Chúng ta rất quen thuộc với các khái niệm như: Hợp đồng dân sự, hành vi dân sự đơn phương; việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; việc gây thiệt
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ LUẬT DÂN SỰ 2
Đề bài
Phân loại nghĩa vụ dân sự, tìm tình huống thực tiễn minh
hoạ?
Họ và tên: Nguyễn Văn Hùng
Sinh ngày: 11/11/1980
Lớp: VB2HD
Trang 2Hải Dương, tháng 9 năm 2020
Trong cuộc sống hàng ngày các hoạt động phát sinh luôn đi liền với quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm Chúng ta rất quen thuộc với các khái niệm như: Hợp đồng dân sự, hành vi dân sự đơn phương; việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; thực hiện công việc không có ủy quyền… Các hoạt động này làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên hoặc một trong hai bên Vậy nghĩa vụ dân sự là gì? Việc phân loại nghĩa vụ dân sự được thực hiện như thế nào?
1 Về khái niệm nghĩa vụ:
1.1 Khái niệm
Nghĩa vụ dân sự là một phần của năng lực pháp luật dân sự Điều 16, BLDS 2015, có quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”
Điều 274 BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
Theo nội dung của những quy định trên, nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền
Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự
1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự:
Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là hai người đứng về hai phía chủ thể khác nhau
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau một cách tương ứng và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định
Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền đối nhân.1
Trang 32 Phân loại nghĩa vụ:
Đối với nghĩa vụ, có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên nhiều căn
cứ khác nhau Những cách phân loại tinh tế nhất được tìm thấy trong luật nghĩa vụ Tuy nhiên có những cách phân loại được đưa vào các đạo luật Trong khi đó còn nhiều cách phân loại khác được phát triển bởi thực tiễn tư pháp và thông qua nghiên cứu chưa được phản ánh trong các đạo luật
Phân loại là phần cốt yếu của khoa học pháp lý Dựa vào từng phân loại, người ta có thể xây dựng các qui chế pháp lý khác nhau, đưa ra các giải pháp khác nhau cho các trường hợp thực tiễn Do đó khi thực tiễn xảy ra tình huống mà nhà làm luật không dự liệu trước được thì người ta lại tìm cách phân loại để tìm ra giải pháp cho tình huống thực tiễn đó
2.1 Các cách phân loại nghĩa vụ:
Các căn cứ để phân loại thường thấy trong luật nghĩa vụ bao gồm: Hiệu lực; nguồn gốc; đối tượng, và “mức độ” Ngoài ra còn nhiều căn cứ phân loại khác như chế tài, dạng thức…
2.1.1 Phân loại nghĩa vụ theo hiệu lực:
Nghĩa vụ hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ dân sự mà trong đó nghĩa vụ tự nhiên không thể mang tố tụng trước toà án Điều đó có nghĩa là nghĩa vụ được thừa nhận về mặt pháp lý rất rộng, song nhiều trong số chúng không bị phụ thuộc vào một chế độ pháp lý nhất định
Vì vậy nhiều luật gia đã đưa ra cách phân loại nghĩa vụ thành nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ dân sự (đôi khi được gọi là nghĩa vụ pháp lý) Trong số các nghĩa vụ này chỉ có nghĩa vụ dân sự mới có hiệu lực pháp lý
Nghĩa vụ đạo đức không có hiệu lực pháp lý mà chỉ đơn thuần là nghĩa
vụ lương tâm Chẳng hạn một người làm từ thiện đóng góp tiền nuôi những đứa trẻ mồ côi Khoản tiền đóng góp hay thời gian đóng góp hoặc chính sự đóng góp phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng và lòng hảo tâm của người làm
từ thiện
2.1.2 Phân loại nghĩa vụ theo nguồn gốc:
Phân loại nghĩa vụ theo nguồn gốc là cách phân loại căn bản luôn được phản ánh trong các BLDS, tuy có thể khác nhau Ứng với mỗi nguồn gốc này
là mỗi loại nghĩa vụ: Nghĩa vụ hợp đồng (contractual obligation); Nghĩa vụ chuẩn hợp đồng (quasi-contractual obligation); Nghĩa vụ dân sự phạm (delictual obligation); Nghĩa vụ chuẩn dân sự phạm (quasi-delictual obligation); Nghĩa vụ pháp định
Cách thức phân loại nghĩa vụ theo nguồn gốc tuy là một cách thức phân loại căn bản và được ghi nhận trong hầu hết các BLDS, nhưng đã không thể bao quát được tất cả các nghĩa vụ, nhất là nghĩa vụ phát sinh ra bởi hành vi pháp lý đơn phương
2.1.3 Phân loại nghĩa vụ theo đối tượng:
Trang 4Căn cứ vào đối tượng, nghĩa vụ được chia thành ba loại là nghĩa vụ chuyển giao, nghĩa vụ hành động, và nghĩa vụ không hành động ứng với cách phân loại đối tượng của nghĩa vụ
2.1.4 Phân loại nghĩa vụ theo mức độ:
Phân loại nghĩa vụ theo đối tượng chia nghĩa vụ thành nghĩa vụ chuyển giao, nghĩa vụ hành động, nghĩa vụ không hành động
2.1.5 Các cách phân loại khác về nghĩa vụ:
Các cách thức phân loại nêu trên là các cách phân loại rất cơ bản mà thường thấy trong khoa học pháp luật dân sự Tuy nhiên, người ta còn có nhiều cách phân loại khác nữa Mỗi cánh thức phân loại có một tiện ích riêng, nhưng không bao quát được đầy đủ Có thể căn cứ vào chế tài hoặc vào các dạng thức, người ta còn phân chia nghĩa vụ thành các loại khác nhau Các cách phân loại này có tính chất thực dụng hơn so với các cách phân loại truyền thống trong vấn đề thực hiện và cưỡng bức thi hành nghĩa vụ
- Phân loại nghĩa vụ theo chế tài: Thứ nhất, bồi thường thiệt hại; thứ hai, buộc thực hiện nghĩa vụ; và thứ ba, buộc thực hiện nghĩa vụ thay thế
- Phân loại nghĩa vụ theo dạng thức: Trong cách thức phân loại này còn nhiều căn cứ phân loại nhỏ Căn cứ vào thời điểm thực hiện, người ta phân loại nghĩa vụ thành nghĩa vụ thực hiện ngay (như nghĩa vụ trong mua bán trao tay) và nghĩa vụ sẽ được thực hiện trong tương lai (như nghĩa vụ trả tiền vay, trả tiền thuê hoặc có điều kiện) Căn cứ vào số lượng đối tượng, người ta phân loại nghĩa vụ thành nghĩa vụ lựa chọn, nghĩa vụ nối tiếp và nghĩa vụ ngẫu nhiên Căn cứ vào số lượng chủ thể, người ta phân loại nghĩa vụ thành nghĩa
vụ phân chia được, nghĩa vụ không phân chia được, nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ không liên đới Căn cứ vào sự chấm dứt và chuyển giao nghĩa vụ, người ta lại có thể phân loại nghĩa vụ thành nghĩa vụ được chấm dứt bởi hành động của người thụ trái (như nghĩa vụ được người thụ trái thực hiện), nghĩa
vụ được chấm dứt bởi hành động của trái chủ (như nghĩa vụ được chuyển giao, được làm mới, được giải trừ), và nghĩa vụ được chấm dứt bởi hiệu lực của pháp luật (như bồi thường, hết thời hiệu, không thể thực hiện được) Thông thường những cách thức phân loại này không phải là trung tâm của các đạo luật về dân sự Tuy nhiên, chúng có tác dụng không nhỏ trong những trường hợp tranh chấp cụ thể
3 Một số loại nghĩa vụ trong Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 và một
số ví dụ minh họa:
Như trên trình bày, có nhiều cách phân loại nghĩa vụ dân sự Trong BLDS Việt Nam năm 2015, các loại nghĩa vụ được quy định từ Điều 279 đến Điều 291 và ở một vài điều khoản khác cũng thể hiện sự phân loại nghĩa vụ dân sự
Một cách tổng quan, theo nguồn gốc của nghĩa vụ dân sự, thì BLDS
2015 chia thành nghĩa vụ theo hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng Nghĩa
vụ theo hợp đồng là nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của chủ thể tham gia quan
hệ nghĩa vụ Nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể Quyền
Trang 5và nghĩa vụ được xác lập hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ Nghĩa vụ ngoài hợp đồng là nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của nhà nước, gồm: thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật Việc bố trí các chương mục, trình bày các điều khoản của BLDS 2015 thể hiện rõ cơ cấu hai loại hình nghĩa vụ phân chia theo nguồn gốc này
Ở đây, học viên xin thống kê, trình bày và lấy ví dụ minh họa theo một
số điều luật cụ thể trong BLDS 2015 như sau:
3.1 Phân loại theo đối tượng, nội dung của nghĩa vụ
Theo đối tượng, nội dung, BLDS 2015 phân loại thành 03 loại: Nghĩa
vụ giao vật (Điều 279), nghĩa vụ trả tiền (Điều 280), nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc (Điều 281)
Cách phân loại này nằm ngay trong định nghĩa về nghĩa vụ ở Điều 274:
“Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy
tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định
vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
Bên cạnh đó, tại Điều 285, BLDS cũng đề cập tới một loại nghĩa vụ mang tính “tổng hợp”, đó là loại nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn:
“Nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn là nghĩa vụ mà đối tượng là một trong nhiều tài sản hoặc công việc khác nhau và bên có nghĩa vụ có thể tuỳ ý lựa chọn, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định dành quyền lựa chọn cho bên có quyền”
Ví dụ 1: A mua của B một con bò với giá 10 triệu đồng A có nghĩa vụ giao vật (con bò) cho B và B có nghĩa vụ giao tiền (10 triệu đồng) cho A
Ví dụ 2: B là một ngôi sao điện ảnh Công ty A và B ký thỏa thuận hợp tác về việc quảng cáo Trong đó B đồng ý cho Công ty A dùng hình ảnh của mình để quảng cáo cho sản phẩm của công ty Bên cạnh đó, Công ty A và B thỏa thuận, trong thời gian 01 năm kể từ ngày ký hợp đồng, B không được ký hợp đồng quảng cáo với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà trong đó có sử dụng hình ảnh của B Theo hợp đồng này, A phải thực hiện nghĩa vụ sử dụng hình ảnh của B để quảng cáo cho sản phẩm công ty mình B không được ký hợp đồng quảng cáo với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà trong đó có sử dụng hình ảnh của B trong thời gian 01 năm kể từ ngày hai bên ký kết hợp đồng
3.2 Phân loại theo chủ thể của nghĩa vụ:
Không có điều khoản quy định cụ thể, tuy nhiên, theo các điều khoản
cụ thể của BLDS 2015, thì có thể thấy có 2 loại cơ bản trong phân loại theo chủ thể của nghĩa vụ là nghĩa vụ một người và nghĩa vụ nhiều người
Trang 6Nghĩa vụ một người là nghĩa vụ mà trong đó, mỗi bên chủ thể chỉ có một người tham gia2 Nghĩa vụ nhiều người là nghĩa vụ trong đó, một bên chủ thể có nhiều người tham gia
Trong loại hình nghĩa vụ nhiều người lại được phân loại thành:
- Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ (Điều 287) Ví dụ: Một nhóm bạn cùng vào quán cơm gọi cơm ăn theo một mâm chung Nếu không có ai trả toàn bộ phần tiền thanh toán thì mỗi người phải tự trả tiền cho phần cơm của mình Chủ quán không có quyền yêu cầu người này trả tiền thay cho người khác Đây là trách nhiệm riêng rẽ
- Nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại (Điều 288) Ví dụ: A và B chung tiền mua một miếng đất trị giá 1 tỷ đồng của C để cùng đầu tư xây cửa hàng kinh doanh Trong đó, thống nhất A phải trả 900 triệu, còn B phải trả
100 triệu Như vậy, A và B có nghĩa vụ liên đới với C trong việc mua miếng đất C có quyền yêu cầu A và B độc lập thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho mình
Tuy nhiên, A có thể trả toàn bộ 1 tỷ đồng, sau đó yêu cầu B phải trả cho mình 100 triệu Ở tình huống này, B có nghĩa vụ hoàn lại cho A 100 triệu đồng BLDS 2015, quy định về nghĩa vụ hoàn lại như sau (khoản 2, Điều 288): “Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”
- Nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới (Điều 289) Ví dụ: Ba người A, B và C là anh em ruột C gặp khó khăn, cần một số tiền để giải quyết khó khăn trước mắt A và B cùng hùn tiền cho C vay 1 tỷ đồng, tuy nhiên không rõ số tiền của A và B cụ thể cho vay trong đó là bao nhiêu Trường hợp này C có nghĩa vụ liên đới với A và B, trong khi A và B đều có quyền với khoản tiền mình đã cho C vay (khoản 1, Điều 289) C có thể trả tiền cho A hoặc B (khoản 2, Điều 289); A hoặc B cũng có thể miễn cho C khoản nợ đã vay và C phải trả phần nợ đối với người còn lại (khoản 3, Điều 289)
- Nghĩa vụ thông qua người thứ ba (Điều 283) Ví dụ: A vay B số tiền
500 triệu để kinh doanh Do kinh doanh thua lỗ, nên A không thể trả số tiền
đó cho B C là bố của A, đã đứng ra trả nợ thay cho A bằng cách gán miếng đất có diện tích 100 m2 (vốn là tài sản riêng của C) và được B đồng ý Như vậy, nghĩa vụ trả nợ của A đã được B đồng ý để cho C trả giúp, tuy nhiên, A vẫn phải chịu trách nhiệm về số nợ nếu C không làm thủ tục chuyển nhượng miếng đất cho B như đã thỏa thuận
Việc chuyển giao nghĩa vụ giữa A và C được thực hiện theo Điều 370, BLDS 2015
3.3 Phân loại theo thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ
BLDS không phân loại trực tiếp nghĩa vụ thành loại xác định được thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ và loại không xác định được thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên tại Điều 278 có quy định về thời hạn thực
Trang 7hiện nghĩa vụ, theo đó, có thể phân chia thành loại xác định được thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ và loại không xác định được thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ
Ví dụ, A và B hợp đồng miệng với nhau về việc mua bán gạo (A mua,
B bán) Trường hợp A và B thỏa thuận rõ về thời gian giao hàng, trả tiền thì
đó là loại nghĩa vụ xác định được thời hạn, thời gian thực hiện nghĩa vụ Trường hợp A và B không hợp đồng rõ ràng về thời gian giao hàng thì B có thể thực hiện việc giao hàng bất cứ lúc nào, tuy nhiên phải thông báo trước cho A về thời gian giao hàng Còn A, khi nhận được hàng phải thực hiện ngay việc thanh toán tiền cho B (theo khoản 3, Điều 434, BLDS năm 2015 quy định: “Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời điểm nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng nhận quyền
sở hữu tài sản”)
Trong loại nghĩa vụ xác định được thời hạn, thời gian thực hiện thì có loại nghĩa vụ thực hiện theo định kỳ (Điều 282) và đương nhiên, cũng hiểu rằng có loại nghĩa vụ thực hiện theo thời gian xác định, một lần, không lặp lại
3.4 Phân loại theo điều kiện thực hiện nghĩa vụ:
Khoản 1, Điều 284, BLDS quy định về thực hiện nghĩa vụ có điều kiện như sau: “Trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện”
Ví dụ, hai bên giao kết mua bán nhà, trong đó hợp đồng có điều kiện là trong thời hạn một tháng kể từ khi nhận được đủ 3/4 tổng số tiền giá trị ngôi nhà thì bên bán phải bàn giao nhà cho bên mua mà không chờ đến khi hoàn thành các thủ tục pháp lý sang tên, chuyển nhượng của cơ quan nhà nước
Như vậy, trên thực tế, ta đương nhiên hiểu rằng có loại nghĩa vụ không
có điều kiện thỏa thuận Ví dụ, như nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ của con cái; nghĩa vụ phải cứu giúp người gặp nạn …
3.5 Phân loại theo khả năng thay thế của nghĩa vụ:
Điều 286, BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ thay thế được là nghĩa vụ
mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ ban đầu thì có thể thực hiện một nghĩa vụ khác đã được bên có quyền chấp nhận để thay thế nghĩa vụ đó” Loại nghĩa vụ này được pháp luật quy định là việc thay thế nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi bên có quyền chấp nhận để thay thế nghĩa vụ đó Như vậy,
có loại nghĩa vụ thay thế được và loại nghĩa vụ không thể thay thế được
Ví dụ: A thỏa thuận bán cho B một chiếc xe máy Theo đó, A có nghĩa
vụ chuyển giao tài sản là chiếc xe máy cho B và nhận tiền còn B có nghĩa vụ trả tiền và nhận chiếc xe máy Tuy nhiên, A đã chuyển giao chiếc xe máy cho
B nhưng B chưa có tiền trả cho A nên đã thỏa thuận với A sẽ thực hiện thiết
kế một căn nhà theo đúng mong ước của A Vì B là một kiến trúc sư giỏi nên
A đã đồng ý để B thiết kế bản vẽ căn nhà cho mình Đây là loại nghĩa vụ có thể thay thế được do thỏa thuận
Trang 8Tuy nhiên, theo khoản 3, Điều 377, BLDS 2015, quy định: “Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác” Như vậy, đối với các quy định này thì không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác được
3.6 Phân loại theo tính chất của đối tượng nghĩa vụ:
Luật Dân sự 2015 chia thành nghĩa vụ được chia theo phần (Điều 290)
và nghĩa vụ không được chia theo phần (Điều 291)
Trong đó, Nghĩa vụ phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ có thể chia thành nhiều phần để thực hiện Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác
Ví dụ, A ký hợp đồng xây nhà cho B theo hình thức trọn gói, có điều khoản A sẽ trả tiền cho B theo khối lượng công việc thực hiện dựa trên việc khối lượng hoàn thành công việc theo 3 giai đoạn: làm móng; đổ mái; hoàn thiện xong căn nhà Mỗi lẫn phải trả 300 triệu đồng Như vậy đối tượng của nghĩa vụ mà A phải thực hiện là trả tiền; được chia thành 03 lần, mỗi lần 300 triệu; thực hiện theo từng gói công việc
Nghĩa vụ không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc Trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện một nghĩa vụ không phân chia được theo phần thì họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc
Ví dụ, A, B và C là anh em ruột, cùng được hưởng di sản thừa kế của
bố mẹ, mỗi người được hưởng 1/3 miếng đất do bố mẹ để lại Tuy nhiên, bố
mẹ của ba người không để lại di chúc A, B, C phải thực hiện phân chia tài sản theo quy định của pháp luật Như vậy, muốn được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng người đối với phần đất được hưởng, bắt buộc cả ba người phải có nghĩa vụ cùng nhau làm hồ sơ phân chia di sản thừa kế Khi nào có đủ các thành phần hồ sơ và có đủ các chữ ký hợp pháp của cả ba người thì cơ quan có thẩm quyền mới xem xét giải quyết
4 Kết luận
Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng dân sự, hành vi dân sự đơn phương, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, thực hiện công việc không có ủy quyền và từ các căn cứ khác do luật định
Về mặt khách quan, nghĩa vụ dân sự bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể, trong đó một bên có quyền được yêu cầu bên kia phải thực hiện hoặc kiềm chế không thực hiện những hành vi nhất định để thoả mãn lợi ích của mình hoặc của người thứ ba Theo nghĩa chủ quan, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác
Trang 9Phân loại nghĩa vụ dân sự là một tiểu ngành quan trọng của ngành luật dân sự Dựa vào từng phân loại, người ta có thể xây dựng các qui chế pháp lý khác nhau, đưa ra các giải pháp khác nhau cho các trường hợp thực tiễn Việc phân chia, phân loại nghĩa vụ dân sự là cơ sở để xây dựng Luật dân sự, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong thực tế Có nhiều tiêu chí phân loại nghĩa vụ dân sự, ở từng tiêu chí lại phân thành các loại nghĩa vụ khác nhau Việc phân loại như ở BLDS Việt Nam năm 2015 là cơ bản đáp ứng được yêu cầu của thực tế xã hội nước ta hiện nay Thời gian tới, với sự phát triển của xã hội, nhiều quan hệ dân sự phát sinh trong thực tế, sẽ xuất hiện nhiều quan hệ nghĩa
vụ dân sự mới cần điều chỉnh mà các nhà làm luật cần quan tâm sửa đổi bổ sung Bộ luật cho phù hợp
Danh mục tài liệu tham khảo:
*Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội NXB CAND HN 2019
*BLDS 2015 – Nhà xuất bản Lao động