Tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non là rất cần thiết và phải tiến hành hiệu quả nên cần chú ý cách thức tổ chức cho phù hợp. GVMN cần phải lưu ý đến đặc điểm phát triển của trẻ điều kiện thực tế của nhóm lớp để tỏ chức hoạt động cho hiệu quả và phù hợp.
Trang 1VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Chuyên đề
Hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
3 Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ em 17
4 Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ
mẫu giáo
21
5 Ứng dựng phương pháp dậy học tích cực vào tổ chức chơi cho
trẻ trong trường mầm non
28
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Vui chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đờisống con người ở mọi lứa tuổi Khi chơi, cả người lớn và trẻ em đều say mê,vui vẻ và thoả mãn Đối với người lớn, vui chơi chiếm một vị trí nhất địnhtrong cuộc sống của họ Đối với trẻ mẫu giáo, vui chơi là nội dung chính củacuộc sống, là hoạt động giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ
Chơi được xem như là công việc của trẻ và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách ở trẻ- giữ vai trò chủ đạo đối với
sự phát triển của trẻ Hình thức thể hiện đặc trưng của hoạt động chơi là cáctrò chơi Các trò chơi vô cùng đa dạng về nội dung, hình thức và nguồn gốc
đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau Các học thuyết về hoạt động vui chơi nói chung và trò chơi của trẻ emnói riêng đã ra đời Việc nghiên cứu các học thuyết đó nhằm tìm hiểu bảnchất, nguồn gốc của hoạt động vui chơi, vai trò của nó đối với sự phát triển trẻ
em là vô cùng cần thiết Mặt khác quá trình nghiên cứu này cũng là cơ sở choviệc đưa ra một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ trong trườngmầm non
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm hoạt động chơi
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động chơi Có thể điểm qua mộtvài định nghĩa về “chơi” như:
- “Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gìkhác”
- “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi”
- “Chơi là sự tự nguyện hoặc tự vui thích trong một hoạt động hoặc mộttrò chơi”
- “Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chủ tâm vào một lợiích thiết thực nào cả Trong khi chơi, các mối quan hệ của con người với tựnhiên và với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một tinhthần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu”
- “Loại hoạt động nào có cấu trúc động cơ nằm trong chính quá trìnhhoạt động, đó chính là hoạt động chơi”
Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu về hoạt động chơi như sau:
Chơi là hoạt động tự nguyện, ham thích của người chơi trong một hoạt động hoặc trong một trò chơi và đem lại cho người chơi trạng thái vui
vẻ, phấn khích, thoả mãn Động cơ của hoạt động chơi luôn nằm ở quá trình thực hiện hành động chứ không nằm ở kết quả của hoạt động- chơi chỉ để mà chơi, chơi cốt để cho vui chứ không nhằm bất kì lợi ích nào.
Chơi cần thiết cho mọi lứa tuổi Đối với trẻ nhỏ chơi như là một trongnhững nhu cầu thiết yếu của trẻ Chơi được xem như là công việc của trẻ vàgiữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ Hình thức thể hiện đặc trưngcủa haotj động chơi là các trò chơi Các trò chơi vô cùng đa dạng về nội dung,hình thức và nguồn gốc
2 Các quan điểm về hoạt động chơi
Có nhiều quan điểm khác nhau trong lịch sử về hoạt động chơi của trẻ
em Là một hiện tượng đời sống phức tạp và lí thú, hoạt động chơi hình thứcthể hiện là các trò chơi đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
Trang 5thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Đây chính là cơ sở để tìm hiểu nguồn gốc,bản chất của hoạt động chơi của trẻ em.
* Các quan điểm sinh vật hóa hoạt động chơi
- Thuyết “Năng lượng dư thừa” (Siller, Spencer)
Ph.Siller (1756 - 1800) là nhà thơ Đức nổi tiếng và cũng là một nhàtriết học Ông coi vui chơi là cơ sở của tất cả các loại nghệ thuật Theo ông,trong thời gian rảnh rỗi con người dùng sức lực của mình để đáp ứng nhữngnhu cầu tinh thần, nhu cầu sáng tạo Việc đáp ứng những nhu cầu đó đượcthực hiện trong vui chơi và trong nghệ thuật Trong những hoạt này con ngườiđược nâng cao lên trên thực tế khủng khiếp, tàn nhẫn, và thực sự có được tự
do, sáng tạo
G Spencer (1820 - 1903) là nhà triết học, nhà xã hội học và nhà sưphạm học người Anh đã phát triển những tư tưởng của Ph.Siller Ông đã đánhđồng trò chơi của trẻ em với trò chơi của những con vật bậc cao Ông chorằng những năng lượng dư thừa của các con vật non trẻ không được sử dụngcho “hoạt động thực” nên đã được tiêu khiển qua con đường bắt chước lạihoạt động thực đó bằng hình thức nhiều loại trò chơi Ở trẻ em, trò chơi là sựbắt chước các hoạt động thực sự của bản thân và cả hoạt động của người lớn.Ngoài ra, trong trò chơi, những bản năng nghịch ngợm, phá phách của đứa trẻđược đáp ứng qua hình thức tinh thần
Thuyết “năng lượng dư thừa” đã mâu thuẫn với các sự kiện thực tế.Tham gia vào các trò chơi không chỉ những trẻ khoẻ mạnh mà còn cả nhữngtrẻ đang bị bệnh Vui chơi không chỉ liên quan đến vấn đề tiêu hao sức lực màcòn liên quan với việc khôi phục lại sức lực Trong vui chơi có cả việc tậptrung và nâng cao sức lực Sự dư thừa năng lượng trong cơ thể trẻ đang trên
đà phát triển chỉ là tạo điều kiện thuận lợi để trò chơi xuất hiện chứ khôngphải là nguyên nhân tạo ra trò chơi Spencer cũng đã không giải đáp vấn đềtại sao vui chơi là nơi tiêu hao sức sống dư thừa của đứa trẻ hoặc là của động vậtnon
Trang 6- Thuyết đồng nhất hoạt động vui chơi của trẻ với vui chơi của động vật non (K Groos, V Stern)
- Karl Groos (1867 - 1946) là nhà tâm lí học người Đức Cũng nhưSpencer, Groos đã đánh đồng những trò chơi của động vật non với các tròchơi của trẻ Ông cho rằng trò chơi của đứa trẻ và của động vật non là hiệntượng mang tính chất thuần tuý sinh vật Vui chơi là một hình thức hoạt độngsống, mà trong đó các cơ thể sống non trẻ tự hoàn thiện Trong quá trình vuichơi, cơ thể được thích nghi với cuộc sống, hoàn thiện thêm các bản năng ditruyền, các năng lực và sức lực Vui chơi tựa như trường học đặc biệt đểchuẩn bị cho cuộc sống sắp tới Các trò chơi chính là phương thức biểu hiệnđặc thù của các loại bản năng
- V Stern (1871 - 1938)- nhà tâm lý học người Đức đã phát triển họcthuyết của Groos và gọi vui chơi là “Bình minh của bản năng đứng đắn”, vànhấn mạnh ý nghĩa của vui chơi trong việc rèn luyện những cơ chế di truyềncủa phẩm hạnh
Điểm cơ bản trong học thuyết của K Groos là đánh đồng vui chơi củacon người với vui chơi của con vật Sự đánh đồng đó hoàn toàn không đúng
vì trong các trò chơi con vật rèn luyện những cơ chế di truyền của hành vi,còn đứa trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người Thuyết đồngnhất hoạt động vui chơi của trẻ em với vui chơi của động vật non đã khôngxem xét đầy đủ nguồn gốc của vui chơi mà chỉ nói lên mục đích, ý nghĩa củahoạt động này Tuy nhiên, việc hiểu bản chất của vui chơi là sự chuẩn bị chohoạt động sống thực sự sau này cũng như việc khẳng định vui chơi là nộidung hoạt động chính của đứa trẻ là hoàn toàn đúng đắn
- Thuyết phân tâm học gắn hoạt động vui chơi với đam mê tình dục
(Freud)
G Freud (1856 - 1933) là nhà tâm lí học người Áo và là người đứngđầu trường phái phân tâm trong tâm lý học tư sản Học thuyết về vui chơi củaFreud được hình thành từ các học thuyết về cấu trúc nhân cách của con người.Theo ông, cơ sở hành vi của con người là bản năng bảo tồn nòi giống (bản
Trang 7năng sinh dục) Bản năng đó thể hiện trong nhiều loại hoạt động khác nhaucủa con người Sự phát triển của đứa trẻ cũng chịu ảnh hưởng của bản năngsinh dục Niềm say mê, mong ước, những biểu tượng bí ẩn của đứa trẻ đều cóliên quan với bản năng sinh dục và chúng không thể hiện trực tiếp ở trongcuộc sống của đứa trẻ mà chỉ biểu hiện được trong các trò chơi.
Như vậy, Freud đã gắn hoạt động vui chơi với những đam mê tình dục.Điểm sai lầm cơ bản của học thuyết của ông về vui chơi là đã xem vui chơi làbiểu hiện trực tiếp của cấu tạo tâm sinh lý cơ thể đứa trẻ và tách chúng ra khỏinhững sự kiện xã hội Ông đã sinh vật hoá bản chất của vui chơi
Tóm lại, quan điểm thịnh hành từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về
trước nhìn nhận vui chơi một cách “tự nhiên chủ nghĩa”, tiêu biểu là các họcthuyết kể trên Những sai lầm chủ yếu của các học thuyết nêu trên về hoạtđộng chơi của trẻ em là:
- Khẳng định vui chơi là một hiện tượng hoàn toàn mang tính sinh học.Điều đó dẫn đến hậu quả là bác bỏ nội dung xã hội của các trò chơi, hoặc làmâu thuẫn không thể giải quyết được giữa một bên là tính bản năng của vuichơi đã được khẳng định trong các thuyết đó với nội dung xã hội của nó
- Trong việc nghiên cứu hoạt động vui chơi chỉ cố gắng xem xét vuichơi ở ngoài mối quan hệ với sự phát triển xã hội, xem nó như một lĩnh vựcđặc biệt của thế giới trẻ em, các trò chơi trẻ em hoàn toàn đóng kín, tách biệt
ra khỏi thế giới người lớn Cách xem xét này thiếu hẳn tính lịch sử, từ đó dẫnđến coi vui chơi chỉ là phương tiện tự giáo dục của đứa trẻ và khẳng địnhngười lớn không nên tham gia vào các trò chơi của trẻ- phủ nhận ảnh hưởngcủa xã hội, phủ nhận vai trò của người lớn đối với sự phát triển trò chơi củatrẻ em
* Hoạt động vui chơi trong tâm lý học của Piaget và tâm lý học
phương tây
- Hoạt động vui chơi của trẻ trong tâm lí học của J Piaget
Trang 8J Piaget (1869 - 1980)- nhà tâm lý học kiệt xuất của thế kỷ XX, ngườiThuỵ Sĩ - đã đề cập đến lĩnh vực hoạt động vui chơi của trẻ em qua nhữngthành tựu nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của trẻ em Theo J Piaget:
Về trò chơi tượng trưng:
+ Khi kết thúc thời kỳ giác-động, vào 1,5 tuổi đến 2 tuổi, ở trẻ xuấthiện một chức năng căn bản đối với sự phát triển của những hành vi sau này,
đo là chức năng “tượng trưng” (symboles) hay chức năng kí hiệu (signes), tức
là có thể thay thế “cái được biểu đạt” (đồ vật, sự kiện, dạng thức, khái niệm )bằng “cái biểu đạt” (ngôn ngữ, hình ảnh, tinh thần, cử chỉ tượng trưng )
Trò chơi tượng trưng là một trong 5 hành vi (sự bắt chước, trò chơitượng trưng, tranh vẽ, hình ảnh tinh thần, ngôn ngữ) xuất hiện ở trẻ gần nhưđồng thời trong năm thứ hai, mang sự gợi ý biểu tượng về một đồ vật hay một
sự kiện vắng mặt Nói cách khác, trò chơi tượng trưng là một trong nhữnghình thức biểu hiện của chức năng kí hiệu, chức năng kí hiệu là cơ sở của tròchơi tượng trưng
+ Trò chơi tượng trưng đánh dấu đỉnh cao nhất của trò chơi trẻ em, phùhợp với chức năng căn bản của trò chơi trong đời sống trẻ em
Bị buộc phải không ngừng thích nghi với một thế giới xã hội của ngườilớn mà những lợi ích và qui tắc của họ là những cái bên ngoài đối với trẻ,cũng như không ngừng phải thích nghi với một thế giới vật chất mà trẻ chưabiết rõ nên trẻ không hướng tới việc thoả mãn những nhu cầu tình cảm và trítuệ của cái tôi của chúng trong những sự thích nghi ấy như người lớn Đối vớingười lớn, những sự thích nghi ấy là tương đối hoàn chỉnh, còn đối với trẻ sựthích nghi lại mang tính dang dở vì trẻ con non nớt, chưa đủ khả năng Do đó,trẻ cần phải dựa vào sự cân bằng tình cảm và trí tuệ để có được một khu vựchoạt động mà động cơ không phải là sự thích nghi với cái hiện thực, trái lại đó
là sự đồng hoá cái hiện thực với “cái tôi”, không bị gò bó và không bị phạt
Đó là trò chơi
Trò chơi biến cải hiện thực bằng việc đồng hoá một cách tương đốithuần tuý với những nhu cầu của “cái tôi”; còn sự bắt chước (khi nó là mục
Trang 9đích tự thân) là sự điều ứng tương đối thuần tuý theo những khuôn mẫu bênngoài và trí tuệ là cái cân bằng giữa sự đồng hoá và sự điều ứng.
