1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sơ thảo Tính danh học Việt Nam

147 1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sơ Thảo Tính Danh Học Việt Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Việt Nam
Chuyên ngành Danh Xưng Học
Thể loại Sơ Thảo
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một là tìm hiểu ý nghĩa và nguyên tắc đặt các loại tên như đế hiệu, niên hiệu, tôn hiệu, thụy hiệu, tên tự, bút hiệu, thương hiệu, nghệ danh tên họ, tên đệm, tên chính, tên húy v.v…Hai l

Trang 1

SƠ THẢO TÍNH DANH HỌC VIỆT NAM

Tại Hoa Kỳ, tính danh học được giảng dậy tại phân khoa nhân chủng học, địa danh học được giảng dậy tại phân khoa địa lý học Danh học nói chung được dậy tại phân khoa ngôn ngữ học Cũng tại Hoa Kỳ, tính danh học được dậy cho các học sinh trung học trong môn khoa học xã hội[3] Đại học Leipzig ở Đức cấp bằng Cao Học cho ngành danh xưng học và nội dung giảng khóa gồm 4 lãnh vực chính: (a) lý thuyết danh xưng học, (b) danh xưng học áp dụng, (c) sự phát triển ngành danh xưng học, (d) xã hội danh xưng học Tại đại học Louvain ở Bỉ, môn danh học cũng được giảng dậy và tại đây có trụ sở của Ủy Ban Quốc Tế Về Khoa Danh Xưng Học (International Committee of Onomastic Science) Tại Đài Loan, danh xưng học được nghiên cứu trong hai phân khoa xã hội học và luật học của Viện Ðại Học Quốc Gia Đài Loan

Về các tài liệu tính danh học, Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới có những tác phẩm nói về tên họ Ðời Tấn (265-420), Giang Vi viết Trần Lưu Phong Tục Truyện Ðời Đường (618-907), tác giả Lâm Bảo viết Nguyên

Hà Tính Toản, ghi lại nguồn gốc các tên họ trong triều đại này Đến đời Tống (960-1279), Trương Định viết Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo Hiện nay, Trung Quốc là một trong những nước có thư mục phong phú nhất về tính danh học Tác giả Sheau Yueh J Chao, trong tác phẩm In Search of Your Asian Roots, đã liệt kê thư mục với 210 tác phẩm nói về tên họ tại Trung Quốc Có những tác phẩm rất chuyên biệt như hai ông Trần Minh Nguyên và Vương Tống Hổ viết Trung Quốc Tính Thị Đại Toàn, xuất bản tại Bắc Kinh năm

1987, liệt kê và trình bày nguồn gốc 5600 tên họ của Trung Quốc Tác giả Trần Nãi Hất viết sách nói về bút hiệu, biệt hiệu của các học giả, chính trị gia Trung Quốc

Tại Âu Châu, các sách về môn tính danh học được xuất bản khá sớm Tác phẩm đầu tiên về vấn đề này là The Calendar of Scripture của William Patton, xuất bản năm 1575 Công trình này là tổng hợp hai tác phẩm Bible, tức Kinh Thánh, của Hồng Y Francisco Ximenez de Cisneros, xuất bản năm 1514, và Dictionarium Theologicum, tức từ điển thần học của John Arquerius, xuất bản năm 1567 Nội dung tác phẩm Calendar of Scripture nói về ý nghĩa các tên trong Kinh Thánh của Kitô Giáo

Tác phẩm quan trọng nhất đề cập đến tên riêng, tên họ của người Anh có tựa đề rất dài: “Remaines of a Greater Worke Concerning Britaine, The Inhabitants thereof, Their Languages, Names, Surnames, Empreses, Wise Speeches, Poesies, and Epitaphes” của William Camden, xuất bản năm 1605 Ngày nay, các học giả gọivắn tắt tác phẩm này là Remaines Từ thế kỷ 17, các tác phẩm về tính danh học được xuất bản ở nhiều nơi, nhưng các tác phẩm có giá trị đều xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Ngày nay, nhiều quốc gia có những tác phẩm danh xưng học

Tại Âu Châu, nhiều nước có các tổ chức chuyên nghiên cứu danh xưng học Tại Hoa Kỳ, tổ chức American Name Society xuất bản tập san Names từ năm 1951 đến nay và đã thiết lập mạng lưới điện toán để phổ biến những tin tức, tài liệu danh xưng học trên toàn thế giới Nhà tính danh học thế giá nhất Hoa Kỳ là cố Giáo sư Elsdon C Smith Thư viện của ông có hơn 1200 quyển sách về danh xưng học và quan trọn nhất, ông đã viết tác phẩm Personal Names – A Bibliography trong đó liệt kê 3415 tài liệu về tính danh học được xuất bản ở Hoa Kỳ và Anh Quốc

Tại Việt Nam, tài liệu về tính danh học nằm rải rác trong các bộ cổ sử như Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Quốc Triều Hình Luật, Khâm Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ, Ðại Nam Thực Lục v.v…Tài liệu đầu tiên có tính cách chuyên biệt về tính danh học là bài: Chiếc Gạch Nối Giữa Họ Và Tên Người của Tảo Trang, đăng trong báo Thanh Nghị số 19, phát hành ngày 16 tháng Tám năm 1942 Nội dung bài này chú ý tới khía cạnh văn phạm hơn là tính danh học Đến năm 1949, học giả Nguyễn Bạt Tụy khai phá môn học này trong bài viết: Tên NgườiViệt Nam được công bố trong tập san của hội Khuyến Học Nam Việt Nội dung bài này đề cập một cách tổng

Trang 2

quát đến các vấn đề tên họ, tên đệm (tác giả gọi là chữ lót), tên chính (tác giả gọi là tên đẻ) Năm 1961, tác giả Trịnh Huy Tiến viết bài: Các Loại Nhân Danh Việt Nam được công bố trong 2 số báo 61 và 62 của tờ Văn Hóa Nguyệt San Năm 1966, ông Tạ Quang Phát của Viện Khảo Cổ Sàigòn viết bài: Quốc Húy Triều Nguyễn được đăng trong Khảo Cổ Tập San số 6 Năm 1973, Vũ Bằng viết Tìm Hiểu Tên, Bút Hiệu Của Văn Nghệ Sĩ Tiền Chiến, Hiện Ðại Năm 1975, tại Sàigòn Nhật Thịnh và Nguyễn Thị Khuê Giung cho in ronéo tập Sơ Thảo

Tự Ðiển Biệt Hiệu Việt Nam Cũng trong năm này, Nguyễn Kim Thản viết Vài Nét Về Tên Người Việt được đăng trong tập san Dân Tộc Học, số 4, 1975 Năm 1976, trong tập san Dân Tộc Học số 3, Trần Ngọc Thêm đăng bài Về Lịch Sử Hiện Tại Và Tương Lai Của Tên Riêng Trong Người Việt Nam Năm 1988, trong tập sáchTiếng Việt Và Các Ngôn Ngữ Ðông Nam Á, ông Phạm Tất Thắng viết bài Vài Nhận Xét Về Yếu Tố Ðệm TrongTên Gọi Người Việt Năm 1992, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội in tác phẩm Họ Và Tên Người Việt Nam của Tiến sĩ Lê Trung Hoa Năm 1996, Giáo sư Hà Mai Phương và Bảng Phong viết bài Tên, Họ Người Việt Nam được in trong phụ lục Di Cảo 7 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy Năm 1998, cơ sở MêKông Tỵ Nạn xuất bản dicảo 7 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy với tựa đề: Tên Người Việt Nam Năm 2000, trong bản tin Hiệp Thông,

số 9, xuất bản tại Việt Nam, linh mục Nguyễn Ngọc Sơn viết bài: Vấn Ðề Cách Viết Tên Riêng Tiếng Nước Ngoài Trong Sách Báo Công Giáo Tại hải ngoại, tập san Thế Kỷ 21 đăng ba bài Số 111, tháng 7 năm 1998 đăng bài: Những Cuộc Đổi Họ Lớn Trong Lịch Sử của Trần Gia Phụng Số 122, tháng 6 năm 1999 đăng bài: Người Việt Tên Mỹ-Vấn Đề Cần Suy Nghĩ của ông Nguyễn Đức Mai Đến số 148, phát hành tháng Tám năm

2001, Giáo sư Vũ Hiệp viết bài: Tìm Hiểu Nguồn Gốc và Sự Phát Triển Của Một Số Dòng Họ Tiêu Biểu Của Người Việt Nam Năm 2002, Trung tâm văn hóa Nguyễn Trường Tộ tại Pháp cho in hai bài thuyết trình Bài thứ nhất của tác giả Nguyễn Ðăng Trúc có tựa đề Xưng Hô Trong Gia Ðình Việt Nam Bài thứ hai của tác giả Hoàng Ðức Phương có tựa đề Cách Xưng Hô Trong Xã Hội Việt Cả hai bài được in chung trong tác phẩm Tình Yêu, Gia Ðình và Hội Nhập Ngoài các tài liệu quan trọng trên đây, tạp chí Phổ Thông xuất bản tại Sàigòntrước năm 1975 có in nhiều bài nói về tên người Việt Nam

Về Pháp ngữ, năm 1932, Giáo sư Pierre Gourou viết bài Les Noms De Famille Ou Họ Chez Les Annamites DuDelta Tonkinois đăng trong tập san Bulletin de L’École Francaise D’Extrême Orient Tome XXXII, xuất bản tại

Hà Nội Năm 1938, học giả Nguyễn Văn Tố viết bài: La Pratique Du Changement De Nom Chez Les

Annamites đăng trong tập san B.I.I.E.H

Về Anh ngữ, năm 1960, Giáo sư Nguyễn Đình Hòa viết bài Vietnamese Names and Titles đăng trong Asian Culture, Vol II, số 2 Tài liệu này, năm 1990, hội sinh viên Việt Nam tại đại học San Jose City College cho in lại trong A Selection of Readings on Socio-Cultural Values and Problems of The Vietnamese in The United Sates Năm 1961, cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, gọi tắt là C.I.A viết tài liệu Vietnamese Personal Names, dài 36 trang, hiện đang lưu trữ tại thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ tại Washington Năm 1973, Giáo sư Nguyễn Khắc Kham viết bài Vietnamese Names And Their Peculiarities, đăng trong tập san Area and Culture Studies, số 23 của trường đại học Tokyo, Nhật Bản

Tiếp nối những công trình chuyên biệt trên, chúng tôi góp phần vào việc tìm hiểu danh xưng học Việt Nam qua tác phẩm: Sơ Thảo Tính Danh Học Việt Nam Tác phẩm này có ba mục đích Một là tìm hiểu ý nghĩa và nguyên tắc đặt các loại tên như đế hiệu, niên hiệu, tôn hiệu, thụy hiệu, tên tự, bút hiệu, thương hiệu, nghệ danh tên họ, tên đệm, tên chính, tên húy v.v…Hai là tìm hiểu tiến trình hình thành và phạm vi áp dụng của cácloại tên nói trên Ba là tìm hiểu sự dị biệt và tương đồng giữa hai hệ thống tên, hệ thống đông phương mà tiêubiểu là Việt Nam và hệ thống tây phương, tiêu biểu là các nước Tây Âu và Hoa Kỳ

Khi so sánh hai hệ thống đó, chủ đích là cung cấp dữ kiện để độc giả có dịp so sánh và thấy được nét thâm trầm của hệ thống tên người Việt Nam và Trung Quốc Ngoài ra, khi trình bày hệ thống tên người tây phương,chúng tôi cũng muốn giúp đồng bào Việt Nam ở hải ngoại biết được hệ thống tên của người trong quốc gia mình đang cư ngụ Mục đích đề ra như vậy nên nội dung sách gồm 6 chương:

- Chương 1: Danh xưng đặc biệt của người Việt Nam

Trang 3

Nội dung chương 1 có hai phần Phần đầu nói về các danh xưng đặc biệt của vua chúa Phần hai nói về các tên đặc biệt của thường dân Việt Nam Nội dung các chương 2, 3, 4, 6 đều có ba phần, phần một nói về Việt Nam Phần hai nói về tây phương Phần ba so sánh tên người Việt Nam và tây phương để tìm ra nét tương đồng và dị biệt Nội dung chương 5 gồm 2 phần Phần một nói về phép húy tại Trung Quốc, phần hai nói về phép húy tại Việt Nam Sở dĩ phải nói về phép húy tại Trung Quốc vì phép húy của Việt Nam bắt nguồn từ phép húy của Trung Quốc.

Tính danh học Việt Nam là vấn đề rộng lớn, giống như ca dao tục ngữ, cần có sự đóng góp của nhiều người, nhiều địa phương, nhiều chủng tộc khác nhau Do vậy, những gì được công bố hôm nay xin được coi là những nét sơ phác về tính danh học của khối người kinh Gọi là sơ phác vì còn nhiều vấn đề chúng ta chưa biết tường tận Ví dụ: chúng ta chưa biết lịch sử, ý nghĩa của hàng mấy trăm tên họ Việt Nam, chúng ta cũng

có rất ít tài liệu về tính danh học của hơn 50 sắc dân thiểu số khác Do vậy, chúng tôi không dám vội vã đưa

ra một kết luận cho môn tính danh học Việt Nam vì sợ nhận định còn phiến diện Xin để công việc này cho cácnhà nghiên cứu mai sau, một khi có đầy đủ tài liệu

Chúng tôi ước mong có nhiều người chú ý đến lãnh vực này vì một khi vấn đề được nghiên cứu đầy đủ, môn tính danh học Việt Nam sẽ dọi thêm ánh sáng vào nhiều vấn đề văn hóa Việt Nam như tín ngưỡng dân gian, triết lý dân tộc, tâm lý xã hội Sở dĩ tính danh học có thể làm được việc trên vì tên người Việt Nam được quan niệm là một báu vật linh thiêng, được dân gian gói ghém vào đó những gì gọi là tinh túy của tư tưởng dân tộc

Chúng tôi lấy làm tiếc vì phương tiện eo hẹp, không được đọc hết những tài liệu tính danh học nằm rải rác trong các sách báo xuất bản sau 1975 tại quốc nội, cũng như không có cơ hội được đi đến từng địa phương ởViệt Nam để khảo sát tại chỗ Do vậy, tác phẩm còn thiếu sót, chúng tôi thành khẩn kính mong quý thức giả

bổ túc

Hoàn tất được tác phẩm này, chúng tôi được sự hỗ trợ tinh thần đặc biệt của vợ tôi: bà Phạm Thị Kim Liên, của các con và các anh chị em trong gia đình Chúng tôi cũng xin cám ơn sự chỉ giáo của nhiều bậc thức giả trưởng thượng Ðặc biệt, xin cám ơn nhà nghiên cứu Trần Vinh, Linh Mục Trần Cao Tường người bạn đồng môn năm xưa, đã đọc bản thảo và góp nhiều ý kiến quý giá cho công trình nghiên cứu này Tuy nhiên, phần trách nhiệm nội dung vẫn thuộc cá nhân chúng tôi

San Jose, California mùa Xuân năm 2003

-[1] The New Encyclopaedia Britannica Vol 24, Britannica Inc 1991 Tr 728

[2] Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo - Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam.( Nguyễn Như Ý chủ biên) Ðại Từ Ðiển Tiếng Việt Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội 1998, tr 511

[3] Xem giáo trình bài học này www teachercreated.com/lessons

Trang 4

CHƯƠNG 1 DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

K Tên tôn giáo

Ngoài tên họ, tên đệm, tên chính, người Việt Nam còn nhiều loại tên Có loại đã vĩnh viễn đi vào lịch sử,

có loại mới xuất hiện khi nước ta tiếp xúc với văn hóa tây phương, có loại dành riêng cho một giai cấp hoặctầng lớp xã hội nhất định Do vậy, chương này nhằm tìm hiểu những danh xưng đặc biệt của người Việt Nam,

và nội dung sẽ gồm 2 mục chính: mục một nói về các danh xưng đặc biệt của vua chúa Việt Nam, mục hai nói

về các danh xưng đặc biệt của thường dân Việt Nam

MỤC I : DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA VUA CHÚA VIỆT NAM

Dưới thời quân chủ, khi viết tiểu sử một ông vua, các sử gia thường dùng một số đặc ngữ mà chỉnhững người chuyên về sử mới hiểu dễ dàng, còn những người không chuyên môn, thường cảm thấy lúngtúng vì một số danh từ đặc biệt Đoạn văn sau đây trích trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết về Trần TháiTông (1225-1258) chứng minh cho nhận xét này:

Tên húy là Hoảng, con trưởng dòng đích của Thái Tông Mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu Lý thị, nhân Thái Tông chiêm bao thấy thượng đế trao gươm báu, hậu có mang Năm Canh Tý Thiện Ứng Chính Bình năm thứ 9, ngày 25, giờ ngọ sinh, sau đó lập làm hoàng thái tử Thái Tông băng ở cung Nhân Thọ, táng

ở Dụ Lăng [1]

Qua đoạn văn trên, các danh xưng Thái Tông, Thuận Thiên, Thiện Ứng Chính Bình là loại danh xưng gì

và ý nghĩa ra sao? Để trả lời câu hỏi đó, mục một sẽ nghiên cứu danh xưng đặc biệt của vua chúa Việt Namqua 5 tiết: (a) đế hiệu, (b) niên hiệu, (c) tôn hiệu, (d) thụy hiệu, (e) và miếu hiệu

Trang 5

TIẾT A: ĐẾ HIỆU

Đế hiệu là tên triều đại của một vị vua được công bố trong ngày lễ đăng quang để minh chứng với thầndân trong nước vua là chủ tể, có mọi quyền hành trên thần dân và đất nước Trong suốt thời gian trị vị, vuaTrung Quốc cũng như vua Việt Nam chỉ có một đế hiệu, nhưng có thể có nhiều niên hiệu hay tôn hiệu Đếhiệu của các vua Việt có những điểm khác nhau ở mỗi giai đoạn lịch sử

1 Đế Hiệu Các Vua Việt Thời Sơ Sử: Theo cổ sử, các vua đầu tiên của nước ta có các đế hiệu là Hùng

Vương Thứ Nhất đến Hùng Vương Thứ Mười Tám Với cách thức lựa chọn này, liệu các vua Việt trong giaiđoạn sơ sử, đã biết chọn cho mình một đế hiệu chưa? Phải chăng người đời sau, khi viết về các vị lãnh đạoban đầu, đã đặt cho các ngài đế hiệu giống kiểu cách Trung Quốc? Theo kết luận tạm thời của chúng tôi, các

đế hiệu trên đây là do người sau đặt, dựa trên ba lý do:

a Xét về mặt ngôn ngữ: Các đế hiệu trên đều là danh từ Hán Việt, có nghĩa là tiếng Hán được phát âmtheo giọng Việt Mà muốn được như thế, người Việt đã phải biết dùng chữ Hán một cách nhuần nhuyễn, đãthấm nhuần sâu sắc văn hóa Trung Quốc Cả hai điều kiện đó không có trong xã hội Việt Nam thời sơ sử, vìmãi đến năm 207 trước Công Nguyên, nghĩa là sau gần 2500 năm tính từ Kinh Dương Vương, Việt Nam mớithực sự biết đến chữ Hán, và bắt đầu chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc Từ đó, người Việt mới bắt đầu dunhập các thể chế chính trị của triều đình Trung Quốc

b Xét về mặt dân tộc học: Xưa nay, dân Việt không có tục lệ dùng một tên duy nhất, rồi phối hợp các con

số để đặt tên cho các người khác nhau như kiểu Hùng Vương Thứ Nhất đến Hùng Vương Thứ Mười Tám

c Lịch sử chức vương: Chức vương phát sinh từ triều đình Trung Quốc và bắt đầu có vào đời nhà Chu,tức khoảng 1122-249 TCN Trong khi đó, Hùng Vương Thứ Nhất của Việt Nam đã sống trước đó cả hơnnghìn năm

Theo thiển ý, thời sơ sử Việt Nam kéo dài gần 3000 năm, ngoài 18 vị được gọi là các vua Hùng, chúng tacòn nhiều vị lãnh đạo nữa, nhưng ký ức dân gian đã quên mất, và người đời sau đã tự đặt hai từ HùngVương làm đế hiệu cho các nhà lãnh đạo ban đầu

Một vấn đề khác nữa là các nhà lãnh đạo nước Văn Lang có đế hiệu Hùng Vương hay Lạc Vương? Theotruyền thuyết và sử cũ thì cho là Hùng Vương, còn theo một số nhà sử học hiện nay thì cho là Lạc Vương.Tuy nhiên, vấn đề không thuộc phạm vi tính danh học, nên không được đào sâu ở đây Nhưng, nếu là LạcVương thì có bao nhiêu đế hiệu Lạc Vương? Và thực sự có danh hiệu Lạc Vương hay không? Lạc Vươngcũng như Hùng Vương đều là danh từ Hán Việt Tính danh học Việt Nam chờ câu trả lời của các nhà sử học

và khảo cổ học Tuy nhiên, chúng ta phải khâm phục tiền nhân đã khéo chọn hai chữ Hùng Vương để xâydựng căn bản lý thuyết vương quyền Hùng Vương, nếu hiểu theo nghĩa là ông vua anh hùng, thì đó là bằngchứng cụ thể cho lập luận này Đây là một quan niệm hoàn toàn đặt trên nhân tính: vua có quyền cai trị vì cóđức tính anh hùng, chứ không như vua Trung Quốc hay Âu Châu thời Trung Cổ, phải nại tới thần quyền haythiên mệnh để biện minh cho quyền lực của mình

2 Đế Hiệu Các Vua Việt Thời Tự Chủ: Sau thời Hùng Vương đến giữa thế kỷ 20, không kể 1000 năm

Bắc thuộc, thời gian còn lại, nước ta được trị vì do các vua có đế hiệu được phân thành ba nhóm: nhóm mộtgồm những đế hiệu có từ đế hay hoàng đế, nhóm hai gồm những đế hiệu có từ vương, nhóm ba đế hiệu docác vua Tàu phong cho

a Đế hiệu có từ đế hay hoàng đế Trong số hơn 100 vị vua Việt Nam, có 8 vị xưng đế hay hoàng đế.Nhưng trước hết, hãy nói về trường hợp Triệu Đà Năm 207 TCN, Triệu Đà đánh bại An Dương Vương, lập ranước Nam Việt, xưng làm vua, đặt đế hiệu là Triệu Vũ Đế Nhà Triệu cai trị Nam Việt từ năm 207 đến 111TCN, truyền ngôi được 5 đời Thời gian này, nước Việt ngoại thuộc nhà Triệu vì Triệu Đà là người Tàu Ôngxâm lăng Âu Lạc, lập ra nước riêng biệt, không do lệnh của Hán triều Tuy nhiên, ông chấp nhận chức NamViệt Vương do nhà Hán phong như một biểu lộ thần phục Trung Quốc Tuy vậy, với thần dân trong nước, ôngtuyên bố đế hiệu là Triệu Vũ Đế, Nam Việt Vũ Đế để tỏ ra nước Nam Việt độc lập với Trung Quốc, có quyền

Trang 6

ngang hàng với hoàng đế Trung Quốc Vì chuyện này mà Hán triều sai sứ sang hạch tội Triệu Đà và sử gia đãghi lại lời chống chế của Triệu Đà như sau:

Lão thần xưng đế, cũng tạm để tự vui thôi, đâu dám để lọt đến tai thiên tử Lão phu ở đất Việt đã 49 năm nay, đã có cháu rồi, thế nhưng khuya nằm sớm dậy, ngủ chẳng yên, ăn chẳng ngon, mắt không dám nhìn sắc đẹp, tai không dám nghe chuông trống, chỉ vì không được thờ nhà Hán Nay được bệ hạ rủ lòng thương yêu cho hiệu cũ, sứ giả thông hiếu như trước Lão phu này dù phải chết xương cũng không mục.Vậy xin đổi hiệu, không dám xưng đế nữa [2]

Từ khi có vụ hạch tội, Triệu Đà không xưng đế với Hán triều nữa, xưng là Nam Việt Vương, Triệu VũVương Nhưng, với thần dân trong nước, ông xưng là Triệu Vũ Đế

Đến năm 544, dân Việt dành được quyền tự chủ, Lý Bôn (544-549) là vị vua đầu tiên xưng hoàng đế vàlần này vua Tàu lại sai sứ sang khiển trách Lý Bôn Khi Đinh Bộ Lĩnh (968-979) xưng đế, nhà Tống sai sứsang phong cho làm Giao Chỉ Quận Vương Khi Lê Đại Hành (980-1005) xưng đế, nhà Tống hạ chức vua nàyxuống là An Nam Đô Hộ, sau được Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ, cuối cùng được Giao Chỉ Quận Vương, rồiNam Bình Vương Sách Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi lại chuyện vua Tàu trách vua Lê Đại Hành về chuyệnxưng đế như sau:

Vua Tống sai Trương Tông Quyền đưa thư trách Lê Đại Hành xưng đế và bắt đổi niên hiệu[3] Qua các tài

liệu lịch sử trên, một câu hỏi được đặt ra là tại sao vua Tàu phải khó chịu khi vua Việt xưng đế? Để trả lời câuhỏi này, chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc phát sinh từ đế hay hoàng đế

Đế hiệu là một pháp chế chính trị phát xuất từ triều đình Trung Quốc Vào đời nhà Chu (1122-249 TCN),

vị đứng đầu nước lớn xưng là vương, như Chu Văn Vương Các chư hầu, dù mạnh, dù làm minh chủ cũngchỉ được phong cho một trong năm chức là: công, hầu, bá, tử, nam Ví dụ Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, SởTrang Công Sang thời Chiến Quốc, thủ lãnh các chư hầu không thần phục nhà Chu nữa, họ cũng xưngvương như Tần Huệ Vương, Tề Tuyên Vương Vậy, dưới thời nhà Chu, vua cai trị nước lớn hay nước nhỏđều gọi là vương, và vương là chức cao nhất[4] Đến thời nhà Tần, khi Tần Doanh Chính thống nhất TrungQuốc, thì tân vương này đưa ra sáng kiến gộp hai chữ hoàng và đế lại để làm đế hiệu Ngoài ra, để hậu thếbiết ai là người đầu tiên dùng đế hiệu này, ông đặt thêm chữ Thủy thành Tần Thủy Hoàng Đế, nghĩa là vịhoàng đế đầu tiên của nhà Tần Tư Mã Thiên đã chép về việc này:

Trẫm là Thủy Hoàng Ðế, các đời sau cứ theo số mà tính: Nhị Thế, Tam Thế đến Vạn Thế truyền mãi mãi

[5]

Như vậy, dưới đời nhà Tần, hoàng đế là chức cao nhất, được hiểu là vua nước lớn, và vương là vuanước nhỏ Ðến khi Triệu Cao diệt nhà Tần, ông bỏ cách xưng đế, trở về định chế vương Sử gia Tư Mã Thiênghi lại sự kiện này:

Thủy Hoàng làm vua cả thiên hạ nên xưng đế Nay sáu nước lại tự lập, đất đai của Tần càng nhỏ đi, làm

đế chỉ có cái tên hão mà thôi, như thế không nên, nên làm vương như trước [6]

Tuy nhiên, từ đời nhà Hán về sau, vua Tàu nào cũng mặc nhiên dùng hai chữ hoàng đế cho đế hiệu củamình[7] Sự phân biệt đế và vương trên đây, giải thích lý do tại sao từ Triệu Đà đến các vua sau cùng nhàNguyễn, trên mặt ngoại giao với Trung Quốc, tuyệt đại đa số vua Việt chỉ xưng vương mà không xưng đế Kếtluận này sẽ được chứng minh thêm trong phần nghiên cứu các đế hiệu vua Việt Nam có từ vương

b Đế hiệu có từ vương Vua Việt Nam có nhiều vị xưng vương Tại sao vua Việt xưng vương, vua Tàukhông có thái độ phản đối như xưng đế ? Chúng ta tìm hiểu vấn đề này qua pháp chế nhà Hán Nhà Hán diệtnhà Tần, chia Trung Quốc ra làm nhiều nước Nước lớn thì gọi là quận, nước nhỏ gọi là huyện Các nước nàyđều gọi là quốc, và người đứng đầu quận được phong là vương, đứng đầu huyện là hầu Đối với các nướcláng giềng Trung Quốc, nhà Hán cho là phiên thuộc và vua các nước ấy được phong tối đa tới chức vương,nghĩa là dưới đế một bậc Việt Nam bị xếp vào loại phiên thuộc, nên các vua Tàu phong cho các vua Việtchức vương là bậc cao nhất Triệu Đà (207-136 TCN) xưng đế nhưng vua Tàu chỉ phong làm Nam ViệtVương, Đinh Bộ Lĩnh xưng Đinh Tiên Hoàng Đế (968-979) được phong Giao Chỉ Quận Vương, Lê Đại Hành(980-1005) được Nam Bình Vương Đời Lý, vua Tống Thần Tông nước Tàu phong cho Lý Thánh Tông (1054-1072) chức Nam Bình Vương[8] Sang đời Trần, vua Tàu phong cho Trần Thánh Tông (1258-1278) chức AnNam Quốc Vương và Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông (1225-1258) chức An Nam Đại Vương[9] Từ vua LêNhân Tông (1443-1459) tới Lê Tương Dực (1510-1516), vua Tàu đều phong cho làm An Nam Quốc Vương

Trang 7

Vua Quang Trung (1788-1792) cũng là An Nam Quốc Vương và vua Gia Long (1802-1819) là Việt Nam QuốcVương

Riêng trong thời hậu Lê, về mặt tổ chức, nước ta có hai hệ thống: một do vua Lê, một do chúa Trịnh cầmđầu Trong chế độ này, vua Lê tuy được xem là chủ tể quốc gia có đế hiệu, niên hiệu, nhưng quyền hạn lạinằm trong tay chúa Trịnh Ngược lại, chúa Trịnh trên danh nghĩa là bề tôi, phải nhận sự tấn phong của vua Lê,nhưng lại có thực quyền Để giải quyết vấn đề chồng chéo này, người ta đưa ra giải pháp được vua Lê chấpthuận là phong cho Trịnh Tùng và con cháu nối nghiệp ông chức vương Vương không phải là đế nhưng cũng

có nghĩa là vua Chức vương của các chúa Trịnh khác với vương của các triều đại trước

Các triều đại Tàu cũng như Việt có lệ phong vương, nhưng vương của các triều đại ấy chỉ là một thứtước hiệu tôn quý, tặng cho những người trong hoàng tộc, hoặc những người có công với triều đình Cóngười được tôn phong là đại vương như Hưng Đạo Đại Vương Nhưng vương ở đây chỉ là thứ tên tước,đứng đầu trong các tước hiệu công, hầu, bá, tử, nam Và theo pháp chế thời xưa, người mang tên tướckhông có quyền hạn, chỉ hưởng bổng lộc của triều đình Vì vậy, dân gian thường nói tước lộc Ngược lại,vương của các chúa Trịnh là một chức vụ, không phải tước hiệu, nghĩa là vừa có trách nhiệm, vừa có quyềnlực, vừa có bổng lộc như ông vua của một nước

Đồng thời với 11 chúa Trịnh ở miền Bắc, miền Nam có 9 chúa Nguyễn Các chúa Nguyễn chỉ xưng tướcCông như Đoan Quận Công, Thụy Quận Công, Nhân Quận Công Công là một trong 6 tước được xếp theothứ tự cao thấp là: vương, công, hầu, bá, tử, nam Lý do các chúa Nguyễn xưng công, dưới vương một bậc,

vì ban đầu so về quyền lực và sức mạnh, thì các chúa Nguyễn yếu thế hơn chúa Trịnh Nhưng về sau, khichúa Trịnh yếu thế, chúa Nguyễn trở nên mạnh thì 2 chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng

là Minh Đô Vương và Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) xưng là Định Vương

Tước công của các chúa Nguyễn thực ra cũng không phải là tên tước, mà là tên chức vụ, vì cũng nhưchúa Trịnh, chúa Nguyễn vừa có quyền, vừa có lộc Sở dĩ như vậy vì thời hậu Lê, nước Việt ở trong tình trạngđặc biệt, vua Lê có chính danh nhưng không có thực quyền Quyền hành nằm cả trong tay chúa Trịnh phíaBắc và chúa Nguyễn phía Nam

c Đế hiệu do vua Trung Quốc phong cho: Từ khi thoát khỏi ách đô hộ Trung Quốc, các vua Việt luôn đềcao tinh thần tự chủ độc lập, thể hiện qua việc các ngài xưng vương, xưng đế, đặt quốc hiệu, và niên hiệu chotriều đại của mình[10] Tuy quyết tâm bảo vệ độc lập, nhưng các vua Việt cũng ý thức rằng, chiến tranh hay ápdụng chính sách ngoại giao cứng rắn với Trung Quốc là điều bất lợi cho dân tộc Vì vậy, các nhà lãnh đạo lúcbấy giờ đã có một đường lối ngoại giao hòa hoãn Dù có chiến thắng vẻ vang như trường hợp Quang TrungNguyễn Huệ (1788-1792) đại phá quân Thanh, thì ngay sau đó, vua ra lệnh cho Ngô Thời Nhiệm phải gửi pháiđoàn đi sứ, xin nộp cống để tỏ thái độ thần phục hoàng đế Trung Quốc

Về phía triều đình Trung Quốc, họ cũng biết là nếu không xâm chiếm được đất Việt, thì phong cho cácvua Việt đế hiệu có chữ vương như một ấn chứng vua Việt lệ thuộc vào nước Tàu Chức vụ này qua các triềuđại đã được dần dần nâng cao:

Nhà Ngô: Năm 954, vua Nam Hán phong cho Hậu Ngô Vương (950-965) chức Tĩnh Hải Quân Tiết Ðộ Sứ.Nhà Đinh: Năm 976, vua Tống phong Đinh Tiên Hoàng (968-979) làm Giao Chỉ Quận Vương

Nhà tiền Lê: Năm 980, Lê Đại Hành (980-1005) được phong Giao Chỉ Quận Vương, sau được Nam BìnhVương

Nhà Lý: Năm 1010, Lý Thái Tổ (1010-1028) ban đầu được phong là Giao Chỉ Quận Vương, sau đượcNam Bình Vương Từ đời Lý Anh Tông (1138-1175) trở đi, các vua nhà Lý được phong là An Nam QuốcVương

Nhà Trần: Năm 1258, vua Tàu phong cho Trần Thánh Tông (1258-1278) chức An Nam Quốc Vương vàThái Thượng Hoàng Trần Thái Tông (1225-1258) chức An Nam Đại Vương[11]

Nhà hậu Lê: Từ Lê Nhân Tông (1443-1459) tới Lê Tương Dực (1510-1516), vua Tàu đều phong cho làm

An Nam Quốc Vương

Nhà Tây Sơn: Năm 1788, Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1792) được phong là An Nam Quốc Vương

Trang 8

Nhà Nguyễn: Năm 1802, vua Gia Long (1802- 1819) được phong là Việt Nam Quốc Vương

Việc phong vương cho các vua Việt trên đây biểu lộ rõ ràng thâm ý vua Tàu coi đất Việt là một quận[12]

của Trung Quốc nên có quyền chỉ định viên chức đại diện Vua Việt chấp nhận tình trạng này vì muốn duy trìmối giao hảo với Trung Quốc Tuy nhiên, các ngài chỉ dùng chức vị đó khi có việc giao thiệp với Trung Quốc,còn khi liên lạc với các nước láng giềng hay đối với thần dân trong nước, các vua Việt từ Đinh Tiên Hoàngđến các vị sau cùng nhà Nguyễn, vị nào cũng xưng hoàng đế

TIẾT B: NIÊN HIỆU

1 Định Nghĩa Niên Hiệu: Niên hiệu là danh hiệu vị vua được đặt khi lên ngôi để thần dân trong nước gọi

các ngài, thay vì tên chánh, đồng thời để tính năm trị vì Khi vua Tự Đức (1848-1883) ra chiếu chỉ soạn thảo

bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, thì dụ chỉ khởi đầu bằng câu: Tự Đức năm thứ tám, tháng 12ngày 15 (tức 22-1-1856 tây lịch) Mỗi khi đặt niên hiệu, vua coi đó là biến cố quan trọng nên thường đại xá chocác phạm nhân

2 Nguồn Gốc Niên Hiệu: Niên hiệu bắt nguồn từ triều đình Trung Quốc Năm 140 TCN, Hán Vũ Đế Lưu

Triệt là người đầu tiên đặt niên hiệu cho mình là Kiến Nguyên Từ đó về sau, vua Tàu nào cũng có một haynhiều niên hiệu

Tại Việt Nam, Lý Bôn (544-549) là vua đầu tiên đặt niên hiệu là Thiên Đức Từ Triệu Quang Phục 571) đến Ngô Xương Ngập (950-965), chúng tôi chưa biết được niên hiệu của những vị vua trong thời gian này Nhưng từ Đinh Tiên Hoàng (968-979) đến vua Bảo Đại (1926-1945), vị nào cũng có niên hiệu Ngoài ra, dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, chỉ vua Lê được đặt niên hiệu, còn chúa Trịnh hay chúa Nguyễn, dù có thực quyền, vẫn bị coi là thần dân, nên không có niên hiệu

(549-3 Nguyên Tắc Chọn Niên Hiệu: Niên hiệu là danh hiệu của vị lãnh đạo tối thượng quốc gia nên nguyên

tắc chọn niên hiệu rất cẩn trọng Về mặt phát âm, phải chọn chữ nào đọc lên nghe âm vang và trong sáng Vềmặt ý nghĩa, phải chọn chữ nói lên được sự tốt lành, thái bình, và đội ơn thần linh[13] Vì hai nguyên tắc trên

mà 730 niên hiệu của các vua Trung Quốc và 126 niên hiệu của các vua Việt, có nhiều điểm tương tự Ví dụ

để biểu lộ ý nghĩa theo mệnh trời, 65 niên hiệu cuả vua Tàu và 17 niên hiệu của vua Việt đều có chữ Thiênnhư: Thiên Thuận, Thiên Phúc, Thiên Thánh, Thiên Phù, Thiên Thụ

4 Hình Thức Niên Hiệu: Không có nguyên tắc nào ấn định niên hiệu phải là bao nhiêu chữ Với các vua

Trung Quốc, hầu hết niên hiệu có 2 chữ, cũng có 3, 4, và nhiều nhất là 6 chữ Niên hiệu của Huệ Tông LýBỉnh Thường có 6 chữ: Thiên Tứ Lễ Thịnh Quốc Khánh Đối với vua Việt, người ta thấy 89 niên hiệu có 2 chữ,

và 17 niên hiệu có 4 chữ Chỉ các vua triều Lý dùng 4 chữ, và một vua nhà Trần là Trần Thái Tông 1258) có niên hiệu 4 chữ: Thiên Ứng Chính Bình

(1225-5 Mục Đích Của Niên Hiệu: Niên hiệu là tên để dân chúng gọi một ông vua nên khi xưa dân gian chỉ biết

niên hiệu chứ không biết tên thật của vua Trong các thư tịch do các sử gia bản triều viết, người ta còn dùnglối gọi toàn xưng như: Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế, tức vua Gia Long, hoặc Đức Hiến tổ Chương Hoàng Đế,tức vua Thiệu Trị Sở dĩ có tình trạng trên vì hai nguyên nhân

a Để tránh phạm húy: Trong xã hội ta cũng như Tàu có phép kỵ húy, nghĩa là phải tránh đọc hay viết tênnhững bậc trưởng thượng

Trang 9

b Ðể thần thánh hóa: Ðể thần thánh hóa uy quyền tối thượng của nhà vua, cổ luật Việt Nam đã khôngnhững cấm viết, mà còn cấm cả việc đọc tên thật của vua Luật Gia Long điều 62 đã quy định như sau:

Kẻ nào trong một bản viết tấu hay trình gì với vua mà dùng một tiếng trùng với tên vua hay tên một hoàng khảo, sẽ bị phạt 80 gậy Nếu tội phạm húy mắc phải trong giấy tờ khác sẽ là 40 gây Kẻ nào phạm tội ấy mà lại còn dùng tên ấy làm tên đẻ của mình sẽ bị phạt 100 gậy [14]

6 Ý Nghĩa Niên Hiệu: Phân tích ý nghĩa các từ trong niên hiệu, người ta thấy niên hiệu bắt nguồn từ triết

lý vương quyền trong Nho Giáo Theo lý thuyết này, vua trị nước là do mệnh trời nên các sắc dụ của vua ban

ra đều được mở đầu bằng câu Thế Thiên Hành Đạo, nghĩa là thay trời hành đạo Trên ấn triện của Tần ThủyHoàng người ta thấy câu: Thụ Mệnh Vu Thiên, nghĩa là nhận mệnh lệnh từ trời Ngoài ra, triết lý vương quyềncòn coi vua là con trời nên vua phải là mẫu người đạo đức, nhân từ Sau đây xin liệt kê một số niên hiệu đểchứng minh mối liên hệ giữa thiên mệnh và niên hiệu:

Lê Ðại Hành (980-1005) Thiên Phúc Phúc của trời

Lý Nhân Tông (1128-1138) Thiên Thuận Thuận ý trời

Lê Thái Tổ (1328-1433) Thuận Thiên Thuận ý trời

7 Sự Thay Đổi Niên Hiệu: Niên hiệu không có tính cách cố định Có vua chỉ dùng một niên hiệu, có vua

thay đổi niên hiệu nhiều lần và mỗi khi thay đổi, vua chỉ cần ra chiếu chỉ thông báo cho toàn dân Tại TrungQuốc, Hán Vũ Đế ở ngôi 54 năm, thay đổi niên hiệu 11 lần Võ Tắc Thiên ở ngôi 21 năm, thay đổi 18 lần, và

bà là vua có nhiều niên hiệu nhất Trung Quốc

Tại Việt Nam, vua Lý Nhân Tông (1072-1127) được tiếng là nhân từ, đổi niên hiệu 8 lần và là vua cónhiều niên hiệu nhất[15]

Niên Hiệu Năm

Anh Võ Chiêu Thắng 1076-1084

Trang 10

Hội Phong 1092-1100

Hội Tường Ðại Khánh 1110-1119Thiên Phù Duệ Võ 1120-1126Thiên Phù Khánh Thọ 1127Vua Lý Anh Tôn đổi niên hiệu 4 lần:

Tại Việt Nam, mỗi khi trong nước có loạn lạc, dịch tễ, mất mùa, đói kém, nhà vua tin rằng mình là con trời,

