1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

8 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 51,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤTKHOA MÔI TRƯỜNG BÀI TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN ĐỀ TÀI: Tác động của khai thác than vùng Quảng Ninh đến môi trường Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Văn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

KHOA MÔI TRƯỜNG BÀI TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

ĐỀ TÀI: Tác động của khai thác than vùng Quảng Ninh đến môi trường

Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Văn Bình

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên :

MỞ ĐẦU

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã làm thay đổi môi trường xung quanh Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là khai trường của các mỏ, bãi thải, khí độc hại, bụi và nước thải…làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

1.1 Khái niệm khoáng sản

Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ trái đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất

ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân

Khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản (khoản 1 Điều 3 Luật khoáng sản 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản 2005)

Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 có quy định về

“khái niệm Khoáng sản là gì?” như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”

Trang 2

1.2 Phân loại khoáng sản

Theo mục đích và công dụng, Khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước

- Khoáng sản kim loại là những quặng, qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại hoặc hợp chất của chúng, thuộc nhóm này gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, Mangan, Crôm…); Nhóm kim loại cơ bản (Thiếc, Đồng, Chì, Kẽm…); Nhóm kim loại nhẹ (Nhôm, Titan, Magiê…); Nhóm kim loại phóng xạ (Uran, thori, rađi) và nhóm kim loại hiếm và đất hiếm

- Khoáng sản phi kim là những quặng được sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại: nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón (lưu huỳnh, apatit, phôtphorit…); Nhóm nguyên liệu gốm sứ - chịu lửa (sét, kaolin…) và nhóm nguyên liệu kiến trúc xây dựng (cát, đá vôi, đá hoa…)

- Khoáng sản nhiên liệu gồm các đá có nguồn gốc sinh vật (than bùn, than đá, dầu…) Loại khoáng sản này ngoài việc làm chất đốt, khoáng sản nhiên liệu còn để sản xuất ra hóa phẩm, dược phẩm và các thành phần khác (sợi nhân tạo, vật liệu khuôn đúc.v.v…)

- Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt

1.3 Vai trò của khoáng sản

Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài như các thành phần môi trường nước, đất và không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội Xét từ phương diện cá nhân, con người có thể tồn mà không cần đến tài nguyên khoáng sản, nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn diện nếu không có bất kì một tài nguyên khoáng sản nào Vai trò và tầm quan trọng của khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

- Về phương diện kinh tế: Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt, như đá vôi dùng cho sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng; quặng sắt được dùng cho ngành luyện kim, cơ khí… Than đá, dầu mỏ, khí gas… là những khoáng sản cung cấp năng lượng chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế quan trọng cũng như phục vụ sinh hoạt hằng ngày của con người, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên là những tài nguyên có giá trị cao trong việc bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu đặc biệt đối với một số ngành công nghiệp

Trang 3

Bản thân ngành công nghiệp khoáng sản là một ngành chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của nhiều nước, như công nghiệp khai thác đồng ở Chilê, công nghiệp than đá ở Ucraina, công nghiệp dầu mỏ ở Cooet, Irăc và Veneduela Xuất khẩu khoáng sản thường đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia, nhiều nước có nguồn thu ngân sách chủ yếu là từ khai khoáng: Bruei, Cooet, Veneduela là những ví dụ điển hình

- Về phương diện chính trị: Khoáng sản tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế Nó góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia Thậm chí trong một số trường hợp, nó còn làm tăng các ảnh hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác, các quốc gia không có tài nguyên khoáng sản thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng như chính trị đối với các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này Vai trò, tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản còn thể hiện trong các ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các hoạt động khoáng sản tới môi trường xung quanh

Thực tế cho thấy các ảnh hưởng của hoạt động khoáng sản tới các thành phần môi trường khác như đất, nước, không khí, hệ sinh thái… thường rất nghiêm trọng Điều này bắt nguồn

từ đặc điểm của hoạt động khoáng sản là thường được tiến hành trên quy mô rộng lớn, với số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động kéo dài và thường phải sử dụng nhiều phương tiện

và hóa chất trợ giúp Phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới môi trường càng nghiêm trọng khi đó

là những hoạt động khai thác khoáng sản độc hại

CHƯƠNG 2: Các hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam

Ngành khai thác khoáng sản ở Việt Nam vẫn ở quy mô vừa và nhỏ nếu so sánh với các hoạt động khai thác rất lớn ở một số nước khác Các hoạt động khai thác mỏ và việc sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể gây nên các tác động rất khác nhau lên môi trường xung quanh, lên cảnh quan và hình thái thiên nhiên Các tác động đó là: sự tích tụ các chất thải rắn; việc sử dụng nước hoặc làm ô nhiễm nước, sự hình thành các dòng nước chứa axit ở mỏ;ô nhiễm không khí;ô nhiễm đất; tiếng ồn và chấn động; phóng xạ

Rất nhiều mỏ kim loại của Việt Nam đang hoạt động hiện nay đã được khai thác từ hàng chục năm nay và bây giờ phần trữ lượng khoáng sản có hàm lượng cao đã hết Trong trường hợp này, các phương pháp khai thác thủ công được áp dụng để tiếp tục sản xuất và duy trì việc làm cho công nhân mỏ Như vậy, người ta chỉ có thể khai thác quặng có hàm lượng thấp, các trữ lượng khoáng sản nhỏ hoặc túi quặng và không thể khai thác bằng máy móc Tuy nhiên, kiểu khai thác này có thể sẽ ảnh hưởng xấu tới đất nông nghiệp cũng như việc sử dụng đất một cách bền vững Ở nhiều trướng hợp nó còn gây khó khăn cho việc quy hoạch chung Các mỏ hầm lò chỉ có ở trong ngành than (bên cạnh các mỏ lộ thiên) Phần lớn các khoáng sản khác được khai thác lộ thiên Điều này có nghĩa là các khu vực khá rộng lớn có

Trang 4

thể bị ảnh hưởng do việc vận tải quặng và đất đá phủ, cũng như việc đổ thải quặng đuôi và đất đá thải

Việc khai thác mỏ, đặc biệt là các hoạt động khai thác mỏ lộ thiên, đã làm tăng khối lượng các chất thải ở dạng quặng đuôi hoặc đất đá thải Quặng đuôi là các sản phẩm mịn còn lại (sau khi đã tuyển và thu quặng tinh) sẽ được thải ra các hồ thải Ở những hồ chứa cũ do không được bảo trì tốt nên vật liệu thải bị thoát ra các vùng đất xung quanh và các con sông, suối ở gần đó Những vật liệu thải này, ở các dạng rất mịn, là những nguồn ô nhiễm chính cho các hoạt động khai thác khoáng sản khác và các nguồn nước

Mặc dù đã có những cố gắng nhất định nhưng chưa có một cơ sở khai thác mỏ nào ở Việt Nam có kế hoạch đầy đủ về công tác hoàn thổ sau khai thác mà phù hợp với các tiêu chuẩn hiện hành Tuy vậy, một kế hoạch đóng cửa mỏ chính thức đã đặt ra đối với mỏ pyrit Giáp Lai Những điểm chính trong kế hoạch này là tạo lại hình dáng và hoàn thổ cho các hồ thải quặng đuôi và các bãi thải đất đá ngăn ngừa dòng axit mỏ có liên quan đến đất đá thải và việc tái phủ xanh diện tích đã hoàn thổ

Nước được sử dụng hầu như ở trong tất cả các quá trình tuyển khoáng, đôi khi với khối lượng rất lớn Tuy nhiên ở Việt Nam do có lượng mưa nhiều ở hầu hết các nơi, cho nên giữa các hộ sử dụng nước ít khi có mâu thuẫn nghiêm trọng về vấn đề cung cấp nước Phần lớn các mỏ và nhà máy tuyển quặng quy mô lớn đã thu hồi nước thải, chứa vào các hồ để tuần hoàn tái sử dụng

Việc ô nhiễm nước tự nhiên là khá phổ biến ở hầu hết các khu vực khai thác mỏ Những ô nhiễm này có thể chia thành các nhóm như sau:

- Ô nhiễm nước do các chất rắn lơ lửng từ quá trình khai thác khoáng sản tạo ra Những chất ô nhiễm này tuy không gây độc hại trực tiếp nhưng sẽ làm cho nước không phù hợp cho sinh hoạt và ảnh hưởng xấu tới các loại thủy sinh ở sông suối

- Ô nhiễm nước do kim loại hòa tan trong nước của các nhà máy tuyển khoáng Hiện tượng này phụ thuộc vào thành phần của loại quặng đem tuyển, còn mức độ hòa tan thì bị tác động bởi sự có mặt của các khoáng vật sunfua và các dung dịch axit liên đới Nước có nồng

độ các kim loại khác nhau tương đối cao như vậy là khá phổ biến ở phần lớn các mỏ than, nhưng ít xảy ra đối với các mỏ kim loại Trên thực tế, ngoài các khai trường khai thác than, không có các trường hợp về "dòng axit mỏ" thực sự trên diện rộng Lý do chính là trong nhiều loại quặng không có các khoáng vật sunfua Hơn nữa, tần xuất xuất hiện cao của đá cacbonat (đá vôi và đolomit) trong đá nền sẽ có tác dụng trung hòa có hiệu quả đối với bất kỳ một loại axit nào được hình thành Chỉ ở mỏ pyrit Giáp Lai và ở mỏ đồng Sin Quyền có các dòng nước chứa axit giàu kim loại đang được hình thành

- Ô nhiễm không khí và bụi liên quan đến các hoạt động khai thác mỏ chủ yếu do vận chuyển trên các con đường đất bẩn Nó sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống hai bên đường

- Ô nhiễm đất liên quan tới các hoạt động khai thác mỏ là một vấn đề chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý hẹp Nhưng nồng độ asen cao trong đất đá thải của một số nhà máy tuyển sẽ là

Trang 5

một lời cảnh báo Một vấn đề khác có quan hệ mật thiết hơn, đó là việc lan tỏa của thủy ngân vào thiên nhiên ở các khu vực khai thác vàng thủ công Ở các khu vực này, phần lớn thủy ngân được thải vào thiên nhiên

Tiếng ồn và chấn động của các hoạt động khai thác mỏ là những vấn đề không quan trọng lắm nhưng công nhân mỏ cũng có thể bị ảnh hưởng khi các thiết bị khai thác mỏ làm việc và do nổ mìn Các nhà máy tuyển khoáng và luyện kim thường đặt bên trong các khu vực có dân cư và vì thế tiếng ồn và chấn động thường làm cho người dân địa phương cũng như người dân sống dọc theo các con đường vận chuyển quặng và các khoáng sản mất đi sự yên tĩnh

Ở Việt Nam tới nay chưa có mỏ uran nào được khai thác nhưng lại có các khoáng vật phóng xạ (chứa uran và thôri) ở mỏ đồng Sin Quyền (tỉnh Lào Cai) và trong các khoáng sản titan ở ven biển miền Trung Việt Nam Trong tất cả các trướng hợp này, cường độ của tia gam nói chung là thấp, không đáng kể Ở Bắc Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Lào Cai, các loại đá và khoáng vật nhất định có cường độ phóng xạ ở mức trung bình nên ở mức độ chưa gây nguy hiểm trực tiếp tới nhân dân sống trong các khu vực này

CHƯƠNG 3: Tác động của khai thác khoáng sản than Quảng Ninh đến môi trường

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước không có được như: than, cao lanh, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… 90% trữ lượng than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh Đây chính là đặc điểm hình thành vùng công nghiệp khai thác than từ rất sớm Vùng khai thác than, chế biến, tiêu thụ than có phạm vi rất lớn, trải dài từ Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long và Cẩm Phả.Tuy nhiên, hoạt động khai thác than luôn có những diễn

biến phức tạp, gây tác động xấu đến nhiều lĩnh vực.

Do tốc độ khai thác than tăng nhanh nhưng các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) lại không đầu tư thiết bị sản xuất tương xứng và hoàn nguyên môi trường sau khai thác Điều đó, đã làm cho môi trường ở Quảng Ninh bị huỷ hoại, tàn phá nặng nề, và người dân nơi đây đang từng ngày phải đương đầu, gánh chịu hậu quả Việc khai thác than trong nhiều năm qua, đã gây ra những biến động xấu về môi trường Tại các vùng khai thác than đã xuất hiện những núi đất, đá thải cao gần 200m, những moong khai thác sâu khoảng 100m Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 đến 10 m3 đất phủ, thải từ 1 đến 3m3 nước thải mỏ Khối lượng chất thải rắn và nước thải mỏ gây ô nhiễm nặng cho vùng

mỏ Một vài vùng ô nhiễm đã đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả…

Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã phá huỷ hàng trăm km2 rừng, tạo ra xói mòn, bồi lấp ở các sông suối và làm ô nhiễm Vịnh Hạ Long Một số mỏ than còn sử dụng công nghệ khai thác lạc hậu, thiếu chương trình khoa học tổng thể để xác định sự cần thiết về tăng trưởng công suất cho phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường Do đó, môi trường đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động xấu, nước bị ô nhiễm nặng bởi chất thải rắn lơ lửng, vi trùng và bụi trong không khí v.v…

Trang 6

Để có sản lượng nhảy vọt, vượt công suất thiết kế, nhiều đơn vị đã chạy đua lộ thiên hoá dù

đã được quy hoạch là khai thác theo công nghệ hầm lò Trong khi đó, công nghệ khai thác lộ thiên được đánh giá là gây tác hại rất lớn về ô nhiễm môi trường, hạn chế độ sâu khai thác Đến thời điểm này, nhiều mỏ lộ thiên đã âm quá giới hạn cho phép là -300m (so với mặt biển), nhưng vẫn tiếp tục khoan thăm dò khai thác, bất chấp những tác hại về cấu tạo địa chất, làm tiền đề cho những thảm họa khác như lở đất, nhiễm mặn và biến đổi sinh thái

Hiện nay trong khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km2, chiếm 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả Trong giai đoạn 1970 – 1997, các hoạt động khai thác than ở Hòn Gai, Cẩm Phả đã làm mất khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi năm mất 100 – 110ha) , trong đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)

 Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả

Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu về phía tây – nam (khoảng 100ha) và phía tây (25ha) Sau 1975 việc khai trường và bãi thải phát triển về phía bắc khoảng 435ha, phía tây – bắc 265ha và phía đông 75ha

 Diện tích khai trường, bãi thải và diện tích đổ thải ra vùng biển Cẩm Phả

Một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nhất, đó là huyện Đông Triều, vùng trọng điểm lúa của tỉnh:

Đông Triều (Quảng Ninh) đang đối mặt với gần 7.000 ha lúa và hoa màu ở Đông nạn hạn hán

và thiếu nước nghiêm trọng trong khi nhiều hồ thủy lợi lớn bị ô nhiễm, tài nguyên rừng bị suy thoái , gây cạn kiệt dòng sinh thuỷ, gây ngập úng và hạn hán cục bộ, làm bồi lắng lòng

hồ, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân sinh các khu vực lân cận Trong tổng số 25 hồ chứa nước ở huyện Đông Triều đã có gần một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua hoá từ quá trình sản xuất than gây ra, trong đó có nhiều hồ bị chua hoá nặng, độ PH đều ở mức dưới 3,5 (PH tiêu chuẩn từ 5 – 5,5).Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang âm thầm huy hoại năng suất cây trồng, vật nuôi và nguy cơ bị cắt đứt toàn bộ nguồn thuỷ sản trong tương lai gần

CHƯƠNG 4 :Đề xuất giải pháp

Để tìm giải pháp, nguyên nhân phải được làm rõ Chính vì vậy, trong báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành đợt giám sát chuyên đề về tình hình thực hiện chính sách, phát luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường năm 2012 đã chỉ ra khó rõ ràng các nguyên nhân, đó là: Do công tác lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu

tư dự án thiếu cơ sở, chưa tính toán đến các chi phí, lợi ích về mặt xã hội và môi trường; nhiều địa phương quá chú trọng vào việc phát triển kinh tế, nên tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây suy thoái môi trường và làm mất cân bằng hệ sinh thái, nhất là các hoạt động của các mỏ khai thác than, quặng kim loại và vật liệu xây dựng của các doanh nghiệp nhỏ, tư nhân Công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, nhất là đối với các kim loại, nên mức độ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, phá hủy rừng, hủy hoại về mặt đất, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác, không khí

Trang 7

Về giải pháp khắc phục trong thời gian tới:

4.1 Yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam triển khai thực hiện Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành Than trên địa bàn, giai đoạn 2016-2020, trước mắt phải tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1.Kiểm tra, củng cố hệ thống tầng thải, hệ thống thoát nước của các bãi thải đảm bảo thông

số kỹ thuật theo đúng quy chuẩn kỹ thuật khai thác mỏ lộ thiên và thiết kế của bãi thải không

để nước mưa chảy phá ngang ra sườn tầng; phân chia nước mưa thoát về các khu vực phù hợp với năng lực thoát nước của các suối, trong đó giảm thoát nước về các khu vực có nguy

2.Đầu tư xây dựng các đê, đập chắn đất đá chân bãi thải còn thiếu, nhất là các khu vực gần dân cư của các bãi thải ngoài; phối hợp với địa phương bồi thường giải phóng mặt bằng các diện tích bãi thải còn vướng mắc để triển khai xây dựng trước các đê, đập chắn đất đá chân bãi thải ở vị trí cố định Củng cố đê đập hiện có, nạo vét thường xuyên hố lắng trước đập đảm

3.Tập trung nguồn vốn để cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải, khu vực bãi thải đã kết thúc đổ thải Ưu tiên đổ thải kết thúc trước các khu vực bãi thải nhìn được từ QL18A để cải tạo phục hồi môi trường, trồng cây phủ xanh nhằm giảm thiểu nguy cơ sạt lở, trôi lấp đất đá,

4.Chỉ đạo các đơn vị thành viên khi thực hiện trồng rừng cải tạo phục hồi môi trường tuân thủ theo chỉ đạo của UBND tỉnh về việc lựa chọn loài cây trồng rừng cải tạo môi trường trên địa bàn tỉnh, tập trung trồng thông, phi lao hoặc các cây bản địa có khả năng thích nghi, phát triển trên khu vực bãi thải Việc cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải phải đảm bảo ổn định lâu dài, hệ thống thoát nước đồng bộ, cây trồng phát triển nhanh khép tán nhằm chống xói mòn; ứng dụng các biện pháp khoa học công nghệ trong việc cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải, đặc biệt là các bãi thải nhìn từ QL18A và cần phủ xanh nhanh

5.Tăng tần suất tưới nước dập bụi trên các tuyến đường vận chuyển đất, nhất là vào những ngày khô hanh; lắp đặt hệ thống tưới đường liên tục Thực hiện đổ thải theo tầng thấp

6.Nghiên cứu sử dụng đất đá thải mỏ để sản xuất vật liệu xây dựng, cát san lấp mặt bằng cho các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh (các dự án lấn biển, xây dựng khu đô thị mới ) nhằm tận dụng đất đá thải giảm khối lượng đất đá đổ thải tại các bãi thải cao và hạn chế sử dụng đất đá tại các đồi đã trồng rừng để bảo vệ cảnh quan, môi trường phục vụ cho

4.2 Đề nghị các sở, ban, ngành và UBND các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đổ thải đảm bảo đúng quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt và Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành Than, giai đoạn 2016-2020 Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm hành chính trong công tác bảo vệ môi trường đối với các đơn vị ngành Than trong sản xuất, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ theo quy định của pháp luật

Trang 8

KẾT LUẬN

Nhằm từng bước khắc phục, hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường trong khai thác chế biến khoáng sản, đồng thời nâng cao hơn nữa công tác quản lý nhà nước trong thời gian tới, cần khẩn trương rà soát Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các

bộ có liên quan theo hướng phân công cụ thể trách nhiệm, tập trung quản lý thống nhất đầu mối quốc gia, khắc phục sự phân tán, chồng chéo về nhiệm vụ bảo vệ môi trường; tăng cường năng lực quản lý môi trường các cấp, nhất là tập trung vào cấp quận, huyện, xã, phường; tiếp tục rà soát các quy định về ký quỹ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản theo hướng quy định cụ thể về định mức trong công tác cải tạo, phục hồi môi trường và cần làm rõ phương án, trách nhiệm cải tạo phục hồi môi trường của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như tuyên truyền, vận động người dân tham gia tích cực trong việc phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này

Ngày đăng: 19/09/2020, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w