Công cụ căn bản của sự thích nghi xã hội là ngôn ngữ, mà ngôn ngữ thìkhông phải do trẻ em nghĩ ra, ngôn ngữ được truyền thụ dưới hình thức cósẵn, bắt buộc và mang bản tính tập thể (qui ước toàn xã hội) Điều đó cũng có
ý nghĩa là nó không thích hợp với việc thể hiện những nhu cầu hay nhữngkinh nghiệm đã qua của “cái tôi” Do đó, trẻ em cần phải nắm được mộtphương tiện để thể hiện thích hợp, nghĩa là một hệ thống những “cái biểu đạt”
do chúng xây dựng nên và có thể uốn nắn theo ý muốn của chúng Đó là hệthống những tượng trưng riêng của trò chơi tượng trưng, mượn từ sự bắtchước để làm công cụ, nhưng từ một sự bắt chước không phải là mục đích tựthân mà được sử dụng như phương tiện gợi ý để phục vụ cho sự đồng hoátheo lối trò chơi: đó là trò chơi tượng trưng Trò chơi tượng trưng không phảichỉ như sự đồng hoá cái hiện thực với “cái tôi’ như trò chơi nói chung, mà là
sự đồng hoá được bảo đảm (và củng cố) bởi một ngôn ngữ tượng trưng do
“cái tôi” xây dựng nên và có thể thay đổi theo các nhu cầu
Chức năng đồng hoá với “cái tôi’ của trò chơi tượng trưng được biểuhiện dưới những hình thức hết sức khác nhau, trong phần lớn các trường hợp
là những hình thức chủ yếu có tính chất tình cảm, nhưng đôi khi cũng phục vụcho những lợi ích nhận thức Trò chơi tượng trưng còn có thể được trẻ dùng
để xoá bỏ các xung đột, cũng như để bù đắp những nhu cầu chưa được thoảmãn để đảo ngược các vai trò (tuân phục và uy quyền) để giải toả và mở rộng
độ thao tác kí hiệu hoá của tư duy Phát hiện ra tính chất tượng trưng (tínhbiểu trưng) của hành động chơi trong trò chơi tượng trưng, ông đã chỉ ra một
Trang 10trong những đặc trưng cơ bản phân biệt hành động chơi với hành động khác.
Đó là những đóng góp hết sức quan trọng của ông vào lĩnh vực nghiên cứuhoạt động vui chơi của trẻ em
Tuy nhiên, theo J.Piaget, trò chơi tượng trưng dường như xuất hiệntrong đời sống của trẻ như một tất yếu nảy sinh vào một thời kỳ nhất địnhtrong quá trình phát triển trí tuệ của trẻ Cách nhìn nhận như vậy chưa làmbộc lộ rõ bản chất xã hội của trò chơi Đây là một trong những điểm yếu củahọc thuyết J.Piaget về trò chơi trẻ em
Về sự phát triển của trò chơi:
Về sự phát triển của trò chơi trên phương diện cá thể, J.Piaget cho rằnghình thức nguyên thuỷ của trò chơi, hình thức duy nhất được biểu hiện ở thời
kỳ giác-động và được duy trì một phần sau đó là “trò chơi tập” Dạng trò chơinày không mang một tượng trưng hay một kĩ thuật trò chơi đặc thù nào, màchỉ cốt để lặp lại một cách thích thú những hoạt động đã đạt được theo một
mục đích thích nghi (thường được gọi là Hành động với đồ vật hay Trò
chơi-hành động chức năng) nhằm tái hiện lại kết quả để tự thích nghi và để tìm
hiểu Đó không phải là trò chơi đích thực nhưng hành vi này để thoả mãn
“một sự thích thú chức năng” Sau đó là trò chơi tượng trưng với những tínhchất đã nói ở trên, đạt tới đỉnh cao từ 2-3 tuổi đến 5-6 tuổi Từ trò chơi tượngtrưng mà phát triển lên thành những trò chơi xây dựng, lúc đầu vẫn còn là tròchơi tượng trưng, nhưng sau đó dần tạo ra những sự thích nghi mới haynhững giải pháp và sáng tạo trí tuệ Thứ ba là những trò chơi có qui tắc (đánh
bi, nhảy lò cò ) được truyền từ trẻ này sang trẻ khác về mặt xã hội, do đóngày càng quan trọng với sự tiến bộ của đời sống xã hội của trẻ em
Như vậy, theo J.Piaget, có 3 loại trò chơi chính lần lượt xuất hiện trongđời sống của trẻ em, đó là: Trò chơi tập (hay Trò chơi - hành động chứcnăng), Trò chơi tượng trưng (bao gồm Trò chơi mô phỏng và Trò chơi xâydựng), và sau cùng là Trò chơi có qui tắc
Sơ đồ phát triển trò chơi trẻ em trên phương diện phát triển cá thể củaJ.Piaget là đóng góp hết sức quan trọng, nó liên quan đến việc phân loại trò
Trang 11chơi của trẻ Cách phân loại trò chơi dựa trên sơ đồ phát triển trò chơi trẻ emcủa ông đã được sử dụng và tiếp tục phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu cũngnhư trong thực tiễn giáo dục trẻ nhỏ ở nhiều nước trên thế giới.