đã không làm tròn nhiệm vụ, đã vi phạm lỗi lầm nên cần phải sửa đổi ăn năn Thiện chí này được biểu lộ bằngcách thay đổi niên hiệu Khi thay đổi niên hiệu, các vua tin rằng sẽ đem lại sự bình an và may mắn cho dânchúng Bằng chứng là năm 1628, đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ, có nạn đói kém nên năm 1629

vua đổi niên hiệu thành Ðức Long Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi như sau:“Vì hạn hán, đói kém, đổi niên hiệu

là Ðức Long, đại xá cho thiên hạ.” [17]

Ngoài niềm tin trên, vua Việt còn thay đổi niên hiệu để ghi nhớ một sự kiện quan trọng đã xảy ra SáchĐại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi:

Vào năm Giáp Tuất đời Lý Thái Tông (1028-1054), niên hiệu Thông Thụ, có nhà sư tên là Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu, cháy hết biến thành thất bảo (bảy của quý) vua cho là việc lạ bèn đổi niên hiệu thành Càn Phù Hữu Đạo [18]

Cũng đời Lý Thái Tông, khi đánh thắng Chiêm Thành, vua đổi niên hiệu ra Thiên Cảm Thánh Vũ[19]

TIẾT C: TÔN HIỆU

Trang 11

1 Định Nghĩa Tôn Hiệu: Tôn hiệu là tên vua được triều đình đặt trong những ngày đặc biệt như ngày lên

ngôi hoàng đế, ngày thượng thọ ngũ tuần, lục tuần, ngày thắng trận trở về Trong các dịp này, đình thần tổchức buổi lễ mừng, đồng thời dâng lên vua một tôn hiệu để ca ngợi vua

2 Nguyên Tắc Dâng Tôn Hiệu: Không có nguyên tắc quy định khi nào dâng tôn hiệu, nhưng đọc sử thấy

tôn hiệu được dâng vào các dịp sau đây: Khi Đinh Bộ Lĩnh (968-979) lên ngôi hoàng đế, đình thần dâng tặngtôn hiệu: Ðại Thắng Minh Hoàng Ðế[20] Theo sử cũ Ðinh Tiên Hoàng là vua đầu tiên có tôn hiệu

Khi Lê Đại Hành (980-1005) đại phá quân Nam Hán ở Bạch Ðằng Giang, đình thần dâng tôn hiệu là MinhCàn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế

Khi vua Lý Thái Tông (1028-1054) dẹp được cuộc nổi dậy của Nồng Tồn Phúc, các quan dâng tôn hiệu:Kim Dũng Sinh Ngân, Nùng Bình Phiên Phục Nghĩa là vàng sôi lên, bạc sinh ra, họ Nùng bị diệt, phiên bangphục tùng

Khi Lý Thái Tông diệt Sạ Đẩu, các quan xin dâng tôn hiệu: Thánh Đức Thiên Cảm, Tuyên Uy Thánh Võ.Khi Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) nhường ngôi cho Trần Cảnh, quần thần dâng tôn hiệu: Khải Thiên Lập Cực,Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế Và khi Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông (1225-1258) nhường ngôi để lênlàm thái thượng hoàng thì triều đình dâng tôn hiệu: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế [21] KhiTrần Thái Tông (1225-1258) thượng thọ thất tuần, đình thần dâng tôn hiệu: Uyên Ý Khâm Cung Nhân Từ ĐứcThọ Hoàng Đế Khi Trần Thánh Tông (1258-1278) lên ngôi, đình thần dâng tôn hiệu là Hiến Thiên Thể ĐạoĐại Minh Quang Hiếu Hoàng Đế

Đọc lịch sử không thấy trường hợp nào các quan xin dâng tôn hiệu mà vua từ chối Duy nhất một trườnghợp vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã khiêm tốn từ chối lời xin dâng tôn hiệu, và khuyên các quan như sau:

Trẫm chưa dám nói đến danh hiệu Hoàng Đế Đối với các khanh, Trẫm xưng là Hoàng Thượng Đối với Thái Miếu, Trẫm xưng là Tự Hoàng, như thế cũng đủ khác với danh hiệu của các thân vương rồi Những lời ấy các khanh nên nghĩ lại Sau này, vài năm nữa, nếu thấy trên thì trời thuận, dưới thì dân yên, mưa gió điều hòa, nước lớn thân thiện, nước nhỏ sợ uy, mới có thể bàn đến tôn hiệu.Các khanh nghĩ lại xem [22]

3 Mục Đích Của Tôn Hiệu: Như đã nói, tôn hiệu có mục đích ca ngợi vua nên triều đình đã không tiếc

lời đặt tôn hiệu rất dài, đi đến chỗ nịnh bợ Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có tôn hiệu dài nhất Việt Nam, tới 52chữ:

Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu

Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứn Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế [23]

Việc dâng tôn hiệu quá dài, đi đến chỗ nịnh hót, đã bị các sử gia thời quân chủ lên án Sử gia Ngô Sĩ Liênviết:

Kinh thư tôn xưng vua Nghiêu là Phóng Huân, vua Thuấn là Trùng Hoa Những bề tôi đời sau theo đức hạnh có thực mà tôn xưng vua đến hơn chục chữ đã là nhiều rồi Bây giờ bề tôi dâng tôn hiệu cho Lý Thái Tổ đến 50 chữ Thế là không kê cứu học vấn đời xưa, chỉ cốt nịnh vua Thái Tổ nhận mà không từ chối đó là muốn khoe khoang để cho đời sau không ai hơn được đều là sai cả Về sau dâng tôn hiệu cho Thái Tông cũng đến gần 50 chữ, có lẽ cũng bắt chước cái sai lầm ở đây [24]

Lê Ngọa Triều là ông vua tàn ác, nhưng triều đình cũng dâng tôn hiệu: Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn

Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế [25]

TIẾT D: THỤY HIỆU

Trang 12

1 Định Nghĩa Thụy Hiệu: Trong Hán tự, thụy nghĩa là tốt, thụy hiệu nghĩa là tên tốt Theo sử Ký Tư Mã

Thiên, tên thụy còn gọi là hiệu bụt[26] Đối với các vị vua, thụy hiệu được gọi là thánh thụy, tức tên của ông vuamới băng hà, được vua kế vị hay các quan trong Bộ Lễ đặt để tránh tên húy Thụy hiệu có hai loại: công thụy

và tư thụy Công thụy do vua hay triều đình đặt, tư thụy do con cháu trong gia đình, bạn bè, môn đồ đặt chongười quá vãng

Thánh thụy thuộc loại công thụy bắt đầu có từ thời nhà Chu Chu Văn Vương có thụy hiệu là Văn Chu VũVương có thụy hiệu là Vũ Ðến đời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng bãi bỏ lệ đặt tên thụy vì cho rằng con cái phêphán cha, bầy tôi bàn luận về vua là điều không đúng[27] Nhưng đến đời Hán, lệ đặt tên thụy lại được tiếp tục.Công thức của thụy hiệu gồm 2 phần: phần đầu là một hay nhiều từ chỉ tên thụy, phần hai là từ hoàng đế hay

từ vương

2 Nguyên Tắc Chọn Thụy Hiệu: Cách giải thích và đặt thụy hiệu gọi là thụy pháp Đối với công thụy,

hành vi được đánh giá theo ba cấp: xấu, trung bình, tốt

a Thụy hiệu xấu: Triều đình Trung Quốc chọn các chữ: Lệ, U, Hôn, Dạng để đặt thụy hiệu xấu Theo TừÐiển Hán Việt của Ðào Duy Anh thì Lệ có nghĩa là tàn bạo, U: tối tăm; Hôn: tối tăm, mê loạn; Dạng: ốm đau,bệnh hoạn Chu Vương Cơ Hồ vì thống trị tàn bạo, sau khi chết có tên thụy là Lệ Vương Sách Thụy PhápGiải cho rằng tàn sát kẻ vô tội gọi là Lệ Cơ Vung Niết cũng tàn bạo nên có thụy hiệu là U Vương Theo ThụyPháp Giải, U có nghĩa là làm

đảo lộn lễ nghi, loạn luân Tiên Bảo Quyền, sau khi lên ngôi, sống đời hoang dâm phóng túng, nên có thụyhiệu là Đông Hôn Hầu Chữ Hôn nói lên bản tính tăm tối, tàn bạo, dâm dật Trần Thúc Bảo và Dương Quảngđời Tùy đều hung tàn bạo ngược, là hôn quân nên được đặt thụy hiệu là Dạng Đế Sách Tự Trị Thông Giámcủa Hồ Tam Tỉnh giải thích ham gái, xa lễ, bạo ngược với dân gọi là Dạng[28]

b Thụy hiệu trung bình: Các triều đại Trung Quốc dùng chữ Bình để đặt thụy hiệu trung bình Cơ NghiCữu, vua thứ nhất của Đông Chu, tuy không có công gì nhiều, nhưng được dân thương xót nên có thụy hiệu

là Bình Vương Sách Thụy Pháp Giải nói trị nước mà không có lầm lỗi lớn thì được gọi là Bình[29]

c Thụy hiệu tốt: Tuyệt đại đa số các vua Trung Quốc đều có thụy hiệu tốt Trước thời nhà Tần, thụy hiệu

có một chữ: hoặc là Văn, hoặc là Vũ Chữ Văn dùng để biểu lộ khả năng về mặt văn hóa, chính trị lương hảo.Chữ Vũ để biểu lộ khả năng quân sự Sang triều Hán, người ta dùng 2 chữ mà chữ đầu bao giờ cũng là chữHiếu nên thụy hiệu của Lưu Triệt là Hiếu Vũ Đế Sang đời Tấn, Đường, không dùng thụy hiệu 2 chữ nữa màdùng nhiều chữ để ca ngợi công đức của vua Ví dụ hoàng đế Thuận Trị đời Thanh có thụy hiệu 25 chữ là:Thế Thiên Long Vận, Định Thống Kiến Cực, Anh Duệ Khâm Văn, Hiển Võ, Đại Đức Hoằng Công, Thánh NhânThuần Tôn Chương Hoàng Đế[30]

3 Thụy Hiệu Của Các Vua Chúa Việt Nam: Các vua chúa Việt cũng áp dụng chế độ đặt thụy hiệu Theo

sử gia Lê Văn Hưu, vua và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào lăng tẩm, thì triều đình vẫn dùng đế hiệu

để gọi vị vua ấy Khi chôn rồi, triều đình họp lại, xem đức hạnh của vua tốt hay xấu mà đặt thụy hiệu Trướcthời Lê Đại Hành (980-1005), không thấy sử cũ ghi thụy hiệu của vua nào Đại Việt Sử Lược ghi thụy hiệu củaTriệu Đà là Vũ Đế[31], nhưng ông này là người Tàu, không phải người Việt Sử gia Lê Văn Hưu, trong Ðại Việt

Sử Ký Toàn Thư, ghi thụy hiệu vua Lê Ðại Hành là Đại Hành Nhiều vua Việt áp dụng đúng nguyên tắc banđầu của thụy hiệu là dùng một từ:

Trang 13

Thuần Thánh Tông Thuần Hoàng Đế Lê Thánh Tông

Tuy nhiên, cũng có vị vua bắt chước vua Tàu, dùng nhiều từ để đặt thụy hiệu Ví dụ khi vua Trần TháiTông mất năm 1234, triều đình đặt thụy hiệu với 20 chữ: Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức HiềnHòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Võ Nguyên Hiếu Hoàng Đế [32]

TIẾT E: MIẾU HIỆU

1 Định Nghĩa Miếu Hiệu: Miếu hiệu là tên vua đã chết được vua nối ngôi, hoặc đình thần đặt để viết trên

bài vị hay trên các bài văn tế đọc trong các dịp giỗ chạp Dưới thời quân chủ, các sử gia bản triều chỉ đượcdùng niên hiệu và miếu hiệu để làm mốc ghi chép sự kiện lịch sử

2 Nguồn Gốc Miếu Hiệu: Miếu hiệu phát xuất từ Trung Quốc Hai ông Lý Nham Linh và Cố Ðạo Hinh

cho biết, đầu tiên, các vua Tàu dùng hai chữ Tổ hay Tông để làm miếu hiệu và miếu hiệu bắt đầu được dùng

từ thời nhà Thương (1766-1200 TCN) Thương Thang có miếu hiệu là Cao Tổ Sang đời Chu, Tần, người ta

bỏ danh hiệu tổ hay tông Nhưng đến đời Hán thì Lưu Bang khai sáng nhà Hán, được đặt là Thái Tổ, cháu làLưu Triệt được đặt là Thế Tông Lý Uyên khai sáng nhà Đường được đặt là Cao Tổ, Lý Thế Dân là TháiTông Tuyệt đại đa số vua Tàu, từ Hán Vũ Đế đến vua Quang Tự nhà Thanh, ông nào cũng có miếu hiệu[33]

3 Nguyên Tắc Đặt Miếu Hiệu: Khi đặt miếu hiệu, vua hay triều đình phải căn cứ vào thế hệ thứ cấp

trong hoàng tộc để xác định vị trí cao thấp trong thái miếu Các từ để chỉ thứ cấp là: tổ, tông, hay tôn Tổ cónghĩa là người khai sáng triều đại Tông nghĩa là dòng họ Tại Việt Nam, nhiều sách sử ghi miếu hiệu với chữTôn Tôn là tiếng đọc trại để tránh tên vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Miên Tông Nguyên tắc định miếu hiệu

là vua có công khai sáng triều đại được gọi là tổ Những vua kế vị được gọi là tông

4 Miếu Hiệu Của Các Vua Chúa Việt Nam: Trong số các vị vua Việt, sử sách ghi 49 vị có miếu hiệu với

chữ tổ, tôn, hay tông Vị vua đầu tiên được sử ghi miếu hiệu là Lê Trung Tông (tr.v.1005) Từ năm 1005 đến

1884, vị vua nào cũng có miếu hiệu Sau đây là một số ví dụ :

Nhà Tiền Lê Lê Trung Tông

Nhà Lý Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông

Nhà Trần Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông

Nhà Hậu Lê Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông

Trang 14

Nhà Mạc Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông.

Nhà Nguyễn Nguyễn Thế Tổ

Trường hợp nhà tiền Lê, sử sách không ghi miếu hiệu của vua Lê Ðại Hành nên không biết ngài có miếuhiệu ra sao Riêng trường hợp nhà Trần, chúng tôi chưa tìm được sử liệu nào giải thích tại sao vị vua sáng lậptriều đại không được đặt miếu hiệu là Trần Thái Tổ, mà lại đặt là Trần Thái Tông Với nhà Nguyễn, chúng tôicũng chưa giải thích được tại sao cả vua Gia Long, Minh Mạng, và Thiệu Trị đều có miếu hiệu với chữ Tổ:Nguyễn Thế Tổ, Nguyễn Thánh Tổ, Nguyễn Hiến Tổ Bốn trường hợp trên là các ngoại lệ trong lịch sử miếuhiệu của vua chúa Việt Nam Đọc sách sử được viết dưới thời quân chủ, người ta còn gặp loại danh xưng màcác nhà sử học gọi là toàn xưng, tức là lối phối hợp miếu hiệu, tên thụy và đế hiệu: Sau đây là các ví dụ:

Tên Chính

Miếu Hiệu Thụy Hiệu

Toàn XưngNguyễn Nhạc

Thái Tổ Võ Hoàng ÐếNguyễn Phúc Ánh

Thế Tổ Cao Hoàng Ðế

Cách gọi toàn xưng trên được các sử gia sau này gọi chung là miếu hiệu

Khi chết, các hoàng hậu cũng được triều đình đặt miếu hiệu, được thờ trong thái miếu[34] Ví dụ:

Tên Chính Miếu Hiệu Vợ của

Tống Thị Lan Thừa Thiên Cao Hoàng Hâu Gia Long

Trần Thị Ðang Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu Gia Long

Phạm Thị Hằng Thiên Chương Hoàng Hậu Thiệu Trị

Đến đời Gia Long, các chúa Nguyễn cũng được truy tôn hoàng đế, có miếu hiệu, nên các sách Thực Lục,Liệt Truyện, Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều dùng những danh xưng dành cho hoàng đế để gọi cácchúa Nguyễn như con trai là hoàng tử, con gái là công chúa, các người trong họ hàng là tôn thất[35] Trái lại,các chúa Trịnh cũng được đặt miếu hiệu, nhưng chỉ là vương, dưới đế một bậc

Ngoài các miếu hiệu có ý nghĩa đẹp, người ta còn thấy các miếu hiệu Lê Ngọa Triều, Đinh Phế Đế, TrầnPhế Đế Lê Ngọa Triều, tức Lê Long Đĩnh (1005-1009) đã giết anh là Lê Long Việt, tức Lê Trung Tông (1005)mới lên ngôi được 3 ngày Long Đĩnh có đế hiệu là Khai Minh Vương, nhưng vì có cuộc sống ăn chơi, tráctáng, phải nằm khi yết triều, nên vua Lý Thái Tổ, sau khi lật đổ Lê Long Đĩnh, đã đặt cho ông vua này miếuhiệu: Lê Ngọa Triều[36]

Theo định nghĩa của sử gia Ngô Thời Sĩ, Phế Đế hay Mạt Đế là miếu hiệu dân gian đặt cho các vuakhông đáng là vua hay bị truất phế[37] Đinh Tuệ (979-980) bị Lê Đại Hành lật đổ nên sử gọi là Phế Đế Trần

Trang 15

Nghiễn (1377-1388), con Trần Duệ Tông (1372-1377), bị truất phế nên gọi là Trần Phế Đế Năm 1954, miềnNam Việt Nam có cuộc trưng cầu dân ý để chọn lựa vua Bảo Đại (1926-1945) hay Thủ Tướng Ngô Đình Diệm(1954-1963) Dân chúng chọn ông Ngô Đình Diệm và lúc đó báo chí gọi vua cuối cùng nhà Nguyễn là Phế ĐếBảo Đại.

MỤC II: DANH XƯNG ÐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM

Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già haytrẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, búthiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, têncúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu

Không kể tên họ, tên riêng, người Việt có thể có một trong những tên dưới đây mà chúng tôi gọi là danhxưng đặc biệt Sở dĩ gọi là đặc biệt vì không phải ai cũng có Trong mục này, các danh xưng đặc biệt sẽ đượclần lượt nghiên cứu qua các tiết: (a)) tên tục, (b) tên tước, (c) tên tự, (d) tên hiệu, (e) bút hiệu, (f) nghệ danh,(g) thương hiệu, (h) bí danh, (i) tên thụy, (k) tên tôn giáo Trong phần tên tôn giáo sẽ nói đến pháp danh, pháphiệu của người Phật Giáo Tiểu Thừa và Phật Giáo Ðại Thừa, tên các vị chức sắc Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, vàtên thánh của người Công Giáo

TIẾT A: TÊN TỤC

1 Định Nghĩa Tên Tục: Theo định nghĩa của Đại Từ Điển Tiếng Việt, tên tục là tên do cha mẹ đặt lúc

mới sinh, chỉ gọi lúc còn bé, thường dùng từ Nôm và xấu để tránh sự chú ý, đe dọa của ma quỷ [38]

2 Tên Tục – Nhũ Danh – Tiểu Danh: Tên mà người Việt gọi là tên tục thì người Trung Quốc gọi là tiểu

danh hay nhũ danh, được đặt lúc đứa bé mới sinh và cũng có ý nghĩa xấu Gọi là nhũ danh vì tên này đượcđặt lúc đang bú Trong tiếng Hán, nhũ có nghĩa là vú nên các nhà tính danh học Mỹ dịch chữ nhũ danh là MilkName (tên sữa) Theo Elsdon C Smith, tiểu danh hay nhũ danh chỉ có một từ, nhưng được thêm âm A vàođàng trước Ví dụ A Man là tiểu danh của Tào Tháo, và A Đẩu là tiểu danh của Lưu Thiện, con của Lưu Bị.Khi lớn lên, người Trung Quốc không dùng tiểu danh hay nhũ danh nữa Và lúc này, ai dùng tên đó để gọi, thì

đó là một điều sỉ nhục cho người ấy Đọc Tam Quốc Chí, mỗi lần Lưu Bị hay Tôn Quyền tức tối gì với TàoTháo, ta thấy hai đối thủ này thường lôi tiểu danh Tào Tháo ra chửi: “thằng nhãi con Tào A Man” Man trongtiếng Hán có nghĩa là gian xảo, quỷ quyệt

3 Nguyên Nhân Đặt Tên Tục: Đối với người Việt, khi xưa có nạn trẻ chết yểu và người ta giải thích vì tà

ma thích bắt những đứa trẻ đẹp Do vậy, các cha mẹ không muốn ai khen con mình đẹp, sợ tà ma biết, đồngthời đặt tên xấu cho đứa trẻ nhằm đánh lừa tà ma Sở dĩ gọi là tên tục vì dùng các từ có ý nghĩa tục tằn như

bộ phận sinh dục, chỉ sự dơ bẩn, hay là tên loài vật

Tên tục tĩu: thằng Cu, con Đĩ, cái Hến, cái Hĩm, thằng Cò, thằng Gái

Tên dơ bẩn xấu xí: Bùn, Sẹo Què v.v…

Tên súc vật: Muông, Cầy, Cáo, Cún,Vện, Đực v.v…

Trang 16

Trường hợp đẻ nhiều mà vẫn bị chết yểu, thì đứa con mới sinh được đặt là Xin, với ý nghĩa đây là đứacon xin về nuôi, hay đứa con của kẻ ăn mày, ăn xin Người Trung Quốc có tục đặt tên con trai là Xẩm Xẩm cónghĩa là người đàn bà Tất cả những cách thức chọn lựa đó, chỉ nhằm mục đích đánh lừa tà ma.

Khi đứa trẻ lên khoảng 5 đến 10 tuổi, nghĩa là hầu như thoát khỏi giai đoạn mà dân gian tin là bị tà machú ý, thì cha mẹ bắt đầu đặt tên chính thức cho con Lúc này ai nhắc đến, hoặc gọi tên tục người đó, là xúcphạm đến danh dự của người ấy Trong các đám cãi nhau liên quan đến vấn đề tên tục, Đại Từ Điển Tiếng

Việt nêu ra thí dụ: Cứ gọi tên tục ra mà chửi, ai mà chẳng tức [39]

Lệ đặt tên tục rất phổ biến trong xã hội cổ truyền Việt Nam Tuy nhiên, lệ này dần dần biến mất khi trình

độ tri thức khoa học của dân Việt được nâng cao.Lý do khác nữa làm loại tên này biến mất là dưới thời Phápthuộc, chính quyền buộc cha mẹ làm ngay giấy khai sinh cho trẻ sơ sinh Trong thực tế, tên tục vẫn tồn tại vàchỉ biến mất ở nông thôn Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ 20

Tục lệ đặt tên xấu không chỉ có trong các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc như Nhật Bản, ĐạiHàn, Việt Nam mà thấy ở nhiều nơi trên thế giới Các sắc dân thiểu số ở Indonesia, Lào, Thái Lan, Miến Điện,

và các dân tộc vùng Đông Nam Á đều có tục lệ này[40] Theo bách khoa từ điển Britannica, thì tục lệ này thấy

có ở Hy Lạp, các nước Phi Châu chung quanh sa mạc Sahara[41]

TIẾT B: TÊN TƯỚC

1 Định Nghĩa Tên Tước: Tên tước là tên của vua ban cho các người trong hoàng tộc hay những người

có công với tổ quốc Quyền phong tước là đặc quyền của vua và những người được phong tước coi đó là một

ân điển Để hiểu tên tước, ta cần phân biệt hai định chế chức và tước

Theo định nghĩa của những nhà khảo cứu pháp chế sử, chức là một trách vụ trong bộ máy chính quyền,tước là tôn hiệu danh dự, không hàm ý trách nhiệm và quyền hành[42]

2 Nguồn Gốc Tên Tước: Trước triều đại nhà Đinh, sử cũ không cho biết gì về tên tước Đến đời nhà

Đinh, tài liệu cổ về đời này thấy ghi tước Vương và Quốc Công Quốc Công là một tước dưới tước QuậnVương và bắt đầu được dùng ở Trung Quốc về đời nhà Tùy (581-618) Sang triều Lý, ngoài tước Thái Sư,các đại thần còn được phong tước Thái Phó và Thái Bảo là những tước thuộc hàng tam công đời nhà Ân vàChu bên Trung Quốc Công thức đặt tên tước là lấy một địa danh đặt trước tên tước Ví dụ Kiến An Vương làtên tước của Nguyễn Phúc Miên Ðài Kiến An là tên phủ thuộc tỉnh Định Tường, Vương là tên tước

3 Phẩm Trật Tên Tước: Hệ thống tên tước dưới đời hậu Lê được vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ấn

định rất rõ rệt, gồm 6 bậc: vương, công, hầu, bá, tử, nam

Tước Vương: Dành cho Hoàng tử Cách đặt tước Vương là lấy tên phủ làm tên hiệu kèm theo chữVương Ví dụ Kiến Hưng Vương Con của hoàng tử cũng được tước Vương nhưng lấy tên huyện kèm theochữ Vương như Hải Lăng Vương

Tước Công: Dành cho các con hoàng thái tử và thân vương Tước Công gồm một mỹ tự và từ ngữ Côngnhư Triệu Khang Công

Tước Hầu: Dành cho con trưởng của tự thân vương hay thân công được phong Tước hầu gồm một mỹ

tự và từ ngữ Hầu như: Vĩnh Kiến Hầu

Tước Bá: Dành cho các hoàng thái tôn, các con của tự thân vương, tự thân công, con trưởng của thâncông chúa Tước Bá gồm một mỹ tự và chữ Bá Ví dụ Tĩnh Cung Bá

Trang 17

Tước Tử: Thuộc hàng chánh nhất phẩm, dành cho các con thứ của thân công chúa, con trưởng tướchầu, tước bá Tước tử gồm một mỹ từ và chữ Tử Ví dụ Kiến Xương Tử.

Tước Nam: Được coi như hàng tòng nhất phẩm, dành cho con trưởng của thân công chúa được truytặng, con thứ của tước hầu, tước bá Tước Nam gồm một mỹ từ và chữ Nam Ví dụ Quảng Trạch Nam

Về phẩm trật, năm 1471, vua Lê Thánh Tôn ấn định cửu phẩm Mỗi phẩm lại chia làm hai bực: chánh vàtùng Để định vị trí cao thấp của hệ thống tên tước, phải căn cứ vào đơn vị tư Người càng có nhiều tư thìcàng có tước cao Tư là đơn vị của hàng tùng cửu phẩm Cửu phẩm là hàng thấp nhất có 1 tư Cao hơn làchánh cửu phẩm có 2 tư Hàng tùng bát phẩm có 3 tư Hàng chánh bát phẩm có 4 tư Như vậy hàng cao nhất

là chánh nhất phẩm có 18 tư Hệ thống cửu phẩm dành cho quan chức nhỏ và thường dân

Bên trên hệ thống cửu phẩm, còn có 6 tước được xếp theo thứ tự từ thấp đến cao là: nam tước, tử tước,

bá tước, hầu tước, quận công, quốc công Những người được phong các tước trên, mỗi người sẽ được thêmmột tư Như vậy nam tước có 19 tư và quốc công có 24 tư Hệ thống tên tước của triều Lê được áp dụngdưới triều Nguyễn và còn được bổ túc thêm nhiều tước vị

Bá tước 21 tư

Tử tước 20 tưNam tước 19 tư

Phẩm Trật Hàng Chánh Hàng Tùng

Nhất phẩm 18 tư 17 tưNhị phẩm 16 tư 15 tưTam phẩm 14 tư 13 tư

Tứ phẩm 12 tư 11 tưNgũ phẩm 10 tư 9 tưLục phẩm 8 tư 7 tưThất phẩm 6tư 5 tư

Trang 18

Bát phẩm 4 tư 3 tưCửu phẩm 2 tư 1 tư

4 Các Trường Hợp Được Ban Tên Tước: Vua thường ban tên tước cho ba trường hợp sau đây:

a Người giữ chức vụ quan trọng: Những người giữ chức vụ quan trọng trong triều đình thường được vuaphong cho một tước.Ví dụ Trần Quốc Tuấn có chức Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh quân đội, nhưng cũngđược phong tước Hưng Đạo Vương

b Người trong hoàng tộc và những công thần: Người trong hoàng tộc và những người có công với quốcgia được vua tặng tên tước Dưới triều Nguyễn, các hoàng tử đều được phong tước vương, quận vương,công hay quận công Cách thức đặt tên tước là vua chọn một địa danh của tỉnh, phủ, huyện, xã rồi thêm têntước vào, với ngụ ý người đó có quyền tại địa phương ấy Sách Khâm Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ ghị rõ

nguyên tắc phong tước như sau: Phàm người được phong tước có đất làm thái ấp, nhự Thân Vương thì lấy

tên tỉnh; Quận Vương, Thân Công, Quốc Công, Quận Công thì lấy tên phủ; Huyện Công, Huyện Hầu thì lấy tên huyện; Hương Công, Hương Hầu, Ðình hầu thì lấy tên xã Dưới nữa theo chức mà gọi [43]

Vua Minh Mạng có 78 hoàng tử, mỗi ông đều có tên tước Xin trích dẫn một số tước vị làm ví dụ:

Tên Hoàng Tử

Ðịa Danh và Tên Tước

Miên Nghi Ninh Thuận Quận Vương Miên Hoành Vĩnh Tường Quận Vương

Miên Thần Nghi Hào Quận Công

Miên Thẩm Tùng Thiện Quận Công

Riêng những người trong hoàng tộc, khi được phong tước, còn được hưởng bổng lộc của triều đình Vàonăm 1840, vua Minh Mạng quy định bảng bộc lộc hàng năm cấp cho những người được phong tước tronghoàng tộc[44]

Trang 19

c Những thần thánh: Những thần thánh trong các đình miếu cũng được vua tặng tên tước Thành Hoàng

Ma La Cẩn được thờ tại Phú Nhuận Đình, Gia Định, được phong là Ma La Cẩn Thành Hoàng Đại Vương TônThần Loài rái cá cũng được thần thánh hóa, được ban tên tước Theo truyền tụng, rái cá cứu vua Gia Longkhi bị Tây Sơn đuổi đánh, nên khi lên ngôi, đã phong rái cá tước Lăng Lại Đại Tướng Quân Tôn Thần Têntước đã đi vào lịch sử, khi chế độ quân chủ chấm dứt vào năm 1945

TIẾT C: TÊN TỰ

1 Định Nghĩa Tên Tự: Theo định nghĩa của Đại Từ Điển Tiếng Việt, tên tự là tên đặt dựa vào tên vốn có

thường phổ biến trong giới trí thức thời phong kiến [45] Trong Hán văn, chữ Tự có nhiều nghĩa Chữ tự trong

Tên Tự được viết với bộ nhân có nghĩa là giống như Ví dụ: Tương Tự Tên tự là tên giống như tên chính.Người Trung Hoa đặt ra tên tự để người khác tránh tên húy của mình Đối với dân gian xưa, tên tự còn đượcgọi là tên chữ vì các cụ thường dùng từ Hán Việt để đặt tên này Ví dụ khi viết tiểu sử cụ Nguyễn Đình Chiểu

Trang 20

(1822-1888), các sách vở thường ghi: tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ hay Hối Trai Tên tự bắt đầu có từđời nhà Chu, sau khi triều đại này đặt ra phép kỵ húy tên vua Tên tự đã tồn tại suốt thời kỳ quân chủ tại TrungQuốc cũng như tại Việt Nam.

2 Mục Đích Tên Tự: Tên tự đặt ra để kiêng húy tên chánh, nên nguyên tắc căn bản khi đặt tên tự là làm

sao giữa tên chánh và tên tự có sự liên hệ với nhau Nói khác đi, nói đến tên tự, người ta có thể suy ra tênchánh và ngược lại Nguyên tắc đặt tên tự được sách Bạch Hồ Thông ấn định như sau: Vấn danh tri kỳ tự,vấn tự tri kỳ danh, nghĩa là hỏi tên chánh biết tên tự, hỏi tên tự biết tên chánh Một khi đã có tên tự, ngườikhác sẽ dùng tên đó để gọi cá nhân ấy trong việc giao tiếp xã hội Ví dụ khi viết về Hán Cao Tổ, thay vì phải

nói tên chính là Lưu Bang thì Tư Mã Thiên đã chép: Cao Tổ người làng Trọng Dương, ấp Phong, quận Bái, họ

Lưu, tên tự là Quý Ba nhân vật thời Tam Quốc là Tào Tháo được gọi là Tào Mạnh Đức, Lưu Bị được gọi là

Lưu Huyền Đức, Tôn Quyền được gọi là Tôn Trọng Mưu

Ngày xưa, lúc Hán học còn thịnh hành, tên các danh nhân đều viết bằng Hán tự nên việc tìm hiểu sự liên

hệ giữa tên chánh và tên tự có phần dễ dàng Ngày nay, ta gặp trở ngại lớn vì tên các danh nhân được viếtbằng quốc ngữ, có âm nhưng không biết mặt chữ Hán thế nào Do đó, không biết đích xác tên các cụ có ýnghĩa ra sao vì nhiều chữ đồng âm nhưng dị nghĩa

3 Nguồn Gốc Tên Tự: Tại Việt Nam, không có sử liệu nào cho biết tên tự có từ bao giờ Sử gia Lê Tắc

trong An Nam Chí Lược ghi ông Ðỗ Viện sống cuối đời Ðông Tấn (317-419) có tên tự là Ðạo Ngôn Còn đọctiểu sử các nhà nho trong thế kỷ thứ 10, chưa thấy vị nào lấy tên tự Nhưng đọc Lĩnh Nam Dật Sử, ta thấynhân vật chính là Hoàng Quỳnh, người Mường, có tên tự là Phùng Ngọc[46] Sách này do Ma Văn Cao soạn vàngười cháu năm đời là Ma Văn Khái tặng cho Trần Nhật Duật để ông này đem dịch ra Hán văn, cho in năm

1297 Như thế, nếu tính từ Ma Văn Cao đến người cháu năm đời, thì sách này ít nhất đã được viết vàokhoảng thế kỷ thứ tám, thứ chín Như vậy, người Việt đã biết dùng tên tự cách đây hơn 1000 năm

4 Nhiệm Vụ Tên Tự: Đọc tiểu sử các danh nhân Trung Quốc cũng như Việt Nam, ta thấy tên tự có thể là

tên đơn, tên hai chữ, ba chữ Nhưng tuyệt đại đa số là tên hai chữ và nếu phân tích các tên tự, ta thấy chỉ mộttrong hai chữ có liên quan đến tên chính, còn từ ngữ kia được thêm vào để làm một trong ba nhiệm vụ sauđây:

a Để chỉ thứ cấp trong họ hàng: Người Trung Quốc cũng như Việt Nam ghép một từ như Bá, Mạnh,Trọng, Quý, Trưởng, Cao vào tên tự để chỉ thứ cấp họ hàng Ta có thể kể các ví dụ: Đức Khổng Phu Tử tên

là Khổng Khâu (551-479 TCN), tự là Trọng Ni Ngài chọn chữ Trọng trong nhóm Bá, Mạnh, Trọng, Quý để chobiết ngài là con thứ trong gia đình Còn chữ Ni liên quan đến chữ Khâu vì tại Trung Quốc có ngọn núi Ni Khâu

là nơi mà bố mẹ đức Khổng Tử đã cầu tự ngài ở đó[47] Nhắc tới chữ Ni, người ta nghĩ ngay đến chữ Khâu

Tại Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) cho biết tên tự của ông là Trọng Minh Chữ Trọngchỉ người con thứ, chữ Minh đồng nghĩa với Huy là ánh sáng

b Để chỉ sự tôn kính: Người Trung Quốc cũng như Việt Nam dùng các từ sau đây để ghép với tên tự chỉ

sự tôn kính: Công, Chi, Doãn, Hoằng, Khổng, Ông, Phu, Phủ, Phụ, Thúc, Sĩ Ví dụ Gia Cát Lượng, chiến lượcgia thời Tam Quốc, có tự là Khổng Minh Minh và Lượng có nghĩa là ánh sáng Từ Khổng được thêm vào để

tỏ ý tôn kính Cùng chiến tuyến với Gia Cát Lượng có quân sư Bàng Thống, tự Sĩ Nguyên Chữ Thống cónghĩa là hợp tất cả lại làm một, đồng nghĩa với chữ Nguyên nghĩa là các thành phần không thể phân ly rađược Chữ Sĩ để tỏ ý tôn kính

Tại Việt Nam, ông Trương Hán Siêu (?-1354), danh nhân nhà Trần, có tự là Thăng Phủ Thăng và Siêuđều có nghĩa là tiến lên chỗ cao hơn Còn từ Phủ thêm vào để tỏ ý tôn kính

c Để tên tự có âm thanh hài hòa và có ý nghĩa đẹp Ngày xưa, đa số tên tự được các cụ thêm một từngữ để có âm thanh hài hòa, có ý nghĩa hoa mỹ Ví dụ Quan Vũ, một danh tướng thời Tam Quốc có tên tự làVân Trường Vũ và Vân có mối liên hệ với nhau Vũ là cánh chim bay, Vân là mây gió, còn chữ Trường đượcthêm vào để có âm thanh hài hòa và ý nghĩa hay Vân Trường là giải mây dài

Trang 21

Bà Nguyễn Nhược thị, tên là Nguyễn Thị Bích (1830-1901), tác giả Hạnh Thục Ca, có tên tự là LangHoàn Bích và Lang trong Hán tự có nghĩa là ngọc, còn Hoàn là viên, được thêm vào cho có ý nghĩa LangHoàn là viên ngọc.

5 Phương Pháp Đặt Tên Tự: Như đã nói, nguyên tắc đặt tên tự là làm sao giữa tên tự và tên chánh có

sự liên hệ Để đạt mục tiêu này, các danh nhân Trung Quốc cũng như Việt Nam đã áp dụng bốn phươngpháp sau đây:

a Dùng chữ đồng nghĩa: Theo phương pháp này, tên chính và tên tự đồng nghĩa Đa số các danh nhânTrung Quốc và Việt Nam dùng phương pháp này để chọn tên tự Ta có thể nêu các ví dụ: Tại Trung Quốc,nhân vật lịch sử Tào Tháo thời Tam Quốc có tên tự là Mạnh Đức Tháo và Đức trong Hán tự đều có nghĩa làđức hạnh, phẩm giá Chữ Mạnh thêm vào để chỉ người con thứ Đồng thời với Tào Tháo có dũng tướngTrương Phi, tự là Dực Đức Phi và Dực đều có nghĩa là bay Còn chữ Đức được thêm vào để tên thêm phầnhoa mỹ Lão Tử tên thật là Lý Nhĩ, tự Bá Dương Dương và Nhĩ đều có ý nghĩa liên quan đến mặt trời ThầyMạnh Tử tên chính là Mạnh Kha, tên tự là Tử Dư Chữ Kha có nghĩa là trục xe, chữ Dư có nghĩa thùng xe, cảhai được viết với bộ xa là cái xe Thầy Nhan Hồi có tên tự là Uyên Hồi và Uyên đều có nghĩa là dòng nước,được viết với bộ thủy Lỗ Túc, chính trị gia thời Tam Quốc, quân sư cho Tôn Quyền, có tên tự Tử Kính Túc

và Kính đều có nghĩa là cung kính Thầy Tệ Dư, đồ đệ của đức Khổng Tử có tên tự là Tử Ngã Dư và Ngã cónghĩa là tôi Nhà cách mạng Lương Khải Siêu (1873-1929) có tự là Trác Như Trác và Siêu đều có nghĩa làvượt lên cao hơn nữa

Tại Việt Nam, cụ Trương Hán Siêu có tên tự là Thăng Phủ Từ ngữ Siêu và Thăng đều có nghĩa là tiếnlên chỗ cao hơn Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) có tên tự là Doãn Hậu Đôn và Hậu đều có nghĩa làthành thực Danh sĩ triều Nguyễn là Trương Quốc Dụng (1797-1864) có tự là Dĩ Hành Dụng và Dĩ đều cónghĩa là dùng Thi sĩ Trần Tế Xương có tự là Tử Thỉnh Thịnh và Xương đều có nghĩa là phồn vinh, phát đạt

Cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) có tự là Mạnh Trạch Chiểu và Trạch có nghĩa là cái đầm, cái ao Khi viết,hai chữ này đều có bộ thủy Hai học giả miền Nam thời Pháp thuộc là các ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

tự là Sĩ Tải và Trương Minh Ký tự là Thế Tải Chữ Tải trong tên tự của hai ông có nghĩa bóng là nhân tài làmđược việc lớn[48] Còn chữ Ký có nghĩa bóng là nhân tài kiệt xuất[49] Nhà văn Đào Trinh Nhất (1900-1951) có

tự là Quán Chi Nhất và Quán đều có nghĩa hạng nhất, đứng đầu

b Dùng phương pháp loại suy: Phương pháp này là dựa vào tên chính, suy ra tên tự hay ngược lại Ta cóthể nêu các thí dụ sau: Đời Xuân Thu Chiến Quốc, có ông Tư Mã Canh, tự là Tử Ngưu Canh là cầy ruộng Ápdụng phương pháp loại suy, ta thấy khi cầy ruộng thì cần trâu, tức Ngưu, nên ông Tư Mã Canh đã chọn tên tự

là Tử Ngưu, chữ Tử thêm vào để tỏ ý tôn kính như Lão Tử, Khổng Tử Ông Chu Trương tự là Tử Cung Cung

là cây cung, khi nói đến cung, ta nghĩ đến việc phải trương giây cung Danh tướng Triệu Vân thời Tam Quốc

có tự là Tử Long Nói tới vân là mây, ta nghĩ đến long là rồng bay trong mây Tôn Quyền, vua của Đông Ngôthời Tam Quốc, có tự là Trọng Mưu Trong Hán tự, từ kép Quyền Mưu nghĩa là mưu kế để đối phó với nhữngtrường hơp phi thường hay mưu kế gian quyệt Do vậy, người tên Quyền lấy tên tự là Mưu, còn từ Trọng chỉthứ cấp trong gia tộc

Tại Việt Nam, các cụ cũng áp dụng nguyên tắc này Ông Lý Văn Phức (1785-1849), tác giả Nhị Thập TứHiếu có tự là Lân Chi Chi có nghĩa là một thứ cỏ thơm Nói đến thơm, người ta nghĩ đến chữ Phức là hươngthơm Cụ Trương Đăng Quế, danh nhân triều Nguyễn, có tên tự là Diên Phương Phương có nghĩa là mùithơm Diên Phương nghĩa là mùi thơm ngào ngạt, nhắc ta nhớ đến mùi thơm cây quế Ông Lương Nhữ Hộc,

đỗ thám hoa đời Lê Thái Tông (1434-1442), là tổ nghề in ở Việt Nam, có tên tự là Tường Phủ Tường cónghĩa là chim bay lượn Chữ Tường và chữ Hộc đều viết với bộ điểu, từ đó loại suy ra tên chánh phải là loạichim: chim hộc giống như con thiên nga Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tự là Hạnh Phủ Hạnh là đứchạnh, liên hệ đến Khiêm là nhún nhường Còn từ Phủ thêm vào để tỏ vẻ tôn kính

c Dùng điển tích để đặt tên tự: Phương pháp này là lấy một thành ngữ, một câu văn, hay điển tích củaTàu mà trong đó có cả tên chính và tên tự Xin nêu vài Ví dụ[50]: Đời nhà Hán có ông Ngụy Triết tự Tri Nhân.Ông lấy tên Tri Nhân vì thành ngữ Trung Quốc có câu: “Tri Nhân Tức Triết” Ông Lộc Long có tên tự là TạiĐiền Trong Kinh Dịch có câu: “Hiên Long Tại Ðiền” nên người tên Long lấy tên tự là Tại Điền Ông PhanNhạo có tự là An Nhân Trong sách Luận Ngữ có câu: “Trí Giả Nhạo Thủy, Nhân Giả Nhạo Sơn”, nghĩa làngười có trí thích nước, người có lòng nhân thích núi Tên chánh là Nhạo nên lấy tên tự là Nhân

Tại Việt Nam, các nhà nho xưa cũng áp dụng phương pháp này Ông ngoại của Giáo sư Nguyễn NgọcHuy là cụ Trần Minh Đức có tự là Nhuận Thân Chữ Đức và Nhuận Thân đều có trong câu của sách Đại Học:

Trang 22

“Phú Nhuận Ốc, Đức Nhuận Thân” Nghĩa là sự giàu có làm nhà ở tốt đẹp, đức hạnh làm thân mình tốt đẹp.Học giả Bùi Kỷ có tên tự là Ưu Thiên Theo sách Liệt Tử và Tả Truyện, nước Kỷ có người suốt ngày lo trờisập Do vậy, nhắc đến ưu thiên, nghĩa là lo trời sập, người ta nghĩ ngay đến người nước Kỷ Đó là lý do tạisao cụ Bùi Kỷ lấy tên tự là Ưu Thiên

d Dùng tiếng phản nghĩa để đặt tên tự: Nếu áp dụng phương pháp này, tên tự và tên chính phải có ýnghĩa trái ngược nhau Ví dụ nhà thơ Đào Tiềm (372-472) của Trung Quốc có ảnh hưởng lớn tới tư tưởngcủa các nhà nho Việt Nam có tên tự là Nguyên Lượng Lượng và Tiềm trái nghĩa nhau Tiềm có nghĩa là ẩndấu trong khi Lượng có nghĩa là phô bày ra Đời Xuân Thu Chiến Quốc, môn đệ đức Khổng Tử là ông ĐoànMộc Tứ có tự là Tử Cống Theo từ điển của Đào Duy Anh, chữ Tứ là người trên cho người dưới, còn Cống làhiến dâng, hàm ý người dưới dâng cho người trên[51] Ông Bốc Thương tự là Tử Hạ Ta biết, khi xưa Thương

và Hạ là hai triều đại Trung Quốc kình chống lẫn nhau Thi sĩ Hàn Dũ đời Ðường làm bài văn ném xuống sông

để cá sấu đi có tên tự là Thoái Chi Dũ và Thoái trái nghĩa nhau Dũ là tiến thêm lên còn Thoái là thụt lùi lại

Danh thần nhà Nguyễn là ông Trần Tiễn Thành, khi trước tên là Dưỡng Độn, tự là Thời Mẫn, hiệu là TốnTrai Độn và Mẫn trái nghĩa nhau Độn có nghĩa là không rõ ràng, tối tăm, chậm chạp, còn Mẫn có nghĩa làthông minh, mau mắn

Ngoài bốn cách phổ thông trên, người Trung Quốc còn dùng nhiều cách thế phức tạp khác để đặt tên tự

Ví dụ đời Xuân Thu có ông Nhiên Đơn, tự là Tử Cách Chữ Cách là tấm da trâu nhuộm màu đỏ để làm áogiáp Còn chữ Đơn nghĩa là màu đỏ Nên nghe chữ Cách, người ta phải suy luận qua hai giai đoạn mới biếttên chánh là Đơn

Qua các thí dụ trên, ta thấy có nhiều cách thế đặt tên tự và các cụ xưa quan niệm rằng tên tự càng bíhiểm bao nhiêu, càng tỏ ra mình trí thức bấy nhiêu Thành ra, hiểu được tên tự của các cụ không phải là điều

dễ dàng Tuy nhiên, tên tự lại là một đề tài rất ý nghĩa về phương diện ngữ học Do đó, vấn đề cần đượcnghiên cứu sâu rộng để có thể làm được quyển từ điển về tên tự, như các nhà ngữ học Âu Mỹ và Trung Quốc

đã làm về tên hiệu của các người thời danh trong nước họ[52]

6 Nghi Lễ Đặt Tên Tự Tại Việt Nam: Tên tự được người xưa đặt trong ngày lễ mà người Việt gọi là lễ

Thành Đinh, tức thành người, còn người Trung Quốc gọi là lễ Gia Quan, tức lễ đội mũ Lễ này cử hành chonam giới, lúc khoảng 20 tuổi, tức lứa tuổi mà xã hội coi người đó đã đạt mức trưởng thành Lễ thành đinh làmột biến cố có ý nghĩa nên được cử hành trong một buổi lễ trang trọng

Lễ thành đinh được tổ chức như sau: Trước hết, cha mẹ chọn ngày lành tháng tốt tổ chức buổi lễ Kháchmời là bà con nội ngoại và một số bạn bè thân quen Tất cả tề tựu trước bàn thờ gia tiên, được trần thiết vớinhang đèn, hoa trái Chủ lễ là vị trưởng thượng trong dòng họ hay người có uy tín trong thôn xóm được cha

mẹ mời Người thanh niên trong bộ áo dài the, quỳ trước bàn thờ Mở đầu, chủ lễ làm lễ lên đèn, sau đó cửhành nghi thức cáo gia tiên, rồi ngỏ lời khuyên bảo người thanh niên:

Con ơi, nay con lớn khôn, bắt đầu từ hôm nay, con phải gánh trách nhiệm trong gia đình, xã hội Phải biết

tự trọng, nuôi ý chí lập thân, học hành chăm chỉ [53]

Sau đó, người cha hay vị trưởng lão lấy khăn xếp đội cho anh và tuyên bố tên tự của anh Từ ngày cửhành lễ thành đinh, theo nguyên tắc, người con hết lệ thuộc vào bố mẹ Anh có thể thay mặt cha mẹ quản lýtài sản, thừa kế hương hỏa và chịu trách nhiệm về những công việc mình làm Trách nhiệm đó được coi lànặng nề, nên trong nhiều gia đình, người thanh niên phải trải qua cuộc trắc nghiệm về sức khỏe, gia chánh,hay những cuộc thi đua đòi óc sáng kiến để chứng tỏ hội đủ điều kiện đạt trình độ tự lập

Như đã nói, tên tự được đặt bằng từ Hán Việt nên hiểu được tên tự là điều khó Do vậy, thông thường chỉnhà nho, hay tầng lớp khá giả mới có tên tự Giới bình dân ít ai đặt tên tự cho mình Nếu có, cũng phải nhờcác nhà nho đặt và giải thích ý nghĩa cho Từ ngày có tên tự, người khác sẽ dùng tên đó gọi thay tên chính để

tỏ lòng kính trọng

TIẾT D: TÊN HIỆU

Trang 23

1 Định Nghĩa Tên Hiệu: Theo định nghĩa của học giả Trung Quốc Sheau Yueh J Chao, tên hiệu hay biệt

hiệu là tên của nhà nho dùng để ghi dấu nơi chốn một người được giáo dục về mặt tri thức và đạo đức, đồngthời là nơi dùng để sáng tác hay biên soạn các tác phẩm văn chương, học thuật[54] Ngoài ra, các nhà nhocũng dùng tên hiệu để biểu lộ lý tưởng, đức tính, ý muốn, sở thích của mình

2 Nguồn Gốc Tên Hiệu: Tên hiệu có tại Trung Quốc vào thời nhà Chu, nhưng tại Việt Nam, người ta

chưa biết văn thi sĩ nào là người đầu tiên đặt tên hiệu cho mình Lịch sử có nói đến các ông Trương Trọng, LýTiến, Lý Cầm là các du học sinh đi Trung Quốc dưới thời Hán, và Khương Công Phụ dưới thời Đường Nhưng không thấy sử sách nào nói các ông này có tên hiệu là gì Mãi đến thời nhà Trần, khi nền Hán học được khá phổ biến, đã có những văn thi sĩ, thì lúc ấy mới thấy một Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) có tên hiệu là Giới Hiên, một Trương Hán

Siêu (?-1354) là Thăng Am

3 Hình Thức Tên Hiệu: Phân tích tên hiệu của nho sĩ Việt Nam, ta có thể chia làm ba loại.

a Tên hiệu chỉ nơi sinh hoạt trí thức Tên loại này có hai chữ Chữ đầu để diễn tả tinh thần hay khungcảnh làm việc Chữ thứ hai chỉ nơi chốn làm việc Để chỉ nơi chốn, các cụ thường dùng các chữ: Trai, Hiên,

Am, Đường, Vân

b Tên hiệu chỉ nơi sinh quán Tên loại này thường có tên làng xã hay tên sông núi nơi quê hương các cụ

c Tên hiệu để chỉ đức tính hay triết lý sống Dù tên hiệu thuộc loại nào, các cụ bao giờ cũng cố gói ghémvào đó một lý tưởng đạo đức

4 Phương Pháp Đặt Tên Hiệu Để Chỉ Nơi Đọc Sách: Nếu tên hiệu để chỉ nơi đọc sách hay sinh hoạt

trí thức, các cụ áp dụng 5 cách sau đây

a Đặt tên hiệu với từ ngữ Trai: Trong Hán tự, chữ trai do tiếng trai phòng, thư trai, hay trai xá Tất cả đều

có nghĩa là nơi đọc sách hay thư viện Nhiều bậc danh nho Việt Nam đã dùng từ trai để làm thành phần chotên hiệu Xin đan cử một số ví dụ[55]:

Lý Văn Phức (1785-1849) Khắc Trai Phòng nghiêm trang

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) Ngộ Trai Phòng mở trí tuệ

Nguyễn Quý Tân (1811-1858) Đĩnh Trai Phòng ngay thẳng

Nguyễn Trãi ( 1380-1442) Ức Trai Phòng suy tư

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) Nghị Trai Phòng bàn luận

Trang 24

Phạm Quý Thích (1760-1825) Lập Trai Phòng lập thân

Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) Tĩnh Trai Phòng yên lặng

b Đặt tên hiệu với từ Hiên: Theo Từ Điển Hán Việt của ban Tu Thư Nghĩa Thục thì hiên là ngôi nhà nhỏhoặc hành lang có cửa sổ dùng để làm thư phòng hay uống trà[56] Các danh nho xưa dùng từ hiên để làmthành phần tên hiệu của mình Xin nêu các thí dụ sau:

Nguyễn Trung Ngạn Giới Hiên Hiên nhà giới luật

Nguyễn Nghiễm (1708-1775) Nghị Hiên Hiên nhà bàn luận

Nguyễn Du (1765-1820) Thanh Hiên Hiên nhà thanh cao

c Đặt tên hiệu với từ Am: Am là lều tranh hay chùa nhỏ Các nhà nho dùng từ này làm thành phần tênhiệu cho mình với ngụ ý nơi sinh hoạt trí thức đơn sơ, nghèo nàn

Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) Đạm Am Nơi đạm bạc

Bùi Huy Bích (1741-1818) Tồn Am Nơi giữ thiên tính

Trương Hán Siêu ( ? –1345) Thăng Am Nơi tiến cao hơn

Nguyễn Công Hãn (1680-1732) Tĩnh Am Nơi yên lặng

Trang 25

d Đặt tên hiệu với từ Ðường: Đường có nghĩa là nhà chính trong cung thất Các nhà nho chọn loại tênhiệu này để biểu lộ đức tính:

Lê Quý Đôn (1726-1784) Quế Ðường Nhà hương thơm

Phạm Quý Thích (1760-1825) Thảo Đường Cư Sĩ Nhà lợp cỏ của cư sĩ

e Đặt tên hiệu với từ Vân: Ngày xưa, người Trung Quốc dùng một thứ cỏ gọi là vân để kẹp trong sách,

để sách khỏi bị con nhậy cắn phá Do đó, sách còn được người Trung Quốc gọi là vân biên, thư viện là vânđài hay vân thự, cửa sổ thư viện gọi là vân song Các nhà nho dùng từ vân trong tên hiệu để chỉ nơi đọc sáchnhư các từ am, hiên, trai, đường Tất cả đều biểu lộ tâm tính thích đọc hay viết sách của các cụ Cụ ChuMạnh Trinh (1862-1905) có hiệu là Trúc Vân Trúc Vân nghĩa là nơi đọc sách của bậc hiền nhân vì trúc trongnghệ thuật Trung Quốc tượng trưng cho người quân tử

5 Đặt Tên Hiệu Để Chỉ Nơi Sinh Quán: Lấy địa danh làm tên hiệu có hai cách Cách thứ nhất là lấy tên

quê quán hay tên làng Cách thứ hai lấy tên núi non, sông hồ nơi sinh quán để làm tên hiệu:

a Lấy tên quê quán làm tên hiệu: Người Trung Quốc cũng như Việt Nam đều có tâm tình rất gắn bó vớiquê cha đất tổ, được biểu lộ trong phong tục lấy tên quê quán làm tên hiệu: Xin đan cử một vài ví dụ: TạiTrung Quốc, chính trị gia Tôn Văn là người ở huyện Trung Sơn nên ông lấy tên hiệu là Trung Sơn Nhà chủtrương dân chủ Khang Hữu Vi lấy hiệu là Nam Hải vì quê quán ông ở Nam Hải

Tại Việt Nam, thân phụ chiến lược gia Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh (thế kỷ14) có tên hiệu là Nhị Khê

vì ông cư ngụ tại làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, Hà Đông Tác giả bộ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca là cụ PhạmĐình Toái có tên hiệu là Song Quỳnh vì cụ người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Học giảPhạm Quỳnh (1892-1945), ngoài tên hiệu Thượng Chi, còn có tên Hồng Nhân vì chánh quán ở làng ThượngHồng, Hải Dương

b Lấy tên sông núi làm tên hiệu: Theo quan niệm triết lý Lão Trang, người xưa tin rằng: Nhân giả nhạosơn, trí giả nhạo thủy, nghĩa là người có lòng nhân thích núi, người có tri thức thích nước Do vậy, giới nho sĩrất thích dùng tên núi non, sông nước để biểu lộ nhân cách, tư tưởng của mình Tên hiệu loại này, nếu chỉsông, có từ Giang hay Xuyên Nếu chỉ núi có từ Sơn Các cụ tin rằng chính sông núi đã hun đúc nên conngười và tài năng các cụ Thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) dùng bốn câu thơ sau đây giải thích lý do tạisao ông chọn tên hiệu Tản Đà:

Vùng đất Sơn Tây nẩy một ông

Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng

Sông Đà núi Tản ai hun đúc

Bút thánh câu thần sớm vãi vung

Trang 26

Cụ Nguyễn Du lấy tên hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ vì quê ông ở Tiên Điền, Hà Tĩnh có dẫy núi Hồng Lĩnh Xin đan cử các nho sĩ lấy tên hiệu với từ Sơn:

Tên

Tên Hiệu

Nguyễn Thượng Hiền (1868-1926) Mai SơnTùng Thiện Vương (1819-1870) Thương Sơn

Đặng Nguyên Cẩn (1876-1922) Thái Sơn

Các nho sĩ lấy tên hiệu với từ: Xuyên, Giang, có nghĩa là sông như nhà thơ trào phúng Trần Tế Xươnglấy hiệu là Vị Xuyên vì quê ông ở gần sông Vị Còn từ Xuyên có nghĩa là sông Thi sĩ Lâm Tấn Phác (1906-1969) lấy hiệu là Đông Hồ vì quê ông ở Hà Tiên có hồ nước tên là Đông Hồ Ngoài ra ta có thể kể thêm một

số ví dụ:

Tên Tên Hiệu

Hoàng Cao Khải ( 1850-1933) Thái XuyênPhan Thanh Giản ( 1796-1867) Mai Xuyên

Nguyễn Tri Phương (? –1873) Đường Xuyên

Nguyễn Văn Lạc (1842-1915) Sầm Giang

6 Phương Pháp Đặt Tên Hiệu Để Diễn Tả Đức Tính Hay Triết Lý Sống: Tư tưởng Lão Trang ảnh

hưởng rất rõ tới tầng lớp sĩ phu Việt Nam qua việc lấy tên hiệu Để biểu lộ tư tưởng triết học này, các cụ xatránh công danh, tìm vui thú nơi điền viên thôn dã Tiêu biểu là: cụ Chu Văn An ( ?-1370) lấy hiệu là Tiều Ẩn,nghĩa là người kiếm củi ở ẩn Ông Nguyễn Quý Tân (1814-1858) đỗ Tiến Sĩ đời Thiệu Trị, lấy tên hiệu là TúyTiên, tức ông tiên say Cụ Phạm Đình Hổ (1768-1839), tác giả Vũ Trung Tùy Bút, lấy hiệu là Đông Dã Tiều,nghĩa là người kiếm củi ở cánh đồng phía đông Nhà danh y Việt Nam ở cuối thế kỷ 18 là Lê Hữu Huân(Quân) hay Lê Hữu Trác có tên hiệu Hải Thượng Lãn Ông, nghĩa là ông già lười biếng ở trên biển Chữ HảiThượng có nghĩa là trên biển, nhưng đồng thời là tên quê quán Nguyên quán của ông ở trấn Hải Dương, làng

Thượng Hồng Còn chữ Lãn có trong câu thơ của ông: “Thiện diệc lãn vi hà huông ác; Qúi do bất nguyện khởi

ưu bần”Nghĩa là Lành cũng biếng làm huống chi kẻ dữ; Sang còn không thích há lo nghèo [58] Cụ Nguyễn Đôn

Trang 27

Phục (1878- ?) bỉnh bút của Nam Phong Tạp Chí lấy tên hiệu là Tùng Vân Đạo Nhân, nghĩa là người tu tiên

để tâm hồn bay theo mây gió

7 Áp Dụng Phương Pháp Đặt Tên Tự Để Đặt Tên Hiệu: Như đã nói trong phần tên tự, giới nho sĩ ngày

xưa áp dụng nguyên tắc dùng tiếng đồng nghĩa, điển tích hay từ ngữ trong cổ thư để đặt tên tự Trong việcđặt tên hiệu, các cụ cũng áp dụng nguyên tắc này để đặt tên hiệu Xin liệt kê ba nguyên tắc sau:

a Dùng tiếng đồng nghĩa với tên chánh để đặt tên hiệu: Ta có thể nêu ra các thí dụ điển hình sau đây:

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm có tên hiệu là Ban Tang Hai chữ Điểm và Ban đồng nghĩa Điểm nghĩa là chấm nhỏ,Ban có nghĩa là lốm đốm, còn Tang là dấu vết Cụ Trương Hán Siêu có tên tự là Thăng Phủ, tên hiệu làThăng Am Từ ngữ Siêu và Thăng đều có nghĩa là vượt lên trên chỗ cao hơn Còn từ ngữ Phủ chỉ sự tônkính, chữ Am chỉ nơi sinh hoạt trí thức của cụ

b Dùng câu văn trong cổ thư để đặt tên hiệu: Ta có thể nêu các thí dụ sau: Cụ Nguyễn Cư Trinh 1767), tác giả chuyện Sãi Vãi, lấy tên hiệu là Đạm Am Chữ Đạm có trong câu của Khổng Minh dậy con: ĐạmBạc Dĩ Minh Chí, nghĩa là dùng cách sống đạm bạc để tỏ chí khí mình Học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) lấytên hiệu là Thượng Chi Cụ lấy tên này từ một câu trong Kinh Thi có tên chính của cụ: Thượng Chi Dĩ QuỳnhHoa Hồ Nhi, nghĩa là để thêm vào đồ trang sức thì lấy hoa quỳnh mà thêm vào[59] Giáo sư Nghiêm Toản,trưởng ban Hán Văn của Đại Học Văn Khoa Sàigòn, có tên hiệu là Hạo Nhiên Hai từ này được trích trong câucủa Mạnh Tử: Ngã Thiện Dưỡng Ngô Hạo Nhiên Chi Khí, nghĩa là ta phải nuôi cái chí khí chính đại[60]

c Dùng điển tích để đặt tên hiệu: Ta có thể nêu các thí dụ sau: nhà cách mạng Phan Bội Châu 1940) lấy tên hiệu là Sào Nam Hai từ này rút ra trong điển tích Việt Điểu Sào Nam Chi, nghĩa là con chim Việtlàm tổ ở cành phía nam Cụ lấy tên này để biểu lộ lý tưởng lúc nào cũng hoài niệm tới tổ quốc Học giảNguyễn Văn Toán, tác giả nhiều bộ sách về phong tục, có tên hiệu là Toan Ánh Toan là nghèo khổ, Ánh làánh sáng Tên Toan Ánh lấy từ điển tích Ánh Tuyết Độc Thư Theo tích này, Tôn Khang, đời Tấn, nhà nghèo,không có đèn, phải nhờ ánh sáng phản chiếu của tuyết mà đọc sách Chuyện trên ngụ ý nói có khắc khổchăm học mới thành tài Học giả Nguyễn Văn Toán đã ký thác hoàn cảnh mình qua tên hiệu Toan Ánh

(1867-Khi nho học tàn lụi dần, nhường chỗ cho nền văn hóa tây phương thì tên hiệu của tầng lớp sĩ phu cũngbiến mất Thay vào đó, xuất hiện một loại tên mới trong giới trí thức Việt Nam, đó là bút hiệu

TIẾT E: BÚT HIỆU

1 Định Nghĩa Bút Hiệu: Bút hiệu hay còn gọi là bút danh là tên của các văn nghệ sĩ, ký giả chọn để thay

cho tên chánh, hoặc cho đi kèm với tên chánh để xác nhận tác quyền trên những tác phẩm văn chương, nghệthuật, đồng thời để biểu lộ một mục đích hay lý tưởng nào đó

2 Nguồn Gốc Bút Hiệu: Bút hiệu xuất hiện đầu tiên tại Pháp Vào thời Trung Cổ, công dân Pháp bị buộc

phải tòng quân, trốn tránh sẽ bị tử hình Do vậy, những người trốn lính phải lấy tên khác để che dấu tung tích.Tên đó Pháp ngữ gọi là “nom de guerre”, nghĩa là tên chiến tranh Cũng vào thời Trung Cổ, dân Pháp không

có quyền tự do ngôn luận Tác phẩm nào xúc phạm tới giới chức chính quyền hay tầng lớp giáo sĩ sẽ bị trừngphạt Do vậy, các văn sĩ bắt chước kiểu tên “nom de guerre”, đặt ra “nom de plume”, tức là bút hiệu để chedấu tung tích, lý lịch của mình trong sinh hoạt văn chương chữ nghĩa Từ Pháp, bút hiệu lan ra khắp thế giới

và lẽ dĩ nhiên có cả Việt Nam Ngày nay, người Hoa Kỳ vẫn mượn từ ngữ “nom de plume”của Pháp để chỉ búthiệu

3 Hình Thức Bút Hiệu: Bút hiệu xuất hiện tại Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, đồng

thời với sự hình thành của nền quốc văn mới, chịu ảnh hưởng văn hóa tây phương Về phương diện hìnhthức, nếu tên hiệu thường gồm hai chữ thì bút hiệu có thể là:

Trang 28

Một số mẫu tự ghép lại: Nhà thơ TTKh, TCHYA VIP KK.

Đủ thành phần tên: Thi sĩ Vũ Đình Liên, Bàng Bá Lân

Một ngoại ngữ: Họa sĩ Etcetera, thi sĩ Jean Leiba

Căn cứ vào nội dung các bút hiệu, ta thấy văn nghệ sĩ áp dụng hai phương pháp sau đây để đặt bút hiệu:

4 Phương Pháp Đặt Bút Hiệu Của Các Nhà Nho: Vào khoảng những năm đầu của thế kỷ hai mươi,

các văn nghệ sĩ, ký giả còn là các nhà nho, vốn liếng Hán học còn nhiều, nên nguyên tắc đặt bút hiệu của các

cụ lúc này vẫn theo các nguyên tắc đặt tên hiệu Xin nêu các ví dụ sau:

a Bút hiệu đặt theo một câu văn Tàu: Cụ Trần Trọng Kim (1882-1953), tác giả hai bộ sách rất giá trị làViệt Nam Sử Lược và Nho Giáo, có bút hiệu là Lệ Thần Cụ lấy tên này vì tên cụ là Kim, nghĩa là vàng Tụcngữ Trung Quốc có câu: Ngọc ẩn Côn Sơn, kim sanh Lệ Thủy, nghĩa là ngọc ẩn ở núi Côn, vàng sinh ra ởsông Lệ Cụ Kim chọn bút hiệu Lệ Thần vì muốn thần phục sông Lệ

b Bút hiệu đặt theo nguyên tắc tên tự: Theo nguyên tắc này, tên chánh và bút hiệu có ý nghĩa gần giốngnhau Ví dụ nhà văn Đào Trinh Nhất (1900-1951) tự là Quán Chi, bút hiệu là Bất Nhị Nhất nghĩa là một, BấtNhị nghĩa là không phải là hai Còn tên tự Quán Chi, Quán và Nhất đều có nghĩa hạng nhất, đứng đầu (Ví dụquán quân) Nhà văn Hồ Văn Trung (1885-1958), tác giả hàng trăm cuốn tiểu thuyết, có bút hiệu là BiểuChánh Chữ Trung và Chánh đều có nghĩa là ngay thẳng

c Bút hiệu đặt theo tên một nhân vật lịch sử: Cụ Lê Dư, một tay bút chiến cự phách của làng báo ViệtNam buổi ban đầu, lấy bút hiệu là Sở Cuồng Cụ lấy bút hiệu này vì tên cụ giống tên nhà triết học thời ChiếnQuốc là Tiệp Dư, người nước Sở, có tên hiệu là Sở Cuồng Học giả Phạm Quỳnh đã giải thích vì sao ôngchọn bút hiệu Thiếu Hoa Đường Ông viết:

Cụ Phạm Quý Thích hiệu Lập Trai, biệt hiệu Hoa Đường Vì chính cụ là người làng Lương Ngọc tôi, trước

là làng Lương Đường, mà tên về đời Lê là Hoa Đường Tôi mộ cái tài học danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là

vị chân nho ôn hòa thuần túy cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu Tên cụ là Lão Hoa Đường mà cho mình là Thiếu Hoa Đường [61]

5 Phương Pháp Đặt Bút Hiệu Của Phái Tân Học: Đến khoảng năm 1930, khi văn chương quốc ngữ

lấn lướt hẳn văn chương Hán Nôm, thì các văn nghệ sĩ thời này chọn cho mình những bút hiệu có nội dungphóng khoáng hơn Các bút hiệu không còn lệ thuộc vào những điển tích, câu văn trong cổ thư Tàu, haynhững bút hiệu phải có những chữ như Trai, Am, Hiên, Đường, Xuyên, Sơn, Phu, Phụ như trước nữa, mà đặtbút hiệu theo nhu cầu mục đích của mình Sau đây là các mục đích của các văn thi sĩ, ký giả khi đặt bút hiệu:

a Bút hiệu để che dấu tên thật Vì một lý do nào đó, như e ngại bị phê bình, sợ bị kiện tụng, các văn nghệ

sĩ chọn một bút hiệu để che dấu tên thật Trường hợp này có thể phân làm hai loại: che dấu hẳn và che dấumột phần

Trang 29

Che dấu hẳn là lấy bút hiệu để người khác không biết ai là tác giả Đại đa số các bút hiệu của người Việt Namthuộc loại này Một thí dụ điển hình là bút hiệu T.T Kh, tác giả bài thơ nổI tiếng Hai Sắc Hoa Ti Gôn đượcđăng ở tập san Tiểu Thuyết Thứ Bảy, đã làm xôn xao dư luận xóm nhà văn vào năm 1937 Cho tới nay,không người nào biết T.T Kh là ai Báo chí một thời đã viết nhiều bài tìm hiểu về T.T Kh, nhưng vẫn chưa ai

biết tên thật của thi sĩ này là gì Nhà phê bình thi ca Hoài Thanh, Hoài Chân đã trách khéo T.T Kh rằng: Liệu

rồi đây, người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối [62] ?

Tác giả truyện Kho Vàng Sầm Sơn lấy bút hiệu là TCHYA Bút hiệu này gây thắc mắc cho nhiều người, cóngười giải thích chữ tắt đó là Tôi Chẳng Yêu Ai, hoặc Tôi Chẳng Hề Yêu Ai Cuối cùng, nhà văn Đái Đức Tuấngiải thích TCHYA là tiếng viết tắt của câu Tôi Chỉ Yêu Angèle[63]

Trong lối che dấu tung tích, các nhà văn còn dùng cách thức đặt hẳn một tên khác, cũng có tên họ, tênđệm và tên chính, nhưng đó không phải là tên thực của tác giả Ví dụ nhà thơ Chu Vương Miện có tên thật làNguyễn Văn Thưởng Nhà thơ Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thúc Cần Nhà thơ Du Tử Lê có tên thật là

Lê Cự Phách[64] Dùng bút hiệu loại này, các văn nghệ sĩ muốn độc giả nghĩ đó là tên thật vì một bài viết, mộttác phẩm được đánh giá là đứng đắn, nghiêm túc khi chính tác giả dùng tên thật để xác nhận bản quyền Chedấu một phần là phương pháp mà ta có thể đoán ra tên thật nhờ yếu tố có trong bút hiệu Các văn thi sĩ ápdụng bốn cách sau đây để che dấu một phần tông tích:

Thứ nhất, lấy tên đệm và tên chính làm bút hiệu Nhà văn Nguyễn Lan Khai lấy bút hiệu là Lan Khai Nhàthơ Phạm Huy Thông (1918-?) lấy bút hiệu là Huy Thông Nhiều nhà văn áp dụng nguyên tắc này để chọn tênhiệu

Thứ hai, lấy tên đệm và tên chính rồi nói lái Nhà văn Nguyễn Thứ Lễ(1907-?) nói lái ra là Thế Lữ

Thứ ba, ghép vần tên họ với vần tên chính Nhà văn Ngô Văn Phát ghép vần chữ Ngô và chữ Phát thành

Tố Phang Nhà văn Trần Khánh Giư (1896-1947) đảo lộn hai từ Khánh Giư thành Khái Hưng để làm bút hiệu

Thứ tư, lấy tên chính viết ra Hán tự, rồi lấy bộ chữ tạo thành tên chính đó làm bút hiệu Ví dụ học giảPhạm Quỳnh (1892-1945) lấy bút hiệu là Hồng Nhân Chữ Quỳnh nếu viết ra Hán tự có bộ Ngọc nghĩa làhồng ngọc, nên cụ chọn bút hiệu Hồng Nhân Hơn nữa, cụ chọn bộ Ngọc vì một lý do khác nữa là nguyênquán của cụ ở làng Ngọc Cục, Hải Dương Chỉ có các vị uyên thâm nho học mới lấy bút hiệu kiểu cách này

b Bút hiệu chỉ nơi sinh quán: Người Việt có tâm lý rất gắn bó và quyến luyến nơi sinh quán Dù cư ngụ ởđâu, họ cũng vẫn hoài tưởng quê hương Tâm lý này được thể hiện qua nhiều bộ môn nghệ thuật như âmnhạc, hội họa, văn chương Đối với tính danh học, tâm lý này thể hiện qua việc lấy địa danh quê quán làm búthiệu Xin đan cử một vài ví dụ:

Nhà văn Phạm Quỳnh (1892-1945), có các bút hiệu khác nhau là Lương Ngọc, Hồng Nhân, Thượng Chi.Ông lấy bút hiệu Lương Ngọc vì nguyên quán của ông ở làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, Huyện BìnhGiang, tỉnh Hải Dương Ông Nguyễn Đức Nhuận (1900-?), chủ nhiệm nhật báo Sàigòn Mới, có bút hiệu là BútTrà vì ông sinh ở Quảng Ngãi nơi có núi Bút Sơn và sông Trà Khúc Nhà thơ Nguyễn Trọng Trí lần lượt lấycác bút hiệu Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử và sau cùng là Hàn Mặc Tử Riêng bút hiệu

Lệ Thanh là do hai chữ đầu của sinh quán Lệ Mỹ và chánh quán Thanh Tân ghép lại Nhà văn Trần TrungLương, tác giả của nhiều tác phẩm nói về đời sống người tỵ nạn Việt Nam ở Canada, lấy hiệu là Trà Lũ vì tổtiên ông ở làng Trà Lũ, Nam Định, trước khi di cư sang Phát Diệm để tránh cuộc bắt đạo của Tổng đốc TrịnhQuang Khanh

c Bút hiệu có ý nghĩa hay, có âm thanh hài hòa Hầu hết các văn nghệ sĩ Việt Nam chọn tên hiệu theotiêu chuẩn này Các văn nghệ sĩ thường chọn các từ ngữ Hán Việt, để vừa có ý nghĩa hay, vừa có âm thanhhài hòa Ví dụ: Thanh Lãng, Nguyên Sa, Thanh Tịnh, Hải Linh, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử, Sĩ Phú, Quỳnh Giao,Mai Hương, v.v…

d Bút hiệu để diễn tả hoàn cảnh bản thân Trong văn chương, không những ta thấy có văn chương tựtrào, mà còn thấy các văn nghệ sĩ chọn bút hiệu để diễn tả hoàn cảnh bản thân Ông Vũ Hối, nhà danh họaViệt Nam, được Tòa Bạch Ốc mời vẽ chân dung Tổng Thống John F Kennedy, kể chuyện về bút hiệu củamình:

Khi đi tù, tôi bị hành hạ trong bao nhiêu năm Chúng đánh tôi hư một con mắt, cùm tôi hư một chân Do

đó khi ra tù tôi chọn bút hiệu là Vũ Đát Di Đố anh bút hiệu này có nghĩa là gì? Biết ông là người hay chữ và

Trang 30

hóm hỉnh nên tôi đoán ra ngay là vừa đi vừa dắt chứ gì? Ông chịu quá bèn không đố nữa mà kể cho tôi nghe những bút hiệu khác của ông Nhiều lắm Chẳng hạn Vũ Sơn Trạch là Vũ sạch trơn, vì ông ta ra tù thì 2 bàn tay trắng Nguyễn Y Vân là vẫn y nguyên, ý nói thân xác hao gầy nhưng lòng ông vẫn như xưa Vũ Vi Vân là vẫn vi vu, ông vẫn đi đây đi đó như gió Và bút hiệu cuối cùng, Hồng Khôi, thì ông không đùa giỡn với chữ nghĩa nữa Bút hiệu này vừa nói lên cái tâm Phật của ông, vừa để tưởng nhớ hai người anh ruột đã bị sát hại Anh Hồng và anh Khôi Hồng Khôi là Hồi Không Cuộc đời này rồi ra còn gì đâu Không cả Thâm thúy quá chứ [65]

e Bút hiệu phù hợp với nội dung bài viết hay tác phẩm: Ngoài bút hiệu chính, các văn nghệ sĩ còn có thể

có nhiều bút hiệu khác, tùy theo nội dung tác phẩm Khi viết loại văn chương có mục đích đả phá hay chỉ trích,nhà văn thường chọn từ ngữ gợi ý không tốt đẹp làm bút hiệu Nhà văn Nguyễn Tường Long trong nhóm TựLực Văn Đoàn có hai bút hiệu: Tứ Ly và Hoàng Đạo Khi viết cho tờ Phong Hóa, ông chuyên dùng thứ vănchương châm biếm để đả phá hủ tục mê tín dị đoan, bói toán, bốc phệ nên chọn bút hiệu là Tứ Ly Theo bóitoán, Tứ Ly là giờ xấu nhất trong ngày Đến khi tờ Phong Hóa đóng cửa, ông sang viết cho tờ Ngày Nay,chuyên về văn nghệ, thì lại lấy bút hiệu là Hoàng Đạo Hoàng Đạo trong tử vi tướng số là giờ tốt nhất trongngày Bút hiệu sau của nhà văn Nguyễn Tường Long đã đi vào lịch sử văn học Việt Nam Học giả NguyễnVăn Toán, bút hiệu Toan Ánh, tác giả nhiều bộ sách phong tục Việt Nam, đã cho cá nhân chúng tôi biết khiphê bình hay bút chiến một vấn đề gì, ông lấy bút hiệu là Ngạc Nhân Ông giải thích: Ngạc trong Hán tự nghĩa

là con cá sấu Hình ảnh cá sấu gợi lên ý nghĩa tấn công

Khi vẽ hay viết về các đề tài có tính cách nửa đùa nửa thực, diễu cợt, châm biếm, các nhà văn, họa sĩthường chọn các từ ngữ hài hước châm biếm làm bút hiệu: Xin liệt kê các bút hiệu sau đây đã thấy trong làngbáo Việt Nam trong nửa thế kỷ qua để làm ví dụ: Thầy Gòn, Thiên Hổ, Thiên Cẩu, Tú Kếu, Tú Gàn, Tú Rua,Đốc Gàn, Đồ Dịch, Đạo Chích, Ký Còm, Đào Nương, Lão Móc, Bút Thép, VIP.KK Các hoạ sĩ vẽ tranh hí họacho báo chí như: Tuýt, Etcetera, Chóe, Mõ, Mít, Hĩm

f Bút hiệu đặt theo trào lưu văn hóa mới Khi xã hội Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa TrungQuốc, các tên hiệu đều là các từ Hán Việt Đến khi văn hóa tây phương tràn vào Việt Nam, người ta thấy ngaymột chuyển biến mới Đầu tiên, các văn nghệ sĩ thay vì lấy tên hiệu, họ lấy bút hiệu Sau đó, thêm một bướcnữa là có vị lấy tên hiệu bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh Ví dụ thi sĩ thời tiền chiến Lê Văn Bái lấy bút hiệu là

J Leiba Nhà báo Đinh Từ Thức viết cho tờ Độc Lập vào những năm trước 1975 lấy bút hiệu là VIP.KK ChữVIP là tiếng viết tắt của Very Important Person, nghĩa là nhân vật rất quan trọng

Ngoài ra, một biến chuyển quan trọng chưa từng thấy trong lịch sử văn chương Việt Nam là các văn nghệ

sĩ chịu ảnh hưởng văn hóa tây phương, lấy tên thật của mình làm bút hiệu Khuynh hướng này bắt đầu xuấthiện vào khoảng năm 1920 và càng ngày càng phổ biến vì các tác giả không mấy sợ tiếng khen chê, lại muốntên tuổi của mình được phổ biến càng nhiều càng tốt Ngày nay, nhiều tác giả không ngần ngại khai báo hết lýlịch cá nhân như sinh năm nào, ở đâu, làm nghề gì, học vấn ra sao, đã xuất bản bao nhiêu tác phẩm v.v… Vànhiều vị còn in hình của mình trên bìa sau tác phẩm Tinh thần này trái hẳn với tinh thần của các cụ trong nềnvăn chương Hán Nôm xưa là lấy tên hiệu để ghi quyền tác giả như: Ức Trai Thi Tập, Tiều Ẩn Thi Tập, GiớiHiên Thi Tập v.v…

TIẾT F: NGHỆ DANH.

1 Định Nghĩa Nghệ Danh: Nghệ danh là danh hiệu của giới nghệ sĩ trong các ngành ca nhạc kịch, hội

họa, điêu khắc gia Theo dõi sự phát triển của ngành ca nhạc kịch qua dòng lịch sử, ta thấy nghệ danh cóhình thức và nội dung khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử

2 Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Hán Nho: Khi xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho Giáo, chỉ giới trí

thức mới lấy tên tự, tên hiệu Còn nghiệp cầm ca bị coi là “xướng ca vô loại” nên không ai đặt nghệ danh chomình Nhưng, đọc cổ sử ta thấy giới nghệ sĩ lấy nghệ danh như sau:

Trang 31

a Lấy tên họ làm nghệ danh: Nghệ thuật sân khấu có mặt tại Việt Nam từ thời Lý Tuy vậy, lịch sử khôngcho biết ai là người nổi tiếng nhất và có nghệ danh là gì Tuy nhiên, có một trường hợp được Đại Việt Sử KýTiền Biên ghi lại như sau:

Năm Ất Sửu (1025) Lý Thái Tổ định người đứng đầu các con hát là Quản Giáp Khi ấy có con hát họ Đào giỏi nghề hát nổi tiếng, thường được ban thưởng Người bấy giờ hâm mộ tiếng tăm của người họ Đào ấy cho nên phàm con hát đều gọi cô Đào [66]

b Lấy tên chính làm nghệ danh Khi xưa, tại nông thôn Việt Nam, ngoài hội hè đình đám, còn có nhữngbuổi hát tuồng, hát chèo, hát ví Diễn viên trong các phường hát này là những người trong làng Họ không cónghệ danh nên dân chúng gọi họ bằng tên chính Ví dụ ở Nam Đàn, Nghệ Tĩnh, có những đêm hát ví phườngvải của các bà Thơn, Chánh Diên, Dũng, o Lượng và các tay lỗi lạc như Phan Bội Châu, Vương Thúc Qúi, TúSách, Tú Cò, Cử Quyền[67]

3 Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Văn Hóa Tây Phương: Vào đầu thế kỷ 20, khi văn hóa tây phương bắt

đầu ảnh hưởng đến tâm lý người Việt thì quan niệm xướng ca vô loại thời Nho học bớt dần Đến khoảng giữathế kỷ 20, phong trào tân cổ nhạc phát triển mạnh nhờ những chương trình phát thanh, đại nhạc hội, phòngtrà Số nghệ sĩ tăng lên và họ cũng bắt chước nhà văn, nhà thơ, lấy cho mình một nghệ danh để che dấu tênthật Về nghệ danh ta có thể phân hai loại:

a Nghệ danh trong ngành cải lương: Khuynh hướng rất phổ quát là các nghệ sĩ trong ngành cải lương đãlấy những chữ rất mộc mạc để đặt nghệ danh cho mình Xin nêu ra một số ví dụ: Sáu Lầu,Tám Chí, ChínĐình, Cô Năm Phỉ, Phùng Há, Ba Vân, Sáu Hẩu, Tư Đàn Cò, Ngọc Giàu, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan,Thanh Kim Huê, Thanh Thanh Hoa v.v…Nguyên nhân sự mộc mạc này là vì ngành cải lương xuất phát từđồng quê miền Nam và theo phong tục ở đây, dân chúng thường gọi một người nào đó bằng tên thứ tự tronggia đình và tên chính Đến khoảng thập niên 1950-1960, tại thành thị xuất hiện nhiều gánh hát cải lương, lúc

đó mới thấy những nghệ danh có ý nghĩa và bóng bảy.Ví dụ: Hùng Cường, Bạch Tuyết, Thanh Nga

b Nghệ danh trong ngành tân nhạc và kịch nghệ: Vào khoảng năm 1930, một cuộc cách mạng về vănhọc và nghệ thuật xảy ra tại Việt Nam Về âm nhạc, loại nhạc ngũ cung mất dần vị thế và thay vào đó là âmnhạc chịu ảnh hưởng tây phương Trong loại âm nhạc mới này, các tác giả viết nhạc không đặt nghệ danhcho mình như các văn thi sĩ đương thời, trừ một số nhỏ như Văn Cao, Văn Giảng, Văn Chung, Đan Thọ,Tuấn Khanh v.v…Còn tuyệt đại đa số bắt chước nhạc sĩ tây phương lấy tên thật làm nghệ danh Ví dụ: TưChơi Huỳnh Hữu Trung, Năm Châu Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Tuyên, Doãn Mẫn, Lê Yên, NguyễnXuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Quý,Nguyễn Hiền, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh v.v…

Ngược lại, những người hát các nhạc phẩm này là các ca sĩ lại chọn cho mình một nghệ danh Và nếunghiên cứu nghệ danh từ những năm 1930 đến giờ, ta thấy có ba khuynh hướng rõ rệt

Khuynh hướng thứ nhất: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ có ý nghĩa hoa mỹ, đọc lên có âm thanh hàihòa Đa số các ca sĩ chọn loại nghệ danh này như: Quỳnh Giao, Ái Vân, Mai Hương, Khánh Ly, Hoài Bắc,Thanh Lan, Phương Dung, Anh Ngọc, Nhật Trường v.v…

Khuynh hướng thứ hai: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ gợi lên hình ảnh, âm thanh trong trẻo, cao vútcủa các loại chim quý như Kim Tước, Sơn Ca, Hoàng Oanh, Thái Thanh, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Họa Miv.v…

Khuynh hướng thứ ba: Chọn một tên Pháp hay Mỹ làm nghệ danh Khi làn sóng âm nhạc Pháp Mỹ trànngập Việt Nam vào những năm cuối thập niên 1960, người ta thấy ngay một hiện tượng là một số ca sĩ ViệtNam nhận tên ngoại quốc làm nghệ danh Có ba lý do để giải thích hiện tượng này: Thứ nhất, có thể họ làngười có quốc tịch ngoại quốc như trường hợp Julie, Jo Marcel Thứ hai, vì muốn bắt chước tiếng hát, cáchtrình diễn của ca sĩ ngoại quốc Đó là trường hợp Elvis Phương muốn bắt chước Elvis Presley của Mỹ Thứ

ba, vì muốn có tên lạ để thu hút khán giả, nhất là tâm trạng giới trẻ đang có khuynh hướng thích văn hóa tâyphương

Ngày nay, tại hải ngoại, nhiều ca sĩ trẻ đã chọn hai từ một Việt, một Mỹ làm nghệ danh Ví dụ: Don Hồ,Tommy Ngô, Linda Trang Đài, Cathy Huệ v.v…Nghệ danh mới xuất hiện khoảng hơn nửa thế kỷ, nhưng đã

Trang 32

biến hóa rất đa dạng Hiện nay, một khuynh hướng đã thấy xuất hiện là các ca sĩ trẻ thích chọn cho mìnhnghệ danh đọc lên nghe “kêu” hơn là có ý nghĩa.

TIẾT G: THƯƠNG HIỆU

1 Định Nghĩa Thương Hiệu: Thương hiệu là loại tên đặt cho cơ sở kinh doanh, thương mại hay cung

cấp dịch vụ Thương hiệu được nghiên cứu ở đây vì người Việt có phong tục dùng thương hiệu để gọi ngườichủ thay vì tên chính Thương hiệu cũng như bút hiệu hay nghệ danh, mới xuất hiện khi Việt Nam tiếp xúc vớinền văn hóa tây phương Tuy vậy, ta cũng nên biết dân Việt đã gọi các cơ sở thương mại và dịch vụ thế nàotrước thời Pháp thuộc

2 Thương Hiệu Trước Thời Pháp Thuộc: Trước thời Pháp thuộc, thành thị chưa phát triển, sức sản

xuất nông nghiệp và thủ công bị giới hạn trong phạm vi gia đình Sản phẩm làm ra chỉ đủ thỏa mãn nhu cầugia đình, làng xã Do vậy, không ai nghĩ đến việc đặt thương hiệu Tuy nhiên, người ta thấy dân chúng có tụclấy tên người chủ để gọi cơ sở thương mại đó Ví dụ: nước mắm bà giáo Thảo, thuốc ông lang Phương, bún

bà Bơ, lò rèn ông Bắc, đi tàu chú Hỏa, ở nhà chú Hỷ v.v…

Trường hợp có sản phẩm nổi tiếng, được nhiều người tiêu dùng, thì người ta dùng tên làng, tên địaphương sản xuất để đặt thương hiệu cho sản phẩm đó Ta có thể kể các ví dụ: nhiễu Bình Định, the La Khê,lụa Cổ Độ, chiếu Phát Diệm, tương Cự Đà, bút Bạch Liên, mực Kiêu Kỵ, giấy Yên Thái, mắm Phú Quốc, vảiThương Hội, gạch Bát Tràng, nón Kim Động, tranh Đông Hồ v.v…

Ngoài ra, theo cách thức tổ chức nghề nghiệp trong xã hội cổ truyền, các người làm cùng nghề họp lạithành phường và thường quy tụ ở một nơi Họ lấy tên nghề hay tên sản phẩm đặt tên cho nơi đó Chứng tíchcòn lại tới ngày nay là tại Hà Nội có các phố hàng Đào chuyên bán vải, phố hàng Trống, phố hàng Bạc, phốhàng Giấy, phố hàng Mành, phố hàng Ðường v.v…Tóm lại, trước thời Pháp thuộc, Việt Nam chưa có thươnghiệu, mới chỉ có từ ngữ chỉ người và nơi sản xuất

3 Thương Hiệu Trong Thời Pháp Thuộc: Dưới thời Pháp thuộc, các tư nhân và công ty Pháp đưa

thương hiệu vào sinh hoạt kinh tế Việt Nam Năm 1863, hãng Denis Frères là hãng đầu tiên có mặt tại đườngCatinat[68], thành phố Sàigòn Năm 1892, hãng rượu bia Hommel mà dân ta khi xưa thường gọi là Ô Mền, làhãng đầu tiên của Pháp có mặt tại Hà Nội Từ đó, các hãng xưởng, các nhà buôn Pháp đến Việt Nam làm ăn

đã đưa thương hiệu vào sinh hoạt kinh tế Ta có thể kể các thương hiệu của họ như Messageries Maritimes,Grivral, Continental, Pôle du Nord, Chez Albert, Alimentation Générale, BGI, Eden, Majestic, Maximv.v Người Việt tại Hà Nội và Sàigòn đã bắt chước Pháp đặt thương hiệu cho các cơ sở thương mại củamình như chúng ta thấy ngày nay Tuy nhiên, chúng tôi chưa biết ai là người Việt đầu tiên dùng thương hiệu

Tại vùng Phát Diệm, Ninh Bình, cách Hà Nội hơn 100 cây số, theo các cụ kể lại, vào khoảng năm 1930,các cửa hàng mới bắt đầu treo bảng thương hiệu, và cửa tiệm đầu tiên ở vùng này là cửa hàng đóng và sửagiầy Công Thịnh Dân chúng thường dùng thương hiệu để gọi chủ nhân cơ sở thương mại Ví dụ: ông bàCông Thịnh, ông bà Nghĩa Lợi, ông bà Hưng Phú

4 Thương Hiệu Thời Xã Hội Chủ Nghĩa: Vào năm 1954, khi đảng Cộng Sản áp dụng chế độ kinh tế xã

hội chủ nghĩa tại miền Bắc Việt Nam, và sau này tại miền Nam Việt Nam từ năm 1975, thì bao nhiêu thươnghiệu của Pháp hay của tư nhân đều bị xóa bỏ Thay vào đó, xuất hiện một loại thương hiệu rập khuôn theokiểu mẫu của Liên Bang Nga Sô Viết dưới thời Cộng Sản Các thương hiệu này đều có nội dung chính trị và

có mục đích phục vụ chế độ Cộng Sản Ta có thể kể các ví dụ: nhà Xuất Bản Sự Thật, nhà Máy Dệt 1 tháng

5, nhà máy Quyết Thắng, thuốc lá Vàm Cỏ, Sàigòn Giải Phóng, Điện Biên, cửa hàng Ăn Uống Quận PhúNhuận, bệnh viện Hữu Nghị Việt Sô, bệnh viện Thống Nhất v.v…Vào năm 1986, khi Việt Nam bắt đầu chuyểnmột phần nền kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường, thì các thương hiệu theo kiểu xã hội tư bản lại xuất hiện

Trang 33

5 Thương Hiệu Trong Chế Độ Tư Bản: Sau năm 1954, miền Nam Việt Nam và từ năm 1986, cả nước

Việt Nam áp dụng nền kinh tế tự do thì thương hiệu theo kiểu kinh tế tư bản đã xuất hiện, và ta có thể chialàm ba loại chính:

a Thương hiệu của người ngoại quốc: Nhiều quốc gia trên thế giới đến đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên,bốn ngoại ngữ Pháp, Hoa, Anh, Nhật là thông dụng

Với Pháp ngữ ta có thể kể các thương hiệu: BGI, Continental, Givral, Mic, Bastos, Palace

Với Hoa ngữ ta có: Nhị Thiên Đường, Vĩnh An Đường, An Hòa Đường, Hải Ký Mì Gia, Đông Ích Chành,Đồng Khánh Tửu Lầu v.v…

Với nhật Ngữ ta có các thương hiệu: Sony, Yamaha, Panasonic Honda

Với Anh ngữ ta có Ford, General Motor, IBM v.v…

b Thương hiệu của các cơ sở quốc doanh: Mặc dù Việt Nam đã có nền kinh tế thị trường, nhưng ĐảngCộng Sản vẫn duy trì các cơ sở quốc doanh nên thương hiệu có nội dung chính trị dưới thời xã hội chủ nghĩavẫn tồn tại

c Thương hiệu của tư nhân Việt Nam: Trong chế độ tư bản, chủ nhân rất chú trọng đến vấn đề làm chogiới tiêu thụ tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của mình Do đó, khi đặt thương hiệu, họ chọn những từ ngữthích hợp như:

Để biểu lộ tinh thần làm ăn chính trực, nhân nghĩa, thương nhân đã chọn các thương hiệu như: Tín ĐứcThư Xã, Kim Tín, Mỹ Tín, Nghĩa Lợi, Nghĩa Hòa, Tín Nghĩa

Để ước mong làm ăn thịnh vượng, ta có các thương hiệu Bảo Long, Hưng Long, Hưng Thịnh, Hưng Lợiv.v…

Để biểu lộ sản phẩm có chất lượng tốt như đồ hải ngoại, các nhà sản xuất còn dùng các từ ngữ giốngnhư tiếng nước ngoài để chiêu dụ khách hàng Loại thương hiệu này đang ngày càng phổ biến Ta có thể kểcác ví dụ từ năm 1950 tới nay: kem đánh răng Perlon, Hynos, thuốc lá Capstan, rạp chiếu bóng Rex, Palace,khách sạn Caravelle, hãng dệt Vinatexco, Vimytex, kem thoa mặt Renova, kem Pôle du Nord, nhà hàngContinental, tiêm bánh Givral v.v…Thương hiệu dưới chế độ tư bản rất đa dạng và phong phú, không thể trìnhbày hết ở đây Mong có thêm những công trình nghiên cứu về lãnh vực khá kỳ thú này

TIẾT H: BÍ DANH

1 Định Nghĩa Bí Danh: Khoảng đầu thế kỷ 20 khi các đảng phái chính trị hoạt động chống thực dân

Pháp thì người ta thấy một loại tên mới xuất hiện Đó là bí danh Bí danh là tên thay cho tên chính được dùngvào mục đích chính trị Một đảng viên, một người làm trong ngành an ninh, tình báo thường được đảng hay

cơ quan đặt cho một bí danh với mục đích gây cho đối phương khó khăn khai thác lý lịch

2 Mục Đích Của Bí Danh: Các người hoạt động chính trị được đặt bí danh để tránh sự bắt bớ của đối

phương, đồng thời nói lên lý tưởng của mình Ví dụ để tránh Nga Hoàng bắt bớ, các nhà lãnh đạo Cộng SảnNga đã bỏ hẳn tên cũ, lấy bí danh làm tên thật của mình Đó là các ông Lenin, Stalin,Trotsky Lenin là bí danh,tên thật của ông là Vladimir Ilich Ulyanov Stalin tên thật là Iosif Vissarionovich Dzhugashvili (1879-1953) Ôngnày có bí danh khác nữa là Koba, nghĩa là “Không Sợ Chi Cả” Leon Trotsky là bí danh, tên thật của ông làLev Davidovich Bronstein (1879-1940) Ở Đức, ông Herbert Ernst Karl Frahm (1913-1992) chống lại chính

Trang 34

sách của Hitler, đổi thành Willy Brandt, và khi lên làm thủ tướng Tây Ðức, ông vẫn giữ bí danh này Cũng như

ở Trung Quốc, Lin Piao tức Lâm Bưu là bí danh của Lin Yu Yung[69]

Ở Việt Nam, một Nguyễn Sinh Côn thành Linov[70] rồi Chủ Tịch Hồ Chí Minh(1890-1969) Một Trần NgọcNghiêm thành Lê Hồng, rồi thành Hoàng Minh Chính, từng là Tổng Thư Ký đảng Dân Chủ Việt Nam, là ViệnTrưởng Viện Triết Học dưới chế độ Cộng Sản vào những năm của thập niên 1960 Cựu Trung Tướng Trần

Độ có tên thật là Tạ Ngọc Phách, gia nhập đảng Cộng Sản nên nhận bí danh là Trần Độ Con trai ông là Ðại

Tá Thắng cũng mang họ Trần Nhiều tướng lãnh quân đội Cộng Sản Việt Nam có bí danh như tướng NguyễnSơn bí danh là Võ Nguyên Thủy, Võ Nguyên Bác, tướng Nguyễn Bình có bí danh là Nguyễn Phương Thảo,tướng Văn Tiến Dũng có bí danh là Lê Hoài

3 Nguyên Tắc Chọn Bí Danh: Nguyên tắc chọn bí danh là chọn cách đặt tên thông dụng nhất tại địa

phương mà người đó hoạt động Thực ra, giữa bí danh và tên thông thường không có gì khác nhau, cũng cótên họ, tên đệm, tên chính Bí danh càng có ý nghĩa chung bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu để ai đọc lên tên ấycũng tưởng là người này người nọ trong cùng địa phương Lối đặt bí danh thông thường nhất mà đảng CộngSản Việt Nam đã áp dụng tại miền nam Việt Nam trong thời gian 1954-1975 là lấy con số thứ tự ghép với một

từ ngữ Ví dụ: Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Nguyển Văn Linh có bí danh là Mười Cúc, cựu ThủTướng Võ Văn Kiệt có bí danh là Sáu Dân Lối đặt tên này là một tập tục rất phổ thông tại nông thôn miềnNam

TIẾT I: TÊN THỤY

1 Định Nghĩa Tên Thụy: Xét về ý nghĩa, thụy có nghĩa là đẹp Thụy hiệu hay tên thụy nghĩa là tên đẹp.

Tên thụy còn gọi là tên hèm là tên đặt cho một người sắp chết để tránh tên húy, đồng thời để phê phán conngười ấy về phương diện đạo đức lúc sinh thời Tuy nhiên, nếu xét về nguyên tắc thì cách đặt thụy hiệu củavua chúa khác cách thức của thường dân Với thường dân, có hai loại tên thụy: công thụy và tư thụy Mỗi loại

có cách thức đặt khác nhau

2 Nguyên Tắc Đặt Công Thụy: Công thụy là tên do chính quyền thời quân chủ đặt cho người có phẩm

hàm chức tước Vua thường ban thụy hiệu cho các công thần, cao tăng như một nghĩa cử tri ân Ví dụ TạNguyên Thiều, vị cao tăng khi chết được Hiển Tông Hoàng Đế (1740-1786) ban thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền

Sư[71]

Khi một viên chức qua đời, gia đình phải báo cho chính quyền biết Tùy theo chức hàm cao thấp mà báocho cấp chính quyền khác nhau Thấp nhất là làng xã, cao nhất là vua và triều đình Sau khi báo, viên chứcchính quyền họp lại, kiểm điểm hành vi người chết để đặt tên thụy

Sách Khâm Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ cho biết năm Minh Mạng thứ 7 (1826), nhà vua quy định sẵnmột số thụy hiệu để đặt cho các viên chức chính quyền Tùy phẩm trật, tùy theo văn giai hay võ giai, một chứcquan sẽ có thụy hiệu sau đây:

Thụy Hiệu Dành Cho Quan Chức Triều Nguyễn [72]

Trang 35

Tòng nhất phẩm Văn Ý Võ Khác

3 Nguyên Tắc Đặt Tư Thụy: Khi gia đình có người sắp qua đời, người có vai vế lớn nhất trong họ làm lễ

cáo gia tiên, rồi căn cứ vào hành kiểm tốt xấu của người sắp chết mà đặt tên thụy, sau đó đọc tên thụy cho

Trang 36

người đó nghe Người tốt dùng từ ngữ có ý nghĩa ca ngợi, người xấu đặt thụy hiệu xấu để làm gương chongười sau Nguyên tắc là như thế, nhưng dân gian coi việc đặt tên thụy có mục đích ca ngợi công đức ngườiquá cố, nên các thụy hiệu đều có ý nghĩa tốt đẹp Ngoài ra, còn có tục lệ khi sinh tiền, một người đã chọn chomình thụy hiệu Với các nhà nho uyên thâm chữ Hán, họ dùng các chữ có ý nghĩa thâm sâu Nhưng đối vớidân gian ít học, họ theo một khuôn mẫu định sẵn Đối với các cô gái chưa chồng, tên thụy bao giờ cũng làTrinh Thuận, đàn bà hai chữ Từ Mẫu, đàn ông hai chữ Mẫn Trực hay Trung Tín Ý nghĩa các chữ này nói lênmẫu người lý tưởng mà xã hội cổ truyền Việt Nam muốn khuôn nặn Các cô gái nhất thiết phải trinh thuận, các

bà mẹ phải là hiền mẫu đầy lòng yêu thương, và các ông chồng phải là những người cần mẫn, ngay thẳng,trung tín với vợ con

TIẾT K : TÊN TÔN GIÁO

Nếu các Chư Tăng và đồng bào Phật tử có pháp danh, pháp hiệu, pháp tự thì đồng bào Công Giáo có tênthánh Chúng tôi gọi những loại tên này là tên tôn giáo Trong tiết này, chúng tôi nghiên cứu tên của ngườitheo Phật Giáo Ðại Thừa, Phật Giáo Tiểu Thừa, tên của tín hữu Công Giáo, tên của các vị chức sắc trong ÐạiÐạo Tam Kỳ Phổ Ðộ

1 Tên Của Người Theo Phật Giáo Đại Thừa: Những người theo Phật Giáo, ngoài những tên thông

thường như tên chính, tên hiệu v.v…còn có thể có pháp danh, pháp tự, hay pháp hiệu

a Pháp danh: Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn: Pháp danh là tên đạo lý, phàm người được

thế độ làm tăng chẳng còn dùng tên họ theo đời mà phải lấy tên theo đạo do vị tôn sư đặt cho mình Người thọ tam quy, ngũ giới, tu tại gia cũng được mang pháp danh, cũng kêu là pháp hiệu [73]

Vào năm 1973, chúng tôi được tiếp kiến vị cao tăng tại chùa Long Thiên Tự, xóm Bến Đò, tỉnh Biên Hòa.Ngài đã giải thích pháp danh như sau: Muốn thành Phật tử, phải quy y tam bảo, thọ ngũ giới Vị bổn sư truyềngiới sẽ đặt cho người đó một pháp danh, dựa theo bài kệ được truyền trong môn phái của vị bổn sư ấy Vịcao tăng nói trên thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Lục Hòa Tăng, môn phái Lâm Tế, có tổ đình LongThiên Tự ở Biên Hòa, đã đọc cho chúng tôi bài kệ sau đây để dùng trong việc đặt pháp danh cho các đệ tử:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Nguyên

Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Thổ

Chiếu Thế Sơn Đăng Vạn Cổ Truyền

Mỗi vị tổ sẽ lần lượt lấy một chữ trong bài kệ trên làm chữ đứng đầu của pháp danh Chữ đứng sau, vịbổn sư truyền giới tự chọn, nhưng lấy chữ có nghĩa gần giống với tên riêng Thượng Tọa Thích NguyênThanh, trụ trì tại xã Tân Sơn Hòa Gia Định, thuộc môn phái Lâm Tế, đã đặt pháp danh cho một đệ tử củamình là Quảng Dũng Thầy giải thích như sau: chữ Quảng lấy trong bài kệ của tổ đình, chữ Dũng được chọn

vì Phật tử đó có tên là Hùng Mục đích cách đặt pháp danh này là để phân biệt các đệ tử trong cùng một tổđình, thuộc thế hệ khác nhau

Đọc tiểu sử cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu[74], ta được biết ngài thuộc thế hệ thứ 8 của pháiThiền Thiệt Diệu Liễu Quán Vị tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh đặt pháp danh cho các đệ tử là TrừngNguyên, Trừng Văn, Trừng Thùy, Trừng Huệ, Trừng Thông Đọc các pháp danh này, ta biết các vị ấy thuộccùng thế hệ vì có chữ Trừng đứng đầu pháp danh Ngài Trừng Nguyên tức Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn

Trang 37

Hậu Ngài Trừng Văn tức Hòa Thượng Thích Giác Nguyên Ngài Trừng Thùy tức Hòa Thượng Thích GiácNhiên Ngài Trừng Huệ tức Thượng Tọa Thích Giác Viên Và Ngài Trừng Thông tức Đại Lão Hòa ThượngThích Tịnh Khiết.

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy[75], cách đặt pháp danh của Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam giống lối đặttên trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Trung Quốc Xin nêu các ví dụ điển hình: Nếu đọc tácphẩm Cô Gái Đồ Long, ta thấy các vị sư có vai vế cao nhất của phái Thiếu Lâm lúc bấy giờ có các pháp danh

là Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn Dưới thế hệ này là các vị Không Kiến, Không Trí, Không Vân, Không Tướng,Không Như Dưới nữa là các vị Viên Âm, Viên Nghiệp, Viên Chân, và thấp nhất là các vị sư Tuệ Phong, TuệThông, Tuệ Quang, Tuệ Hiền

Các Phật tử Việt Nam thường lấy pháp danh với các từ ngữ khởi đầu như: Huệ, Diệu, Tâm, Trí, Tuệ, nhưDiệu Lan, Diệu Hạnh, Diệu Tâm, Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Tuệ Quang Các từ ngữ trong pháp danh hàm chứa ý nghĩarất sâu sắc Ví dụ chữ Diệu và Tuệ có ý nghĩa cao đẹp, phù hợp với tinh thần Phật Giáo Tác giả Đoàn TrungCòn giải thích hai chữ Diệu và Tuệ theo quan điểm Phật Giáo như sau:

Diệu: Tốt đẹp, sáng láng, ngon ngọt, sạch sẽ tinh tế, nhiệm mầu Những đức ấy nói không xiết, nghĩ không cùng Tức là cái lý thật tướng vậy Diệu trái với thô, trược Diệu tức là thoát khỏi phiền não, ngũ dục của phàm phu, nhơn đó được ngũ diệu của thánh giả [76]

Huệ hay Tuệ: Ðức sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt điều lầm lạc và mê muội, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi [77]

Pháp danh được đặt trong buổi lễ Quy Y rất trang trọng, đầy ý nghĩa Quy y nghĩa là hướng về và sốngtheo Phật, Pháp, Tăng nên trọng tâm của buổi lễ là lúc Phật tử qùy trước Tam Bảo, ba lần phát nguyện xintrọn đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng Những lời phát nguyện này được một hay nhiều thầy chứnggiám Trong buổi lễ, người quy y xác nhận sự hướng dẫn về các đấng giác ngộ, sống theo đạo lý giác ngộ vàsống hòa hợp với các người cùng lý tưởng Chính vì yếu tố này mà các pháp danh của những người cùng lýtưởng, cùng do một thầy truyền giới, có đặc điểm chung như đã nói ở trên

b Pháp hiệu: Khi một Phật tử xuất gia đi tu và được thế độ làm tăng, vị bổn sư sẽ đặt cho vị ấy một pháphiệu, đôi khi còn gọi là pháp tự Pháp hiệu là tên chính thức của vị tu sĩ trong suốt cuộc đời hành đạo Pháphiệu có ba từ ngữ Đối với nam tu sĩ, từ ngữ khởi đầu là Thích, với nữ tu sĩ là Thích Nữ Chọn từ ngữ Thíchtrong pháp hiệu có nghĩa là cuộc đời vị tu sĩ ấy đã trọn vẹn dâng hiến và theo đạo pháp của Đức Thích CaMâu Ni là đấng đã sáng lập ra Phật Giáo Hai từ ngữ sau trong pháp hiệu do tôn ý của vị trụ trì chùa đó đặttheo môn phái của mình Ví dụ Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu khi thọ sa di giới tại giới đàn Thuyền Tôn

ở Huế, được vị bổn sư đặt cho pháp danh là Trừng Nguyên và pháp hiệu là Ðôn Hậu Còn thế danh của ngài

là Diệp Trương Thuần Ở đây ta thấy giữa thế danh Thuần và pháp hiệu Ðôn Hậu có sự liên hệ về ý nghĩa.Thuần và Hậu, theo từ điển của Ðào Duy Anh, đều có nghĩa là thực thà dầy dặn Do kiểu cách đặt pháp hiệunày mà người ta biết được mối liên hệ giữa các đệ tử trong cùng tổ đình Đọc các pháp hiệu của các ThượngToạ như Thích Thiện Thông, Thích Thiện Đạo, Thích Thiện Hào, Thích Thiện Minh là ta biết các vị này cùngthuộc một tổ đình, một thế hệ vì có chung từ ngữ Thiện Hoặc đọc tên các Hòa Thượng Thích Giác Nguyên,Thích Giác Viên, Thích Giác Tiên, Thích Giác Nhiên, ta biết các ngài thuộc một tổ đình ở chùa Tây Thiên, Huế,thuộc thế hệ thứ 8 của pháp Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán[78]

Nghiên cứu tên của các chư tăng, Phật tử, ta thấy có lối gọi toàn xưng là lối gọi bao gồm Chức Vị + PhápDanh + Pháp Hiệu Xin kể một số ví dụ điển hình:

Đại Lão Hòa Thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu, tức ngài Thích Đôn Hậu

Hòa Thượng Trừng Thùy Giác Nhiên, tức ngài Thích Giác Nhiên

Thượng Tọa Tâm Phát Trí Siêu, tức ngài Thích Trí siêu

Sư Bà Tâm Hảo Diệu Không, tức ngài Thích Nữ Diệu Không

Đọc tên một vị tu sĩ Phật Giáo, ta không biết được vị đó thuộc tông phái nào và thứ cấp trong tông phái rasao Sở dĩ như vậy vì mỗi tông phái có một bài kệ riêng và các bài kệ đó nhiều khi có những chữ giống nhau

Trang 38

2 Tên Của Người Theo Phật Giáo Tiểu Thừa: Pháp danh không quan trọng trong Phật Giáo Tiểu Thừa.

Người cư sĩ và giáo sĩ cấp sa di vẫn giữ nguyên tục danh Pháp danh của các tu sĩ Phật Giáo Tiểu Thừa làtiếng Phạn, nhưng các ngài cũng phiên âm ra tiếng Hán Việt có ý nghĩa như tiếng Phạn Ví dụ Hòa ThượngBuddhapala gọi là Hộ Giác Hòa Thượng Supanno là Thiên Tuệ[79] Hòa Thượng Vansarakkhita là Hộ Tông

3 Tên Của Người Theo Kitô Giáo: Những người Công Giáo Việt Nam có một tên thánh được đặt khi

chịu phép rửa tội Tên thánh còn được gọi là tên bổn mạng Giữa tên thánh của người Công Giáo Việt Nam

và tên rửa tội (baptismal name) hay tên Kitô Giáo (Christian name) của người tây phương có sự khác biệt nêncần hiểu ý nghĩa của mỗi bên

a Ý nghĩa tên rửa tội hay tên Kitô Giáo của người Âu Mỹ: Anh ngữ có 3 danh từ để chỉ tên riêng: một làtên rửa tội (baptismal name), hai là tên Kitô Giáo (Christian name), ba là tên thứ nhất hay tên đặt (first or givenname) Cả ba danh từ này đều có nghĩa là tên chính (first name hay given name) Tên chính của người tâyphương được đặt trong lễ rửa tội nên gọi là tên rửa tội[80] Và tên chính của người tây phương còn gọi là tênKitô Giáo vì các nước tây phương chịu ảnh hưởng văn minh Kitô Giáo, đã tuân theo lời khuyến cáo của GiáoHội Công Giáo, lấy tên các thánh để đặt tên cho các cá nhân

Tục lệ lấy tên thánh đặt tên cho cá nhân đã có từ thời giáo hội sơ khai Công đồng Nicaea của Giáo HộiCông Giáo họp năm 325 cấm việc dùng tên các thần thánh không phải của Kitô Giáo để đặt tên Đến thờiCông Đồng Tridentinô họp vào năm 1563, Giáo Hội Công Giáo buộc giáo dân khi đặt tên riêng phải chọn tênthánh Công đồng lưu ý các linh mục là khi làm phép rửa tội, mà gặp trường hợp cha mẹ cố tình đặt tên khônghợp tinh thần Kitô Giáo, thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên thánh, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổrửa tội của giáo xứ

Theo Bách Khoa Từ Điển Britannica, quyết định trên của Giáo Hội Công Giáo nhằm chống lại tục lệ củaGiáo Hội Tin Lành, đặc biệt của Thanh Giáo cho phép giáo dân nhận tên các nhân vật trong Cựu Ước làm tênchính, như các nhân vật Abraham, Samuel, Jacob Rachel[81]

Đến bộ giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo Hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công ĐồngTridentinô Đến bộ giáo luật mới ban hành năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc ngườiCông Giáo phải lấy tên thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô Giáo.Điều 855 của bộ giáo luật quy định:

Cha mẹ, người đỡ đầu và Cha Sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô Giáo

[82]

Tại sao Giáo Hội Công Giáo từ lúc sơ khai đến nay đã quyết định lấy tên các thánh để đặt tên cho các tínhữu? Giáo Hội đưa ra quyết định trên vì 2 lý do:

Thứ nhất, giáo hội tiếp tục duy trì truyền thống của giáo dân thời sơ khai Những giáo dân đầu tiên là dân

nô lệ, không phải công dân La Mã và theo tục lệ, mỗi khi người nô lệ được giải phóng, trở thành công dân La

Mã, thì họ lấy tên chủ nhân thuộc giai cấp quý tộc làm tên mình Tuy nhiên, với tín đồ Kitô Giáo thời đó, họkhông thiết tha với các tên của các ông chủ cũ vì họ là nạn nhân của giai cấp quý tộc trong các cuộc cấm đạo.Ðồng thời khi một quý tộc trả tự do cho hàng trăm người nô lệ thì hàng trăm người đó có cùng tên với chủ nô

lệ cũ Kết quả là tập tục này không đáp ứng được nhu cầu phân biệt nên các người nô lệ được giải phóng lấytên những người mà giáo hội Kitô Giáo nhận là thánh để đặt tên cho mình Ví dụ: Thimotheus, Stephanos,Laurentius là các vị thánh đầu tiên Đang khi Kitô Giáo phát triển, lan tràn cả Âu Châu thì đế quốc La Mã bướcvào giai đoạn suy tàn Hệ thống tên của La Mã mai một đi, tên thánh trở nên phổ thông hơn

Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo muốn tôn trọng phẩm giá con người Khi xưa số tên người Âu Châu còn ít,

hệ thống tên họ chưa xuất hiện, thì để phân biệt các cá nhân, người Âu thường dùng tên mà người Anh Mỹgọi là Nickname, người La Mã gọi là Agnomen, còn ta gọi là tên lóng Khi xưa tên lóng rất phổ biến ở La Mã,

Hy Lạp và có nghĩa là tên thêm vào tên chính Tên lóng thường có ý nghĩa rất tiêu cực[83], tương đương nhưtên tục của người Việt Nam Ví dụ các tên như Crassus nghĩa là người béo, Varus: người què, Baldie hayCalvin: người trọc đầu, Cecil: người mù, Claude hay Gladys: người què Vì tên có nội dung hạ thấp phẩm giácon người, nên giáo hội đã ban hành luật buộc các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp các trường hợp tên có ýnghĩa tiêu cực, phải lấy một tên thánh đặt thêm vào

Trang 39

Ngày nay, giáo dân Việt Nam cũng như giáo dân ở nhiều nơi trên thế giới vẫn nhận tên thánh vì còn giữtinh thần bộ giáo luật cũ Tên thánh có thể được thay đổi khi chịu phép thêm sức[84]

Theo giáo huấn của giáo hội, việc tín hữu nhận tên thánh nhằm hai mục đích: thứ nhất, để người đó bắtchước gương sáng thánh bổn mạng mà sống cuộc đời đạo đức; thứ hai, để tín hữu đó được phù trợ nhờ lờicầu bầu của thánh bổn mạng Hai mục đích trên được nói trong khoản giáo luật số 1186:

Với mục đích cổ võ việc nên thánh của dân Chúa, Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu, lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của loài người, cũng vậy, Giáo Hội cổ động lòng tôn kính chân chính và thành thực đối với các thánh, vì lẽ các tín hữu được kiên vững nhờ gương sáng và được nâng đỡ bởi lời bầu cử của các ngài [85]

b Ý nghĩa tên thánh đối với người Công Giáo Việt Nam Thực ra, tên mà người Việt Nam gọi là tên thánhthì tại các nước tây phương, chịu ảnh hưởng Kitô Giáo, gọi là tên rửa tội (Baptismal name) hay tên chính do

bố mẹ đặt[86] Sở dĩ người Công Giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa có thêm tên thánh mà ngườitây phương không có, là vì các giáo sĩ tây phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã ápdụng tinh thần giáo luật, đặt tên thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở tây phương

Trái lại, đọc tiểu sử hàng giáo phẩm Công Giáo tây phương, ta không thấy vị nào có hẳn một tên thánhriêng biệt như kiểu tên người Công Giáo Việt Nam Nơi tôi đang cư ngụ là San Jose, California có hai vị GiámMục là Pierre DuMaine và Patrick J McGrath Tên Pierre và Patrick vừa là tên chính, vừa là tên thánh.DuMaine, McGrath là tên họ Tuy nhiên, cũng tại đây, có linh mục Kevin Joyce Kevin là biến thể của tênKelvin Kelvin là tên con sông ở Tô Cách Lan[87] Linh mục Kevin Joyce không có tên thánh

Vậy quyết định trên của các giáo sĩ thừa sai đối với dân Việt Nam là đúng hay sai? Nếu đặt vào bối cảnhhiện nay thì đó là điều không thể chấp nhận vì tên người Việt Nam hiện nay không hề được đặt ra để hạphẩm giá con người như kiểu người Hy Lạp, La Mã ngày xưa Tuy nhiên, nếu đặt vào bối cảnh Việt Namtrong thế kỷ 16 thì quyết định của các thừa sai có thể tạm chấp nhận vì phong tục dân gian lúc đó còn dùngnhững tên tục tĩu đặt cho những đứa trẻ mới sinh để tránh tà ma Loại tên này gọi là tên tục mà chúng tôi đãtrình bày trong cùng chương này Hiện nay, người Công Giáo Việt Nam thường chọn tên các thánh nam giớicho phái nam và thánh nữ giới cho phái nữ Ngoài ra, vì sự hiểu biết của giáo dân còn hạn chế về số cácthánh được giáo hội công nhận, nên người ta thường chọn các thánh thời Chúa Giêsu như Phêrô, Phaolô,Gioan, Maria, Anna làm tên thánh cho mình Ngày nay, Giáo Hội Việt Nam có 118 vị thánh tử đạo Tuy nhiên, giáo dân Việt vẫn chưa quen nhận tên các thánh Việt Nam làm bổn mạng Người Công Giáo có tục mừngngày lễ bổn mạng là ngày mà toàn thể Giáo Hội Công Giáo trên thế giới tưởng nhớ tới vị thánh đó Khi chết,người Công Giáo không dùng tên húy hay tên riêng mà dùng tên thánh để cầu nguyện cho người quá cố Nhưvậy, xét về mặt bản chất, tên thánh cũng có chức năng như tên thụy, tên hèm hay tên cúng cơm là các tên đểngười sống nhắc đến, cầu nguyện cho người đã chết

4 Tên Của Các Vị Chức Sắc Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ:

Cao Đài Giáo, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chia làm ba phái: Phật Giáo, Lão Giáo và Nho Giáo, thườngđược gọi tắt là Phật, Tiên, Thánh

- Phái Phật mang tên Thái[88], chức sắc mặc đạo phục màu vàng gọi là Thái Thanh

- Phái Tiên mang tên Thượng, chức sắc mặc đạo phục màu xanh gọi là Thượng Thanh

- Phái Thánh mang tên Ngọc, chức sắc mặc đạo phục màu đỏ gọi là Ngọc Thanh

Thái Thanh, Ngọc Thanh, Thượng Thanh do câu của Lão Tử: Ứng Hóa Tam Thanh, tượng trưng choTam Giáo Quy Nguyên[89]

Về cơ cấu tổ chức, Cao Đài Giáo có hai cơ quan: Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài Chức sắc trong CửuTrùng Đài gồm các vị được liệt kê theo thứ tự cao thấp dưới đây[90]:

Trang 40

Nam giới

Nữ Giới

Nghĩa Anh ngữ [91]

Chánh Phối Sư 3 vị Nữ Chánh Phối Sư Principal Archbishop

- Dưới quyền Hộ Pháp có 4 vị: Tiếp Pháp, Khai Pháp, Hiến Pháp, Bảo Pháp

- Dưới quyền Thượng Phẩm có 4 vị: Tiếp Ðạo, Khai Ðạo,

Hiến Đạo, Bảo Đạo

- Dưới quyền Thượng Sanh có 4 vị: Tiếp Thế, Khai Thế, Hiến Thế, Bảo Thế

Các chức sắc nói trên có chung một nguyên tắc đặt tên, dựa trên hai bài thơ, một cho nam giới, một cho

nữ giới

a Đối với nam giới: Cách đặt tên để ấn định tịch đạo dựa theo bài thơ sau[92]:

Thanh Đạo tam khai thất ức niên

Thọ Như địa huyển thạnh hòa thiên

Vô hư qui phục nhơn sanh khí

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên

b Đối với nữ giới: Cách đặt tên để ấn định tịch đạo dựa theo bài thơ [93]:

Ngày đăng: 21/10/2013, 19:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Phẩm Trật Và Tư Dưới Triều Lê Thánh Tông - Sơ thảo Tính danh học Việt Nam
ng Phẩm Trật Và Tư Dưới Triều Lê Thánh Tông (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

Đặt Tên Hiệu Để Chỉ Nơi Sinh Quán: Lấy địa danh làm tên hiệu có hai cách Cách thứ nhất là lấy tên quê quán hay tên làng Cách thứ hai lấy tên núi non, sông hồ nơi sinh quán để làm tên hiệu: Áp Dụng Phương Pháp Đặt Tên Tự Để Đặt Tên Hiệu: Như đã nói trong phần tên tự, giới nho sĩ ngày xưa áp dụng nguyên tắc dùng tiếng đồng nghĩa, điển tích hay từ ngữ trong cổ thư để đặt tên tự Trong việc Phương Pháp Đặt Bút Hiệu Của Các Nhà Nho: Vào khoảng những năm đầu của thế kỷ hai mươi, các văn nghệ sĩ, ký giả còn là các nhà nho, vốn liếng Hán học còn nhiều, nên nguyên tắc đặt bút hiệu của các Phương Pháp Đặt Bút Hiệu Của Phái Tân Học: Đến khoảng năm 1930, khi văn chương quốc ngữ lấn lướt hẳn văn chương Hán Nôm, thì các văn nghệ sĩ thời này chọn cho mình những bút hiệu có nội dung Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Văn Hóa Tây Phương: Vào đầu thế kỷ 20, khi văn hóa tây phương bắt đầu ảnh hưởng đến tâm lý người Việt thì quan niệm xướng ca vô loại thời Nho học bớt dần Đến khoảng giữa Thương Hiệu Trong Chế Độ Tư Bản: Sau năm 1954, miền Nam Việt Nam và từ năm 1986, cả nước Việt Nam áp dụng nền kinh tế tự do thì thương hiệu theo kiểu kinh tế tư bản đã xuất hiện, và ta có thể chia Tên Của Người Theo Kitô Giáo: Những người Công Giáo Việt Nam có một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội Tên thánh còn được gọi là tên bổn mạng Giữa tên thánh của người Công Giáo Việt Nam

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w