủ thể (điều kiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể) 22

1.3.3 Điều kiện về nội dung của di chúc 27

1.3.4 Điều kiện về hình thức của di chúc 35

1.4.Thời điểm phát sinh hiệu lực và phạm vi hiệu lực của di chúc 38

1.4.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc 38

1.4.2 Phạm vi có hiệu lực của di chúc 39

CHƯƠNG 2 42

PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 42

2.1 Quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc trong BLDS 2015 42

2.1.1 Điều kiện về chủ thể 43

2.1.2 Điều kiện về nội dung 48

2.1.3 Điều kiện về hình thức 50

2.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc 61

2.3 Phạm vi có hiệu lực của di chúc 63

2.3.1 Hạn chế trong việc phải dành một phần di sản cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 63

Trang 6

2.3.2 Di sản dùng vào việc thờ cúng 66

2.3.3 Hạn chế trong việc để lại di sản di tặng 70

CHƯƠNG 3 74

HẠN CHẾ, KIẾN NGHỊ VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 74

3.1 Những hạn chế khi áp dụng pháp luật 74

3.1.1 Hạn chế liên quan đến điều kiện của hiệu lực của di chúc 74

3.1.2 Hạn chế liên quan đến thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc 76

3.1.3 Hạn chế liên quan đến phạm vi hiệu lực của di chúc 77

3.2 Một số loại tranh chấp về thừa kế theo di chúc cụ thể 78

3.2.1 Tranh khi một người để lại nhiều bản di chúc khác nhau và di chúc của người không biết chữ 78

3.2.2 Tranh chấp về hiểu nội dung của di chúc: Cho hay cho sử dụng tài sản và một người để lại nhiều bản di chúc khác nhau 79

3.2.3 Hiệu lực của di chúc 82

3.2.4 Di chúc để lại di sản làm thờ cúng 84

3.3 Kiến nghị hoàn thiện những quy định pháp luật về hiệu lực của di chúc 86 3.3.1 Sự đồng ý của cha, mẹ đối với con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi 86

3.3.2 Về di chúc miệng 88

3.3.3 Về tên gọi của di chúc 89

3.3.4 Về người viết hộ di chúc 90

3.4.5 Xác định năng lực hành vi của người lập di chúc 90

3.4.6 Di sản là quyền sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi 91

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa trên cơ sở vật chất nhất định Những tài sản được tạo ra và có được một cách hợp pháp sẽ thuộc

sở hữu của mình Mong muốn được sử dụng tài sản vào sản xuất, tiêu dùng để phục vụ nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần của bản thân Và không chỉ dừng lại như vậy, họ còn muốn định đoạt “số phận” tài sản của mình trước khi họ chết, để sau khi họ chết thì những đối tượng được hưởng di sản được nhận số

di sản của người chết để lại Quá trình đó chính là quá trình chuyển giao tài sản của người đã chết sang những người còn sống và được gọi là thừa kế

Cá nhân muốn định đoạt tài sản của mình sau khi họ chết phải thông qua di chúc Về thuật ngữ di chúc, Điều 624 BLDS 2015 đã đưa ra khái niệm

“di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho

người khác sau khi chết” Trong thực tế, người lập di chúc muốn di chúc của

mình được mọi người và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận, tránh được tranh chấp giữa những người thừa kế với nhau Nhưng có rất nhiều trường hợp bản di chúc lại không có giá trị pháp lý vì không đúng với các điều kiện quy định của pháp luật như chủ thể lập di chúc, hình thức di chúc, nội dung di chúc Nguyên nhân của tình trạng trên là do người lập di chúc chưa nhận thức đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan Hơn nữa, các quy định của pháp luật được thay đổi dẫn đến một số bộ phận người dân chưa kịp tiếp cập Điều này càng làm cho quy định pháp luật vốn đã phức tạp lại càng trở nên xa lạ với người dân Việc lập di chúc thường theo thói quen mà không phù hợp theo quy định pháp luật Dẫn đến, phần lớn các vụ án tranh chấp thừa

kế ở nước ta đều được giải quyết về thừa kế theo pháp luật Như vậy, không còn tôn trọng ý chí định đoạt tài sản của người lập di chúc và làm mất tình cảm, mong muốn vốn có của người lập di chúc cho người được hưởng thừa

kế Bên cạnh đó, dù BLDS 2015 đã có hiệu lực và thay thế BLDS 2005 về

Trang 8

2

thừa kế, song thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn còn những bất cập nhất định, tình trạng hiểu, áp dụng các quy định về vấn đề hiệu lực của bản di chúc còn tình trạng không giống nhau, do đó việc nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền định đoạt bằng di chúc và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta

Vì vậy, dễ dàng nhận thấy được các quyền cơ bản nêu trên quy định trong BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 Cùng với Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTPcủa Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày

10/8/2004 hướng dẫn áp dụng một số pháp luật trong việc giải quyết các vụ

án dân sự, hôn nhân và gia đình Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu

khoa học về pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, có thể chia ba nhóm lớn như sau:

+ Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Giáo trìnhLuật dân sự của Đại học Luật Hà Nội; Bình luật khoa học về thừa kế trong luật dân sự Việt

Nam của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết và Tiến sĩ Lê Kim Giang Hầu

hết các công trình là tập trung phân tích, bình luận các quy định về thừa kế và chưa có hoặc rất ít đề cập đến thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về vấn

đề trên

+ Nhóm luận văn, luận án: Công trình luận án tiến sĩ luật học tiêu biểu

của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết với đề tài “Thừa kế theo di chúc theo BLDS Việt

Trang 9

+ Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu, các bài bình luận về thừa kế được đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí nguyên cứu lập pháp,… Trong đó có bài

viết “hoàn thiện quy định về thừa kế trong BLDS” của tác giả Phạm Văn Tuyết Hay bài viết “Pháp luật thừa kế Việt Nam hiện đại – Một số vấn đề cần

được bàn luận” của tác giảPhùng Trung Tập

Những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên có giá trị lớn trong lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mang tính khái quát chung về mặt lý luận của chế định thừa kế qua các thời kỳ hoặc đi sâu nghiên cứu và phân tích một chế định thừa kế nhất định, chứ không nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ hiệu lực của di chúc và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật khi giải quyết tranh chấp Thừa kế không phải là đề tài mới nhưng sự thay đổi các quan hệ xã hội, quan hệ tài sản khiến cho các quy phạm pháp luật cũng thay đổi để điều chỉnh Dẫn chiếu trong việc Quốc hội ban hành BLDS Việt Nam cứ 10 năm thông qua một Bộ luật Do đó, việc nghiên cứu kịp thời để có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vần đề này cho phù hợp với thực tiễn, tính khả thi pháp luật là hết sức cần thiết

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu đề tài

Di chúc là phương tiện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của người trước khi chết trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho người khác Vì vậy, mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các quy định thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam theo BLDS 2015 về:

Trang 10

4

+ Điều kiện có hiệu lực di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, xác định mức độ hiệu lực của di chúc thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật dân sự hiện hành

+ Thực tế giải quyết tranh chấp liên quan đến di chúc hợp pháp

+ Điểm mới của hiệu lực di chúc theo quy định BLDS 2015 so với BLDS 2005 Vấn đề này được phân tích trong từng nội dung của luận văn

+ Đưa ra những điểm phù hợp với đời sống xã hội; những điểm còn bất cập, mâu thuẫn của các quy định pháp luật cũng như các lỗ hổng về mặt pháp

lý cần phải điều chỉnh và từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hiệu lực di chúc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, luận văn đi nghiên cứu các vấn đề về thừa kế theo di chúc Thứ hai, nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện có hiệu lực của di chúc, thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc, phạm vi có hiệu lực của di chúc Theo đó, luận văn sẽ nghiên cứu các vấn đề như năng lực chủ thể, nội dung di chúc, hình thức di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, xác định mức độ hiệu lực của di chúc được quy định theo pháp luật hiện hành, có so sánh với BLDS 2005

Thứ ba, nêu và phân tích giải quyết tranh chấp liên quan đến thừa kế theo di chúc tại Tòa án nhân dân các cấp Trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân của thực trạng và đưa ra giải pháp

5 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về hiệu lực của

di chúc; quy định của pháp luật hiện hành từ Hiến pháp, luật và các văn bản hướng dẫn hiện hành quy định về hiệu lực của di chúc Đồng thời, luận văn cũng đề cập đến một số vấn đề thực tiễn khi áp dụng quy định của pháp luật

Trang 11

5

về hiệu lực của di chúc trên thực tiễn; từ đó đưa ra những kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này

6 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt các vấn đề về hiệu lực của di chúc trong một mối liên hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực

- Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp mô tả: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định pháp luật về thừa kế nói chung và hiệu lực của di chúc nói riêng

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác…

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai các hình thức, nội dung, năng lực chủ thể, thời điểm mở thừa kế, các kiến nghị hoàn thiện Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm làm rõ nội dung cần kiến nghị

Phương pháp thống kê: Các số liệu thống kê của ngành Tòa án nhân dân cũng được tham khảo để việc nghiên cứu đề tại một cách toàn diện và sâu sắc hơn Một số vụ án giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc cũng

được sử dụng có chọn lọc để bình luận

Trang 12

6

7 Kết quả đạt được và những điểm mới của luận văn

Luận văn nghiên cứu có hệ thống những quy định pháp luật về hiện lực của di chúc Qua nghiên cứu, luận văn chỉ ra những quy định phù hợp về năng lực chủ thể, nội dung di chúc, hình thức di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, xác định mức độ hiệu lực của di chúc được quy định BLDS 2015 và những điểm còn bất cập về hiệu lực của di chúc Có so sánh, kế thừa những quy định của BLDS 2005

Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả có những điểm mới sau đây:

+ Luận văn khái quát những quy định về thừa kế theo di chúc Tập trung, nghiên cứu chuyên sâu về năng lực chủ thể, nội dung di chúc, hình thức

di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, xác định mức độ hiệu lực của di chúc

+ Đặc điểm của di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân Thông qua di chúc, cá nhân đó đã tự xác lập một giao dịch dân sự Với tư cách là một giao dịch dân sự nên có được coi là hợp pháp hay không di chúc phải đáp ứng đầy

đủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự được quy định tại Điều

117 BLDS Từ đó dẫn chiếu đến một số quy định khác về hình thức giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức được quy định tại Điều 119, Điều 129 BLDS

+ Luận văn chỉ ra những bất cập trong việc hiểu không đúng các quy định pháp luật, hiểu khác nhau trong cùng một quy định pháp luật khi áp dụng pháp luật chưa thống nhất Dẫn đến kết quả giải quyết khác nhau, thời gian giải quyết kéo dài, không đảm bảo quyền lợi của người được hưởng thừa kế,

vi phạm quyền tự định đoạt cá nhân, Từ đó, đưa ra các kiến nghị để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn cần thiết

+ Luận văn chỉ ra những vấn đề còn hạn chế, những vấn đề cần thiếu sót của quy định pháp luật về hiệu lực của di chúc Qua đó, có những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc trong BLDS 2015

Trang 13

7

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về hiệu lực của di chúc

- Chương 2: Pháp luật Việt Namhiện hành quy định về hiệu lực của di chúc theo Bộ luật dân sự 2015

- Chương 3: Hạn chế, kiến nghị và hoàn thiện pháp luật

Trang 14

8

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 1.1.Lý luận chung về di chúc

1.1.1.Khái niệm của di chúc

Di chúc được lập dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể pháp luật dân sự với mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể Mặt khác, quyền được lập di chúc cũng chính là sự tôn trọng quyền tự định đoạt đặt trong mối tương quan quyền và lợi ích của người khác, của xã hội và cộng đồng Đồng thời, di chúc chính là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết1

Tuy nhiên, không phải mọi di chúc khi được xác lập đều phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên Chỉ những di chúc được công nhận hiệu lực pháp lý thì mới phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên được xác định trong nội dung của di chúc

Dưới góc độ di chúc là một hành vi pháp lý nhưng có những đặc thù riêng biệt theo ý kiến của tác giả: “Di chúc có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, buộc các chủ thể liên quan phải tôn trọng và đảm bảo thực thi theo đúng nội dung của di chúc, phù hợp với các quy định của pháp luật”

Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng được hình thành

từ rất sớm Theo Uipian – một luật gia La Mã nổi tiếng thì: “Di chúc là sự thể

hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thể hiện sau khi chúng ta chết” [20,

tr34] Như vậy, dưới thời La Mã, di chúc được hiểu là phương tiện để thể hiện

ý chí của người lập ra nó và di chúc có hiệu lực khi người lập ra nó chết đi

Theo pháp luật Anh – Mỹ thì di chúc được hiểu “là một phương tiện mà

một người sử dụng để định đoạt tài sản của mình và chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết, với bản chất là có thể được thay đổi hoặc hủy bỏ trong suốt

1 Điều 624 BLDS 2015

Trang 15

9

thời gian mà người lập di chúc còn sống” [14, tr.89] Theo BLDS của nước

Cộng hòa Pháp thì: “Di chúc là một chứng thư, theo đó người để lại di chúc

định đoạt sau khi chết một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, người đó có thể hủy bỏ di chúc” [8, Điều 895] Tương tự như vậy, mặc dù BLDS và

Thương mại Thái Lan không trực tiếp nêu ra khái niệm di chúc nhưng đã gián tiếp định nghĩa di chúc thông qua quy định về quyền của người để lại thừa kế trong việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết, cụ thể Điều 1646 BLDS và

Thương mại Thái Lan quy định: “Bất kỳ người nào có thể, trước khi chết, làm

một tuyên bố ý định bằng di chúc về giải quyết tài sản của mình, hoặc những vấn đề khác mà sẽ có hiệu lực theo quy định của pháp luật sau khi người đó chết” [10]

Ở nước ta, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, các nhà xây dựng pháp luật luôn chú ý đến chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý Theo tác

giả Đoàn Bá Lộc thì di chúc hay chúc thư “là một văn tự lập theo các thể thức

pháp định để chứng chắc sự thật và do đó một người để lại cho người thừa kế biết ý định mai hậu của mình” Theo các tác giả của cuốn Bình luận khoa học

BLDS 2005 (tập III) thì: “Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người khi còn

sống định đoạt tài sản của mình, để chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiều người thừa kế sau khi chết” [29, tr.45]

Trong pháp luật thực định của Việt Nam, di chúc là một giao dịch dân

sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, theo đó, pháp luật dân sự hiện hành quy định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Như vậy, về phương diện khoa học pháp lý, di chúc chính là phương diện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho người khác sau khi họ chết Theo đó, di chúc chính là văn bản thể hiện ý chí của cá nhân người có di sản để lại nhằm định đoạt khối di sản đó cho người khác và di sản này chỉ được chia – tức là chỉ có hiệu lực khi người đó chết đi

Trang 16

10

Từ những phân tích nêu trên, theo quan điểm của tác giả thì khái niệm trên về cơ bản đã thể hiện và giúp người đọc hiểu thế nào là bản di chúc song theo tác giả thì định nghĩa trên chưa phản ánh hết thực tế trong bản di chúc, bởi theo tinh thần các quy định của pháp luật và thực tế thi hành cho thấy những tài sản của cá nhân chỉ được coi là di sản để lại thừa kế là khi tài sản đó

là tài sản hợp pháp của người để lại thừa kế Theo đó, với những tài sản mà không phải là tài sản hợp pháp của họ thì không thể là tài sản chuyển dịch cho người hưởng thừa kế; những tài sản bất hợp pháp đó sẽ trở thành tài sản của

Nhà nước Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa về di chúc như sau: “Dichúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản hợp pháp của mình cho người khác sau khi chết”

Như vậy, di chúc chính là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc Người lập di chúc có quyền để lại tài sản là di sản của mình cho bất cứ ai dựa trên tình cảm và ý chí của họ

1.1.2.Ý nghĩa của di chúc

Di chúc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người chết, người được thừa kế, pháp luật quy định về thừa kế theo di chúc cũng chính là bảo vệ tôn ti trật tự trong nội bộ gia đình, dòng tộc cũng như giữ gìn nếp văn hóa của ông cha Do đó, di chúc có một tầm quan trọng rất đặc biệt, cụ thể2:

2

1666/

Trang 17

https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Thua-ke-theo-di-chuc-trong-Bo-Luat-Dan-su-Nuoc-CHDCND-Lao-11

Thứ nhất, di chúc được thể chế hóa bằng quy định của pháp luật chính

là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của nhà nước ta về quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự3

Thứ hai, di chúc là phương thức quan trọng trong việc xác lập, củng cố, bảo vệ quyền sở hữu Theo đó, khi xã hội phân chia giai cấp thì thừa kế, đặc biệt là thừa kế theo di chúc có vai trò trong việc duy trì, củng cố quyền sở hữu Cá nhân có được các quyền đối với tài sản của mình và trên cơ sở đó pháp luật quy định cho họ những quyền trong đó có quyền để lại di sản cho những người được hưởng di sản đó theo di chúc hoặc theo pháp luật Công nhận quyền sở hữu được để lại thừa kế có tác dụng tăng thêm niềm tin và tình yêu thương giữa những người để lại di sản thừa kế và người được thừa kế Chủ sở hữu tài sản sẽ yên tâm hơn khi biết rằng sự nghiệp của mình sẽ được

kế tục bởi những người mình yêu thương Quyền sở hữu chỉ được hoàn thành vai trò động lực phát triển kinh tế nếu nó chuyển giao bằng con đường kinh

tế Pháp luật về thừa kế theo di chúc có vai trò trong việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động, bảo vệ và tôn trọng những thành quả lao động mà họ đã tạo ra, khi họ chết những thành quả đó sẽ được chuyển qua cho người thừa kế

mà họ muốn Pháp luật về thừa kế theo di chúc là phương tiện để đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt với tài sản của mình Thông qua di chúc của một người được dịch chuyển từ đời này sang đời khác, được ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của họ, bảo đảm cho người lập di chúc có quyền sử dụng tài sản ngay cả khi chết, qua đó góp phần củng cố quyền sở hữu chính đáng của mọi cá nhân4

Thứ ba, di chúc có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam5

3 http://www.moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/tintuc/Lists/NghienCuuTra oDoi&ListId=&SiteId=&ItemID=2057&SiteRootID=

4 http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1740

5 http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=1&macmp=1&mabb=29549

Trang 18

Như vậy, mặc dù pháp luật dân sự hiện hành quy định cá nhân có rất nhiều quyền như chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế… song để bảo vệ lợi ích của một số người trong diện thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, phù hợp với phong tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cá nhân với tư cách là một thành viên của gia đình không thể bỏ qua lợi ích của những người thân thuộc gần gũi nhất là

vợ, chồng, cha, mẹ, con cái mà mình có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc Do

đó, pháp luật dân sự hiện hành đã quy định hạn chế một phần quyền của cá nhân trong việc lập di chúc Đó là chủ sở hữu, với tư cách là người lập di chúc, bắt buộc phải dành lại một phần di sản của mình cho những người thân thuộc gần gũi là vợ, chồng, cha, mẹ, con chưa thành niên và con đã thành niên

mà không có khả năng lao động Phần di sản bắt buộc này bằng hai phần ba

6 http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2057

Trang 19

13

phần di sản mà mỗi người thừa kế nói trên được hưởng nếu di sản được chia theo pháp luật7

Có thể nói hầu hết các quy phạm pháp luật về thừa kế theo di chúc đều

có vai trò trong việc nâng các quy phạm đạo đức lên thành luật Các quy phạm đạo đức này gắn chặt với phong tục tập quán của mỗi dân tộc, trong mối quan hệ ứng xử giữ các thành viên trong gia đình với nhau Vì lẽ đó, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán ấy trong đời sống xã hội là một đảm bảo quan trọng để các quy định đi vào thực tế cuộc sống

Thứ tư, di chúc được thể hiện thông qua pháp luật về thừa kế theo di chúc góp phần quan trọng trong việc cũng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cộng đồng và

xã hội8

Việt Nam là đất nước rất tôn trọng truyền thống hiếu nghĩa trong gia đình, dòng tộc vì thế những quy định của pháp luật luôn hướng đến tinh thần đoàn kết giữa những người trong dòng tộc, đặc biệt là anh, em, cha mẹ, ông bà… các thành viên trong gia đình phải luôn luôn giữ được tinh thần đoàn kết tương thân tương ái với nhau Pháp luật về thừa kế theo di chúc cũng không nằm ngoài mục đích làm cơ sở cho người để lại di sản thực hiện quyền phân chia di sản của mình nhằm tránh mất đoàn kết trong nội bộ gia đình

Thừa kế theo di chúc chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa

kế Người hưởng thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Với ý nghĩa có tầm quan trọng như vậy, nên trong

xã hội có giai cấp nào, thừa kế cũng là vấn đề luôn được quan tâm nhiều nhất trong quan hệ xã hội Sự vận động của nó nếu tách khỏi sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không tránh khỏi những xung đột xảy ra, cũng có thể là những

7 https://luattueanh.vn/phan-chia-di-san-thua-ke-theo-quy-dinh-blds-2015/

8 http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/5354/1/00050000938.pdf

Trang 20

14

cuộc “chiến tranh về tài sản” kéo dài và thậm chí là những cuộc đổ máu ngay trong bản thân gia đình, dòng họ người đã chết gây mất đoàn kết và gây nên mất trật tự xã hội

Ngày nay, pháp luật thừa kế theo di chúc ở nước ta cũng xảy ra nhiều vấn đề rất phức tạp Một phần do cuộc sống người dân ngày càng tăng lên, của cải dư thừa ngày càng nhiều Do đó, nhu cầu để lại di sản cho con cháu sau khi chết cũng theo đó mà gia tăng về số lượng Một bộ phận người dân không tuân theo quy định của pháp luật nên đã xảy ra những tranh chấp giữa những người trong gia đình đối với tài sản người chết để lại, như cho di chúc

đó là giả, người để lại di sản không đồng đều cho các người được hưởng di sản… Đó là lý do mà nước ta hiện nay hàng năm có rất nhiều vụ án về tranh chấp thừa kế, đặc biệt là thừa kế theo di chúc được khởi kiện9 Thông qua các quy định về thừa kế theo di chúc, các bên tham gia quan hệ thừa kế theo di chúc thấy rõ được các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như trình tự thủ tục cách thức để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đó Trên cơ sở đó, các chủ thể

để lại di sản cũng như nhận di sản thừa kế tự điều chỉnh hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định cho phù hợp với chuẩn mực pháp lý, tạo lập được một hệ thống các quan hệ tốt đẹp giữa người với người, sau khi người để lại di sản chết, góp phần vào việc cũng cố sự đoàn kết trong gia đình

10 LUAT-DAN-SU-VIET-NAM-2005-842/

Trang 21

đã xác định trong bản di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản của mình hay không Đó cũng chính là sự khác biệt với các giao dịch dân sự khác;

ở các giao dịch dân sự khác thì luôn được hình thành bởi ý chí của nhiều bên, còn di chúc chỉ là sự quyết định đơn phương của người lập ra nó dù là di chúc của vợ chồng – thì đó cũng là ý chí chung và là một bên trong giao dịch dân

sự

Đặc điểm thứ hai: Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của người lập di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác, sau khi người lập di chúc chết 12

Đây là nội dung hết sức quan trọng không thể thiếu của bản di chúc, là căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người khác Thông qua thừa kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quả lao động của họ được dịch chuyển từ đời này qua đời khác; đặc biệt, đó chính là sự ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc chính là việc pháp luật tôn trọng và bảo quyền quyền tự định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của họ

Đặc điểm thứ ba: Di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt, chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết 13

Đây là một đặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với các loại giao dịch dân sự khác, ví dụ như hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm

Trang 22

16

giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác, còn thời điểm có hiệu lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm mà người lập di chúc chết hoặc thời điểm được ghi trong quyết định của Tòa án tuyênbốngườilậpdichúcchết.Vìvậy,việcxácđịnhđúngthờiđiểmmởthừakế(thờiđiểmngườilậpdichúcchết)cóýnghĩatrongviệcxácđịnhthờiđiểmcó hiệu lực của di chúc Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩaquan trọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trườnghợp một người có nhiều di chúc Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc và người lập di chúc có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúc hay hủy bỏ di chúc Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể được thể hiện dưới hình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc, nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù không nói rằng thay đổi hay hủy bỏ di chúc) người lập di chúc định đoạt tài sản mà nội dung định đoạt khác với di chúc đã viết trước đó Việc đánh giá hiệu lực của di chúc như vậy dựa theo quy định: "Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực".14

Pháp luật tôn trọng quyền lập

di chúc của cá nhân với mục đích nhằm đảm bảo quyền định đoạt của chủ sở hữu và đảm bảo cho cá nhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình để thể hiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với người khác Theo đó, khi sự định đoạt không phù hợp thì người để lại di sản khi còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ di chúc,

1.2.Lý luận chung về hiệu lực của di chúc

1.2.1.Khái niệm hiệu lực của di chúc

Di chúc được lập dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể pháp luật dân sự với mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể Mặt khác, quyền được lập di chúc cũng chính là sự tôn trọng quyền tự định đoạt đặt trong mối tương quan quyền và lợi ích của người khác, của xã

14

Khoản 5 Điều 643 BLDS 2015

Trang 23

Vậy điều kiện có hiệu lực của di chúc chính là những rào cản pháp lý được quy định minh thị bởi quy định của pháp luật, và khi không đáp ứng những yêu cầu tối thiểu đó di chúc không phát sinh hiệu lực

Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm hiệu lực của di chúc như sau:

“Hiệu lực của di chúc là giá trị của di chúc được thực hiện trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc, phù hợp với các quy định của pháp luật”

1.2.2.Ý nghĩacủa hiệu lực di chúc

Hiệu lực của di chúc là vấn đề đặc biệt quan trọng trong quan hệ thừa

kế Việc xác định di chúc có hiệu lực hay không, có hiệu lực một phần hay toàn bộ có ảnh hưởng cơ bản tới việc phân định di sản thừa kế, quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế Di chúc có hiệu lực pháp luật về nguyên tắc phải đáp ứng được thực hiện trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc, phải phù hợp với các quy định của pháp luật Cụ thể:

Thứ nhất, khi di chúc có hiệu lực thì nội dung di chúc được thực hiện trên thực tế, những người liên quan trong phạm vi di chúc sẽ được thực hiện

Nó chính là thước đo để các bên có quyền, lợi ích liên quan biết mình phải

15 Điều 624 BLDS 2015

Trang 24

18

làm, được hưởng những gì để áp dụng Ngoài ra, xác định hiệu lực của di chúccũng chính là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người để lại di chúc cũng như người được hưởng di chúc Khi di chúc có hiệu lực thì mọi quyền đó mới

có giá trị trên thực tế với cả những người để lại di sản và người được hưởng di sản thừa kế Khi đó, các bên sẽ thực hiện theo đúng quy định của di chúc đã được lập

Thứ hai, thực tế không phải mọi di chúc cứ được lập ra là có hiệu lực

để thực hiện bởi nếu chỉ nội dung di chúc được thực hiện thôi chưa đủ mà còn phải đáp ứng các quy định của pháp luật, chỉ khi phù hợp với các quy định của pháp luật thì bản di chúc đó mới có hiệu lực pháp luật Trường hợp không đáp ứng các quy định của pháp luật mà mới chỉ đáp ứng về mặt nội dung thì bản di chúc đó có thể vô hiệu một phần hoặc toàn bộ tùy vào nội dung của bản di chúc được lập

Thứ ba, bản di chúc có hiệu lực là bản di chúc có giá trị thực hiện trên thực tế, không vi phạm các quy định của pháp luật đề ra Do đó, việc xác định hiệu lực của di chúc có ý nghĩa hết sức quan trọng khi có tranh chấp xảy ra, là

cơ sở để xác định tính hiệu lực của bản di chúc đó đến đâu? Là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp dựa vào đó để xác định tính hiệu lực của bản di chúc nhằm xét xử cho đúng theo quy định của pháp luật

1.3.Nội dung điều kiện có hiệu lực của di chúc

Dưới góc độ khoa học pháp lý có rất nhiều cách phân loại điều kiện về tính hiệu lực của di chúc dưới những tiêu chí khác nhau Song nhìn chung, cách phân loại dựa trên tiêu chí chủ thể, nội dung, hình thức được xem là minh bạch và thuận tiện trong việc nghiên cứu so sánh về điều kiện hiệu lực của di chúc trong mối tương quan với điều kiện hiệu lực của hành vi pháp lý nói chung, hay hiệu lực của hợp đồng nói riêng Do vậy, tác giả lựa chọn phân loại trên để phân tích nội dung về điều kiện có hiệu lực của di chúc

1.3.1.Điều kiện về chủ thể

1.3.1.1.Năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch

Trang 25

19

Đối với người chưa thành niên, khác với hành vi pháp lý nói chung, đối với di chúc hầu hết pháp luật của các nước đều yêu cầu chủ thể phải đạt được một độ tuổi nhất định, phải luôn đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt và bảo vệ quyền lợi của chủ thể, nếu quy định một độ tuổi khắt khe như phải là người thành niên thì liệu rằng có vi phạm nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể hay không khi một người chưa thành niên, nhưng với

độ tuổi mười bảy, có thể nhận thức và có năng lực phán đoán quyết định số phận tài sản của mình Đối với các hệ thống pháp luật khác nhau sẽ có quy định khác nhau tùy thuộc vào chính sách, nhận thức hiểu biết, năng lực phán đoán của chủ thể phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội [15, tr.52]

Đối với những người đã thành niên, nhưng bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì những người đó không có quyền lập di chúc Trong trường hợp những người này lập di chúc, thì di chúc đó vô hiệu [15, tr.52]

Như vậy, những người thành niên bị mất quyền lập di chúc khi họ là người:

Như vậy, theo quy định này thì người từ chưa đủ 15 đến 18 tuổi có thể lập di chúc miệng nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Tuy nhiên, pháp luật không quy định về thủ tục riêng lập di chúc miệng trong trường hợp này Bàn về quy định này còn có những ý kiến khác nhau do chưa

có sự hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

- Cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý là đồng ý về việc cho phép người

16

Khoản 2 Điều 647 BLDS 2005

Trang 26

để lại di chúc bằng miệng là: “Trong trường hợp một người bị cái chết đe dọa

do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thìcóthểlậpdichúcmiệng.Dođóchamẹkhôngthểcóthờigian,suy nghĩ để đồng ý về mặt nội dung mà chỉ đồng ý cho để lại di chúc miệng

Về vấn đề thứ hai, căn cứ vào cách hành văn của điều luật thì chỉ cần một trong hai người là cha hoặc mẹ đồng ý là đủ mà không cần thiết phải được sự đồng ý của hai người Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõ ràng về việc giám hộ Theo đó, giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước (gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ) Trong quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc, thì người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi chỉ có quyền lập di chúc khi được sự đồng ý của người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên này không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ hoặc cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân

sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêucầu [11, tr.32]

Trang 27

21

Một vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc để lại di chúc miệng của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, đó là: Sự đồng ý này phải được thể hiện dưới hình thức như thế nào? Có bắt buộc việc đồng ý phải được thể hiện bằng văn bản riêng hay chỉ cần xác nhận vào di chúc, hay chỉ cần bằng miệng? Sự đồng ý đó

có cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hay không? Sự đồng ý được thể hiện trước hay sau khi người chưa thành niên lập di chúc? Đây cũng là vấn đề cần có những văn bản pháp luật hướng dẫncụ thể

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: Di chúc miệng phải có hai người làm chứng và mộtngườighi lạinội dung dichúc, sau đóhai ngườicùng kývào di chúc Nếu văn bản ghi nội dung di chúc trên không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì di chúc sẽ vô hiệu Vì vậy văn bản ghi nội dung di chúc miệng cần phải có xác nhận của cha, mẹ hoặc người làm chứng ngay sau khi văn bản ghi nội dung di chúc được hoàn thành Đồng ý về mặt hình thức, cho nên sự đồng ý thông qua chữ ký của cha hoặc mẹ trong văn bản di chúc miệng17

vi của mình Pháp luật dân sự nước ta quy định người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp họ mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc khó khăn trong nhận thức không làm chủ được hành vi Vì vậy, độ tuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí để xác định năng lực hành vi dân sự của cánhân Đặc biệt, quy định pháp luật về di chúc (hành vi pháp lý đơn

17

khoản 5 Điều 652 BLDS 2005

Trang 28

22

phương) còn đề cập đến tính hiệu lực của di chúc thông qua tính có hiệu lực của

sự biểu lộ ý chí mang tính bao quát không chỉ giới hạn trong các mức năng lực hành vi dân sự được minh thị hoá bằng quy định tại phần chung của BLDS Cụ thể, người lập di chúc cần minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc…

Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam không có lý thuyết chung về

“biểu lộ ý chí” – một trong những yếu tố cấu thành hành vi pháp lý nên việc xác định người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt đến mức độ nào? Người lập di chúc có phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc hay không? Nếu người lập di chúc phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc thì cơ quan nào có thẩm quyền giám định? Có cần hay không cần kết quả giám định sức khỏe thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được chứng thực vào di chúc?

Là những vấn đề xảy ra nhiều tranh chấp, và chưa có hướng giải quyết dưới góc độ khoa học pháp lý

Trên thực tế người lập di chúc ít khi đi giám định sức khỏe, khám sức khỏe trước khi lập di chúc Vì vậy, tình trạng sức khỏe của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc không được thể hiện Khi có tranh chấp xảy ra, bên đương sự nào cho rằng người lập di chúc không đủ sức khỏe, ảnh hưởng đến

sự minh mẫn của người lập di chúc trong khi lập di chúc thì họ phải có nghĩa

vụ chứng minh Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân cho thấy tình trạng này diễn ra tương đối phổ biến Bên yêu cầu chia thừa kế theo di chúc có nghĩa vụ xuất trình trước Tòa án các chứng cứ liên quan đến việc người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Ngược lại, bên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật có nghĩa vụ xuất trình các chứng

cứ để chứng minh người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt để bác bỏ yêu cầu chia thừa kế theo dichúc

1.3.2 Ý chí tự nguyện, đích thực của chủ thể (điều kiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể)

Việc đánh giá về tính tự nguyện của ý chí, pháp luật của các nước có khái niệm về biểu lộ ý chí và hiệu lực của biểu lộ ý chí Thông thường rất khó

Trang 29

23

chứng minh một sự biểu lộ ý chí có phải là tự nguyện hay không? Do vậy thay vì đưa ra tiêu chí đoán định tính tự nguyện của sự biểu lộ ý chí, pháp luật của các nước minh thị hoá bằng quy định của pháp luật một số trường hợp được xem là không tự nguyện Cụ thể:

Thứ nhất, người lập di chúc hoàn toàn tựnguyện 18 :

Nguyên tắc tự nguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sự là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam Trong giao dịch dân sự, các bên đều phải hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào

Lập di chúc là giao dịch dân sự, là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc Vì vậy, cũng như các giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc cũng phải thể hiện ý chí tự nguyện của người lập di chúc Tự nguyện được hiểu theo nghĩa khái quát chính là việc thực hiện một việc gì đó hoàn toàn theo ý mình, do mình nghĩ ra và thực hiện Về mặt bản chất, tự nguyện là

sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí Vì vậy, khi đánh giá ý chí của một người về một vấn đề nào đó có phải tự nguyện hay không, cần phải dựa vào

sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: Ý chí và sự bày tỏ ýchí

Ý chí là cái bên trong, là cái mà người khác khó có thể nhận biết được, nếu ý chí đó chưa được thể hiện ra ngoài bằng hành động thực tiễn Đểngười khác nhận biết được mong muốn của mình, con người phải thể hiện ý chí bằng những hành vi cụ thể Ý chí và sự bày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn

đề, có quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít vớinhau

Trong việc lập di chúc, người lập di chúc thể hiện ý chí của mình thông qua hành vi lập di chúc Thông qua việc cho người này nhiều, người kia ít… người lập di chúc thể hiện tâm tư, tình cảm… với người thừa kế Vì vậy, muốn xác định một di chúc có phải là ý chí tự nguyện của người lập di chúc hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất giữa ý chí của người lập di chúc

18 https://svhlu.blogspot.com/2016/03/quyen-cua-nguoi-lap-di-chuc.html

Trang 30

24

và sự thể hiện ý chí đó trong nội dung của di chúc Chỉ khi nào di chúc phản ánh một cách trung thực, khách quan những mong muốn của người lập di chúc thì sự định đoạt đó mới được coi là tựnguyện

Trong trường hợp, chứng thực, công chứng di chúc, sự minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc được xác định thông qua hai phương thức sau đây:

Một là, người công chứng, chứng thức xác định sự minh mẫn, sáng suốt

thông qua việc yêu cầu người lập di chúc cung cấp giấy chứng nhận sức khỏe trong thời hạn 6 tháng Đây được coi là căn cứ pháp lý nhằm chứng minh tính hợp pháp của di chúc trong trường hợp có yêu cầu hủy di chúc vì cho rằng bị lừa dối, cưỡng ép khi mở thừakế

Hai là, trong trường hợp không có giấy chứng nhận sức khỏe hoặc có

giấy chứng nhận sức khỏe nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật, người thực hiện công chứng, chứng thực có thể kiểm tra thực tế tình hình sức khỏe để xác định sự minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc

Thứ hai, người lập di chúc không bị nhầm lẫn

Nhầm lẫn trong giao dịch dân sự là hành vi vô ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu lầm về nội dung đang giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó Nhầm lẫn có thể là do bên bị nhầm lẫn không biết và không buộc phải biết rằng họ bị nhầm lẫn khi giao dịch dân sự và hậu quả là họ không đạt được mục đích của giao dịch Sự nhầm lẫn này có thể xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh hoặc khả năng nhận thức của bên bị nhầm lẫn Hay bên bị nhầm lẫn biết hoặc buộc phải biết rằng họ bị nhầm lẫn khi tham gia giao dịch Trong trường hợp này, bên bị nhầm lẫn mặc dù không biết nhưng xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể họ buộc phải biết về khả năng họ bị nhầm lẫn nhưng đã không có những hành vi, biện pháp để khắc phục Như vậy, mặc dù không đạt được mục đích của giao dịch nhưng bên bị nhầm lẫn không có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu Điều này được lý giải rằng, bên bị nhầm lẫn theo

Trang 31

25

nguyên tắc buộc phải nhận thức được hậu quả của hành vi19

Di chúc cũng vậy, người lập di chúc cũng có thể lập do sự nhầm lẫn Giả định, người lập di chúc có một thông tin không chính xác, không đúng sự thật Từ một thông tin ấy người lập di chúc hiểu sai lệch và lập một di chúc khác với ý chí chủ quan trước đó của mình nên vẫn được coi là thiếu tính tự nguyện của người lập di chúc Tuy nhiên, khi quy định về điều kiện để coi di chúc là hợp pháp nhà lập pháp lại không quy định “nhầm lẫn” Trên phương diện thực tiễn, để xác định di chúc do nhầm lẫn hay không là khó xác định Vì

di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết Dẫn đến khó có thể xác định được di chúc do nhầm lẫn hay là ý chí đích thực của người lập di chúc là như vậy? Bản chất sự nhầm lẫn đó là do nhận thức chủ quan của người lập di chúc Có lẽ vì vậy, các nhà xây dựng pháp luật đã không đưa yếu tố “nhầm lẫn” vào điều luật20

Thứ ba, người lập di chúc không bị đedọa 21 :

Đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người thân thích

Cũng như các loại giao dịch dân sự khác, đe dọa trong việc lập di chúc trước hết phải được thực hiện bằng hành vi cố ý Hành vi cố ý này phải có sự toan tính từ phía người đe dọa về việc đe dọa người lập di chúc như thế nào, hình thức, địa điểm đe dọa, phương tiện để thực hiện việc đe dọa… Hậu quả của việc thực hiện hành vi đe dọa là người lập di chúc phải sợ hãi đến mức phải lập di chúc theo ý muốn của người đe dọa Việc phải lập di chúc đó có thể không gây thiệt hại cho người lập di chúc về tính mạng, sức khỏe, tài sản

Trang 32

26

vì việc đe dọa mới ở mức độ nhẹ Thực tế cho thấy, người lập di chúc không bao giờ bị thiệt hại về tài sản cả, vì khi chết, họ không thể mang theo được tài sản mà họ đang có và chỉ khi người để lại di sản chết thì di chúc mới phát sinh hiệu lực Vì vậy, đối với đe dọa trong việc lập di chúc thì người lập di chúc luôn luôn không bị thiệt hại về tài sản Người bị thiệt hại về tài sản sẽ là những người thân thích của người lập di chúc vì khối tài sản của người lập di chúc

có hạn, nên cho người này hưởng rồi thì đương nhiên những người khác không còn để hưởng Tuy nhiên, do bị đe dọa nên người lập di chúc phải viết

di chúc theo ý kiến của người đe dọa, nên sẽ có ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người lập di chúc Vì vậy, trong trường hợp người lập di chúc bị đe dọa thì di chúc đó bị vô hiệu, không phát sinh hiệu lực phápluật

Thứ tư, người lập di chúc không bị lừadối 22 :

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung củagiaodịchnênđãxáclậpgiaodịchđó23 Lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người này (người lừa dối) đối với người khác (người bị lừa dối) nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến quyết định một việc gì đó theo mục đích đã định sẵn của người lừa dối Thủ đoạn của người lừa dối có thể bằng lời nói, có thể bằng hành động Mục đích của người lừa dối là làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến những quyết định không đúng, có lợi cho người lừa dối

Trong việc lập di chúc, người lừa dối làm cho người lập di chúc hiểu sai lệch về những người thừa kế, dẫn đến quyết định phân chia di sản theo ý muốn của người lừadối

Di chúc là giao dịch dân sự đơn phương, nó chỉ thể hiện ý chí của người lập di chúc Ý chí của người lập di chúc phải hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự

22

https://luatduonggia.vn/nguoi-lap-di-chuc-khong-minh-man-thi-di-chuc-do-co-hop-phap-khong/

23 Điều142BLDS 1995

Trang 33

Đối với di chúc miệng thì việc lừa dối hoặc đe doạ khó có thể xảy ra, bởi lẽ trong những trường hợp đặc biệt mới được lập di chúc và khi lập di chúc phải có hai người làm chứng Vì vậy hành vi đe doạ lừa dối sẽ thường xảy ra đối với các trường hợp lập di chúc bằng vănbản

1.3.3.Điều kiện về nội dung của di chúc

1.3.3.1 Không vi phạm điều cấm của luật

Về nguyên tắc, một giao dịch trái pháp luật được hiểu là giao dịch vi phạm một quy phạm pháp luật bắt buộc, được soạn thảo thông thường dưới dạng khắt khe nhất là cấm làm một việc gì đó, hoặc dưới dạng nhẹ hơn

là không được làm hoặc phải làm một việc nào đó Theo đó, điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định Như vậy, liệu có thể nói, các quy phạm mệnh lệnh soạn dưới dạng phải làm một việc không bị xem là điều cấm của pháp luật và vì vậy vi phạm các điều khoản này không dẫn tới giao dịch vô hiệu? Trên thực

tế, trong nhiều văn bản luật, các giao dịch vi phạm các quy phạm bắt buộc phải làm một việc vẫn bị coi là vô hiệu Hơn nữa, còn có một cách hiểu khác, điều luật quy định phải làm một việc, vậy vế ngầm của điều luật này là không được phép làm trái với quy định của điều luật đó, nếu như vậy, điều luật này vẫn có thể bị xem là điều cấm

Đối với di chúc cũng vậy, một bản di chúc không thể trái, không thể vi phạm các điều cấm của luật – tức là di chúc phải đáp ứng được các điều kiện pháp luật đưa ra thì mới được coi là bản di chúc có hiệu lực pháp luật Một số

Trang 34

28

điều kiện có thể kể đến là24

:

Thứ nhất, ngày, tháng, năm lập dichúc:

Đây là một vấn đề mà hầu hết các loại văn bản đều yêu cầu thực hiện Việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc là việc làm đơn giản, nhưng nó lại rất quan trọng Trong những trường hợp nhất định, việc ghi ngày, tháng, nămlập

di chúc quyết định giá trị pháp lý của di chúc Ví dụ, trường hợp một người lập nhiều bản di chúc định đoạt một loại tài sản, thì bản di chúc sau cùng của người đó có hiệu lực pháp luật

Việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc là một quy định bắt buộc đối với

di chúc bằng văn bản Việc quy định như vậy thể hiện tầm quan trọng của việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc vì nó thể hiện thời điểm người để lại di sản lập di chúc, là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét các điều kiện có hiệu lực pháp luật của di chúc, đồng thời nó cũng là căn cứ cho việc giải quyết nếu có tranh chấp xảyra

Việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc là điều kiện bắt buộc đối với di chúc theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam Ở Cộng hòa Pháp và Nhật Bản, việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc cũng được quy định tương tự Theo quy định BLDS của nước Cộng hòa Pháp, vấn đề này được quy định tại Điều 970; còn ở Nhật Bản, việc ghi ngày, tháng, năm lập di chúc được quy định tại Điều 968 BLDS Nhật Bản

Đối với di chúc miệng, thì người làm chứng cần phải ghi rõ ngày, tháng, năm mà người để lại di sản tuyên bố ý chí của mình Vì ngày, tháng, năm của người làm chứng là tình tiết pháp lý đóng vai trò quan trọng Tình tiết pháp lý này không chỉ xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc mà còn

là thời điểm xác định giá trị di sản thừa kế, người thừa kế theo di chúc, thời điểm mở thừa kế Trong thực tế không có văn bản mẫu cho việc ghi chép nội dung của di chúc miệng, cho nên việc ghi ngày, tháng, năm trong bản chép

24

https://luatvietan.vn/dieu-kien-co-hieu-luc-cua-di-chuc.html

Trang 35

29

nội dung di chúc miệng sẽ do người làm chứng thểhiện

Thứ hai, họ, tên và nơi cư trú của người lập dichúc

Trong bất cứ giao dịch dân sự nào, việc ghi rõ họ, tên, nơi cư trú của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự là việc làm không thể thiếu, bởi vì:

Có ghi rõ đặc điểm về tên, họ, nơi cư trú thì mới xác định được chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Mỗi cá nhân sống trong cộng đồng xã hội đều có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó Mọi người khi sinh ra đều có quyền được khai sinh không phân biệt sinh trong giá thú hoặc ngoài giá thú Họ của trẻ sơ sinh là họ của người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ Trong trường hợp không xác định được người cha, thì họ của trẻ sơ sinh là họ của người mẹ

Như vậy, khi con người sinh ra thì trong giấy khai sinh của người đó đã ghi rõ họ, tên Họ của một người có thể là họ của người cha hoặc họ của người

mẹ Tên của một người do cha, mẹ đặt cho, bao gồm tên chính và tên đệm

Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú

và có đăng ký tạm trú Khi không xác định được nơi cư trú của cá nhân, thì nơi

cư trú là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản, nếu tài sản của người đó có ở nhiều nơi Người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ, nếu được cha, mẹ đồng ý Người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ, nếu được người giám hộ đồng ý

Đối với di chúc miệng thì người làm chứng phải biết rõ tình trạng nhân thân của người chết và phải ghi vào văn bản do người làm chứng viết lại vì đối với trường hợp di chúc miệng thì người để lại di chúc miệng thường ở trong tình trạng sức khỏe nguy kịch nên họ chỉ có thể “trăn trối” việc phân

Trang 36

30

chia di sản chứ không thể trình bày đầy đủ tình trạng nhân thân củamình Để xác định về mặt chủ thể trong việc lập di chúc thì nội dung của di chúc phải ghi rõ họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc Việc ghi rõ như vậy sẽ là tiền đề để xác định người lập di chúc có đúng là người để lại di sản hay không Chỉ khi nào người lập di chúc cũng chính là người để lại di sản thì di chúc mới phát sinh hiệu lực

Thứ ba, họ,tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản:

Việc quy định di chúc phải ghi rõ họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản có ý nghĩa quan trọng, qua đó xác định người thừa kế theo di chúc và họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản thì mới chuyển được di sản đến đúng địa chỉ theo ý nguyện của người lập di chúc

Bàn về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, cũng tương tự như phân tích ở phần trên về họ, tên, nơi cư trú của người lập di chúc, việc quy định phải ghi

cụ thể hơn về địa chỉ của người, cơ quan, tổ chức được nhận di sản là điều cần thiết Đối với cá nhân nhận di sản, cần phải quy định ghi rõ họ, tên, nơi cư trú,

số chứng minh nhân dân… Đối với cơ quan, tổ chức, cần yêu cầu người lập di chúc phải ghi rõ những thông tin về cơ quan, tổ chức đó như: Địa chỉ, trực thuộc cơ quan, tổ chức nào…

Đối với di chúc miệng, người làm chứng phải tìm hiểu và ghi vào văn bản về nội dung thông tin về cá nhân, tổ chức được hưởng di sản thừa kế

Thứ tư, di sản để lại và nơi có disản:

Di sản để lại và nơi có di sản là một nội dung mà di chúc phải ghi rõ, được pháp luật dân sự

BLDS 199525 quy định tương đối rõ ràng về di sản thừa kế như di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với ngườikhác Đồng thời, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật

25 Điều 637 BLDS 1995

Trang 37

31

này

Theo quy định này thì di sản thừa kế bao gồm tài sản và quyền tài sản của người chết để lại, mà không nói rõ có bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết hay không

Theo đó, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác Như vậy, quy định này thực chất không có gì thay đổi, bởi vì tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản, nên

nó là tài sản

Như trên đã phân tích thì di sản thừa kế bao gồm cả tài sản riêng của người chết.Tài sản riêng của vợ, chồng được xác định bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc

sở hữu riêng của mỗi người, đồ dùng, tư trang cánhân

Như vậy, di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản (bao gồm

cả quyền sử dụng đất) của một người sau khi chết được chuyển dịch cho người thừa kế hợp pháp của người đó theo di chúc hoặc theo pháp luật, sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản

Theo quy định thì vấn đề này được quy định rõ rànghơn, quy định rõ những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản Đây là một tiến bộ lớn, tránh việc hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau

Cùng với sự phát triển của đất nước, di sản thừa kế hiện nay rất đa dạng

về số lượng, chủng loại… vì theo quy định của pháp luật về sở hữu của cá nhân ngày càng phong phú Từ những quy định của pháp luật, có thể thống kê những tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân bao gồm: Thu nhập hợp pháp, nhà ở, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ bằng tiền mặt, các trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, chứng

Trang 38

32

chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, sổ tiết kiệm, quyền tài sản phát sinh

từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền nhận tiền bảo hiểm, quyền đối với phần góp vốn trong doanhnghiệp…

Như vậy, với di sản ngày càng phong phú như trên, Nhà nước tạo mọi điều kiện cho công dân làm giàu chính đáng và đảm bảo cho họ quyền chuyển dịch hợp pháp về tài sản khi họ chết Công dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản, quyền tài sản của mình cho những người thừa kế Do vậy, nội dung của di chúc không thể thiếu được việc chỉ rõ di sản để lại và nơi có di sản Di sản để lại mà di chúc định đoạt phải ghi rõ đó là tài sản gì, đặc điểm của tài sản đó, sự phân biệt của tài sản đó đối với tài sản khác Di sản đó hiện ở đâu,

do ai đang quản lý, sử dụng Địa chỉ nơi có di sản cần chi tiết, rõ ràng, tránh

sự nhầm lẫn Ví dụ: Một người có nhiều thửa đất, thì khi người đó lập di chúc phải chỉ rõ cho người thừa kế nào, diện tích bao nhiêu, thửa đất ở vị trí nào,

có số thửa bao nhiêu, tờ bản đồ có số như thế nào, được lập năm nào của đơn

vị hành chính nào (xã, huyện, tỉnh), đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày, tháng, năm nào, nơi cấpgiấy…

Trường hợp người lập di chúc bằng văn bản thì phải ghi rõ tình trạng tài sản như trên, khi mở thừa kế sẽ căn cứ vào nội dungđó để xác định phần di sản phân chia theo di chúc Tuy nhiên đối với việc lập di chúc miệng thì không thể đáp ứng được yêu cầu đó, bởi vì di chúc miệng chỉ được lập khi tính mạng bị

đe doạ nghiêm trọng hoặc trường hợp đặc biệt không thể lập di chúc văn bản,

Do vậy, di chúc miệng chỉ cần chỉ rõ tài sản nào và số lượng tài sản, hay nói cách khác người lập di chúc chỉ cần chỉ ra tài sản nào Còn các yếu tố khác sẽ được xác định khi phân chia di sản thừa kế

Thứ năm, quyếtđịnhđểlạidisảnchonhiềungườithừa kếtheodichúc

Nội dung quan trọng của di chúc, là quyết định của người lập di chúc

để lại di sản cho cá nhân, tổ chức như thế nào? Quyền này của người lập di chúc được thểhiện:

- Chỉ định rõ người thừa kế theo di chúc được hưởng di sản cụ

Trang 39

33

thểnào

- Chỉ định theo tỷ lệ cụ thể cho từng người thừakế

- Nếu để lại di sản không chỉ định cụ thể thì những người hưởng di sản thừa kế theo di chúc sẽ được hưởng bằngnhau

1.3.3.2 Không trái với đạo đức xã hội

Như chúng ta đã biết, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Do đó, khi có hành vi trái với những chuẩn mực chung thì được coi là trái với đạo đức xã hội

Đối với di chúc, do tính chất đặc trưng như đã phân tích ở trên, hiện nay pháp luật hiện hành có quy định việc nội dung di chúc không được trái với đạo đức xã hội Đây là điều kiện rất quan trọng để bảo đảm tính hợp pháp của di chúc.Di chúc được lập ra để thể hiện ý chí,nguyện vọng của người lập

di chúc.Tuy nhiên không phải mong muốn,nguyện vọng nào cũng được pháp luật chấp nhận và đảm bảo, bởi di chúc ngoài đáp ứng các quy định của pháp luật còn phải không được trái với đạo đức xã hội để tránh làm mất thuần phong mỹ tục,những chuẩn mực đạo đức của dân tộc ta

1.3.3.2 Có khả năng thực hiện

Di chúc được lập ra phải có khả năng thực hiện thì mới được coi là trọn vẹn, tức là khi đã đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực – là di chúc hợp pháp thì khi người để lại di sản chết sẽ là thời điểm được mở di chúc Căn cứ

để xác định thời điểm mở thừa kế là thời điểm được ghi chép trong giấy khai

tử về phút, giờ, ngày, tháng, năm người để lại di sản chết26

Theo đó, di chúc chỉ có khả năng được thực hiện khi:

Thứ nhất, di sản được để lại phải còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế, sau đó, xác định đến các nội dung khác như những tài sản và nghĩa vụ tài sản

26 http://www.asianlii.org/vn/other/benchbk/270-vn.html

Trang 40

kế cần được xác định chính xác theo giờ, phút mà người để lại di sản chết, nếu không xác định được chính xác giờ, phút người để lại di sản chết thì thời điểm mở thừa kế được tính theo ngày mà người để lại di sản chết

Đối với trường hợp chết pháp lý, một người bị Toà tuyên bố đã chết thì căn cứ vào quyết định của Tòa án, thời điểm mở thừa kế là ngày chết được xác định trong quyết định của Tòa án Nếu không xác định được ngày chết, thì ngày mà quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là thời điểm mở thừa kế27

.Như vậy, việc xác định thời điểm mở thừa kế - thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúclà yếu tố rất quan trọng liên quan đến việc xác định tính có khả năng thực hiện hay không của một di chúc khi luận bàn về điều kiện có hiệu lực của di chúc

1.3.3.3 Có tính xác định

Ngoài những điều kiện phân tích ở trên, một điều kiện quan trọng khác đối với bản di chúc là nội dung phải xác định được - tức là bản di chúc đó phải được thể hiện cụ thể, rõ ràng di sản gồm những gì, giá trị là bao nhiêu, đối tượng được được hưởng thừa kế là những ai? Trong trường hợp đã thông qua giải thích di chúc vẫn không thể xác định được di sản thừa kế, cũng như không xác định được người thừa kế thì bản di chúc không được coi là có hiệu

27

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=383

Ngày đăng: 13/11/2019, 19:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w