Về ý nghĩa, vai trò của trò chơi trẻ em:
J.Piaget phê phán quan điểm coi trò chơi chỉ là một sự giải lao hoặc là
sự giải phóng năng lượng Ông cho rằng, “cái nhìn thô thiển đó không giảithích được tầm quan trọng mà trẻ em đặt vào các trò chơi của chúng, nhất làcũng chẳng giải thích được các hình thức ổn định mà các trò chơi của trẻ emthường thể hiện, chẳng hạn như tính chất tượng trưng hoặc tính chất hư cấu”
J.Piaget cũng đánh giá cao vai trò của vui chơi trong sự phát triển củatrẻ: “Khi chơi, ở trẻ phát triển tri giác, trí thông minh, những khuynh hướngthử nghiệm, những bản năng xã hội Trò chơi là một đòn bẩy mạnh mẽ thúcđảy trẻ luyện tập đến mức ở bất cứ nơi nào mà người ta thành công trong việcbiến đổi sự khai tâm về học đọc, học làm tính thành trò chơi thì người ta đềuthấy trẻ em say mê với những việc làm mà bình thường đối với chúng nhưnhững công việc khổ sai”
Theo J.Piaget, “trò chơi là một sự đồng hoá thực tại vào hoạt độngriêng, cung cấp cho hoạt động thức ăn cần thiết và biến đổi thực tại tuỳ theonhững nhu cầu đa dạng của cái tôi” Theo đó, ông cho rằng, “phương phápgiáo dục trẻ em bằng hoạt động đều đòi hỏi người ta phải cung cấp cho trẻmột vật liệu thích hợp để trong khi chơi chúng đạt được việc đồng hoá nhữngtri thức thực tế, và không làm như vậy thì những tri thức thực tế này sẽ nằmngoài tầm hiểu biết của trẻ ” Một sự thích nghi trọn vẹn mà tuổi thơ phảithực hiện bao hàm một sự tổng hợp tăng dần giữa đồng hoá và điều ứng Vìthế, bản thân sự tiến triển bên trong những trò chơi của trẻ nhỏ dần dần biếnthành những cấu tạo thích hợp luôn luôn đòi hỏi việc làm thiết thực sao cho
có những chuyển tiếp tự phát giữa trò chơi và công việc
Như vậy, J.Piaget đã nhấn mạnh sự cần thiết của hoạt động thực của trẻ em
Trang 12Tóm lại, những quan điểm trên đây của J.Piaget đã có ảnh hưởng lớnđối với việc xây dựng lý luận về trò chơi cũng như đưa trò chơi vào việc giáodục trẻ em ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước Âu, Mỹ.
* Hoạt động vui chơi theo quan điểm của các nhà giáo dục khác ở phương Tây
- A.Vallon - nhà tâm lý học người Pháp đã xem trò chơi của trẻ em là
một hiện tượng xã hội Nguồn gốc trò chơi trẻ em, theo Vallon, là sự cố gắngtích cực của đứa trẻ “tác động trở lại thế giới bên ngoài để lĩnh hội cho đượcnhững khả năng có chứa ở trong thế giới đó” Trong trò chơi có sự luyện tậpnhững năng lực vận động - cảm giác, năng lực trí tuệ và những chức năng,quan hệ xã hội Trong trò chơi, đứa trẻ phản ánh những ấn tượng đã làm cho
nó xúc động
Cách xem xét trò chơi trên đây của Vallon gần giống với học thuyết vềtrò chơi của tâm lý học và giáo dục học Xô viết
- V.Vunt- nhà tâm lý học người Đức, người đã thành lập phòng thực
nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới (năm 1879) đã thấy ở trò chơi trẻ emnhững mối liên quan với lao động Ông cho rằng, “trò chơi chính là lao độngcủa trẻ nhỏ Không một trò chơi nào mà lại không có trong mình nguyên mẫucủa một trong những dạng lao động thực sự mà thực ra nó xuất hiện trước tròchơi về thời gian Trò chơi loại bỏ trong mình những mục đích hữu ích củalao động, và vì vậy, chính kết quả thú vị, khoan khoái đi kèm theo lao động làmục đích của trò chơi”
Cách nhìn nhận trò chơi của V.Vunt khác với quan điểm sinh vật hoávui chơi, ông đã xem xét trò chơi ở phương diện lịch sử - xã hội
- Jerome Bruner- nhà tâm lý học người Mỹ: Cũng như Piaget và những
nhà giáo dục tiền bối khác, Bruner cho rằng trẻ em cần được vận động tự do
và tích cực tham gia vào việc học tập Trải nghiệm bằng tay cho phép trẻ pháttriển những ý nghĩ và tư duy của chúng
Trang 13Bruner đã chỉ ra rằng trẻ em thường cần được làm nhớ lại những kinhnghiệm đã qua Điều đó có thể làm được qua tranh ảnh, sách hoặc những bảnggợi ý hấp dẫn Ông gọi đó là tư duy hình tượng (iconic thinking).
Ông cũng cho rằng người lớn đóng vai trò quan trọng- tạo sự ủng hộ đểtrẻ phát triển các khả năng và sự tự tin, người lớn có vai trò quan trọng trongviệc cung cấp đầy đủ những trải nghiệm cho trẻ và xét đoán những gì trẻ cầntiếp theo để phát triển nhận thức Sự giúp đỡ của người lớn sẽ bị giảm đi khitrẻ có được sự tự tin
- Parten- nhà tâm lý học nổi tiếng của Mỹ đã xem xét sự phát triển trò
chơi trẻ em trên bình diện quan hệ xã hội trong tác phẩm nổi tiếng “Mối quan
hệ qua lại giữa trẻ nhỏ” (1932) Theo bà, trò chơi của trẻ trải qua 6 giai đoạntương ứng với 6 kiểu quan hệ xã hội, đó là:
+ Không chơi: Trẻ có những hành động thiếu kiềm chế, luôn thay đổi
từ hành động này đến hành động khác mà không có mục đích rõ ràng (đi đứngloanh quanh, mó máy nghịch thứ gì đó, ngó nghiêng nhìn những người khác )
+ Xem người khác chơi: Trẻ chăm chú quan sát những bạn khác chơi
và có thể nói chuyện với bạn nhưng không có ý tham dự vào việc chơi
+ Chơi một mình: Trẻ chơi một mình với đồ chơi và không để tâm tớicác hoạt động của những trẻ khác chơi gần đó với những đồ chơi khác
+ Chơi cạnh nhau: Trẻ chơi một mình bên cạnh những trẻ khác đang sửdụng cùng một thứ để chơi như nó và đang chơi với một cung cách như nó
+ Chơi thành nhóm: Trẻ cùng chơi với những trẻ khác trong nhóm và bịcuốn hút vào những hành động tương tự nhau Trẻ có thể cho bạn mượn hoặclấy đồ chơi của bạn, nhưng giữa trẻ không có sự thoả thuận chơi gì và chơinhư thế nào- không có sự phối hợp với nhau trong khi chơi
+ Cùng chơi với nhau trong một trò chơi (chơi hợp tác): Trong nhómchơi có sự thoả thuận chơi gì và phân công nhiệm vụ cho các thành viên- có
sự phối hợp với nhau trong trò chơi
Theo Parten, các giai đoạn phát triển trên đây mang tính kế tiếp, nhưngnhững mức độ phát triển sau không loại trừ hình thức biểu hiện của mức độ
Trang 14phát triển trước đó Mốc thời gian xuất hiện của các mức độ phát triển chỉ làtương đối.
Như vậy, chỉ ra hướng phát triển của trò chơi trẻ em theo phương diệnquan hệ xã hội, Parten không chỉ làm nổi bật mặt quan hệ xã hội của trẻ trongkhi chơi mà còn đưa ra một cách thức phân loại trò chơi trẻ em theo mức độmối quan hệ xã hội của trẻ trong khi chơi, đó là:
+ Chơi một mình (trẻ dưới 2 tuổi);
+ Chơi cạnh bạn (trẻ 2-3 tuổi);
+ Chơi theo nhóm (trẻ 2,5-6 tuổi);
+ Chơi cùng nhau (trẻ 6-8 tuổi)
Kết quả nghiên cứu trên đây của Parten đến nay vẫn có ý nghĩa quantrọng và được vận dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu các đặc điểm cá nhâncủa trẻ cũng như trong thực tiễn giáo dục ở nhiều nước khác nhau trên thế giới
* Hoạt động vui chơi trong tâm lý học mác xít
- Lý thuyết về hoạt động vui chơi của các nhà tâm lý học Xô viết
(L.X.Vưgôtxki, A.N.Lêônchep, Đ.B.Encônin ):
Từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, các nhà tâm lý học Xô viếtnhư A.N.Lêônchep, Đ.B.Encônin, A.V.Daparôgiet đã kiên trì lấy phạm trùhoạt động của triết học Mác xít làm phạm trù nòng cốt của toàn bộ hệ thốngkhái niệm của nền tâm lý học kiểu mới- nền tâm lí học Mác xít đượcL.X.Vưgôtxki (1896-1934) đặt nền móng và đã đưa ra một cách nhìn mới vềbản chất hiện tượng tâm lí người nói chung và trò chơi trẻ em nói riêng
Kế thừa tất cả những quan điểm tiến bộ, đúng đắn của tâm lí học vàgiáo dục học cổ điển, trên cơ sở kết quả của những nghiên cứu về vấn đề tròchơi trẻ em ở những khía cạnh khác nhau trên quan điểm duy vật biện chứng,các nhà tâm lý học Xô viết đã xây dựng lí thuyết về hoạt động vui chơi của trẻ
em xoay quanh những vấn đề chính sau đây:
+ Bản chất, nguồn gốc của hoạt động vui chơi của trẻ em
+ Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ và vị trícủa nó trong quá trình sư phạm
Trang 15Những nội dung chủ yếu của lý thuyết này là:
1- Hoạt động vui chơi của trẻ em như là một loại hoạt động mang tính
xã hội và mang tính lịch sử.
Quan điểm duy vật đầu tiên về nguồn gốc và bản chất của trò chơi đượcG.V Pleekhanôp đề cập đến trong tác phẩm “Những bức thư không địa chỉ”(Tập 14, Nxb Matxcơva 1925) và được các nhà tâm lý học, giáo dục học Xôviết tiếp tục phát triển Cụ thể là:
+ Trò chơi trẻ em có một lịch sử lâu đời, xuất hiện ở giai đoạn pháttriển nhất định của xã hội loài người Trò chơi xuất hiện sau lao động và trên
cơ sở lao động Trong trò chơi phản ánh hoạt động lao động của con người
+ Trò chơi trẻ em được tích luỹ và truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác Là một hoạt động xã hội, trò chơi giữ vai trò truyền đạt những kinhnghiệm xã hội của thế hệ này cho thế hệ khác
+ Trò chơi chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện xã hội nhất định(người lớn cung cấp cho trẻ những điều kiện vật chất cần thiết để trẻ chơi vàtạo ra những khả năng khách quan để thực hiện trò chơi)
+ Sự phụ thuộc của trò chơi trẻ em vào môi trường xã hội xung quanh:Trong trò chơi trẻ thể hiện những dấu hiệu cụ thể của thời gian, của thời đại-phản ánh trình độ văn hoá và kinh tế của xã hội
+ Các trò chơi trẻ em rất phong phú về nội dung, hình thức và nguồngốc của nó cũng như về sự tác động của nó đối với trẻ
+ Nội dung chính của các trò chơi đóng vai theo chủ đề là sự diễn tảcác mối quan hệ xã hội của người lớn và mang tính lịch sử cụ thể(Đ.B.Encônin, Đ.V.Menddgierrinxkaia, R.M.Rimburg, R.I.Giucôpxkaia )
+ Hoạt động vui chơi của trẻ em có liên quan chặt chẽ với sự phát triểncủa xã hội loài người và với sự thay đổi vị trí của chính đứa trẻ trong hệ thốngcác mối quan hệ xã hội
2- Không phủ nhận yếu tố sinh vật trong bản chất hoạt động vui chơi.
Khẳng định và nhấn mạnh bản chất xã hội của hoạt động vui chơi, ýnghĩa chủ đạo và quyết định của bản chất đó, đồng thời tâm lý học Xô viết
Trang 16không phủ nhận sự có mặt của yếu tố sinh vật: Trò chơi trước hết là hoạt độngcủa cơ thể trẻ đang phát triển Trẻ em luôn khao khát vui chơi và nhu cầu đócần phải được đáp ứng Nhưng điều này không có nghĩa là tâm lý học Xô viếtđồng ý với quan điểm sinh vật hoá hoạt động vui chơi.
Tâm lý học Xô viết khẳng định: đối với trẻ, nhu cầu điển hình là nhucầu được giao tiếp với mọi người và khuynh hướng bắt chước Những đặctính bẩm sinh đó có quan hệ trực tiếp với trò chơi, chúng kích thích trẻ vuichơi Nhưng trò chơi chỉ xuất hiện và phát triển trong những điều kiện xã hộinhất định
Sự kết hợp những đặc tính xã hội và sinh lý của trò chơi là quan điểm
cơ bản quan trọng trong lí thuyết của tâm lý học Xô viết về hoạt động vuichơi của trẻ em
3- Thừa nhận vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi, mà trung tâm là
tò chơi đóng vai theo chủ đề trong sự phát triển tâm lý và hình thành nhâncách của trẻ mẫu giáo
4- Xác định sự khác biệt giữa trò chơi của trẻ nhỏ và trò chơi của động vật: Trò chơi của động vật là hoạt động bẩm sinh, còn trò chơi của trẻ là hoạt
động bắt chước người lớn, hướng tới việc khám phá thế giới đồ vật của loàingười Hoạt động này là cơ sở để trẻ nhận thức thế giới xung quanh, nó quiđịnh nội dung chơi của trẻ Đó là điều khác biệt đầu tiên giữa trò chơi của trẻ
và trò chơi của động vật
5- Xác định đặc điểm cơ bản để phân biệt hoạt động chơi với các hoạt động khác, đó là:
+ Hoạt động chơi không phải là hoạt động tạo ra sản phẩm
+ Động cơ của hoạt động chơi không nằm trong kết quả của hoạt độngnhư các hoạt động khác mà lại nằm trong nội dung của bản thân hành động
+ Hành động trong trò chơi không bị ràng buộc bởi mặt bắt buộc của
nó, tức là không bị bắt buộc phải làm theo những phương thức bắt buộc củahành động, của động tác trong thực tế - hành động chơi mang tính chất tượng trưng
Trang 176- Vạch ra qui luật chung của sự phát triển các hình thức chơi của trẻ mẫu giáo là: từ trò chơi có vai công khai, hoàn cảnh tưởng tượng công khai
và luật lệ chơi không công bố (luật lệ chơi ẩn bên trong) chuyển sang trò chơi
có luật lệ chơi được công bố (luật lệ chơi rõ ràng ở bên ngoài nhưng hoàncảnh tưởng tượng và vai chơi tồn tại dưới hình thức ẩn kín)
7- Xác định khả năng tác động tích cực của người lớn lên trò chơi của trẻ- khả năng chỉ đạo, hướng dẫn các trò chơi của trẻ một cách có mục đích,
có phương hướng và có kế hoạch
* Một số nghiên cứu về hoạt động vui chơi trong tâm lý học và giáo dục học trẻ em ở VIệt Nam
Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu về hoạt độngvui chơi của trẻ em đã được các nhà tâm lí học và giáo dục học Việt Nam tiếnhành trên quan điểm của tâm lý học Mác xít Trong số đó có thể kể đến một
số công trình và tác giả như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê XuânHồng, Lê Minh Thuận, Đinh Thị Kim Thoa…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên hướng tới việc nghiêncứu đặc điểm trò chơi của trẻ em nói chung, đặc điểm một số loại trò chơi vàvai trò giáo dục của nó, đặc điểm của trẻ trong khi chơi, phương pháp tổ chứchướng dẫn trẻ chơi
3. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ em
3.1 Động cơ của họat động chơi
Động cơ của hoạt động chơi không nằm ở kết quả của hoạt động mà lạinằm trong bản thân của quá trình chơi – kích thích hoạt động chơi nằm ngaytrong quá trình hoạt động Trẻ tham gia vào trò chơi nào đó là do sự lôi cuốn,hấp dẫn của bản thân quá trình chơi chứ không phải nhằm vào kết quả đạtđược của hoạt động đó
3.2 Tính chất kí hiệu – tượng trưng trong trò chơi
Chức năng kí hiệu của ý thức trẻ em đang được hình thành ở lứa tuổimẫu giáo và được thể hiện rõ rệt nhất trong chính trò chơi Trong trò chơi, trẻhành động với vật thay thế mang tính chất tượng trưng cho đối tượng thực:
Trang 18đặt tên mới cho vật thay thế, hành động với nó phù hợp với tên gọi mới này.Đối tượng thay thế trở thành chỗ dựa đối với tư duy và hành động chơi đuợcrút gọn, mang tính chất khái quát so với hành động thực tế Hành động trongtrò chơi không bị ràng buộc bởi những phương thức bắt buộc của hành độngtrong thực tế - mang tính chất tượng trưng Như vậy, trên cơ sở hành động vớiđối tượng thay thế, trẻ suy nghĩ về đối tượng thực Điều đó nói lên trẻ đã biếtdùng những kí hiệu tượng trưng để nhận thức thế giới – trò chơi mang tínhchất kí hiệu – tượng trưng Đặc điểm này đóng vai trò hết sức quan trọngtrong sự phát triển trí tuệ của trẻ.
3.3 Tính tự do, tự nguyện và tính độc lập
Một trong những nét đặc thù của trò chơi là tính tự do, tự nguyện vàtính độc lập của trẻ được thể hiện rất cao Trong khi chơi, trẻ không bị phụthuộc vào nhu cầu thực tiễn, chúng chơi xuất phát từ những nhu cầu và hứngthú trực tiếp của bản thân X.L.Rubinstêin cho rằng, động cơ chơi chủ yếu làphục vụ cho việc bắt chước một mặt nào đó của cuộc sống thực có ý nghĩa đốivới trẻ Tính tự do, tự nguyện và tính độc lập của trẻ được biểu hiện ở việc lựachọn trò chơi hoặc nội dung chơi, tự lựa chọn bạn chơi, tự do tham gia và tự
do rút lui khỏi trò chơi Khi bàn về tính độc lập của trẻ trong trò chơi,K.Đ.Usinxki cho rằng, trò chơi của trẻ mang tính độc lập cao bởi lẽ trẻ cóhứng thú đặc biệt với hoạt động chơi, trẻ chơi vì trẻ thích chơi, vì chơi là mộtdạng hoạt động độc lập của chúng Mặt khác, trò chơi có tác động đến trẻ rấtlớn, thậm chí hơn cả ảnh hưởng của môi trường sống và học tập Chính điềunày có liên quan đến tính độc lập của trẻ trong khi chơi
Trò chơi hấp dẫn đối với trẻ, bởi vì trẻ hiểu nó, trẻ tự tạo ra nó Trongcuộc sống thực, trẻ hoàn toàn là trẻ con nhưng ở trong trò chơi chúng lànhững con người trưởng thành đang thử sức và tự tổ chức sự sáng tạo củamình Nếu chơi mà bị ép buộc thì lúc ấy không còn là trò chơi nữa
3.4 Tính tự điều khiển
Chơi là một hoạt động mang tính tự điều khiển cao Trong trò chơichứa đựng các qui tắc chơi Chính những qui tắc này yêu cầu trẻ phải cấp
Trang 19hành, còn nếu phá vỡ chúng thì trò chơi cũng bị phá vỡ theo, cho nên ngườichơi đều chấp nhận và tự nguyện thực hiện chúng Trẻ tỏ ra rất kiên trì và tậptrung chú ý khi thực hiện các qui tắc chơi ấy hơn cả khi thực hiện những yêucầu của cuộc sống thực Có thể nói, các qui tắc chơi đã tạo nên cơ chế tự điềukhiển hành vi.
3.5 Tính sáng tạo
Nét đặc trưng quan trọng của hoạt động vui chơi là trong quá trình chơi
có mầm mống của sự sáng tạo Một số nhà tâm lí học cho rằng, không nên coitrò chơi của trẻ em là một hoạt động sáng tạo, bởi lẽ trong khi chơi trẻ khôngtạo ra cái gì mới cả Thực sự đúng như vậy, nếu coi trò chơi của trẻ em giốngnhư hoạt động của người lớn thì sử dụng thuật ngữ “sáng tạo” ở đây là khôngthích hợp, song nếu xem xét dưới góc độ phát triển của trẻ em thì thuật ngữ
đó có thể chấp nhận được L.X.Vưgôtxki đã chỉ ra rằng, khi trong đầu đứa trẻxuất hiện một dự định hay một kế hoạch nào đó và có ý muốn thực hiện nó thì
có nghĩa là trẻ đã chuyển sang hoạt động sáng tạo Ngay từ lứa tuổi mẫu giáotrẻ đã có khả năng đi từ suy nghĩ tới hành động, biến những suy nghĩ củamình thành hành động thực tiễn và thực hiện những dự định đó Năng lực nàycủa trẻ được biểu hiện trong các hình thức hoạt động, trước hết là trong trò chơi
Sự xuất hiện dự định gắn liền với sự phát triển của óc tưởng tượng sángtạo Một trò chơi thực sự bao giờ cũng liên quan tới những sáng kiến, sángchế, phát minh Khi chơi, tư duy và óc tưởng tượng của trẻ làm việc rất tíchcực Tính sáng tạo được khẳng định bằng việc trong trò chơi trẻ không táihiện y nguyên cuộc sống thực mà chỉ bắt chước những gì chúng nhìn thấy,tổng hợp lại những biểu tượng của mình và bộc lộ thái độ, suy nghĩ cũng nhưtình cảm của mình đối với những gì chúng thể hiện trong trò chơi Chính điềunày làm cho trò chơi gần gũi với nghệ thuật, nhưng trẻ không phải là nghệ sĩ.Trẻ chơi là để cho mình chứ không phải chơi cho khán giả xem, chúng khônghọc trước vai chơi của mình mà chỉ sáng tạo nó trong quá trình chơi
Có rất nhiều nhà nghệ thuật đã bàn đến tính sáng tạo của trẻ trong tròchơi K.L.Xtanhixlapxki đã khuyên các nghệ sĩ nên học cách chơi của trẻ em,
Trang 20học cách phân biệt “niềm tin và sự thật” Còn nhà đạo diễn phim nổi tiếngG.L.Rôsanh đã viết: “Tất cả các loại trò chơi trẻ em đều là thế giới huyền ảo.Nhưng trong thế giới huyền ảo ấy đứa trẻ không bao giờ đánh mất “cái tôi”thực của mình Trẻ giống như một người nghệ sĩ Như vậy, trò chơi của trẻ
em có thể gọi là trò chơi nghệ thuật, còn sự huyền ảo của trò chơi trẻ em cóthể gọi là sự huyền ảo của nghệ thuật”
Kâyra lại khẳng định rằng, trí tưởng tượng của trẻ em giàu có hơn,mạnh mẽ hơn trí tưởng tượng của người lớn Ông đã đối lập trí tưởng tượngvới sự bắt chước Theo quan điểm của ông, các loại trò chơi của trẻ em dựatrên “sự tưởng tượng thuần tuý”, chúng hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống thực
Những nghiên cứu của các nhà tâm lí học và giáo dục học Xô viết đãkhẳng định rằng, trong trò chơi sự bắt chước gắn liền với trí tưởng tượng sángtạo của trẻ Nhưng óc sáng tạo không ngẫu nhiên xuất hiện mà phải được giáodục, nó được phát triển là nhờ kết quả của sự tác động liên tục, có hệ thốngcủa các nhà giáo dục Óc sáng tạo, sáng kiến trong các trò chơi thuộc nhiềuthể loại khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau: Loại trò chơi này có liênquan với cấu trúc cốt truyện, với việc lựa chọn nội dung, lựa chọn các vai, với
