1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đói nghèo, di dân và đô thị hóa: Đời sống thường ngày của một phường ngoài đê sông Hồng, Hà Nội : Luận văn ThS. Dân tộc học: 60 22 70

135 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 39,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng quan điểm này, khi xét tác động của di dân đến đời sống đô thị, Jone [1985] cho rằng những cộng đồng ở nơi đến có thể phải chịu một số tác động xấu của di cư như là sự thiếu hụt các

Trang 1

:

KHOA

– 2009

Trang 2

:

: : 60 22 70

- 2009

Trang 6

1 khoa học và thực tiễn của đề tài

Đô thị hoá, di dân tự do và nghèo đô thị

Quan niệm cho rằng phát triển kinh tế và đô thị hóa sẽ giảm nghèo đói đô thị và ổn định dòng dân di trú

khi mà trên thực tế, cùng với phát triển kinh tế và đô thị hoá là sự gia tăng của nghèo đói và dòng di dân nông thôn về các đô thị Hiện

tiến hành chính sách phát triển một nền kinh tế mở hơn và năng động hơn

Trước Đổi mới (1986)

Những nhà hoạch định chính sách những năm 1960-1980 đã cố gắng giảm thiểu sự khác biệt giữa thị dân và

về các thành phố và hướng dòng di dân tới các khu công nghiệp và các làng kinh tế mới ở miền núi và hải đảo Vì vậy quá trình đô thị hoá ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng phát triển chậm chạp Tỷ lệ dân đô thị năm 1960 là 15%, đến trước năm 1986, tỷ lệ này mới chỉ đạt 19% [Viện Xã hội học,

triển nền kinh tế thị trường Như là hệ quả của sự phát triển, Việt Nam chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng của các đô thị, quá t

dòng người từ các vùng nông thôn đổ về các thành phố

một giải pháp cho chiến lược sinh tồn của Hà Nội, với vai trò thủ đô và là đầu tầu kinh tế các tỉnh phía bắc, đã bắt đầu một thời kỳ đô thị hóa nhanh và mạnh hóa ở Hà Nội thời hiện đại không diễn ra

đồ Ngược lại, quá trình này đang diễn ra dưới những hình thức, mức

độ và quy mô khác nhau Có thể khái quát hóa ở Hà Nội hiện nay theo bốn mô hình chính: 1) Sự hình thành của các khu công nghiệp ở các vùng ngoại vi; 2) Sự phát triển các khu đô thị mới theo quy hoạch; 3) Quá trình mở rộng thành phố lên các làng cổ truyền và sự bao gồm các làng ven đô vào khu vực nội thị; 4) Sự xuất hiện và tồn tại của các xóm liều, xóm ma, xóm nhảy dù, gọi chung là các khu cư trú bất hợp pháp của dân di cư nghèo

Trang 7

có những đặc điểm riêng về dân số học, kiến trúc, cơ sở hạ tầng, mức sống, văn hóa tiêu dùng và cách ứng xử khác nhau

Hiện nay Hà Nội có 11 khu công nghiệp và chế xuất Theo quyết định của thủ tướng chính phủ ký tháng 1/2009, trong tương lai Hà Nội sẽ có 30 khu công nghiệp - chế xuất chủ yếu nằm ở vùng ven đô, ngoại thành Các khu vực này là điểm thu hút dân cư từ các vùng nông thôn ven Hà Nội và các tỉnh lân cận Dân cư chủ yếu là trẻ, gồm 2 nhóm chính: công nhân trực tiếp làm việc trong khu công nghiệp và những người làm dịch vụ, hình thành xung quanh Hà Nội các khu công nghiệp – đô thị Mặc dù cơ cấu kinh tế của khu vực này chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ nhưng lối sống lại mang nhiều đặc điểm nông thôn bởi cư dân ở đây chủ yếu là những người lao động từ nông thôn Hiện nay nhiều vấn đề quan ngại đang được đặt ra ở khu vực này như vấn đề về điều kiện sống, về môi trường, về vệ sinh, và tệ nạn xã hội Đặc biệt nhiều nghiên cứu đang chú ý đến các nguy cơ lạm dụng tình dục các nữ công nhân và vấn đề nhiễm HIV đang gia tăng ở khu vực này

, Hà Nội sau Đổi mới trở thành trung tâm đầu tư kinh tế của nhà nước cũng như là địa bàn thu hút vốn đầu tư nước ngoài cao Các doanh

mới được thành lập đã thu hút một đội ngũ đông đảo lao động trí thức có trình

độ học vấn và chuyên môn Nhà ở cho tầng lớp này trở thành vấn đề cấp bách Chính quyền thành phố đưa ra giải pháp xây dựng các khu đô thị mới trên phần đất của các khu tập thể cũ từ thập niên 60 – 70 hoặc trên các khu đất trống, đất ruộng trước đây của thành phố Phải kể đến khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu Mỹ Đình, khu Định Công Cư dân của khu vực này chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức có công việc ổn định với mức thu nhập tương đối so với mặt bằng chung của xã hội Họ là tầng lớp trung lưu trong xã hội, có ảnh hưởng lớn trong việc định hướng xu thế văn hoá, tư tưởng và lối sống đô thị

Bên cạnh đó, đặc biệt là thập niên gần đây, Hà Nội chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng về quy mô diện tích Các làng truyền thống vùng ven bỗng chốc được bao gồm vào khu vực nội thị như làng Phú Mỹ, làng Mễ Trì, làng Vòng, Quảng Bá Dân cư của khu vực này chủ yếu trước đây làm nông nghiệp Khi chính quyền thành phố lấy đất xây dựng các khu công nghiệp hay các khu đô thị mới, họ được hưởng một khoản tiền đền bù lớn nhưng lại không còn đất để sản xuất Một nghịch lý là mặc dù sống trong những ngôi

Trang 8

nhà cao tầng giàu có xây từ tiền đền bù đất, nhưng người dân lại không có việc làm iệc làm chuyển đổi trở thành vấn đề bức xúc Việc chuyển đổi “từ làng lên phố” đã kéo theo nhiều biến đổi về lối sống, đặc biệt

là nhiều hệ luỵ về văn hoá, xã hội

nay là sự hình thành các khu cư trú tự phát của người lao động di dân từ nông thôn ra Hà Nội kiếm sống và một bộ phận những thị dân nghèo Hà Nội, vốn

đã là trung tâm gắn kết đô thị và các làng nông nghiệp của khu vực đồng bằng Bắc bộ, dưới tác động của kinh tế thị trường và chính sách nới lỏng quản lý dân cư theo hộ khẩu, đã trở thành trung tâm thu hút lao động nông thôn từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Theo khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ sau năm 1986, bình quân Hà Nội mỗi năm tăng 55 ngàn người, trong

đó tăng do dân nhập cư chiếm 22 ngàn người Số người nhập cư vào Hà Nội cao hơn số xuất cư 5 lần [Trung tâm Dân số và Nguồn lao động, 1997: 2] Song song với đó là sự gia tăng của nghèo đói đô thị Cũng theo Bộ Lao động, khoảng 3% đến 5% số hộ gia đình ở khu vực Hà Nội sống dưới mức nghèo đói (dưới 250.000đ/người/tháng) Tuy nhiên, tỷ lệ này không bao gồm nhóm những người di dân không đăng ký hộ khẩu ở thành phố và một số lượng đông đảo những hộ gia đình được xếp vào diện “có thu nhập thấp” [Viện Xã hội học, 2003] Những người này thường tìm đến những khu đất bỏ hoang, bến sông, gầm cầu làm nơi cư trú Trong vòng hơn hai thập kỷ gần đây hàng loạt khu cư trú nghèo khổ như vậy ra đời và mở rộng trên địa bàn Hà Nội, mà các phương tiện thông tin đại chúng thường gọi là “xóm liều” Người dân

“xóm liều” bị coi là những người sống bất chấp pháp luật, sống trong những ngôi nhà tồi tàn và tạm bợ; bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội tối thiểu Theo cách hiểu này, xóm liều ở Hà Nội thường tìm thấy ở các khu vực ven sông Hồng, gầm cầu Long Biên, “bãi rác” Thanh Nhàn, Thành Công và những khu vực khác ở ngoại ô quận Thanh Xuân, Hoàng Mai, Cầu Giấy [Nguyễn Văn Chính, 2009: 247] Mặc dù, lâu dần các khu vực này tạo thành các phường đô thị và được chấp nhận trên thực tế nhưng chúng vẫn bị coi là nơi tụ cư của đói nghèo, của di dân và các vấn đề xã hội phức tạp Như vậy,

giúp ta có cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ của đói nghèo, đô thị hoá và di dân trên địa bàn Hà Nội hiện nay

un

Trang 10

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%AA_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng

4 : http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Bat-Dong-san/2009/09/3BA13A08/

Trang 11

này trên cơ sở nghiên cứu về mạng lưới kinh tế

- xã hội của chợ đô thị trường hợp chợ Long Biên - Hà Nội năm 2005 Nghiên cứu khám phá kinh tế, giao lưu hàng hoá và mạng lưới xã hội đa dạng và nhiều chiều của chợ đô thị trong đó đặc biệt là vai trò cầu nối kinh tế, văn hoá, và xã hội giữa nông thôn với thành thị, giữa các đô thị nhỏ và đô thị trung tâm chợ đô thị Đặc biệt

rằng tham góp vào hoạt động kinh tế và mạng lưới xã hội của chợ có vai trò rất lớn của những người lao động di cư từ nông thôn Họ làm những công việc thuộc khu vực phi chính thức xung quanh chợ như buôn bán các mặt hàng ăn uống, dịch vụ cho cư dân chợ, vận chuyển hàng hoá ra vào chợ, bán hàng rong xung quanh khu vực chợ

có vai trò rất lớn duy trì đời sống sôi động của chợ đầu mối hàng nông sản lớn nhất miền Bắc Việt Nam Những người lao động này sống chủ yếu ở khu vực gầm cầu Long Biên thuộc phường Phúc Xá - nơi vẫn bị coi là khu vực nghèo khổ nhất Hà Nội với những khu nhà ổ chuột, cơ sở hạ tầng và hệ thống dịch

vụ thấp kém Những người lao động ở đây được chính quyền t

có một mối liên hệ giữa nghèo khổ ở Hà Nội với dòng di dân từ nông thôn ra thành phố kiếm sống và thực trạng đô thị hoá đang diễn ra hiện nay ở Hà Nội

Trang 12

đói nghèo, di dân và đô thị hoá

Nghiên cứu là một mô tả dân tộc học về đời sống của phường Phúc Xá, một phường nằm ở ngoài đê sông Hồng, nơi vẫn bị coi là điểm nóng ma tuý, tệ nạn xã hội và nghèo đói

Nghiên cứu lấy “phường” làm bối cảnh nghiên cứu bởi phường là đơn vị hành chính nhỏ nhất của đô thị Đây có thể coi là cấp trung gian giữa nhà nước và người dân nơi đô thị Bởi vậy, „„phường‟‟ đồng thời cũng là một không gian xã hội đặc trưng của một thành phố Khi nghiên cứu nông thôn, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu “làng” như một hạt nhân để hiểu đời sống kinh tế, văn hoá và các

và các đặc trưng văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của làng, cũng như những

Nam thời hiện đại Tiếc rằng, đặt trong so sánh với “làng”, với nông thôn, các nghiên

i Những nước đang phát triển thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà khoa học

Trang 13

người cho rằng di dân là nguồn gốc của nghèo đói đô thị; một số khác lại cho

di dân góp phần giảm nghèo đói ở cả đô thị và nông thôn

Theo quan điểm thứ nhất, trên cơ sở của mô hình hành vi kinh tế, Todaro [1976] cho rằng di dân từ nông thôn ra đô thị phản ánh tư tưởng mong muốn

cá nhân, nó ngụ ý là dòng di cư này “bị mù tương đối” và vì thế người nông dân dễ lâm vào tình cảnh thất nghiệp mới, tăng tỷ lệ thất nghiệp của đô thị Lập luận kinh điển của ông là: đói nghèo được đưa từ nông thôn đến thành thị thông qua dòng di dân Cùng quan điểm này, khi xét tác động của di dân đến đời sống đô thị, Jone [1985] cho rằng những cộng đồng ở nơi đến có thể phải chịu một số tác động xấu của di cư như là sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội, sự tăng lương chậm bởi lao động tràn ngập thị thành, tệ nạn tội phạm và các vấn

đề xã hội cũng tăng theo - những biểu hiện của tình trạng tăng của nghèo đói

đô thị Mitra [1992] dựa trên số liệu từ cấp độ tiểu bang từ các bảng dữ liệu được công bố trong cuộc điều tra dân số Ấn Độ, Điều tra mẫu quốc gia (NSS)

và điều tra kinh tế đã kết luận rằng: Đói nghèo nông thôn có xu hướng làm tăng sự di dân nông thôn để tìm việc làm, điều này làm tăng quy mô tương đối của khu vực phi chính thức đô thị và làm giảm mức chi tiêu cho tiêu dùng trên đầu người, qua đó làm tăng đói nghèo đô thị Cũng trên cơ sở điều tra mẫu quốc gia Malaysia về đói nghèo, Ragayah Haji Mat Zin [?] thảo luận rằng có một thực tế đầy lo lắng khi có sự lưu chuyển lao động trong hai nhóm nghề nghiệp thấp nhất và chỉ ra rằng tỉ lệ di dân nông thôn - đô thị quá tải, đặc biệt là những mạng lưới di dân của những nhóm thu nhập thấp từ nông thôn

có thể là nguyên nhân làm tăng đói nghèo đô thị

Những lập luận này đã có ảnh hưởng lớn trong tư tưởng của giới học thuật và trong tư duy của các cơ quan quyền lực nhà nước Nó kéo theo tư duy khoá hay hạn chế di cư nông thôn - đô thị để chống lại nghèo đói cụ thể là nạn thất nghiệp và các vấn đề môi trường khác Nhiều quốc gia châu Á như Trung Quốc, Việt Nam thi hành chính sách kiểm soát dân cư di chuyển (đặc biệt là

di cư nông thôn - đô thị) nhờ hệ thống đăng ký hộ khẩu, giấy phép làm việc tạm thời, hệ thống tem phiếu mua lương thực…Cũng giống như vậy, Indonesia cố gắng điều khiểu tăng trưởng tại vùng thành phố lớn Jakarta thông qua chính sách “thành phố đóng” nổi tiếng có hiệu lực năm 1970 để hạn chế di cư vào Hầu hết các chính sách này đều trở nên bất cập và thất bại trên thực tế, nó chứng tỏ sự lung lay của cơ sở lý thuyết m

Trang 14

thôn không những không làm gia tăng nghèo đói đô thị mà còn góp phần làm giảm đói nghèo ở cả đô thị và nông thôn Hugo trong khảo sát của mình ở Java, Indonesia [1985] đã khẳng định rằng làn sóng di cư tới đô thị là một đóng góp cho phát triển vì giá nhân công rẻ sẽ làm hạ giá sản phẩm, các công việc nặng nhọc thường bị các cư dân đô thị từ chối nay đã có người gánh vác Như vậy nghĩa là di dân làm tăng trưởng kinh tế đô thị, hạn chế nghèo đói đô thị Dân di cư thường được quan niệm là có đóng góp cho việc giảm nghèo đô thị thông qua khu vực phi chính thức - khu vực mà Armstrong và McGee [1968] chỉ ra như là một miếng bọt biển luôn hấp dẫn lao động, cung cấp việc làm và tận dụng năng suất biên của lao động Vì vậy, điểm căn bản là hầu hết

di dân nông thôn - đô thị ở các nước đang phát triển đóng góp vào cơ sở kinh

tế - xã hội của đô thị; họ không nhất thiết thúc đẩy đói nghèo ở đô thị. Hơn

thế, được cho phép và tạo điều kiện, những người nhập cư có thể tự giúp mình tìm kiếm việc làm trong những điều kiện tạo việc làm, tổ chức vận chuyển, sắp xếp an ninh và xây dựng nhà cửa như là những phương cách tác động có giá trị nhất cải thiện điều kiện sống trong môi trường đô thị lớn ở thế giới đang phát triển Ông còn lập luận: tìm kiếm cách thức giảm tệ quan liêu và ủng hộ những người di dân thay vì hạn chế những công việc và nơi ở phi chính thức chứng tỏ cách tiếp cận có hiệu quả hơn Do đó, nếu như người dân

di cư từ nông thôn được cung cấp một môi trường mà ở đó họ được phép sử dụng năng lượng và kĩ năng của họ, họ sẽ không bị bần cùng hoá Ý tưởng này cũng được triển khai đầy thuyết phục trong một tác phẩm quan trọng của

de Soto [1989], và tư tưởng của ông cũng được khảo sát ở c

nghiên cứu của Chickering và Salahdine [1991] Chia sẻ cùng lập luận, Ronald Skeldon [1997] nhận thấy có một sự mâu thuẫn căn bản giữa việc cố gắng kiểm soát dòng di dân từ nông thôn đến đô thị và việc giảm nghèo ở cả khu vực nông thôn và đô thị Bởi vậy các chính sách cần xem xét sự thật này,

có thể không phải là tích cực thúc đẩy di dân đến đô thị, dù điều này không thể tránh khỏi, mà là đối xử một cách thích đáng hơn, công bằng hơn những

phi chính thức ở cả nông thôn và đô thị đặt nền tảng trên cơ sở thu nhập gửi

về của người di chuyển có thể tiến xa hơn trong việc giảm nghèo ở cả nông thôn và thành thị hơn là những cố gắng hạn chế di dân hoặc giới hạn khu vực phi chính thức

Dễ nhận thấy quan điểm khá phổ biến trong giới học thuật Việt Nam là

di dân từ nông thôn là một nguyên nhân tạo nên tình trạng thất nghiệp, sức ép

Trang 15

dân số và ô nhiễm môi trường cũng như tệ nạn xã hội Hoàng Văn Chức [2004] nhìn nhận vai trò đáp ứng nhu cầu về lao động thô sơ ở thành phố của lực lượng lao động từ nông thôn, nhưng cũng khẳng định về lâu dài, lực lượng này sẽ làm gia tăng tình trạng thất nghiệp ở đô thị Di dân ồ ạt vào Hà Nội còn làm quá tải sức sử dụng và làm xuống cấp cơ sở hạ tầng và dịch vụ sinh hoạt trong đô thị Đặc biệt di dân làm tăng vẻ nghèo đói, sự hỗn độn và

vô trật tự của đô thị với những khu nhà tạm bợ [Nga My, 1997] Hơn thế, theo tác giả, di dân tự do từ nông thôn còn “biến đổi lối sống đô thị, biến đổi môi trường đô thị, tạo ra những bức xúc, đặc biệt ở nơi có người di cư tập trung”[Hoàng Văn Chức, 2004: 151] Nghiêm trọng hơn, những người di cư

tự do từ nông thôn còn là một nguy cơ tiềm tàng gây mất trật tự trị an và tệ nạn xã hội đô thị [Hà Phương Tiến và Hà Quang Ngọc, 2000: 83]

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những cái nhìn tích cực hơn

rong “Báo cáo về kết quả dự án di dân nội địa năm 1998” đã kết

luận: Di dân không gây ra sự nghèo khổ cho thành phố Trái lại, giảm bớt tình trạng nghèo khổ của một lượng đáng kể các gia đình nghèo tại các đô thị [Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 1998: 18] Nhiều nhà nghiên cứu khác (Đặng Nguyên Anh, Cecilia Tacoli, Hoàng Xuân Thanh [2003]; Cù Chí Lợi [2005]…) cũng khẳng định người di dân từ nông thôn đáp ứng nhu cầu lao động phổ thông đang thiếu thốn ở thành thị Người dân di cư đảm nhận những công việc thủ công, chân tay, ít kỹ năng mà người thành phố không muốn làm như: cửa vạn, buôn bán rong, giúp việc, đánh giày vv Như vậy, họ đã góp phần đáng kể phát triển kinh tế đô thị

cứu trên chủ yếu tranh luận về mối quan hệ di dân nông thôn

- đô thị, nghèo đô thị và đô thị hoá trên cơ sở chứng minh di dân có tác động

tích cực hay tiêu cực lên đô thị và nghèo đô thị Tuy nhiên chiều nghịch của

mối quan hệ này chưa được khám phá Liệu môi trường đô thị có ảnh hưởng như thế nào đến tình cảnh nghèo của dân di cư? Câu hỏi này vẫn là

một vấn đề bỏ ngỏ Hơn thế, các tác giả xét ảnh hưởng của di dân đô thị thông qua việc xem xét bản chất và vai trò của khu vực phi chính thức, liệu đây là khu vực có tính chất ký sinh, năng suất thấp và bất lợi hay ngược lại là khu vực có tính năng động, hiệu quả và không bất lợi; nghĩa là mới xem xét đến khía cạnh kinh tế, vật chất của mối quan hệ này Khu vực phi chính thức là chìa khoá quan trọng nhưng chưa đủ để khám phá mối quan hệ đa diện giữa

di dân, nghèo đô thị và đô thị hoá bởi tình cảnh nghèo của dân nhập cư không chỉ là nghèo về tiền, cở sở hạ tầng và khả năng tiếp cận vốn và việc làm mà

Trang 16

nó còn liên quan đến yếu tố tâm lý nghèo, tính dễ bị tổn thương và đến những đặc trưng văn hóa của cả đô thị và nông thôn

Dù công nhận vai trò tích cực của di dân đến sự phát triển của đô thị, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước những khu nhà “ổ chuột”- nơi phần lớn là dân di cư sinh sống - đang có xu hướng mở rộng ở các th

Bên cạnh tiếp cận vấn đề nghèo đói, di dân và đô thị hoá từ vai trò kinh

tế của khu vực phi chính thức, một số nhà nghiên cứu cũng khám phá vấn đề

từ góc nhìn không gian đô thị

,

Whyte (1943) nhằm khám phá đời sống ở khu ổ chuột của cộng đồng người Ý trong thành phố Boston Whyte phát hiện ra rằng đằng sau cái vẻ bề ngoài của một khu phố đáng sợ và nguy hiểm, thậm chí huyền bí, xã hội góc phố Cornerville được điều chỉnh bằng một mạng lưới và những quan hệ riêng Mạng lưới này hiện hữu ở nhiều mức độ khác nhau, tạo cho cộng đồng ở đây một hệ thống xã hội có tổ chức cao và thống nhất Đến những thập niên 1960, Oscar Lewis nghiên cứu cộng đồng di dân Tepoztecan trong thành phố Mexico và khám phá ra rằng đô thị hoá không làm giảm những gắn bó họ tộc, thiếu tổ chức xã hội và thay đổi niềm tin tôn giáo hay sự ghét bỏ [Oscar Lewis, 2002: 345] Những luận điểm chính của Lewis sau đó đã được phát triển bởi các nghiên cứu của Janet Abu Lughod (1962) về những người di dân

ở Cairo, những người đã thích ứng với thành phố và chỉ thay đổi một chút truyền thống cũ Quan điểm này đã phản bác lại ý kiến cho rằng dòng di dân

từ nông thôn sẽ bị “vỡ”, gây ra sự lộn xộn, xung đột văn hoá, thậm chí là tình trạng vô tổ chức (sự phá vỡ các quy định của thành thị) và bị ghét bỏ Cuối những năm 1980 của kỷ 20, nghiên cứu của Philippe Bourgois (1995),

Kiếm tìm lòng tôn trọng - Bán chất trắng ở El Barrio (In Search of Respect: Selling Crack in El Barrio), khám phá cộng đồng người di cư từ Mỹ Latinh,

Ý và châu Phi ở khu Đông Harlem, New York cũng đã gây được sự chú ý đặc biệt Bourgois bằng việc phân tích và mô tả cuộc sống hàng ngày của những người buôn bán ma tuý, đã đưa ra được nhiều điểm sáng và thông điệp về các mối quan hệ gia đình, quan hệ nhóm và vai trò của chính thể diễn ra trong cộng đồng Puerto Reco ở New York Ông cũng đưa ra lý do của sự mất cân bằng trong cộng đồng xã hội này là những chính sách áp dụng tại đây

Trang 17

Ở Việt Nam, câu hỏi về những động thái di dân, nghèo đói và đô thị

hoá diễn ra như thế nào trong những không gian đặc thù nơi đô thị như trên chưa thực sự được chú ý Tiếp cận trên bình diện không gian, các nhà

nghiên cứu Việt Nam chủ yếu tập trung vào khía cạnh vật chất của kiến trúc

đô thị phục vụ cho các chính sách quy hoạch không gian Nghiên cứu về không gian đô thị Hà Nội, các nhà nghiên cứu tập trung nhiều đến kiến trúc của các khu phố Tây, khu 36 phố phường - những khu vực vẫn đựơc coi là nét văn hoá của Hà Nội, chỉ có một số nghiên cứu ít ỏi đề cập đến những không gian tương phản trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ - nơi cùng lúc tồn tại nhiều mảng màu kiến trúc và văn hoá của cả đô thị và nông thôn, của giàu có

và đói nghèo Nguyễn Văn Chính đã mô tả đời sống của người di cư tự do trong không gian đô thị thông qua phân tích trường hợp một xóm liều ở bãi rác Thành Công, Hà Nội Ông đã chỉ ra rằng:

„„Xóm liều đô thị là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hoá, phân tầng xã hội

và tình trạng gia tăng dòng di dân tự do đến đô thị Những người di cư tự do sống trong các xóm liều luôn ở trong tình trạng „„lưỡng nan‟‟ của thân phận Một mặt họ tìm thấy ở đây một thế giới riêng mà thân phận nghèo hèn của họ

có thể hoà tan vào trong cộng đồng cùng cảnh ngộ để được chia sẻ và an ủi

Họ dường như cảm thấy được „„an toàn‟‟ và „„bình đẳng‟‟ hơn trong cái thế giới riêng tồi tàn và đầy bất trắc này Nhưng mặt khác, họ lại ở vào vị thế yếu đuối mong manh do bị „„dán nhãn‟‟ bởi một cách nhìn

quản lý, và không được thụ hưởng các dịch vụ an sinh xã hội tối thiểu cho người nghèo‟‟ [Nguyễn Văn Chính, 2009: 242]

Trịnh Duy Luân và Hans Schenk [2000] tìm hiểu về Nơi ở và cuộc sống

của cư dân Hà Nội, trong đó đề cập đến nhà ở bình dân của những cư dân

nghèo Hà Nội Nghiên cứu đã đề cập đến phường Phúc Tân như là một nơi tập trung các khu nhà nghèo nàn của dân nghèo và dân di cư Tuy nhiên, góc

độ văn hoá không gian và lối sống của một khu vực đô thị ngoài đê tiếc rằng chưa được đề cập tới Nguyễn Thị Hiền [2008] quan tâm đến không gian công cộng của khu dân cư nghèo Thượng Đình, nơi các không gian công cộng bị thu hẹp bởi sự hạn chế về quỹ đất và những vấn đề về chính sách đối với người nghèo Điều này đã làm tác động xấu đến sức khoẻ người dân cũng như đẩy trẻ em tìm kiếm những hình thức vui chơi giải trí khác, dễ rơi vào tệ nạn

xã hội

Trang 18

Kế thừa những nghiên cứu trên, trong luận văn này tôi cố gắng tìm hiểu

tình trạng nghèo đói, di dân và đô thị hoá trong bối cảnh không gian của phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội

Khu vực ngoài đê sông Hồng, Hà Nội vốn từ thời thuộc Pháp đã là chốn

tụ cư của người nghèo, của những người nông dân tha hương kiếm sống nơi

đô thành, của những thân phận kéo xe, người ở, gái mại dâm, của cờ bạc, thuốc phiện và tội phạm [Tam Lang, 2000 ; Vũ Trọng Phụng, 2000 ; v.v] Bộ mặt của khu vực này hiện nay đã có nhiều thay đổi đáng kể với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng Người ta thấy những biệt thự nhà vườn, những khu nhà cao tầng giàu có đua nhau mọc lên, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những khu nhà nghèo nàn, lụp xụp mà dư luận quen gọi là khu “xóm liều”, khu “ổ chuột” - nơi sinh sống của ngày càng nhiều những người dân di cư từ nông thôn lên

Hà Nội tìm kế sinh nhai, cũng là nơi ẩn mình của các đối tượng truy nã, của

ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Vấn đề đặt ra là trong một không

gian đô thị đặc thù như vậy, mối quan hệ giữa nghèo đói, di dân và đô thị

hoá biểu hiện như thế nào? Sự thay đổi của không gian và kiến trúc đô thị, năng động dân số và hoạt động kinh tế của người dân cũng như vai trò của chính quyền, người dân sở tại, người nhập cư, của thế giới ngầm trong việc định hình lối sống của khu vực là những câu hỏi mà luận văn cố gắng làm

sáng tỏ Với một mô tả dân tộc học không gian xã hội của một phường ngoài

đê, chúng tôi mong muốn đưa đến một góc nhìn rộng hơn về đời sống đô thị của Hà Nội hiện nay

3 Lý luận và phương pháp tiếp cận

Trang 19

hoá giàu nghèo và những bối cảnh dễ bị tổn thương (bối cảnh dễ tạo nên nghèo đói) tăng lên nhanh chóng Chính sự phân hoá này đã đẩy những cư

dân vốn ít tiềm lực trong xã hội đô thị trở thành tầng lớp dân nghèo đô thị Hơn thế, người nông dân di cư tham gia vào đời sống đô thị phải chịu cả hai

sự phân tầng xã hội trên, họ ở trong tình cảnh dễ bị tổn thương và nguy cơ trở thành người nghèo đô thị cao

Cùng với lý thuyết về quá độ đô thị và phân tầng xã hội, nghiên cứu còn vận dụng lý thuyết về vốn xã hội để tìm hiểu những cố gắng tích cực của

người di dân cũng như của người nghèo tại chỗ trong việc tận dụng mọi nguồn lực, đặc biệt là các mối quan hệ xã hội nhằm cải thiện tình cảnh nghèo trong môi trường đô thị hoá

3.2 Khái niệm

Khái niệm đô thị hoá theo Terry MacGee là sự phát triển hoặc giảm sút

về mật độ dân số ở các khu vực được xác định là đô thị, sự gia tăng về ngành nghề phi nông nghiệp, sự mở rộng và tăng cường của môi trường và cuộc sống thành thị [Nguyễn Vũ Hoàng, 2008, 11]

Về khái niệm nghèo đói và nghèo đô thị: có nhiều cách định nghĩa khác

nhau về nghèo đói Trước hết nghèo đói được định nghĩa theo những căn cứ thống kê định lượng về thu nhập hay chi tiêu bất kể tính trên cơ sở đầu người hay hộ gia đình Cách xác định đói nghèo theo hướng kinh tế đơn giản hoá vấn đề: việc chỉ có một phạm trù người nghèo có thể hàm ý chỉ có một nền tảng duy nhất dẫn đến sự nghèo khó Phân tích dựa trên tiêu chí thu nhập hay chi tiêu có thể làm hiểu sai về tổng cơ sở tài sản của người được coi là nghèo, nghĩa là những gì họ có thể trông cậy vào đó để xác định sinh kế của họ và chúng ta căn cứ vào đó để xác định tình trạng nghèo khổ Bằng cách tiếp cận

về nhiều loại tài sản (tiền, lương thực, lao động, nhà ở, cơ sở hạ tầng kinh tế

và xã hội, các mối quan hệ gia đình, và các hình thức của vốn xã hội), Caroline [1998] mang đến sự am hiểu tinh tế hơn về bản chất của đói nghèo thông qua mối tuơng quan giữa các loại vốn hay tài sản với các yếu tố cụ thể

về khả năng dễ bị tổn thương Nghiên cứu này muốn tiếp cận vấn đề đói nghèo dưới góc nhìn đa diện: nghèo về tiền (thu nhập), nghèo về khả năng tiếp cận (nhà ở, nghề nghiệp, tín dụng, các dịch vụ tối thiểu), nghèo về quyền lực (không có quyền tham gia, quyền cải thiện tình cảnh sống, yếu thế, dễ bị tổn thương…) Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh định tính của nghèo

Trang 20

đói trong bối cảnh đô thị có nhiều phức tạp hơn so với nông thôn - ngụ ý sự

đa dạng các điều kiện sống, nguy cơ dễ bị rủi ro, bị cô lập, bị phân biệt đối

xử, thiếu tiếng nói, tham gia vào các hoạt động dễ bị tổn thương…

Khái niệm di dân nông thôn - đô thị: nghiên cứu xác định giới hạn của

không gian di chuyển là từ khu vực nông thôn đến các đô thị Tuy nhiên, nghiên cứu không giới hạn thời gian di dân chỉ là những hành động di chuyển trong thời gian một năm trở lên, mà mở rộng đối tượng bao gồm những người

di chuyển thường xuyên trong thời gian từ vài ngày đến vài tháng Nghiên cứu cũng không đề cập đến di cư định cư và di cư vì mục đích học tập.

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu căn bản của luận văn là phương pháp điền dã dân tộc học trong đó nhà nghiên cứu tham dự vào đời sống của phường nhằm quan sát, phân tích và mô tả lối sống của người dân trong không gian đô thị trong đời sống thường ngày của họ Những thông tin định tính, những câu chuyện cá nhân của người dân địa phương cũng được thu thập nhằm khám phá mối quan hệ và nhận thức về đói nghèo, di dân và đô thị hoá của thành phố

Bên cạnh các nguyên tắc tiếp cận nhân học, nghiên cứu cũng sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác bao gồm:

- Phương pháp bản đồ học: giúp tìm hiểu không gian đô thị của phường, cũng như chỉ ra phân bố lãnh thổ xã hội trên một không gian cụ thể của đô thị

- Phương pháp dân số học: sử dụng các số liệu điều tra dân số của tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 4 năm 2009 nhằm phân tích tình hình hộ khẩu

và sự năng động dân số của phường Phúc Xá

- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng câu hỏi xã hội học gồm các câu hỏi đóng và mở để tìm hiểu hiện trạng kinh tế và việc làm của cư dân phường

3.4 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu của tôi đặt phường trong bối cảnh chung của một thành phố đang thay đổi cả về cấu trúc vật chất và lối sống, nhưng quan sát sâu hơn vào một địa bàn cụ thể Nghiên cứu lựa chọn địa hường Phúc

Trang 21

Xá - Ba Đình - Hà Nội

2 Đây là khu vực ngoài đê ven sông Hồng, nơi tập trung đông đảo những lớp người nhập cư, đặc biệt là những người di dân từ nông thôn về Hà Nội làm ăn, sinh sống Địa bàn này bị coi là vùng nóng về đói nghèo, cơ sở vật chất tồi tàn và tệ nạn xã hội Vì vậy, nhà nước đang có chủ trương xoá bỏ khu vực này để xây dựng một hành lang sông Hồng (đoạn chảy qua Hà Nội)

, hiện nay, một dự án lớn với tổng số vốn khổng lồ hơn 7 tỷ

đô la đang được thiết kế Tuy nhiên, triển vọng của dự án này sẽ không thể đi

xa hơn nếu như không hiểu thực chất những đặc thù kinh tế- xã hội- văn hoá của khu vực trong đó đặc biệt cần hiểu một cách sâu sắc mối quan hệ giữa nghèo đói và di dân ở khu vực này cũng như nắm bắt được những chiến lược sinh tồn của người dân địa phương trong một bối cảnh đô thị dễ bị tổn thương

Bằng việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu khu Phúc Xá, tôi muốn có một cái nhìn rộng hơn về vấn đề trên địa bàn phố Hà Nội nói riêng và ở các

đô thị Việt Nam nói chung Từ nghiên cứu này, tôi hi vọng có điều kiện mở ra một hướng nghiên cứu so sánh đô thị học giữa các thành phố của các nước trong khu vực Đông Nam Á để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề đô thị hoá, di dân và đói nghèo trên toàn khu vực Đông Nam Á, đồng thời hiểu được những khác biệt về mức độ phát triển kinh tế, bối cảnh xã hội, văn hoá, chính

chung

Cuối cùng, nghiên cứu này cũng là một cách để hưởng ứng tích cực với Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội Nó không chỉ khám phá đời sống ở một đô thị , những vấn đề đang đặt ra mà còn để bày tỏ tấm lòng yêu quý của tôi đối với Hà Nội

4 Bố cục luận văn

Luận văn ngoài phần Dẫn luận và Kết luận bao gồm 3 chương chính

Chương 1: Phường Phúc Xá: Lịch sử tụ cư, quá trình đô thị hoá và những đặc điểm dân số học

Trong chương này, bằng phương pháp lịch sử và phỏng vấn hồi cố, tôi cố gắng chỉ ra lịch sử tụ cư của phường Phúc Xá và quá trình đô thị hoá đã diễn

ra ở đây như thế nào Như tôi nhận thấy, suốt tiến trình từ thời thuộc Pháp đến

Trang 22

hiện nay, Phúc Xá nổi bật lên như là nơi sinh sống của những thị dân nghèo, người di cư tự do và cũng là nơi ẩn mình của tội phạm và tệ nạn xã hội

Chương này đề cập đến các loại hình không gian của phường Phúc Xá

trong quá trình đô thị hoá, đặc biệt nhấn mạnh đến việc sử dụng không gian

và sự phân tầng xã hội Đồng thời, trên cơ sở mô tả dân tộc học các loại hình nhà ở của cư dân đô thị phường Phúc Xá chúng tôi mong muốn có cái nhìn sâu hơn về sức ép của đô thị hoá, nghèo đói lên đời sống của cư dân đô thị Nghiên cứu cũng làm rõ lối sống và những ứng xử, chiến lược của người nghèo trong bối cạnh hạn hẹp của không gian cư trú trong đó những ứng xử mang tính chất niềm tin tôn giáo có sức chi phối lối sống của người dân Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khám phá những hệ luỵ của chính sách và sự dung hoà của người dân trong đời sống của một cộng đồng đô thị

Chương 3: Ch

Trên cơ sở tìm hiểu về chợ Long Biên với vai trò như là một cầu nối kinh tế,

xã hội và dân cư, tôi muốn có một điểm nhìn sâu hơn về hoạt động kinh tế và các mối liên kết xã hội, văn hoá của một phường đô thị và vai trò của lao động ngoại tỉnh, từ đó tìm hiểu quan hệ giữa thành thị và nông thôn Đồng thời cùng với việc khám phá cuộc sống và công việc của người lao động ở chợ Long Biên, nghiên cứu cũng mong muốn đạt được những hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống của người lao động ngoại tỉnh trên địa bàn phường Phúc

Xá nói riêng và trong môi trường đô thị Hà Nội nói chung

Trang 23

ga Long Biên 300m, nằm liền kề với bến xe khách Long Biên và trạm xe buýt Long Biên Với địa thế “nhất cận thị, nhị cận sông”, lại thêm vị trí ngoài đê ngay dưới chân cầu Long Biên, từ lâu Phúc Xá là nơi thu hút nhiều đối tượng

Trang 24

(1995:

, khi t,

c-

, của tình ng tách - nhập và nửa quê nửa tỉnh các nhà quản lý

Những khu vực mà theo ngôn ngữ phóng sự “Tôi kéo xe” của Tam Lang là: “cái tổ của một bọn người nghèo khổ Cái sọt rách chứa đầy rác rưởi dưới chân những dinh thự nguy nga” Họ sống trong những “gian nhà

lá vách xiêu cột vẹo, chật như cái hũ, chứa đến chục người” [Tam Lang, 2000: 32]

Trang 25

hành dự án quy h

, đây là một khu phố bình dân khoảng 670 lô đất dành cho 25.000 dân [Christian Pédelahere de Loddis, 2006: 27]

100

-

Thành phần dân cư Bãi Cát gồm một số ít người làng Cơ Xá gốc còn đa

số là dân nghèo phiêu bạt từ các nơi đến như người ở Đanh, Xuyên (huyện Phú Xuyên - Hà Đông) chuyên nghề kéo xe tay, xe bò, hoặc người các vùng chiêm trũng nghèo ở Hà Nam, Thái Bình Người phố ra đây cũng có chủ yếu

là những người tỉnh lẻ về Hà Nội sinh sống với các nghề thủ công buôn bán vặt, họ thất bại trắng tay phải ra đây tìm chỗ tạm trú, xoay sở kiếm ăn nghề khác Dân Bãi Cát cũng có nhiều tầng lớp: một số ít là cường hào, những tên anh chị sống bám vào dân nghèo bóc lột bằng cách cho vay lãi, chứa cờ bạc, hành động côn đồ; còn lại đa số là tầng lớp dưới đáy của xã hội làm ăn lam lũ với các nghề cực nhọc như kéo xe tay, xe bò, khuân vác, làm thuê, đàn bà chợ búa mớ rau, rổ cá…[Nguyễn Văn Uẩn, 1995:

:

.” 5

Trang 26

(2000) (2000)

(2000)

, rư ” 6

1.2 Phúc Xá dưới thời bao cấp và đêm trước của Đổi mới (1954 – 1990)

Sau năm 1954, giải phóng thủ đô, lực lượng cách mạng về tiếp quản

Khoảng thời gian từ 1954 đến 1986 là giai đoạn chính quyền cách mạng tái

Trang 27

thiết lại diện mạo đô thị của Hà Nội Đây cũng là thời kỳ Việt Nam áp dụng

cơ chế bao cấp, phân phối sản phẩm tiêu dùng bằng tem phiếu Do đó, đặc điểm nổi bật về quản lý hành chính dân cư thời kỳ này là quy định đăng ký hộ khẩu chặt chẽ nhằm hạn chế di cư tự do, đặc biệt là dòng di dân từ nông thôn đến các đô thị Bên cạnh đó, khoảng những năm sau 1975 chính quyền thành

Trang 28

khu tập thể F361 An Dương

khu tập thể Bộ giáo dục; khu tập thể Công trường 57 Thời kỳ này một phần

tích đất thuộc cụm 2 hiện n

Những hộ đầu tiên chuyển ra sống ở khu vực này là khoảng cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ XX Theo ký ức của bà Tuyết7, một trong những cư dân đầu tiên của khu vực này:

, dân ai có sức thì đi phá hoang Một số người xuống đây dựng lán ở chủ y

nay và lối gần sát đường Tân Ấp.” 8

, đến tận thời kỳ này ngoài mối liên hệ của cư dân sống trong khu tập thể với các cơ quan, đơn vị của thành phố, Phúc Xá vẫn là khu vực vùng v

Trang 29

nhưng đa phần cư dân sống nơi đây vẫn là những cán bộ viên chức, công nhân có đời sống trung bình đặc biệt là dân nghèo, không có chỗ trú chân trong nội thị

Trang 30

- trở thành địa điểm giãn dân nội thị, hơn thế, đây cũng là địa bàn lý tưởng cho những người nghèo nội thị và những người dân di cư từ nông thôn tìm đến tụ cư, sinh sống, làm ăn Trong số đó, Phúc Xá là một trong những vị trí đắc địa xét về ý nghĩa này

, hệ thống quản lý hành chính của phường được :

Ủy ban nhân dân phường Ban quản lý cụm Ban quản lý tổ

Những người phụ trách tổ đảm nhiệm nhiều chức năng liên quan đến các

tổ chức khác nhau: tổ trưởng, mặt trận tổ quốc, hội trưởng hội phụ nữ cũng như chức năng an ninh trật tự Nhà ở và đất đai thuộc quyền quản lý của Ban quản lý địa chính Ban này có quyền cấp phép xây dựng, sửa chữa nhà cửa cũng như là đơn vị trung gian làm các thủ tục giấy tờ chứng thực quyền sở hữu đất đai hợp pháp Quyền quản lý dân cư thuộc thẩm quyền của công an phường Công an phường có một phó công an chuyên phụ trách về vấn đề an ninh trật tự và dân cư Mỗi cụm dân cư lại có 1 công an khu vực, riêng khu vực tổ 7, 8 thuộc cụm 2, được coi là khu vực đặc biệt nên có một chiến sĩ công an chuyên trách Chính sách quản lý dân cư thời kỳ này đã có phần nới lỏng Thay vì chính sách quản lý chặt chẽ bằng hộ khẩu thời kỳ bao cấp, hiện nay có thêm các hình thức tạm trú, tạm vắng

, đặc biệt là dân lao động ngoại tỉnh phải đăng ký tạm trú với công an phường Dân cư được phân loại thành bốn nhóm đối tượng khác nhau bao 1

; và KT4: những người dân lao động ngoại tỉnh đến tạm trú trên địa bàn phường Tháng 7/2007, nhà nước đã quyết

Dù có sự điều chỉnh gì, có thể thấy rõ tư duy quản lý dân cư theo hộ khẩu vẫn là trọng tâm của chính sách quản lý dân cư của Việt Nam Trong đó, có một sự phân

Trang 31

biệt rõ rệt giữa những người được coi là thị dân hay “dân Hà Nội”, tức là những người có hộ khẩu Hà Nội với những người dân ngoại tỉnh di cư vào

Sự phân biệt này không chỉ đơn thuần phục vụ cho việc quản lý dân cư mà quan trọng hơn nó còn gắn với nhiều quyền lợi khác về giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, các loại phúc lợi và an sinh xã hội khác

1.3.2.

, diện mạo phường Phúc Xá có nhiều thay đổiphải kể đến hai sự kiện quan trọng là việc lấp hai hồ Phúc Xá, Phúc Tân và thành lập chợ Long Biên Hai sự kiện này vừa là biểu hiện của quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vừa là động lực thúc đẩy đô thị hoá phường Phúc Xá Như đã đề cập, hồ Phúc Xá và Phúc Tân trước đây kéo từ chợ Long Biên đến khoảng phố Tân Ấp hiện nay tạo thành biên giới tự nhiên hạn chế sự giao lưu của khu vực cụm 2 Người dân sống ở đây phải đi men theo một con đường đất nhỏ đến đường Tân Ấp để lên được đường Hồng Hà và đê Yên Phụ Đến năm 1990, do nhu cầu đất cư trú tăng lên, chính quyền quận Ba Đình đã quyết định cho bơm phù sa từ sông Hồng lên lấp hai hồ này Năm

1993 công việc hoàn tất đã tạo thêm một diện tích đất đáng kể cho quỹ đất của quận Sau đó, chính quyền quận chia lô và đền bù cho những người dân trong khu vực dự án mở rộng đường Kim Mã Việc di dân đến đồng loạt đã làm tăng đột biến dân số của phường Phúc Xá Hơn thế, bộ mặt của phường cũng được tô vẽ một vẻ khấm khá hơn nhờ các dãy nhà ống cao tầng xây dựng trên khu đất này

Trong thời gian đó, năm 1991, chính quyền

phóng khu vực bến Nứa, khởi công xây dựng chợ Long Biên, đến năm 1992 chợ đi vào hoạt động, năm 1993 hoàn thành tất cả các hạng mục Mặt hàng chủ yếu của chợ là nông sản tươi sống với hình thức bán buôn là chủ yếu Chợ Long Biên là sản phẩm của kinh tế hàng hoá thời kỳ đổi mới Chợ Long Biên đựơc thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hoá nông sản của khu vực phía Bắc Đóng trên địa bàn phường Phúc Xá, chợ này đã góp phần quan trọng làm thay đổi đời sống kinh tế, dân cư và xã

B

Trang 32

năm 1989

9 Đ

ô nhiễm khá nặng đặc biệt ở những khu vực ven sông, khu vực tổ 7, tổ 8, cụm

2 - nơi tập trung đông lao động từ nông thôn Hình ảnh những ngõ nhỏ lầy lội, những cống nước lộ thiên bốc mùi, những bãi rác cao ngất ven sông đã trở nên quá quen thuộc với người dân nơi đây Đến tận năm 2005, nằm ngay phía sau chợ Long Biên, bao quanh như một ranh giới giữa tổ 7, tổ 8 với các cụm dân cư khác là một con kênh thoát nước thải của cả phường Con kênh đen

Trang 33

đặc và luôn bốc mùi xú uế nh của hàng chục hộ dân sinh sống ngay bên bờ kênh

21/4/2009

28

Trang 34

i,

, h

Trang 35

Tuy nhiên, do nh

Trang 36

12

quy

Châu, Hưng Yên Khi m

12

Trang 38

ăn xin Tr Sau

Trang 39

3 ( )

Trang 40

20%, con)

Malaysia, Tru

1990, với sự kiện lấp hai hồ Phúc Xá và Nghĩa Tân, di dân tái định cư từ khu vực Kim Mã

và chợ Long Biên thành lập, diện mạo và đời sống kinh tế, xã hội phường Phúc Xá đã thay đổi theo hướng đô thị hoá: mật độ nhà ở và dân số tăng lên nhanh chóng h đô thị hoá diễn ra đồng hành: đô thị hoá do tác động trực tiếp của chính sách (lấp hồ, di dân tái định cư, xây chợ)

và đô thị hoá tự phát (di dân tự do từ nông thôn ra đô thị kiếm việc làm, người dân tự mở rộng diện tích ra phía bờ sông, tự biến các ruộng rau, đất nông nghiệp thành đất ở) Hai quá trình song hành này ở phường Phúc Xá cũng phản ảnh hiện trạng đô thị hoá hiện nay của Hà Nội và các thành phố lớn ở Việt Nam Sự khác nhau và mối quan hệ của hai quá trình đô thị hoá này đến nghèo đói đô thị như thế nào sẽ lần lượt được tìm hiểu trong các phần sau của khoá luận

1.4.

Nhìn xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển, từ thời thu

Đổi mới, Phúc Xá vẫn nổi bật như là nơi tụ cư của người nghèo, của dân di cư, những người sa cơ lỡ vận, của các thành phần bất hảo

và giới tội phạm Phúc Xá luôn mang diện mạo của của một khu đất bãi bấp bênh và tạm bợ Tạm bợ không chỉ bởi sự bất thường của dòng chảy sông Hồng mà còn bởi chính đời sống vất vả, bấp bênh của người dân Phúc Xá

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN