1. Trang chủ
  2. » Tất cả

KN bệnh, bệnh nguyên,bệnh sinh

5 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 114 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Nguyên nhân thể tạng: cho rằng mọi nguyên nhân gây bệnh do đặc điểm cơ thể người bệnh ,là do thể tạng của họ.Cơ sở của quan niệm này là lý thuyết di truyền máy móc ko kể đếncác yếu tố n

Trang 1

A/ Khái niệm về bệnh, bệnh nguyên, bệnh sinh

KN về bệnh: WHO đưa ra định nghĩa”sức khoẻ là tình trạng thoải mái về tinh thần, thể chất,và giao tiếp XH chứ ko phải chỉ là vô bệnh, vô tật”

1/ Quan điểm hiện nay về bệnh :

+Bệnh là tình trạng tổn thương hoặc RL về cấu trúc và chức năng dẫn tới mất cân bằng nội mô và giảm khả năng thích nghi của cơ thể với ngoại cảnh

+Bệnh là sự thay đổi về chất và lượng của các hoạt động sống của cơ thể do tổn thương cấu trúc và RL chức năng do tác hại từ môi trương hoặc bên trong cơ thể

+Bệnh xuất hiện khi có bất cứ 1 sự sai lệch hoặc tổn thương nào đó của bất cứ 1 cơ quan ,bộ phận nào đó của cơ thể biểu hiện ra bằng 1 số triệu chứng đặc trưng giúp cho thầy thuốc có chản đoán xác định và chẩn đoán phân biệt kể cả chưa biết rõ nguyên nhân,bệnh lý học, tiên lượng

2/ Bệnh có tính chất là 1 cân bằng mới kém bền vững.

Cân bằng giữa 2 quá trình sinh và huỷ là giữ sự hằng định sinh lý Khi 1 yếu tố nào đó về bệnh xâm nhập vào trong cơ thể thì cơ thể đó phản ứng bảo vệ sẽ có những phản ứng nhằm duy trì tình trạng cân bằng bị nhiễu loạn bởi yếu tố đấy Cho nên trong mỗi quá trình bệnh sinh luôn luôn xảy ra 2 hiện tượng gắn liền với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau: hiện tượng huỷ hoại bệnh lý và hiện tượng phòng ngự sinh lý

Đứng trước mọi khả năng làm thay đổi tình trạng hằng định của cơ thể thì cơ thể sẽ tích cực chống đỡ lại nhờ khả năng bảo vệ Chính cuộc đấu tranh này tạo ra cân bằng mới nhưng cân bằng này thường ko kéo dài mà có xu hướg phục hồi về cân bằng cũ tức là lành bệnh hoặc tiến triển ngày càng bất lợi cho cơ thể.vượt quá khả năng bảo vệ của cơ thể dẫn đến tử vong Đó là tính chất kém bền vững của cân bằng mới

Cần tìm mọi biện pháp nhằm hạn chế những hiện tượng huỷ hoại bệnh mà còn phải tăng cương hiện tượng phòng ngự sinh lý

3/ Bệnh nguyên

a/ 1 số quản điểm sai lầm:

-Nguyên nhân đơn thuần: có người cho rằng mọi bệnh đều do 1 nguyên nhân và chỉ cần

có nguyên nhân ấy là có bệnh Quan điểm này phát triển rộng rãi khi người ta phát hiện

ra VK, nhưng rồi thực tế đã cho thấy có nhiều trườg hợp có VK nhưng ko có bệnh, ấy là

ko kể những bệnh mà rõ ràng nguyên nhân ko phải VK mà cho đến nay cũng chưa xác định là gì như bệnh cao huyết áp

-Nguyên nhân thể tạng: cho rằng mọi nguyên nhân gây bệnh do đặc điểm cơ thể người bệnh ,là do thể tạng của họ.Cơ sở của quan niệm này là lý thuyết di truyền máy móc ko

kể đếncác yếu tố ngoại cảnh, đến quá trình phát triển di truyền của con người

b/Quan điểm KH về nguyên: đó là quan điểm dựa trên duy vật biến chứng đặt trong mối quan hệ đúng đắn giữa nguyên nhân và ĐKiện gây bệnh và áp dụng đc quy luật nhân quả

- Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh

Nguyên nhân là yếu tố quyết định gây ra bệnh, bệnh ko tự nhiên sinh ra mà phải có nguyên nhân Hiện nay có những bệnh chưa tìm được nguyên nhân nhưng chắc chắn sẽ tìm ra trong tương lai

Nguyên nhân quyết định tính đặc hiệu của bệnh VK lao gây ra bệnh lao…Mặt khác để gây được bênh nguyên nhân phải đạt được một mức độ nhất định về số lượng, độc lực và

có những ĐKiện nhất định hỗ trợ nó

Trang 2

Điều kiện là yếu tố tạo thuận lợi cho nguyên nhân phát huy tác dụng Nguyên nhân chỉ có thể gây ra bệnh khi có môi trường và 1 số ĐKiện thuận lợi, VK lao dễ gây bệnh lao ở những cơ thể kém đề kháng, ăn uống thiếu thốn Đkiện ko thể gây được bệnh khi ko có nguyên nhân Có nguyên nhân đòi hỏi nhiều điều kiện mới gây đc bệnh ,có nguyên nhân đòi hỏi ít hoặc rất ít Đkiện đã gây ra bệnh

Trên thực tế cần chú ý: nguyên nhân của bệnh này lại đóng vai trò điều kiện của bệnh kia

và ngược lại: dinh dưỡng thiếu thốn là nguyên nhân của bệnh suy dinh dưỡng nhưng lại

là điều kiện gây ra bệnh lao

- Quy luật nhân quả giữa nguyên nhân và bệnh

Mỗi bệnh đều có nguyên nhân: nguyên nhân có trước,bệnh có sau Đến nay y học đã tìm

ra được nguyên nhân đích thực của nhiều bệnh khác nhau

Có nguyên nhân nhưng ko phải bao giờ cũng có hậu quả Nhiều trường hợp có mặt nguyên nhân nhưng ko gây ra bệnh vì ko có các ĐK thuận lợi Phản ứng tính của mỗi loài, mỗi cá thể rất khác nhau, 1yếu tố gây bệnh thường thay đổi tính chất và mức độ gây hại trên các cá thể khác nhau Điều này có ý nghĩa đối với thực hành: những bệnh chưa tìm đc nguyên nhân chưa có thuốc điều trị đặc hiệu thì người ta tìm cách loại mọi ĐK thuận lợi giúp cho chúng gây bệnh Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho nên việc phòng nhiễm HIV, viêm gan đang theo hướng này

Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều hậu quả khác nhau tuỳ nơi thâm nhập, tuỳ ĐK cụ thể Tụ cầu vào ruột gây tiêu chảy, vào da gây apxe

Một bệnh có thể do nhiều nguyên nhân gây ra: các nguyên nhân khác nhau có thể gây ra

1 bệnh Lỵ có thể do amip hoặc Shigella đều có triệu chứng lâm sàng tương tự nhau

4/ Bệnh sinh

Bệnh sinhlà môn học ngiên cứu quy luật phát sinh, phát triển, kết thúc của bệnh Bệnh sinh học nghiên cứu bệnh xảy ra như thế nào, diễn biến kết thúc ra sao, tuân theo những quy luật nào

Hiểu được quy luật diễn biến của bệnh người thầy thuốc chủ động ngăn chặn đc những diễn biến xấu của bệnh,hạn chế tác hại của bệnh gây ra

Bệnh sinh liên quan chặt chẽ với bệnh nguyên Diễn biến của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó đáng chú ý nhất là: tác nhân gây bệnh và phản ứng tính của cơ thể

a/Vai trò của bệnh nguyên trong quá trình bệnh sinh:

Bệnh nguyên bao giờ cũng có trước bệnh sinh Bệnh nguyên có thể đóng vai trò mở màn hoặc vừa mở màn vừa dẫn dắt quá trình diễn biến của bệnh sinh

Bệnh nguyên chỉ là tác nhân mở màn cho bênh sinh: có nhiều bệnh bệnh nguyên chỉ có vai trò mở màn, khi bệnh đã phát sinh thì bệnh nguyên cũng hết vai trò còn bệnh sinh tiếp tục tự diễn biến và kết thúc

Bỏng diễn ra dài ngày nhiều tuần mặc dù yếu tố gây bỏng chỉ có mặt rất ngắn

Điều trị bệnh này ko phải tìm cách loại trừ nguyên nhân của bệnh mà phải đièu trị theo cơ chế bệnh sinh

Bệnh tồn tại trong suốt quá trình bệnh sinh: sau khi gây bệnh , bệnh nguyên tiép tục dẫn dắt quá tình bệnh sinh cho đến khi bệnh kết thúc Nếu laọi trừ đc bệnh nguyên ,bệnh sinh cũng ngừng diễn biến

VD:Bệnh nhiễm các chất độc và đa số các bệnh nhiễnm khuẩn

Trong thực tế có 1 số trường hợp bệnh nguyên vẫn tồn tại nhưng vô hiệu trước hệ thống phòng vệ của cơ thể, ko biểu hiện thành bệnh nhưng yếu tố gây bệnh vẫn tồn tại đó là người lành mang mầm bệnh

Trang 3

Một số yếu tố của bệnh nguyên ảnh hưởng đến quá trình bệnh sinh.

-Số lượng, cường độ, độc lực của bệnh nguyên: yếu tố gây bệnh ko những phải có số lượng,mật độ nhất định mà pahỉ có cường độ, độc lực mạnh tới 1 mức nào đó mới gây bênh và sẽ thay đổi diễn biến bệnh nếu thay đổi các tính chất trên

VD: nicotin nếu đưa vào cơ thể 1 lượng lớn qua đường hô hấp thì sẽ xảy ra ngộ độc cấp nhưng nếu chia ra liều nhỏ ,kéo dài thì sẽ gây VPQuản mạn, giảm khả năng đề kháng… -Nơi xâm nhập ,thời gian tác dụng của bệnh nguyên: cùng 1 chất độc cùng 1 VK sẽ gây nên các bệnh khác nhau và mức độ khác nhau khi chúng xâm nhập vào các bộ phận khác nhau của cơ thể vì mỗi cơ quan bộ phận lại có chức năng và phản ứng tính khác nhau VD: Tụ cầu vào da gây bệnh apxe, vào ruột gây bệnh tiêu chảy…

Cùng 1 nồng độ bệnh nguyên cùng nơi tiếp xúc nếu thời gian càng dài thì nói chung bệnh càng nặng

b/ Yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể ảnh hưởng đến quá trình bệnh sinh

+Yếu tố bên trong: Trong những điều kiện như nhau, bệnh sinh ở mỗi cá thể có thể khác nhau điều này phụ thuộc và giới tuổi và tính phản ứng của từng cơ thể

-Thần kinh, tâm thần: Trạng thái vỏ não hưng phấn hay ức chế làm thay đổi bộ mặt của bệnh sinh Loại TK yếu thường kém chịu đựng 1 yếu tố kích thích nhệ cũng có thể gây bệnh, loại TK mạnh nhưng ko thăng bằng cũng dễ bị rối loạn nặng trước 1 số tác nhân gây bệnh.Hệ TK giao cảm chi phối các phản ứng đề kháng tích cực Hệ TK phó giao cảm

có vai trò tạo ra trạng thái trấn tĩnh,tiết kiệm năng lượng tăng chức năng tiêu hoá

Yếu tố tâm lý:lời nói thái độ của người xung quanh đặc biệt thầy thuốc có ảnh hưởng xấu hoặc tốt đến tâm lý và diễn biên bệnh

- Nội tiết: các HM có ảnh hưởng rõ rệt tới bệnh sinh.Cùng 1 bệnh nhưng tình trạng nội tiết khác nhau có thể diễn biến bênh khác nhau VD người cường giáp dễ sốt cao khi nhiễm khuẩn

ACTH và corticoid: có tác dụng chống viêm, chống dị ứng Có tác dụng giảm tính thấm mao mạch, giảm phù nề và tiết dịch, ức chế thực bào

STH và Adosteron: đối lập với ACTH và Corticoid tăng cường sinh mô lien kết tạo kháng thể, điều hoà nước điện giải.Do đó rất có lợi khi tăng cường phản ứng viêm, tăng cường MD

- Tuổi và giới: cùng 1 bệnh nhưng diễn biến khác nhau tuỳ thuộc tuổi và giới VD cùng sốt 40◦ nhưng trẻ em thường dễ bị co giật hơn

+ Yếu tố ngoài

-Môi trường: Địa lý khí hậu ảnh hưởng rõ rệt tới quá trình phát sinh phát triển của bệnh -Yếu tố XH: Chế độ XH, trình độ văn hoá, dân trí cũng ảnh hưởng tới cơ cấu tình hình bệnh tật cảu quần thể dân cư

- Chế độ dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng thiếu chất nhất là thiếu protein, năng lượng và các chất vi lượng sẽ giảm khả năng đề kháng của cơ thể và dễ mắc bệnh

+ Ảnh hưởng qua lại giữa toàn than và tại chỗ của bệnh sinh

-Toàn than ảnh hưởng đến tại chỗ: trạng thái của từng cá thể( sức khoẻ, tuổi tác ) ảnh hưởng dên sự phát sinh phát triển kết thúc của bệnh

-Tại chỗ ảnh hưởng đến toàn thân : 1 bệnh tuy tại chỗ với cường độ nhất định sẽ gây đau đớn mất ngủ sẽ ảnh hưởng đến toàn thân.Trong điều trị dù là bệnh tại chỗ nhưng vẫn phải kết hợp chữa toàn thân

5/ Diễn biến của quá trình bệnh sinh

Trang 4

+Thời kỳ tiềm tàng(ủ bệnh): từ khi bệnh nguyên xâm nhập cho đến khi xh triệu chưng đầu tiên, tuỳ theo tính chất, cường độ, nơi xâm nhập mà thời gian ủ bệnh khác nhau +Thời kỳ khởi phát: bắt dầu từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi có các triệu chứng điển hình Một số bệnh có triệu chứng khá đặc trưng dễ chẩn đoán nhưng có bệnh khó phân biệt phải dung nhiều xét nghiệm mới xác định đc

+Thời kỳ toàn phát: các triệu chứng rõ rệt và tương đối đầy đủ người thầy thuốc chẩn đoán chính xác đc bệnh

+Thời kỳ kết thúc bệnh: sau thời kỳ trên bệnh có thể có nhiều cách kết thúc từ khỏi hoàn toàn cho đến tử vong:

- Khỏi bệnh: bao gồm sự loại trừ các yếu tố gây tổn thương đồng thời quá trình phục hồi cấu trúc và chức năng

Về mức độ lành bệnh chia ra:

Khỏi hoàn toàn: hết hẳn bệnh cơ thể hoàn toàn phục hồi trạng thái sức khỏe nhưkhi chưa mắc bệnh

Khỏi ko hoàn toàn: bệnh o hết hẳn hoặc toàn trạng ko thể trở về như khi chưa mắc

bệnhVD cánh tay bị thương yếu đi rõ rệt mặc dù đã lành vết thương

Ngoài ra khỏi ko hoàn toàn còn :

Để lại di chứng: bệnh đã hết nhưng hậu quả về giải phẫu và chức năng thì vẫn còn lâu dài

Để lại trạng thái bệnh lý: diễn biến rất chậm và đôi khi có thể xấu đi khó khắc phục VD

do chấn thương bi cắt cụt vết thương còn để lại sẹo lớn

-Tái phát tái nhiễm và chuyển sang mạn tính:

Tái phát, tái nhiễm đều mắc lại bệnh cũ nhưng tái phát là yếu tố gây bệnh vẫn còn tồn tại trong cơ thể mặc dù đã khỏi bệnh Tái nhiễm là yếu tố gây bệnh từ ngoài xâm nhập trở lại

Chuyển sang mạn tính: tức giảm hẳn tốc độ phát triển

- Chết: là giai đoạn kết thúc của bệnh

Các giai đoạn chết:

Giai đoạn tiền hấp hối: kéo dài nhiều giờ tới vài ngày biểu hiện bằng khó thở,hạ HA, tim nhanh và rất yếu…

Giai đoạn hấp hối: các chức năng suy giảm toàn bộ, kéo dài 2-4 phút

Giai đoạn chết lâm sàng: các dấu hiệu bên ngoài của sự sống ko còn do các trung tâm sinh tồn của não ngừng hoạt động, tuy nhiên TB cơ thể còn sống

Giai đoạn chết sinh học: não chết hẳn điện não ko còn do vậy hết khả năng phục hồi.Tuy nhiên những tb quen chịu đựng thiếu oxy vẫn còn sống và hoạt động khá lâu, cơ quan lấy

ra vẫn có thể ghép cho cơ thể khác

-Cấp cứu- hồi sinh

Trường hợp chết đột ngột ở 1 cơ thể ko suy kiệt có thể hồi sinh khi đã chết lân sàngchủ yếu hồi phục hô hấp.trái lại chết sau 1 quá trình suy kiệt thì ko thể áp dụng các phương pháp hồi sinh

Não chịu đc thiếu oxu 6 phút do vậy nếu tỉnh lai sau 6 phút chết lâm sàng sẽ để lại di chứng não

6/Vòng xoắn bệnh lý:

Những bệnh phức tạp thường diến biến qua nhiều khâu nối tiếp nhau theo 1 trình tự nhất định và có liên quan mật thiết với nhau Liên cầu khuẩn gây viêm họng từ đó có thể gây viêm màng trong tim dẫn đến hẹp hoặc hở van.Lúc đầu cơ tim còn mạnh nên bù đắp được

Trang 5

song dần dần mất bù, tim bị suy dẫn đến ứ máu TM mà hậu quả là phù và tràn

dịch,RLCH, RLTH cứ thế diễn biến làm bệnh ngày càng nặng them

Trong quá trình bệnh sinh nguyên nhân ban đầu gây ra những hậu quả nhất định, những thay đổi này trở thành nguyên nhân của nhiều rối loạn mới và các rối loạn có thể dẫn đến những hậu quả khác, kết quả bệnh lý ko ngừng phát triển và bệnh ngày càng nặng

Như trong sock chấn thương nặng gây RLTKTƯ ngiêm trọng( hưng phấn rồi ức chế) dẫn đến thiếu oxy do RLTH, RLHH, thiếu oxy lại càng làm ức chế TKTƯ làm cho

RLTH,RLHH lại càng nặng cứ thế khâu nọ tác động lên khâu kia làm cho sock diễn biến nặng them dẫn đến vòng xoắn bệnh lý ko hồi phục được

Nhiệm vụ của người thầy thuốc phải thấy rõ mqh giữa các hiện tương bệnh lý đánh giá đúng những thay đổi đấy và kịp thời phát hiện những thay đổi chủ yếu nghĩa là khâu chính trong quá trình bệnh sinh để có cách điều trị thích hợp nhằm kịp thời ngăn chặn vòng xoắn bệnh lý và 1 khi đã xảy ra thì phai kịp thời cắt đứt phá vỡ vòng xoắn nhằm phục hồi chức năng Trong suy tim trong điều trị thì phục hồi sức co bóp của tim kết hợp chế độ nghỉ ngơi để giảm bớt gánh nặng đối với cơ tim đã bị suy

Ngày đăng: 03/10/2020, 19:46

w