sự sáng kiến khi xây dựng hoàn cảnh chơi (trò chơi đóng vai) Ở các thể loạitrò chơi khác, tính sáng tạo biểu hiện trong việc lựa chọn các phương thứchành động (trong các tình huống chơi trò chơi đánh cờ, đôminô, trò chơi xếphình, xếp tranh ) Loại thứ ba thể hiện trong việc vận dụng một cách thôngminh những hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của mình để phán đoán trước tìnhhuống có thể xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình Như vậy, mầmmống sáng tạo của trẻ mẫu giáo được hình thành ngay trong trò chơi
3.6 Hoạt động vui chơi mang lại những xúc cảm chân thực, mạnh
mẽ, đa dạng
Một nét đặc thù dễ nhận thấy của trò chơi là nó chứa đựng những xúccảm, tình cảm lành mạnh của người chơi Nhiều nhà nghiên cứu về trò chơicủa trẻ mẫu giáo đã ghi nhận sức mạnh và tính chân thật của các cảm xúcđược thể hiện trong trò chơi Những xúc cảm đó rất phong phú và đa dạng
Trang 21Niềm vui trong trò chơi là niềm vui của sự chiến thắng, niềm vui sáng tạo.Trong khi chơi, không những trẻ chỉ thể nghiệm những cảm xúc tích cực màcòn bị dằn vặt, đau buồn về sự thất bại, không thoả mãn với kết quả chơi,buồn giận các bạn chơi Nhưng dù có những cảm xúc tiêu cực ấy thì trò chơivẫn mang đến cho trẻ niềm vui sướng, sự thoả mãn vì đã được chơi hết mìnhtrong thế giới kỳ diệu của chúng Trò chơi mà không có niềm vui thì khôngcòn là trò chơi nữa.
Tóm lại, hoạt động vui chơi là hoạt động mang tính tự do, tự lực, tự tổ
chức, sáng tạo, độc đáo, hiện thực tác động qua lại giữa trẻ với môi trườngxung quanh nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ.Trong hoạt động vui chơi, trẻ là một chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo Nhờ
đó, nhân cách trẻ được hình thành và phát triển trong đó có sự phát triển trítuệ Dựa vào những đặc điểm đặc thù của hoạt động chơi của trẻ, người lớn cóthể tác động tích cực lên trò chơi của trẻ một cách có mục đích và có kế hoạchsao cho phù hợp với từng thời kì phát triển của trẻ
4 Vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo
a Chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Hoạt động vui chơi, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề,chính là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo bởi nó tạo ra những biến đổi vềchất, tạo ra những nét tâm lí mới có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành,phát triển tâm lí nhân cách trẻ, đồng thời chơi là tiền đề cho hoạt động học tập
ở lứa tuổi tiểu học
Trò chơi luôn giữ một vị trí đặc biệt, nó chiếm ưu thế so với các hìnhthức hoạt động khác Vào lúc 3 tuổi, trẻ bắt đầu có ý thức về “cái tôi” củamình, biết phân biệt mình với người khác, điều này giúp trẻ có thể đóng vaingười khác và hành động tương ứng với vai mình đảm nhận Hơn nữa, từ 3tuổi trở đi trẻ biết hành động thành thạo với đồ vật, đồ chơi và tính tự lập củatrẻ cao hơn trước, nhu cầu giao tiếp với bạn bè ngày càng tăng, ngôn ngữ củatrẻ phát triển mạnh mẽ, óc tưởng tượng sáng tạo và tư duy cũng có những
Trang 22bước nhảy vọt về chất so với trẻ dưới 3 tuổi Tất cả những điều kiện trên làmcho trẻ mẫu giáo muốn được hành động như người lớn, muốn hoà nhập vàocác mối quan hệ đa dạng, phức tạp của họ Song trên thực tế trẻ còn non nớt,chưa đủ sức thực hiện nhu cầu này Để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên làước muốn làm người lớn và khả năng thực tế của trẻ còn hạn chế, trẻ đã giả
vờ tái tạo lại những hành động cũng như quan hệ và thái độ giữa người lớnvới nhau Và cứ như thế, hoạt động chơi, mà trung tâm là trò chơi đóng vaitheo chủ đề xuất hiện ở lứa tuổi mẫu giáo Thông qua chơi, trẻ học được cáchgiao tiếp, ứng xử giữa mọi người trong lao động và sinh hoạt hàng ngày, họccách thiết lập mối quan hệ giữa bạn bè và mọi người xung quanh Trong khichơi, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ biết hợp tác cùng nhau, tính tự lập đượcnâng cao, và đặc biệt động cơ “thứ bậc” được hình thành Trẻ học cách nhậnxét, đánh giá lẫn nhau và biết tự nhận xét, đánh giá về mình
Theo A.Vallon, vui chơi có một ý nghĩa rất lớn với trẻ em Chơi giốngnhư niềm vui sướng hay là sự hứng thú Trong khi chơi, các quá trình tâm lícũng như một số phẩm chất tâm lí của trẻ ngày càng được phát triển
b Chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo
Vui chơi là phương tiện giáo dục trẻ bởi vì nội dung chơi mang ý nghĩagiáo dục mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tâm tư tình cảm vàhành vi đạo đức của trẻ Các nhà giáo dục mầm non khi bàn về ý nghĩa, vaitrò của hoạt động vui chơi đều cho rằng, chơi là phương tiện giáo dục hiệuquả đối với trẻ mẫu giáo
Nhà giáo dục Tiệp Khắc nổi tiếng Cômenxki đã xem chơi như một hoạtđộng hết sức cần thiết của trẻ, là phương tiện giáo dục và phát triển ngôn ngữ,
mở rộng biểu tượng về thế giới xung quanh cho trẻ, là con đường giúp trẻxích lại gần nhau, tạo ra niềm vui chung cùng bè bạn
Nhà giáo dục Ba Lan Bêdêđốp cho rằng, chơi là phương tiện dạy họchiệu quả cho trẻ mẫu giáo, nếu trong “giờ học” giáo viên sử dụng các phươngpháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành giờ học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp