1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp từ vay mượn tiếng anh trong một số tác phẩm văn học việt nam đương đại

122 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ cùng với bạn bè

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

DƯƠNG MỸ LINH

TỪ VAY MƯỢN TIẾNG ANH

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

DƯƠNG MỸ LINH

TỪ VAY MƯỢN TIẾNG ANH

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin cảm ơn PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương- một người cô

vô cùng đáng kính, đã tận tình giúp đỡ tôi định hướng đề tài, hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận và hoàn thành khoá luận này Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ cùng với bạn bè và người thân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi để có thể hoàn thành

khoá luận với đề tài “Từ vay mượn tiếng Anh trong một số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại”

Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu và nghiên cứu Tuy nhiên, khoá luận cũng không tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô và bạn bè để khoá luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019

Sinh viên

Dương Mỹ Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương Các nội dung nghiên cứu trong

khoá luận là xác thực Những kết luận khoa học trong khoá luận chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019

Sinh viên

Dương Mỹ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục khóa luận 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5

1.1Lí thuyết về từ vay mượn 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Nguyên nhân vay mượn từ vựng 7

1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng 8

1.2 Từ vay mượn trong tiếng Việt 9

1.2.1 Khái niệm 9

1.2.2 Các nguồn vay mượn 9

1.2.3 Vai trò của từ vay mượn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 13

TIỂU KẾT 15

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, CÁCH THỨC VAY MƯỢN TỪ TIẾNG ANH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 16

2.1 Sự xuất hiện của từ tiếng Anh trong tiếng Việt 16

2.1.1 Nguyên nhân xuất hiện 16

2.1.2 Kết quả thống kê phân loại 17

2.1.2.1 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa 17

2.1.2.2 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo cách thức vay mượn 18

2.2 Đặc điểm từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 18

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 18

Trang 6

2.2.2 Đặc điểm ý nghĩa từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam

đương đại 28

2.3 Cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 30

2.3.1 Vay mượn tiếng Anh nguyên dạng của nguyên ngữ 32

2.3.2 Vay mượn tiếng Anh bằng cách phiên âm chuyển tự 35

2.3.3 Vay mượn tiếng Anh bằng cách viết tắt 37

2.4 Những vấn đề đặt ra với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt 38

TIỂU KẾT 41

KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiếng Việt của chúng ta đã có nguồn gốc từ rất xa xưa, trải qua một quá trình phát triển lâu dài đến nay vẫn tràn đầy sức sống Sức sống đó đã biểu hiện cho một tinh thần dân tộc vô cùng mạnh mẽ và sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong các cuộc đấu tranh xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc Sự phát triển của dân tộc, của đất nước luôn song hành với sự phát triển của một nền quốc ngữ, quốc văn và quốc học, Việt Nam cũng không ngoại lệ

Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà nó luôn có sự vận động, biến đổi

và phát triển qua nhiều gia đoạn lịch sử Trong một giai đoạn cụ thể nào đó, bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữ lại những từ cũ, cấu tạo những từ mới, vay mượn những từ tiếng nước ngoài để có thể bộc lộ, miêu tả các sự vật, sự việc một cách dễ dàng nhất

Vay mượn từ vựng là một hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, tiếng Việt không tách khỏi qui luật chung này Các từ vay mượn là nguồn bổ sung quan trọng cho vốn từ tiếng Việt cả về số lượng lẫn chất lượng Có thể thấy, hiện tượng vay mượn từ vựng là một con đường làm phong phú, giàu có thêm cho vốn từ vựng tiếng Việt Lịch sử vay mượn từ vựng của Tiếng Việt trải qua một thời gian rất lâu dài Tiếng Việt vay mượn rất nhiều đơn vị từ vựng, trong đó phần nhiều vay mượn từ vựng tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Anh

Văn học đương đại là văn học của thời đại hiện nay đang diễn ra Văn học đương đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận động đó đang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ hình tư duy cũ đã diễn ra trước đó Ở Việt Nam, việc tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại ngày càng được quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng vào đời sống văn học, từ hoạt động của nhà nghiên cứu đến sáng tạo của người nghệ sĩ

Qua việc khảo sát các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại, chúng tôi nhận thấy các từ vay mượn tiếng Anh xuất hiện khá nhiều Sự xuất hiện của chúng phản ánh rõ những biến đổi của đời sống xã hội, tâm lí con người, đặc biệt là ngôn ngữ Chính vì vậy, để hiểu rõ hơn về sự hình thành, phát triển vốn từ vay mượn của tiếng Việt trong một số tác phẩm văn học Việt Nam

Trang 8

đương đại, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Từ vay mượn tiếng Anh trong một số

tác phẩm văn học Việt Nam đương đại Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu,

chúng tôi mong muốn tạo dựng một cái nhìn toàn cảnh về việc vay mượn và

sử dụng từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vay mượn từ vựng trong thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Trong cuốn Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á (của Phan Ngọc và

Phạm Đức Dương) [7], tác giả Phan Ngọc đã trình bày vấn đề tiếp xúc của ngôn ngữ và những cơ sở lí luận của tiếp xúc ngôn ngữ cùng với việc ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu lên ngữ pháp tiếng Việt Phan Ngọc viết:

“Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ tất yếu xảy ra sự vay mượn Tuy nhiên, hiện tượng vay mượn xảy ra khác nhau tùy theo yêu cầu khách quan của sự giao tiếp và yêu cầu của cấu trúc ngôn ngữ Về yêu cầu khách quan của sự giao tiếp thể hiện rõ nhất ở sự vay mượn từ.” [7, tr.113]

Một trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện từ vay

mượng trong tiếng Việt hiện nay phải kể đến là cuốn Từ ngoại lai trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Khang Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Khang đã

giới thuyết một cách đầy đủ, toàn diện, hệ thống các vấn đề lí thuyết về vay

mượn từ vựng Ông khẳng định “Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng để bổ sung vốn từ vựng của một ngôn ngữ” [15] Tác

giả đã trình bày một cách cụ thể các phương thức vay mượn từ vựng, từ các bình diện vay mượn của từ đến các cách vay mượn từ vựng Từ chương hai đến chương bảy của cuốn sách, tác giả đã đi vào trình bày các vấn đề cụ thể

về các lớp từ vay mượn, tuy nhiên, tác giả vẫn tập trung nghiên cứu về vay mượn tiếng Hán là chủ yếu, chỉ có hai chương nghiên cứu về vay mượn từ tiếng Pháp và từ tiếng Anh

Góp phần vào thành tựu nghiên cứu về vay mượn từ vựng trong tiếng Việt, còn có một số công trình như: Trần Nhật Chính (2002) [3], Nguyễn Thiện Giáp (2000) [8] Tuy nhiên, trong những bài nghiên cứu này, các tác giả chưa nghiên cứu sâu về sự vay mượn từ tiếng Anh trong tiếng Việt

Trang 9

Hay trong một số bài báo nghiên cứu khoa học của Nguyễn Ngọc Trâm (1995) [22], Nguyễn Văn Khang (2008) [13],Vũ Bá Hùng (2000) [12] được in trong tạp chí Ngôn ngữ cũng có nghiên cứu về vay mượn từ tiếng Anh trong tiếng Việt nhưng chưa nghiên cứu cụ thể hiện tượng vay mượn trong văn học

Điểm qua các công trình nghiên cứu kể trên, có thể khẳng định, hầu hết các công trình này mới chỉ tập trung cung cấp những vấn đề lí thuyết về từ vay mượn nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết hiện tượng vay mượn tiếng Anh trong các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài tìm hiểu từ tiếng Anh trong một số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại, với hi vọng góp phần làm sáng tỏ bức tranh từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Việt ở giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lí thuyết về từ vay mượn nói chung, từ vay mượn trong tiếng Việt nói riêng

4.2 Thống kê và phân loại từ vay mượn tiếng Anh trong các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại

4.3 Đặc điểm, cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các từ tiếng Anh xuất hiện trong một số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngữ liệu khảo sát được thống kê từ 76 tác phẩm văn học Việt Nam

Trang 10

đượng đại trong năm tập truyện: Họ đã thấy bầu trời rộng lớn, NXB Trẻ, 2014 Tắm heo và tắm tiên, NXB Văn học 2016 Mình từng là điều đặc biệt của nhau, NXB Văn học, 2017 Nhật ký nhân viên văn phòng, NXB Trẻ, 2012 Thị Thành Ký, NXB Thế giới, 2015

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện khóa luận, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết

- Chương 2: Đặc điểm, cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết về từ vay mượn

1.1.1 Khái niệm

- Thuật ngữ vay mượn

Vay, mượn, vay mượn vốn là từ ngữ sử dụng trong đời sống hàng ngày

được chuyển dùng làm thuật ngữ ngôn ngữ học

Vay: nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả

lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương

Mượn: lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại, với

sự đồng ý của người đó

Vay mượn dẫn theo Nguyễn Văn Khang, có hai trường hợp diễn ra

trong việc vay mượn từ của một ngôn ngữ

Thứ nhất là vay mượn do không có, thiếu với nội dung “thiếu thì phải

vay mượn” Thiếu cái gì thì vay mượn cái đó, trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ nếu thiếu các đơn vị từ vựng thì về lí thuyết (hay nguyên tắc) có thể vay mượn từ vựng của ngôn ngữ đang có Chẳng hạn, tiếng Việt vay mượn từ

ngữ chỉ các bộ phận xe của tiếng Pháp (dưới dạng phỏng âm): guidon: ghi đông, envelope: lốp, chambre à air: săm, frein/freiner: phanh…

Thứ hai, có sẵn rồi nhưng vẫn vay mượn Bên cạnh việc vay mượn do

thiếu, còn có kiểu vay mượn các đơn vị từ vựng nước ngoài mà bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó đã có từ biểu thị Ví dụ, tiếng Việt du nhập những từ gốc Hán khi đã có sẵn các từ có nghĩa tương đương trong tiếng Việt:

chết/hi sinh/ từ trần; nhớ/ tưởng/ tưởng niệm; buồn/ sầu/ sầu não,…

Xung quanh việc sử dụng thuật ngữ “từ vay mượn” còn tồn tại các tên gọi

khác nhau Chẳng hạn trong tiếng Anh có một số thuật ngữ chỉ từ vay mượn:

(1) Loan chỉ đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng Tiếng Việt tương đương: từ mượn, từ ngoại lai

(2) Loan word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ

Trang 12

khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch âm, phỏng dịch

Tiếng Việt tương đương: từ ngoại lai

(3) Loan translation / calque chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ

hay phương ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch

âm, phỏng dịch Tiếng Việt tương đương: phỏng dịch, dịch, can-ke ngữ nghĩa

(4) Loan blends chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ

khác bằng phương thức pha tạp giữa một phần ngữ âm mượn và một phần ngữ

âm của ngôn ngữ đi vay Tiếng Việt tương đương: từ hỗn hợp ngoại lai

(5) Borrowed/ Borrowing (word) chỉ các đơn vị từ vựng được mượn từ

ngôn ngữ khác, bất kể là đồng hoá hay chưa đồng hoá về hình thức hay nội dung (tức là còn nguyên dạng hay là đã thay đổi ít nhiều) Tiếng Việt tương

đương: từ mượn, từ vay mượn

(6) Hybrid word chỉ các đơn vị từ vựng phức hợp được cấu tạo từ các

thành phần có nguồn gốc từ ngôn ngữ cho vay và ngôn ngữ đi vay Tiếng Việt

tương đương: từ hỗn chủng, từ hỗn huyết

(7) Alien word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác nói chung Alien có nghĩa là “ngoại quốc”, nên alien word để chỉ “từ nước ngoài” nói chung Tiếng Việt tương đương: từ ngoại quốc, từ nước ngoài

(8) Foreign word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác.Tiếng Việt tương đương: từ ngoại quốc, từ nước ngoài

Cách dùng thông dụng, phổ biến hiện nay là borrowed word, loan word Tương ứng trong tiếng Việt hiện đang sử dụng ba cách gọi: từ vay mượn, từ mượn, từ ngoại lai [15, tr.29,30]

- Khái niệm từ vay mượn

Theo nghĩa của từ “mượn” trong Từ điển tiếng Việt [18], “mượn” có

năm nét nghĩa

(1) “Mượn” là lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ

trả lại, với sự đồng ý của người đó

(2) Nhờ làm giúp việc gì

(3) Nhờ làm rồi trả công mướn

(4) Nhờ, dựa vào, dùng làm phương tiện làm việc gì

Trang 13

(5) Tiếp nhận cái vốn không phải của mình để dùng

Theo nghĩa của từ “vay trong Từ điển tiếng Việt, “vay mượn” có hai

nét nghĩa

(1) Vay (nói khái quát) Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương

(2) Lấy cái đã có sẵn của người khác dùng làm của mình, thay cho việc

tự mình sáng tạo ra (nói khái quát)

Dựa vào nghĩa của từ mượn và từ vay mượn trong từ điển Tiếng Việt,

có thể hiểu, vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ là tiếp nhận cái vốn không có của mình để dùng và lấy cái có sẵn của người khác dùng làm cái của mình, thay cho việc tự mình sáng tạo ra

Vậy có thể rút ra kết luận Từ vay mượn là khái niệm để chỉ việc sử

dụng đơn vị từ vựng của ngôn ngữ khác vào ngôn ngữ của mình với nhiều cách thức vay mượn khác nhau như dịch âm, phỏng dịch, nguyên ngữ, dịch nghĩa,… và việc sử dụng đơn vị từ vựng này không làm cho từ vựng của ngôn ngữ nào mất đi

1.1.2 Nguyên nhân vay mượn từ vựng

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ Do quá trình tiếp xúc lịch sử, kinh tế và giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh kinh tế, chính trị cao hơn sẽ có ảnh hưởng tới ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh kinh tế, chính trị thấp hơn Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hoá cao sẽ ảnh hưởng tới ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hoá thấp hơn (thông qua các kênh văn hoá, giáo dục, nghệ thuật,…) Ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói đông hơn sẽ có ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói ít hơn

Bên cạnh đó, nhân tố chính trị - xã hội cũng tạo nên nguyên nhân vay mượn từ vựng Ngôn ngữ có sức thẩm thấu mạnh thường dễ dàng tiếp thu và ảnh hưởng của ngôn ngữ khác Những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi, thân thuộc với nhau về loại hình sẽ chịu ảnh hưởng của nhau và có xu hướng vay

Trang 14

mượn nhau Ngôn ngữ không có chữ viết sẽ dễ chịu ảnh hưởng và tiếp thu các yếu tố của ngôn ngữ có chữ viết

1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng

1.1.3.1 Dịch nghĩa (Can-ke ngữ nghĩa)

Dịch nghĩa hay can-ke ngữ nghĩa là vay mượn phần ngữ nghĩa, còn các hình thức khác như vỏ ngữ âm, chữ viết, hình thái - cấu trúc của ngôn ngữ thì không

Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng (VAT - value - added tax), thị trường hối đoái (exchange market), chuột máy tính (mouse), hạn ngạch nhập khẩu (import quotas),…

1.1.3.2 Phiên âm chuyển tự

Phiên âm là hình thức vay mượn từ vựng bằng cách phỏng theo âm đọc của từ cho vay để ghi từ đó bằng cách đọc, cách viết của ngôn ngữ đi vay Mỗi một ngôn ngữ đều có một phương thức phiên âm mang tính nguyên tắc Chuyển tự là phương thức thực hiện giữa các ngôn ngữ không cùng hệ văn tự Kết hợp phiên âm và chuyển tự là cùng sử dụng hai hình thức cho một từ mượn (một bộ phận xử lí bằng phương thức phiên âm, một bộ phận xử lí bằng phương thức chuyển dịch)

Trong tiếng Việt, những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, phiên âm được hiểu là phiên chuyển (sự kết hợp giữa phiên âm và chuyển tự) Ví dụ:

- Phiên âm: a-xít (acide), ca-ra-vát/ ca-vát (cravate), cao bồi (cowboy),

cà phê (café),…

- Phiên chuyển: mi lô (milo) (nghiêng về chữ), va-len-tin (nghiên về chữ), va len thai (nghiêng về âm đọc- valentine),…

1.1.3.3 Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ

Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ là vay mượn thể hiện qua hình thức chữ viết: sử dụng nguyên cách viết chính tả của đơn vị từ vựng ngôn ngữ cho vay Tuy nhiên cách đọc thì cố gắng đọc sao cho sát với cách đọc của nguyên ngữ

Ví dụ, tiếng Việt vay mượn một số từ tiếng Anh dưới dạng nguyên ngữ

như stress, marketing, live show, computer,… thì khi đọc, người viết luôn cố

gắng đọc sao cho sát cách đọc của nguyên ngữ

Trang 15

1.2 Từ vay mượn trong tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm

Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt vay mượn của ngôn ngữ khác nhưng có sự thay đổi về hình thức ngữ âm, ngữ nghĩa để phù hợp với hệ thống ngữ âm, ngữ nghĩa tiếng Việt

1.2.2 Các nguồn vay mượn

1.2.2.1 Vay mượn tiếng Hán

Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về từ vay mượn Hán trong tiếng Việt Theo cách định nghĩa về “từ mượn” ở trên thì từ mượn Hán là những từ mượn tiếng Hán Dù gọi từ mượn Hán là từ gốc Hán hay từ Việt gốc Hán thì chúng đều là những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, bao gồm cả những từ mang

vỏ vay mượn và cả từ được Việt hoá cao, kể cả từ mượn theo lối can-ke ngữ nghĩa Dù nhìn dưới góc độ khác nhau nhưng đây vẫn là từ mượn Hán Cách gọi này đã bao quát được gần hết những từ ngữ Hán được du nhập vào tiếng

Việt dưới các dạng biến thể

Nguyên nhân vay mượn tiếng Hán chủ yếu là để bổ sung từ vựng còn thiếu trong vốn từ vựng tiếng Việt Thời kì đầu tiếng Việt còn thiếu nhiều từ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - giáo dục, văn học - nghệ thuật,… nên

đã vay mượn các từ ngữ gốc Hán chủ yếu những từ ngữ là thuật ngữ khoa học chuyên môn Ngoài ra, tiếng Việt còn mượn một số từ ngữ tiếng Hán có ý nghĩa

cơ bản giống với tiếng Việt nhưng được bổ sung thêm các sắc thái ý nghĩa

Ở nước ta, hiện tượng vay mượn tiếng Hán diễn ra khá sớm từ trước thế

kỉ X và kéo dài đến hết thế kỉ XX Trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ nguồn từ vựng của tiếng Hán, tiếng Việt đã chủ động tiếp nhận khá nhiều từ gốc Hán Xét về mức độ (bao gồm cả số lượng và chất lượng), trong tiếng Việt, số lượng đơn vị từ vựng mượn tiếng Hán chiếm khá lớn và được đồng hoá rất cao Đơn vị từ vựng mượn tiếng Hán xuất hiện ồ ạt vào nước ta xuất phát từ lí do bổ sung khái niệm do vào giai đoạn đó, vốn từ cơ bản của tiếng Việt chưa hoàn chỉnh và còn nguyên do từ các nhân tố xã hội, ngôn ngữ

Nhân tố xã hội ảnh hưởng tới việc vay mượn từ vựng tiếng Hán là do

Trang 16

vai trò của lịch sử, địa lý, kinh tế, sự giao lưu tiếp biến văn hoá có tác động như một tác nhân thúc đẩy sự tiếp xúc và dẫn đến việc vay mượn từ vựng

Về địa lý, Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới trải dài, tiếp giáp nhau tới hàng nghìn cây số Chính vì vậy, đây là điều kiện thuận lợi để tiếp xúc ngôn ngữ đặc biệt qua con đường khẩu ngữ

Về chính trị và quân sự, Việt Nam và Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn luôn có một mối quan hệ với nhau Thời kì Bắc thuộc là quan hệ giữ kẻ xâm lược và dân tộc bị xâm lược Thời kì độc lập của nước Đại Việt là mối quan

hệ bình đẳng Thời kì xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hợp tác,… Vì vậy, các

từ mượn Hán đã xuất hiện trong tiếng Việt xuyên suốt chiều dài lịch sử trong mối quan hệ giữa hai đất nước Việt - Trung

Về kinh tế, hai nước đặt quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế với nhau từ chính ngạch đến tiểu ngạch Vì vậy, trong số các từ vay mượn tiếng Hán, những từ về kinh tế thương mại chiếm một số lượng khá lớn

Về văn hoá - xã hội, Trung Hoa là cái nôi của văn minh của vùng Đông

Á Vì vậy, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rõ nét của nền văn hoá Trung Hoa qua tiếng Hán Vì thế, các từ vay mượn tiếng Hán về văn hoá chiếm một vị trí quan trọng trong lớp từ văn hoá của tiếng Việt

Ngoài các nhân tố trên, còn có rất nhiều những nhân tố khác cũng có ảnh hưởng tới việc tiếng Việt vay mượn từ ngữ tiếng Hán Các nhân tố xã hội này không tồn tại độc lập riêng lẻ, mà có sự đan xen hoà quyện lẫn nhau Ở mỗi giai đoạn lịch sử thì sẽ có một nhân tố chiếm ưu thế, vậy nên việc vay mượn từ vựng gốc Hán cần được nhìn nhận tổng thể của cả quá trình lịch sử

Với tư cách là biến thể, các từ vay mượn tiếng Hán hoạt động trong tiếng Việt ở tất cả các cấp độ của hệ thống từ vựng tiếng Việt, tham gia vào các phong cách chức năng giao tiếp tiếng Việt Việc du nhập, đồng hoá và thực thế sử dụng này, các từ vay mượn gốc Hán đã hoà nhập và trở thành một yếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt và thành các tầng, các lớp Có nhiều tầng dễ dàng để bóc tách, thông hiểu Nhưng có những tầng cần sự trợ giúp của thao tác ngôn ngữ học lịch sử thì mới có thể chỉ ra được Tuy nhiên vẫn còn nhiều tầng, nhiều lớp cho đến nay vẫn chưa thể khám phá bản chất căn

Trang 17

nguyên gốc rễ vấn đề Tất cả những điều trên đây làm cho khái niệm từ mượn tiếng Hán nói chung mới chỉ được xác định về mặt lí thuyết và do vậy, bức tranh của từ vay mượn tiếng Hán trở nên vô cùng phong phú, đa dạng trong tiếng Việt

1.2.2.2 Vay mượn gốc Ấn - Âu

Vay mượn từ Ấn - Âu là nói về việc sử dụng các đơn vị từ vựng ngôn ngữ có nguồn gốc từ các nước thuộc châu Âu, Tây Trung và Nam Á Số lượng từ vay mượn gốc Ấn - Âu trong tiếng Việt chủ yếu đến từ các đơn vị từng vựng mượn từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga Sự tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ Ấn - Âu diễn ra khá muộn so với tiếng Hán Lúc này, tiếng Việt đã vay mượn một cách có hệ thống những từ ngữ tiếng Hán cần thiết để bổ sung cho vốn từ vựng của mình, do đó, các từ ngữ Ấn - Âu chỉ được vay mượn một cách lẻ tẻ, rời rạc và chủ yếu là trong các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật và các thuật ngữ

Nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựng có nguồn gốc Ấn - Âu là

do vai trò của địa lý, giao dịch thương mại, chiến tranh cùng hoàng loạt các nhân tố chính trị, văn hoá xã hội có tác động như một tác nhân thúc đẩy sự tiếp xúc và dẫn đến việc vay mượn từ vựng này

Mục đích của việc tiếng Việt vay mượn từ ngữ Ấn - Âu trước hết là để

bổ sung những từ còn thiếu trong vốn từ vựng tiếng Việt Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các từ ngữ Ấn - Âu được mượn vào tiếng Việt còn nhằm mục đích bổ sung một lớp từ có nghĩa chính xác hơn từ thuần Việt hoặc Hán

Việt đã có trước đó (ví dụ: xúp lơ, mù tạt), nhất là trong lĩnh vực sử dụng từ

thuật ngữ Trong một số trường hợp đặc biệt, nguyên nhân vay mượn từ ngữ

Ấn - Âu ở tiếng Việt chỉ mang tính thời thượng, trào lưu (ví dụ: nhạc dance, like, status,…)

Thời kì đầu tiên, tiếng Việt không vay mượn từ ngữ Ấn - Âu một cách trực tiếp mà tiếp nhận nó bằng cách gián tiếp qua tiếng Hán Do đó, các âm Ấn - Âu

đều có dáng dấp của âm Hán Việt Ví dụ: Mĩ, Nhật, Tân Gia Ba, Ba Lan, Phần Lan, câu lạc bộ (club), y sĩ phi lí thuần (insporation),… Về sau, cách vay mượn

này đã được giảm bớt, thay thế bằng cách vay mượn trực tiếp hoặc thông qua

Trang 18

tiếng Pháp Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, xu hướng vay mượn trực tiếp diễn ra phổ biến hơn

Ngoài việc tiếp nhận hình thức và ý nghĩa của các từ ngữ Ấn - Âu, tiếng Việt còn mô phỏng cấu trúc của một số từ ngữ Ấn - Âu, tạo nên những

từ ngữ và cách nói có cấu trúc nghĩa giống như trong tiếng Ấn - Âu ở tiếng

Việt Ví dụ: chiến tranh lạnh, giết thời gian (tiếng Pháp); đĩa cứng, đĩa mềm (tiếng Anh); nhà văn hoá (tiếng Nga),…

Hiện tượng vay mượn từ gốc Ấn - Âu là một hiện tượng vay mượn có ý thức và đầy sáng tạo Ban đầu là giữ nguyên dạng trong cách viết, về sau là từng bước Việt hoá theo các qui luật hoạt động của từ tiếng Việt Nét độc đáo

là cho đến nay, rất nhiều từ được sử dụng quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày nhưng không dễ dàng để nhận ra nguồn gốc từ mượn của chúng Sự có mặt của các từ vay mượn gốc Ấn - Âu đã làm cho hệ thống từ vựng tiếng Việt trở nên phong phú, đa dạng đồng thời cũng làm tăng thêm chất lượng của tiếng Việt với nhiều các khái niệm mới, từ ngữ mới được cập nhật liên tục hàng ngày

Với 80 năm đô hộ, thực dân Pháp đã để lại dấu ấn đậm đà của tiếng Pháp đối với tiếng Việt, trong đó có lớp từ vay mượn tiếng Pháp Tiếng Pháp

đã trải qua một quá trình đồng hoá phức tạp do có sự khác nhau về loại hình học giữa hai hệ hình ngôn ngữ Sự xuất hiện của bộ máy cai trị song ngữ với tiếng Pháp được sử dụng làm ngôn ngữ chính đã tạo nên sự lai tạp ngôn ngữ, đan xen tiếng Pháp và tiếng Việt, bắt nguồn cho sự vay mượn tiếng Pháp trong tiếng Việt Các nguyên nhân do về bối cảnh xã hội cũng là một trong những lí do hình thành các con đường du nhập tiếng Pháp vào tiếng Việt và tạo ra các biến thể của từ mượn tiếng Pháp vào trong tiếng Việt

Sự xuất hiện của tiếng Anh tại Việt Nam thông qua sự có mặt của người

Mĩ giai đoạn binh lính Mĩ tham chiến giúp Pháp và tiếp xúc song ngữ Anh - Việt chính thức bắt đầu rộng rãi từ giai đoạn 1954 - 1975 vào thời kì Mĩ - Ngụy Tuy nhiên, số lượng từ tiếng Anh được Việt hoá hay vay mượn không nhiều Phải đến khi Việt Nam đi vào công cuộc đổi mới toàn tiện từ kinh tế đến văn hoá,

mở cửa hội nhập giao lưu quốc tế với xu thế toàn cầu hoá kéo theo sự xuất

Trang 19

hiện của tiếng Anh vào Việt Nam đã khiến cho từ vay mượn tiếng Anh gia tăng một cách đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng

Có thể thấy rằng, vay mượn từ vựng là xu thế tất yếu, tích cực, tiết kiệm của một xã hội tiến bộ, đáp ứng được nhu cầu tư duy và giao tiếp của con người trong xã hội ngày nay Vay mượn không phải là bắt chước, không phải là sành điệu Vay mượn là nhu cầu cần thiết nhưng cũng không được làm mất đi bản sắc riêng của dân tộc Hiện tượng vay mượn theo cách gọi đã trở thành một thói quen, không xoá nhoà bản sắc dân tộc, vì thế không nên dùng quá nhiều từ nước ngoài trong một văn bản Trong những trường hợp cần thiết cần phải đặt từ ngữ trong hệ thống, viết và nói sao cho rõ ràng, mạch lạc,

dễ hiểu

1.2.3 Vai trò của từ vay mượn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt

Việc vay mượn từ nước ngoài trong hệ thống từ vựng tiếng Việt đã góp phần giúp biểu đạt các sự vật hiện tượng mới mà tiếng Việt không có từ để biểu đạt

Ví dụ như tiếng Việt không có từ để biểu đạt sự vật hiện tượng như: pi-lê, ghi-đông, ICOM, kilogram, amateur,… Chính vì vậy, tiếng Việt đã vay mượn từ

tiếng Pháp và tiếng Anh để có thể diễn tả đúng sự vật, sự việc muốn đề cập tới

Vay mượn từ vựng trong hệ thống từ tiếng Việt còn góp phần tăng giá trị phong cách của từ ngữ tiếng Việt và làm phong phú, sinh động thêm hệ thống từ vựng tiếng Việt

Nếu như các từ Hán Việt xuất hiện trong tiếng Việt khi hệ thống từ vựng tiếng Việt đã tương đối ổn định cơ bản về vốn từ, thì sự xuất hiện của chúng góp phần tăng thêm các giá trị phong cách mà từ tiếng Việt chưa có được Tuy nhiên, điều này làm xuất hiện các cặp từ đồng nghĩa trong tiếng Việt nhưng lại có những sắc thái ý nghĩa khác nhau Ví dụ, một số từ thuần

Việt gây cảm giác thô tục, ghê sợ, đau đơn như: chảy máu, chết, nôn,… thì từ Hán - Việt lại tạo được cảm giác lịch sự, trung hoà như: xuất huyết, từ trần, thổ,… Điều này đã gióp phần gia tăng vốn từ đồng nghĩa trong hệ thống từ

vựng tiếng Việt, đồng thời góp phần biểu đạt chính xác thế giới tư tưởng của con người

Trang 20

Tiếng Việt vay mượn từ ngữ Ấn - Âu là để biểu đạt các sự vật, hiện tượng mới thuộc các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, các từ ngữ Ấn - Âu còn được mượn vào tiếng Việt nhằm mục đích bổ sung lớp từ vựng có ý nghĩa chuẩn xác hơn từ thuần Việt hoặc từ Hán - Việt (ví

du: mù tạt, xúp lơ), nhất là trong lĩnh vực thuật ngữ Ví dụ: internet, xăng (essence), xì căng đan (scandal), Xô Viết (Soviet), Tuốc-nơ-vít (tuounevis), ban công (balcon), cờ lê (clé)

Trang 21

TIỂU KẾT

Vay mượn từ vựng là xu thế tất yếu của mọi ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có tiếng Việt Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng, tiếp xúc giữa các ngôn ngữ với nhau do các điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan tạo thành Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ như qua quá trình tiếp xúc lịch sử, giao lưu văn hoá, giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, dân tộc Vay mượn từ vựng xảy ra theo các phương thức: dịch nghĩa, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng của nguyên ngữ

Tiếng Việt chủ yếu vay mượn tiếng Hán và ngôn ngữ Ấn - Âu Quá trình vay mượn diễn ra từ lâu đời, bằng nhiều phương thức và con đường khác nhau Việc vay mượn các từ nước ngoài đã giúp biểu đạt các sự vật hiện tượng mới mà tiếng Việt không có từ để biểu đạt, làm tăng giá trị phong cách, tăng sự phong phú, sinh động của hệ thống từ vựng tiếng Việt

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, CÁCH THỨC VAY MƯỢN TỪ TIẾNG ANH

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

2.1 Sự xuất hiện của từ tiếng Anh trong tiếng Việt

2.1.1 Nguyên nhân xuất hiện

Tiếp theo từ mượn tiếng Hán, tiếng Pháp là sự xuất hiện của các từ mượn tiếng Anh trong tiếng Việt Trong thời kì thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, tiếng Anh đã xuất hiện trên đất Việt thông qua sự có mặt của người Mĩ, đặc biệt là giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi binh lính

Mĩ tham chiến giúp Pháp Một số tỉnh Nam Bộ thời đó đã xuất hiện nhiều ấn phẩm sách báo, phim ảnh, hàng hoá bằng tiếng Anh Nhiều thông ngôn tiếng Pháp chuyển sang học tiếng Anh để làm việc cho Mĩ, hay như việc tiếng Anh được đưa vào giảng dạy trong trường học đã cho thấy vai trò của tiếng Anh tại Việt Nam đã được bắt đầu Tiếp xúc song ngữ Anh - Việt chính thức bắt đầu rộng rãi từ giai đoạn năm 1954 - 1975 Đây là thời kì Mĩ - Nguỵ Tuy nhiên, số lượng từ tiếng Anh được Việt hoá lại không nhiều

Nhìn vào thực tế ở Việt Nam, có thể thấy, sự bùng nổ tiếng Anh bắt đầu từ năm 1986 - thời kì đổi mới đất nước Việt Nam tiến hành thông thương, đổi mới, mở cửa, hội nhập với thế giới nên tiếng Anh trở thành cầu nối quan trọng bậc nhất để nước ta vươn ra thế giới Sự đòi hỏi bức thiết này

đã thúc đẩy sự mở rộng và nâng cao vị thế của tiếng Anh ở Việt Nam Việc bùng nổ nhu cầu sử dụng tiếng Anh tại Việt Nam cũng như xuất hiện các từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Việt có thể bởi các nguyên nhân sau: Nhu cầu sử dụng tiếng Anh thực sự do đòi hỏi của hội nhập đã tác động đến từng thành viên trong xã hội, đặc biệt là những người cần quan hệ hợp tác với nước ngoài, sử dụng tiếng Anh là công cụ giao tiếp Các thiết bị sản phẩm xuất hiện

ở Việt Nam được ghi chú cách dùng bằng tiếng Anh Các giao dịch với nước ngoài được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh Các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam đều yêu cầu phải biết sử dụng thành thạo ngoại ngữ (cơ bản là ngoại ngữ tiếng Anh) Các ấn phẩm bằng tiếng Anh xuất hiện ngày càng

Trang 23

nhiều Các chương trình truyền hình cũng thường xuyên sử dụng từ tiếng Anh, cách diễn đạt theo kiểu tiếng Anh Công nghệ thông tin đặc biệt là mạng internet đã bổ sung vốn từ tiếng Anh một cách tự nhiên cho mọi người Trong giáo dục, tiếng Anh được coi là một môn học chính tại các trường từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông

Những lí do trên đã hình thành trạng thái song ngữ Anh - Việt đối với những người thành thạo tiếng Anh và trở thành cách giao tiếp trộn mã (trộn yếu tố từ tiếng Anh trong cách nói tiếng Việt) ở những người không biết tiếng Anh Việc sử dụng tiếng Anh và vay mượn từ tiếng Anh đã trở thành điều phổ biến trên thế giới, không riêng gì Việt Nam Điều này đã khiến cho trạng thái son ngữ Anh - Việt được mở rộng và vì thế nó tác động lớn tới tiếng Việt Sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tạo cơ hội cho việc tiếng Anh trở thành công

cụ hữu ích tác động đến giao tiếp mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có tiếng Việt của Việt Nam Sự giao lưu giữa những người thuộc các quốc gia, dân tộc

có nền văn hoá khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ở mọi lĩnh vực một cách gián tiếp hay trực tiếp bằng tiếng Anh đã tác động đến ngôn ngữ tiếng Việt

Những lí do trên đã khiến cho ngôn ngữ trên thế giới có một vùng từ vựng chung là tiếng Anh Việc vay mượn từ tiếng Anh của tiếng Việt cũng không nằm ngoài vòng xoáy này

2.1.2 Kết quả thống kê phân loại

Chúng tôi đã tiến hành thống kê 76 tác phẩm văn học Việt Nam đương đại Tổng số từ tiếng Anh chúng tôi thu thập được là 858 từ Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả phân loại

2.1.2.1 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa

Trang 24

2.2 Đặc điểm từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại

(a) Từ đơn

Theo Mai Ngọc Chừ, “Từ đơn là những từ được tạo ra theo phương thức

từ hoá hình vị, do đó trong cấu tạo của từ đơn chỉ có một hình vị.” [4;tr.186] Ví dụ: hot, see, life,… trong tiếng Anh, đi, làm, với,… trong tiếng Việt Dựa vào

định nghĩa này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các từ tiếng Anh xuất hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam đương đại và thu được 554 từ đơn trên tổng số 76 truyện ngắn Trung bình xuất hiện 7,3 từ trong một tác phẩm

Trang 25

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần số xuất hiện

Trang 26

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần số xuất hiện

Trang 27

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần số xuất hiện

Trang 28

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần số xuất hiện

Trang 29

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần số xuất hiện

Kết quả khảo sát cho thấy, có một số từ đơn xuất hiện với một tần số

cao như từ tour (8 lần), taxi (15 lần), bar (10 lần), stress (7 lần), villa (4 lần), tivi (7 lần), web (5 lần), radio (13 lần), karaoke (3 lần),… Đây là những từ chỉ

sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc đối với người Việt Nam, nhất là giới

Trang 30

trẻ Đặc biệt, chiếm số lượng nhiều nhất là những từ đơn chỉ địa danh (85/554 từ) Phần lớn, những từ này xuất hiện thấp (1 lần)

(b) Từ ghép

Theo Mai Ngọc Chừ, “Từ ghép là những từ được tạo ra theo phương thức ghép căn tố với căn tố.” [4;tr.186] Ví dụ: inkpot, headlines, cowboy,… trong tiếng Anh, anh em, hoa hồng, giáo viên,… trong tiếng Việt Dựa vào định

nghĩa này, chúng tôi đã thu thập được 223 từ ghép tiếng Anh xuất hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam đương đại Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

Airline 1 0,11% Century Fox 1 0,11%

Backdoor 1 0,11% Champs- Elysees 1 0,11%

Ballast 1 0,11% Chat room 1 0,11%

Barnaby Steel 1 0,11% China Town 1 0,11%

Big C 1 0,11% Coast guard 1 0,11%

Bill Gate 2 0,23% Coca Cola 1 0,11%

Daniel Radcliff 1 0,11% Dragonfly 1 0,11%

Deadline 1 0,11% Dynamic Korea 1 0,11%

Delete 4 0,46% E-mail 1 0,11%

Trang 31

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

Tỉ lệ

Denis Johnson 1 0,11% Eco Park 1 0,11%

Elvis Presley 1 0,11% Edward Bernays 1 0,11%

Email 8 0,93% Fastfood 1 0,11%

Entry 1 0,11% Food Court 1 0,11%

Game online 1 0,11% Glaticos Living 1 0,11%

Game over 1 0,11% Hamburger 1 0,11%

Green City 1 0,11% Happy birthday 1 0,11%

Guest- housse 1 0,11% Harry Potter 1 0,11%

Los Angeles 2 0,23% Las Vegas 1 0,11%

Manager 2 0,23% Legend Sea 1 0,11%

Massage 2 0,23% Lehman Brothers 1 0,11%

Merlion 2 0,23% Mission

impossible

1 0,11%

Milimét 1 0,11% Mô-men 1 0,11%

New Fujiya 1 0,11% Modern 1 0,11%

New York 2 0,23% Nickname 1 0,11%

New Zealand 1 0,11% Nutz Bar 1 0,11%

Trang 32

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

Tỉ lệ

Operating 1 0,11% Online 4 0,46%

Perseverance 1 0,11% Pepsi Cola 1 0,11%

Photocopy 1 0,11% Pizza Hut 1 0,11%

Porsche 1 0,11% Postcard 3 0,35%

Portland 1 0,11% Pour boire 1 0,11%

Rockn’ Roll 1 0,11% PR 6 0,70%

Rolls Royce 1 0,11% San Antonio 1 0,11%

Romania 1 0,11% San Francisco 1 0,11%

Royal Club 1 0,11% Goodbye 2 0,23%

Royal Hill 1 0,11% Seventeen Saloon 1 0,11%

Sherlock

Holmes

1 0,11% Shopping center 1 0,11%

Ship office 1 0,11% Sign off 1 0,11%

Soft skills 1 0,11% Stand by 1 0,11%

Softdrink 1 0,11% Steak Land 1 0,11%

Spice Girls 1 0,11% Stephen King 1 0,11%

The great 1 0,11% Steve Jobs 1 0,11%

The Melody 1 0,11% The back 2 0,23%

The Queen 1 0,11% The Empire 1 0,11%

The richest 1 0,11% The Grand 1 0,11%

The World 1 0,11% Times Square 1 0,11%

Theme park 1 0,11% Tom Cruise 1 0,11%

Therichest 1 0,11% Tue Mun 1 0,11%

Trang 33

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

Theo “Nhập môn ngôn ngữ học” của Mai Ngọc Chừ, “Từ phái sinh là

từ phức được tạo ra theo phương thức ghép căn tố với phụ tố.” [4;tr.186] Dựa

vào định nghĩa trên, chúng tôi đã khảo sát từ phái sinh tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại và thu thập được 34 từ Bảng kết quả này phản ánh một thực tế là số lượng các từ phái sinh tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại rất ít Tần số xuất hiện của kiểu từ này không nhiều (thường xuất hiện 1

lần), cá biệt có từ xuất hiện với tần số dày đặc, điển hình là từ shopping (9 lần), marketing (4 lần), teenager (2 lần), blogger (2 lần), Euros (2 lần) Điều này

phản ánh rất rõ một thực tế của xã hội Việt Nam hiện nay đó là nhu cầu mua sắm của người Việt ngày càng tăng cao

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

Tỉ lệ

Biggest 1 0,11% Euros 2 0,23%

Blogger 2 0,23% Folks 1 0,11%

Bluntness 1 0,11% Hommorsexuel 1 0,11%

Trang 34

Từ

Tần

số xuất hiện

Tần

số xuất hiện

105 - Coszacoalcos “Ở cảng Coszacoalocos không cần trình

giấy đi bờ, thuỷ thủ qua cổng còn được chào đón rất vui vẻ” (Trương Anh Quốc, 2014, tr 06)

- Estonia “… ban tổ chức mời các nhà văn nước ngoài đến

từ những nước châu Âu (Bồ Đào Nha, Đức, Bỉ, Estonia, Ba Lan, Luxembourg, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Romania, Bulgaria, Hà Lan…)…” (Dương Thuỳ, 2016, tr 50)

gái” (Trương Anh Quốc, 2014, tr 06)

Trang 35

- Hongkong“Chợ Tết nên thợ Hongkong chưa làm việc.”

(Trương Anh Quốc, 2014, tr 73)

- London “Cô ấy chia sẻ rằng cái thời còn du học ở

London, năm nào cũng cứ đến giời khắc giao thừa là cô lại cảm thấy vô cùng cô đơn và nhớ nhà.” (Dili, 2015, tr 104)

Từ chỉ

tên

riêng

82 - Sherlock Holmes “Tôi bất chợt nổi máu Sherlock

Holmes bằng cách đoán quốc tịch của từng nhóm khách trong nhà ăn.” (Dili, 2015, tr 36)

- Bitney Spear “Ví dụ như hãng đồ uống kinh doanh

Pepsi Cola đã chi rất nhiều tiền cho việc mời các ngôi sao thần tượng, tuổi teen vào những video clip quảng cáo mà lần lượt là ngũ quái Spice Girls, Pink, Bitney Spear, Enrique Iglesisas,…” (Dili, 2015, tr 89)

- Merlion “Người Singapore mới nghĩ ra một cách là trưng

bày hình tượng con hải sư (Merlion) theo truyền thuyết của Singapore ở khắp mọi nơi.” (Dili, 2015, tr 71)

- Elvis Presley “Thời kì tiền Rock, sự xuất hiện của Elvis

Presley khiến công chúng kinh ngạc và nhanh chóng trở nên phát cuồng.” (Dili, 2015, tr 56)

671 - Sex “Các chat room, trang web, blog và chuyên mục trên

báo chí trở thành diễn đàn để giới trẻ thảo luận về tình yêu, sex và khuynh hướng tình dục.” (Dili, 2015, tr 55)

- Backdoor “Nhiều người nước ngoài nói với tôi rằng

người Việt Nam chỉ quan trọng frontdoor (cửa trước)

mà coi thường backdoor (cửa sau).” (Dili, 2015, tr 78)

- Ka ki “Trong cơ chế thị trường, những người trẻ tuổi

không phải là một mô hình “áo sơ mi trắng, quần ka ki” như thế kỉ trước” (Dili, 2015, tr 56)

- Stress “… nỗi cô đơn, lạc lõng, stress đô thị, sự sợ hãi

trước những cạnh tranh áp lực trong công việc…” (Dili,

2015, tr 55)

Trang 36

- Cocktail “… thói quen uống rượu mạnh, uống cocktail đã

hình thành nên một văn hoá, nên quầy bar của họ luôn có sẵn các loại ly, rượu và quầy bar đương nhiên được đặt trong một phòng khách cỡ lớn.” (Dili, 2015, tr 48)

Qua bảng thống kê trên, có thể thấy, số lượng các từ vay mượn đặc điểm ý nghĩa xuất hiện nhiều nhất là từ chỉ các sự vật, hiện tượng đời sống hàng ngày (78,22%) Số lượng từ vay mượn đặc điểm ý nghĩa về từ chỉ địa danh đứng thứ hai (12,23%) Còn số lượng từ vay mượn đặc điểm ý nghĩa về

từ chỉ tên riêng chiếm số lượng ít nhất (9,55%)

Sở dĩ, các từ chỉ sự vật, hiện tượng xuất hiện trong các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại chiếm ưu thế bởi Việt Nam trong những năm gần đây đã

mở cửa, hội nhập với toàn cầu Cùng với xu thế toàn cầu hoá diễn ra và sự trợ giúp của cách mạng công nghệ thông tin, tiếng Anh ngày một đi sâu vào đời sống sinh hoạt của con người Việt Nam Chính vì có sự ảnh hưởng trong cuộc sống, mà văn học là tấm gương phản chiếu thế giới đời sống, vì vậy văn học Việt nam cũng chịu tác động và số lượng các từ vay mượn đặc điểm ý nghĩa chỉ các sự vật, hiện tượng đời sống hàng ngày chiếm số lượng lớn

2.3 Cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại

Theo Nguyễn Văn Khang, có 3 cách vay mượn từ vựng đó là dịch nghĩa, phiên âm chuyển tự, mượn nguyên dạng của nguyên ngữ Sau khi khảo sát từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại, chúng tôi nhận thấy có

ba cách vay mượn tiếng Anh Thứ nhất, vay mượn nguyên dạng của nguyên

ngữ: teen, nobel, click, facebook, internet, Helsinki, catwalk,… Thứ hai, vay

mượn bằng cách phiên âm, chuyển tự: cao bồi, com-lê, tuýp, tông,… Thứ ba,

vay mượn bằng cách viết tắt: UNESCO, GMAT, ra-đa, KFC, PR, HIV,…

Chúng tôi nhận thấy, vay mượn từ tiếng Anh bằng cách vay mượn nguyên dạng của nguyên ngữ là cách vay mượn phổ biến nhất trong tiếng Việt hiện nay với 796 từ (92,78%), tiếp đó là vay mượn bằng cách phiên âm chuyển tự với 21 từ (2,45%) Đặc biệt, trong kết quả khảo sát, chúng tôi còn phát hiện

có hiện tượng viết tắt từ tiếng Anh trong tiếng Việt hiện nay đang rất phổ biến

Trang 37

với 41 từ khảo sát được ( 4,77%)

Dưới đây là bảng tổng hợp cách thức vay mượn tiếng Anh trong một số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại:

796 - Massage “Các trung tâm chăm sóc sức khoẻ bằng

liệu pháp sinh thái trong không gian thiền kết hợp massage, trị liệu thảo dược…”(Dili, 2015, tr 117)

- Catwalk “… thân hình gày nhẳng kiểu catwalk

và quần áo body thể hiện phong cách sành điệu.”

(Dili, 2015, tr 89)

- Entry “Có lần, tôi đọc được entry của một

blogger người Sài Gòn.” (Dili, 2015, tr 31)

- Headphone “… giày thể thao và chiếc

headphone lớn choàng cổ, tay lúc nào cũng đút túi quần…”(Hue Le, 2017, tr 38, stt 3)

- Xì trét “Cách đây hai thập kỷ, không thấy mấy

ai bị “xì trét” bao giờ.” (Dili, 2015, tr 115)

- Lai “Tôi không bao giờ lên án chuyện dùng

chêm hoặc dùng những từ “lai” (Dương Thuỳ,

2016, tr 109)

Vay mượn

bằng cách

viết tắt

41 - Pro “Tôi nghĩ bà nói đúng vì Saint Émilion có

vẻ rất pro trong việc bán rượu cho khách phương xa.” (Dương Thuỳ, 2016, tr 117)

- AB (able - bodied - thuỷ thủ hạng nhất - btv)

“Mới tuần trước có AB bị bệnh phải bay về nước.” (Trương Anh Quốc, 2014, tr 54)

Trang 38

- KFC “Rồi lại tình cờ một ngày, tôi phát hiện ra

những thương hiệu KFC, Lotteria… xuất hiện trên khắp các góc ngã tư lớn ở Hà Nội và Sài Gòn.” (Dili, 2015, tr 17)

- CEO “Ông Liew Mun Leong không chủ là cựu

Chủ tịch- CEO của Tập đoàn CapitLand mà đồng thời cũng là Chủ tịch tập đoàn sân bay quốc tế Changi (Singapore).” (Dương Thuỳ, 2016, tr 22)

2.3.1 Vay mượn tiếng Anh nguyên dạng của nguyên ngữ

Ngữ cảnh xuất hiện

Singapore 16

- Singapore “Thái Lan, Singapore, Malaysia và cả

một số nước châu Âu, các ông chủ thường tuyển riêng nhân viên người Việt để “tiếp” đoàn.” (Dili,

2015, tr 15)

- Web “Các chat room, trang web, blog và chuyên

mục trên báo chí trở thành diễn đàn để giới trẻ thảo luận về tình yêu, sex và khuynh hướng tình dục.” (Dili,

2015, tr 55)

Delete 4 - Delete “Bộ nhập dữ liệu trong não anh đã delete cô ra

khỏi hệ thống từ khi nào?” (Phong Điệp, 2012, tr 64) Tivi 7 - Tivi “Sang trọng hơn thì có tivi màu.” (Dili, 2015, tr 47)

Card 3

- Card “Không đi bờ nhưng có người bán card và

mang điện thoại cho mình gọi” (Trương Anh Quốc,

2014, tr 12)

Brest 1 - Brest “Khi sang Pháp, tôi được ban tổ chức cho

Trang 39

Từ

Tần số xuất hiện

Ngữ cảnh xuất hiện

theo học một khoá ngắn hạn tại trung tâm ngôn ngữ CIEL ở tỉnh Brest chung với nhiều bạn trẻ đồng trang lứa đến từ khắp nơi ở châu Âu.” (Dương

Thuỳ, 2016, tr 57)

Email 8

- Email “Bộ hồ sơ của tôi luôn có xác nhận đặt phòng

khách sạn, các email yêu cầu đi công tác, danh thiếp, hình thẻ,…” (Dương Thuỳ, 2016, tr 102)

Mexico 10 - Mexico “Người Mexico quá đỗi thân thiện, nhất là

con gái” (Trương Anh Quốc, 2014, tr.06)

Radio 13

- Radio “Không gọi được ở bờ thì tìm cách gọi bằng

sóng radio Gọi bằng sóng radio thì thích hơn.”

(Trương Anh Quốc, 2014, tr 37)

Internet 8

- Internet “Nơi mà mười lăm đôla Mỹ một giờ

internet, ngoài tiền giờ còn phải bo cho nhân viên”

(Trương Anh Quốc, 2014, tr 87)

b Nhận xét

Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ là cách vay mượn thể hiện qua hình thức chữ viết: sử dụng nguyên cách viết chính tả của đơn vị từ vựng ngôn ngữ cho vay Tuy nhiên cách đọc thì cố gắng đọc sao cho sát với cách đọc của nguyên ngữ Tiếng Việt khi vay mượn nguyên dạng của nguyên ngữ tiếng Anh đã sử dụng hình thức chữ viết chính tả của nguyên ngữ tiếng Anh

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc tiếng Việt vay mượn nguyên dạng nguyên ngữ tiếng Anh

Thứ nhất, do không tìm thấy những từ tiếng Việt tương ứng để diễn đạt, diễn tả sự vật, sự việc muốn được đề cập đến, chính vì vậy tiếng Việt phải vay

mượn Ví dụ trong câu các văn “Bộ nhập dữ liệu trong não anh đã delete cô

ra khỏi hệ thống từ khi nào?” (Phong Điệp, 2012, tr 64, stt 5) “Delete hết” (Phong Điệp, 2012, tr 107) Delete trong tiếng Anh mang nghĩa là gạch đi, xoá

Trang 40

đi, bỏ đi, huỷ bỏ, dẹp, phá huỷ Tuy nhiên, khi sử dụng trong hai câu này, từ

delete lại được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong câu văn “Bộ nhập dữ liệu trong não anh đã delete cô ra khỏi hệ thống từ khi nào?”, từ “delete” ở đây mang nghĩa xoá đi, bỏ đi Nhưng trong câu “Delete hết” lại mang ý nghĩa

có thể là xoá đi, gạch đi, bỏ đi Từ delete trong câu văn này đem lại ý nghĩa rộng hơn cho câu văn Ví dụ trong câu văn “Gian nằm lăn quay trên ghế salon ngáy phò phò như thổi lò rèn” (Trương Anh Quốc, 2014, tr 49), từ ghế salon ở đây mang ý nghĩa ghế ở phòng khách, nhưng là chiếc ghế có bọc đệm

hoặc không bọc đệm, làm bằng nhiều chất liệu khác nhau Chúng thường được đặt trong phòng khách hoặc những nơi để tiếp đón khách Tuy nhiên, tiếng Việt không có từ tương ứng để diễn tả ghế salon, vì vậy cần vay mượn

từ salon trong ngôn ngữ tiếng Anh để diễn tả sự vật muốn đề cập đến

Thứ hai, do muốn sử dụng tiếng Việt để thay thế cho từ tiếng Anh đó, cần phải sử dụng một cụm từ hoặc một câu nhằm giải thích cho người đọc hiểu được Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến sự liền mạch của văn bản Ví dụ trong câu

văn:“Sáng ngủ dậy, động tác đầu tiên của họ là bật máy tính kiểm tra E-mail và Facebook rồi sau mới bước chân vào phòng tắm.” (Dili, 2015, tr 116), “… khi chưa về hưu từng nhắc đi nhắc lại với nhân viên thông qua các email ba yếu

tố chính dẫn đến thành công của cá nhân ông cũng như của capitaLand là ba chữ P…” (Dương Thuỳ, 2016, tr 15), “Khi bạn đặt ra nhiều tình huống xấu nhất, tự bạn sẽ biết làm gì để phòng tránh: chia nhỏ tiền ra cất ở nhiều nơi, photo các giấy giờ cần thiết để nhiều nơi, scan passport gửi lên email trước,…” (Dương Thuỳ, 2016, tr 17) Email hay E-mail trong các câu văn này muốn nói tới “hòm thư điện tử”’; photo trong văn cảnh này mang nghĩa là in sao chép; scan có nghĩa là quét hình để tạo ảnh trên màn hình Tuy nhiên, nếu

dùng là “hòm thư điện tử”, “in sao chép”, “quét hình để tạo ảnh trên màn hình” thay thế cho các từ vay mượn trong các câu văn trên, sẽ ảnh hưởng đến

sự liền mạch của văn bản

Thứ ba, có thể vì tiếng Việt có từ có thể thay thế được từ tiếng Anh nhưng lại không diễn đạt được trọn vẹn hết nghĩa khi vay mượn từ tiếng Anh

Ví dụ trong câu văn “Thời đại Internet, ngồi trên máy riết đâm ra chữ người nào cũng xấu.” (Thu Trân, 2014, tr 15), từ Internet ở đây không chỉ mang ý

Ngày đăng: 04/09/2019, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w