Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng và nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với khoảng 5.000 điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau trong đó có một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn như: bô xít, titan, than... Khai thác khoáng sản đã có nhiều đóng góp cho ngân sách quốc gia trong nhiều thập kỷ qua, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp như hiện nay. Trong thời gian qua, nhu cầu tiêu thụ khoáng sản ngày càng tăng mạnh, dẫn đến hiện tượng khai thác khoáng sản tràn lan, gây tổn thất lớn tới tài nguyên khoáng sản. Hơn nữa, tài nguyên khoáng sản là một tài nguyên đặc biệt, không tái tạo được và cũng không phải là vô tận. Tài nguyên khoáng sản trong lòng đất bị con người khai thác liên tục nên trữ lượng của chúng ngày càng cạn kiệt. Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững trong khai thác khoáng sản đang là vấn đề cấp bách, nhận được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng. Để giải quyết được vấn đề này cần sự đồng lòng của Nhà nước và Nhân dân, sự chung tay của các ngành liên quan, đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường – đơn vị trực tiếp thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản tại địa phương. Là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, Lạng Sơn có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng nhưng phân bố phân tán, quy mô nhỏ. Có hai loại khoáng sản có trữ lượng lớn là đá vôi và quặng bauxit. Khoáng sản kim loại như sắt, đồng, chì, kẽm, vàng, antimon...chỉ có trữ lượng đến khoảng vài trăm nghìn tấn. Hoạt động khai thác khoáng sản đã giúp cho tỉnh Lạng Sơn thu hút được nhiều nguồn vốn, chủ động đáp ứng một phần cho nhu cầu sử dụng khoáng sản của ngành công nghiệp liên quan trên địa bàn tỉnh như sản xuất xi măng, xây dựng các công trình dân dụng, đường giao thông, đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách nhà nước. Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý nhà nước của toàn tỉnh nói chung và của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn nói riêng về tài nguyên khoáng sản đã được tăng cường, dần đi vào nề nếp, đạt một số hiệu quả tích cực. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế để xảy ra như hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép, khai thác vượt mức quy định, khai thác vượt quá thời gian... do vậy cần nghiên cứu để đưa ra được giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn” là cần thiết.
Trang 1NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUỲNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN CỦA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG TỈNH LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ NGÀNH: 8340410
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN ĐĂNG NÚI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tội cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương Quỳnh
Trang 3Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về tàinguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn” em đã nhậnđược sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tếquốc dân để có thể hoàn thành luận văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Nguyễn Đăng Núi - người đãtrực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thực hiệnluận văn
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ em trong suốtquá trình học tập
Xin cảm ơn các lãnh đạo, chuyên viên của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnhLạng Sơn đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốtthời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
đã hỗ trợ cho em rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhưng dogiới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn về tài liệu và thời gian, chuyên đề nghiêncứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sựđóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để bài nghiên cứu của
em được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN 6
1.1 Tài nguyên khoáng sản 6
1.1.1 Khái niệm tài nguyên khoáng sản 6
1.1.2 Phân loại tài nguyên khoáng sản 6
1.2 Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 10
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 10
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 11
1.2.3 Phân cấp quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 12
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 16
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN CỦA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LẠNG SƠN 28
2.1 Thực trạng về tài nguyên khoáng sản và khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 28
2.1.1 Thực trạng về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 28
2.1.2 Thực trạng khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 35
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn 40
2.2.1 Ban hành các văn bản pháp luật về tài nguyên khoáng sản theo thẩm quyền 42
2.2.2 Xây dựng chương trình, lập kế hoạch về tài nguyên khoáng sản 44
2.2.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch về tài nguyên khoáng sản 51
2.2.4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên khoáng sản 54
2.2.5 Thanh tra, kiểm tra về tài nguyên khoáng sản 55
2.3 Đánh giá chung quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn 57
Trang 52.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 60
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN CỦA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LẠNG SƠN 62
3.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 .62 3.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 62
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 64
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 65
3.2.1 Hoàn thiện ban hành các văn bản pháp luật về tài nguyên khoáng sản theo thẩm quyền 65
3.2.2 Hoàn thiện xây dựng chương trình, lập kế hoạch về tài nguyên khoáng sản 70
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức thực hiện kế hoạch về tài nguyên khoáng sản 70
3.2.4 Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo tồn, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản 76
3.2.5 Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra về tài nguyên khoáng sản 77
3.2.6 Giải pháp khác 78
3.3 Kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị với UBND, HĐND tỉnh Lạng Sơn 79
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường 81
3.3.3 Kiến nghị với chính phủ 82
KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6TỪ VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
Trang 7Bảng 2.1 Sản lượng khai thác khoáng sản từ năm 2013-2017 37Bảng 2.2 Các văn bản pháp luật về tài nguyên khoáng sản Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Lạng Sơn tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh 42Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu sử dụng đến năm 2020: 45Bảng 2.4 Quy hoạch thăm dò khoáng sản tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020 46Bảng 2.5 Quy hoạch thăm dò khoáng sản tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2021-2025 46Bảng 2.6 Quy hoạch khai thác khoáng sản tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020 .47Bảng 2.7 Quy hoạch khai thác khoáng sản tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020-2025 .48Bảng 2.8 Kết quả xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm trong hoạt động khoáng sản .57
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng và nguồn tài nguyên khoángsản phong phú với khoảng 5.000 điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhautrong đó có một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn như: bô xít, titan, than Khai thác khoáng sản đã có nhiều đóng góp cho ngân sách quốc gia trong nhiều thập
kỷ qua, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp như hiện nay.Trong thời gian qua, nhu cầu tiêu thụ khoáng sản ngày càng tăng mạnh, dẫn đếnhiện tượng khai thác khoáng sản tràn lan, gây tổn thất lớn tới tài nguyên khoáng sản.Hơn nữa, tài nguyên khoáng sản là một tài nguyên đặc biệt, không tái tạo được vàcũng không phải là vô tận Tài nguyên khoáng sản trong lòng đất bị con người khaithác liên tục nên trữ lượng của chúng ngày càng cạn kiệt
Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững trong khai tháckhoáng sản đang là vấn đề cấp bách, nhận được sự quan tâm rất lớn của cộngđồng Để giải quyết được vấn đề này cần sự đồng lòng của Nhà nước và Nhân dân,
sự chung tay của các ngành liên quan, đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường –đơn vị trực tiếp thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác khoángsản tại địa phương
Là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, Lạng Sơn có nguồn tài nguyên khoángsản đa dạng nhưng phân bố phân tán, quy mô nhỏ Có hai loại khoáng sản có trữlượng lớn là đá vôi và quặng bauxit Khoáng sản kim loại như sắt, đồng, chì, kẽm,vàng, antimon chỉ có trữ lượng đến khoảng vài trăm nghìn tấn Hoạt động khai tháckhoáng sản đã giúp cho tỉnh Lạng Sơn thu hút được nhiều nguồn vốn, chủ động đápứng một phần cho nhu cầu sử dụng khoáng sản của ngành công nghiệp liên quan trênđịa bàn tỉnh như sản xuất xi măng, xây dựng các công trình dân dụng, đường giaothông, đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách nhà nước
Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý nhà nước của toàn tỉnh nói chung
và của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn nói riêng về tài nguyên khoángsản đã được tăng cường, dần đi vào nề nếp, đạt một số hiệu quả tích cực Tuy nhiên
Trang 9vẫn còn những hạn chế để xảy ra như hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép, khaithác vượt mức quy định, khai thác vượt quá thời gian do vậy cần nghiên cứu để đưa
ra được giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước về tài
nguyên khoáng sản của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn” là cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản đangrất được quan tâm, trong đó có một số nghiên cứu đáng chú ý sau đây:
- Tổng cục địa chất Việt Nam, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật ViệtNam, Viện tư vấn phát triển, 2010, Báo cáo nghiên cứu đánh giá “Thực trạng vềquản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam” Nghiên cứu đã nêuđược tiềm năng tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam, thực trạng, kết quả quản lý vàsử dụng tài nguyên khoáng sản, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giảipháp và kiến nghị
- Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2013, “Nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng hợp lýtài nguyên khoáng sản rắn vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) tỉnh Sóc Trăng”,Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý tài nguyên môi trường, trường Đại họcKhoa học Tự nhiên Luận văn đã đánh giá nguồn tài nguyên khoáng sản rắn vùngbiển nông ven bờ của tỉnh Sóc Trăng và đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý nguồntài nguyên này
- Nguyễn Thị Khánh Thiệm, 2015, “Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sảntrên địa bàn tỉnh Hà Nam”, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế, trườngĐại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu về thực trạng khaithác, quản lý khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam; đánh giá những kếtquả đạt được cũng như những hạn chế yếu kém trong công tác quản lý khai tháckhoáng sản Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khai tháckhoáng sản tỉnh Hà Nam
- Trần Thanh Thuỷ và cộng sự, 2012, “Khoáng sản – Phát triển – Môi trường:Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn”, Nhà xuất bản Mỹ thuật Báo cáo cho thấy,
Trang 10bên cạnh những tác động tích cực lên phát triển kinh tế xã hội của đất nước, hoạtđộng khai thác khoáng sản còn có những mặt trái, ảnh hưởng tiêu cực lên conngười, môi trường, các hệ sinh thái tự nhiên Báo cáo cũng đưa ra các khuyến nghịchính sách cho ngành khai thác khoáng sản.
Bên cạnh các nghiên cứu nêu trên còn có rất nhiều những bài báo đề cập đếnnhững bất cập trong thực tiễn về khai thác tài nguyên khoáng sản Tuy nhiên, chưa
có một luận văn, công trình cụ thể nào nghiên cứu về đề tài “Quản lý nhà nước vềtài nguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn” Đây chính
là lý do mà đề tài này có tính khả thi cao
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định khung nghiên cứu quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên khai thác khoáng sảncủa sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn Đánh giá những kết quả đạt đượccũng như những tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sảncủa Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về tàinguyên khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn theo cách tiếpcận nội dung quản lý nhà nước
- Phạm vi về không gian: tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2015-2017, sốliệu sơ cấp thu thập từ tháng 4 đến tháng 6/2018, giải pháp đề xuất đến năm 2025
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Khung nghiên c uứu
Mục tiêu quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
- Xây dựng chươngtrình, kế hoạch về tàinguyên khoáng sản
- Tổ chức thực hiện kếhoạch về tài nguyênkhoáng sản
- Tuyên truyền, phổbiến, giáo dục pháp luật
về tài nguyên khoángsản
- Thanh tra, kiểm tra vềtài nguyên khoáng sản
- Sử dụng hợp lý, tiếtkiệm tài nguyênkhoáng sản
- Duy trì và bảo tồn tàinguyên khoáng sản
5.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Thu thập dữ liệu thứ cấp: Bao gồm các thông tư, nghị định, văn bản phápluật quy định, hướng dẫn về quản lý tài nguyên khoáng sản; các quyết định, báo cáocủa UBND tỉnh Lạng Sơn và sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Lạng Sơn về quản
lý tài nguyên khoáng sản; các bài báo, bài viết về quản lý tài nguyên khoáng sảnđược đăng trên Internet; các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ.+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn 5 cán bộ của Sở TN&MTtỉnh Lạng Sơn để có được thông tin về thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên
Trang 12khoáng sản của Sở TN&MT tỉnh Lạng Sơn Thời gian thực hiện phỏng vấn: từ 6/2018.
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
+ Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, tiến hành phân loại các dữ liệu chophù hợp với từng nội dung quản lý
+ Phân tích – tổng hợp: Chia vấn đề thành từng phần, tiếp cận theo nộidung quản lý, sau đó đánh giá tổng hợp để có cái nhìn khái quát chung về vấn đềnghiên cứu
+ Thống kê - so sánh: Từ các số liệu được thống kê trong các báo cáo, so sánh
để thấy được hiệu quả của quản lý nhà nước
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
1.1 Tài nguyên khoáng sản
1.1.1 Khái niệm tài nguyên khoáng sản
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Khoáng sản là những thành tạokhoáng vật trong vỏ trái đất có thể sử dụng trong nền kinh tế quốc dân” LuậtKhoáng sản năm 2010 quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có íchđược tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất,bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”
Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo của Trái Đất, nói một cáchchính xác là thời gian cần để tái tạo một mỏ khoáng sản lớn hơn rất nhiều lần thờigian cần để khai thác chúng Dự trữ tài nguyên khoáng sản của Trái Đất là hữu hạn
so với nhu cầu sử dụng của con người
Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chấttrong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên
tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoángsản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế củaloài người Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạngvật chất có ích và của cải của con người Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyênkhoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc
và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v )
1.1.2 Phân loại tài nguyên khoáng sản
Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinhkhoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triểnmạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản Qua 65 nămnghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam
Trang 14cùng với các kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng
8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụkhoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kimloại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng Có thể liệt kê một số nhómtài nguyên khoáng sản chủ yếu ở Việt Nam như sau:
a) Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và địa nhiệt
Về dầu khí: Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể Tiềm năng và trữ lượngdầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300
tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí
có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi Đến ngày 2/9/2009 tập đoànDầu khí quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác 300 triệu tấn dầu quy đổi Với sảnlượng khai thác dầu khí hàng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở ĐôngNam Á sau Indonesia và Malaysia
Than khoáng: Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại Thanbiến chất thấp (lignit – á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đếnchiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn Nếu tính đến độ sâu3500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn
Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùngsông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần
80 triệu tấn
Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, TháiNguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn Bể than QuảngNinh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn Bể than Quảng Ninh đã được khaithác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.Urani: Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, TrungTrung Bộ và Tây Nguyên Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên218.000 tấn có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy điện hạt nhântrong tương lai
Địa nhiệt: Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn
có nhiệt độ là 300 C trở lên Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc,
Trang 15Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khíchúng ta cũng phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể SôngHồng và Bể Cửu Long Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thểcoi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống phục vụcho nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
b) Nhóm khoáng sản kim loại
Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt,nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin, tantal-niobi v.v… Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớntầm cỡ thế giới như bauxit (quặng nhôm), đất hiếm, titan, wolfram, crôm v.v
Bauxit có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit:
Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, HảiDương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn.Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyênvới trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố sách hànghoá khoáng sản thế giới và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea7,4 tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn) Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm đểsản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông
Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữlượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và
Mỹ (13 triệu tấn) Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng
Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhậpmafic, quặng trong vỏ phong hoá và quặng sa khoáng ven biển
Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương TháiNguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn đang đượckhai thác
Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương vàĐại Từ Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn
Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu.Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng
Trang 16Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn Ngoài khoáng vậtilmenit, còn có các khoáng vật có giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit Một số
mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình Thuận v.v đã được khai thác và xuất khẩu.Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái Nguyên.Công ty Tiberon Minerals đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên và trữ lượng đạt110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3 , 8,5 triệu tấn CàF2, 191.800 tấn Cu,20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi Đây là vùng quặng rất đáng được quan tâm chú ý vì
có tài nguyên dự báo đáng kể
Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định,Nông Cống Thanh Hoá với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác Đi kèm crômcòn có trữ lượng đáng kể của Nickel và Cobal … cần được nghiên cứu sử dụng.c) Nhóm khoáng chất công nghiệp
Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp như apatit, phosphorit, baryt,fluorit, pyrit, serpentin, than bùn, sét gốm sứ, magnesit, dolomit, felspat, kaolin,pyrophylit, quartzit, cát thuỷ tinh, disthen, silimanit, sét dẻo chịu lửa, diatomit, graphit,talc, atbest, muscovit, vermiculit, bentonit, thạch anh tinh thể Các khoáng chất côngnghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho cácngành nông, công nghiệp Các mỏ lớn đáng chú ý là apatit, baryt và graphit
Apatit phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đếnvùng Văn Bàn, dài trên 100 Km, rộng trung bình 1 Km, được đánh giá có tài nguyênđến độ sâu 100m, là 2,5 tỷ tấn và trữ lượng đã được thăm dò đạt 900 triệu tấn
Baryt phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thường đi kèm với quặng Pb-Zn
và đất hiếm Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, LaiChâu có 4 triệu tấn)
Graphit có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lượngđạt gần 20 triệu tấn
d) Nhóm vật liệu xây dựng
Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan,cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong Các mỏ vật liệu xây dựng đã và đangđược khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước
Trang 17Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đáquý ruby, saphia, peridot, … nhưng trữ lượng không lớn Riêng ruby ở Yên Bái vàNghệ An có chất lượng cao được thế giới đánh giá đạt chất lượng quốc tế, tươngđương với ruby nổi tiếng của Myanmar.
Điểm qua về tiềm năng khoáng sản của đất nước ta kể trên, nếu so sánh với cácnước ở trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, thì thấy rằng: nước ta tuy có diệntích đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa lý thuận lợi cho sự sinh thành vàphát triển khoáng sản Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước
ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể
1.2 Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
“Quản lý” là khái niệm có tính đa nghĩa nên có sự khác nhau về nghĩa rộng vànghĩa hẹp.Từ các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lýnhư: Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác;quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định; quản lý làcông tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cộng sự trong cùng một tổchức; quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêucủa tổ chức Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, cómục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sửdụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu đặt ra trong sự vận động của
sự vật
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Quản lý nhànước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội củamỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay quản lý nhà nước bao gồm hoạtđộng lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạtđộng tư pháp của cơ quan tư pháp Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý
xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước đểđiều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội docác cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp củacon người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Trang 18Hiện chưa có khái niệm cụ thể, chính xác thế nào là quản lý nhà nước về tàinguyên khoáng sản, song từ các khái niệm nêu trên có thể định nghĩa quản lý nhànước về tài nguyên khoáng sản như sau: Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động khoáng sản đểđảm bảo nguồn tài nguyên khoáng sản được sử dụng hiệu quả, phù hợp với các mụctiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
Nguyên tắc quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản là các nguyên tắc chủđạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan quản lý nhà nước phải tuân thủ trongquá trình quản lý tài nguyên khoáng sản của địa phương
Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản là một nội dung trong quản lý nhànước về kinh tế nên trước hết hoạt động này phải tuân theo các nguyên tắc về quản
lý nhà nước nói chung như: Nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế, quả
lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương, lãnh thổ, kết hợp hài hoà các loạilợi ích, tiết kiệm và hiệu quả
Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản cần phải đảm bảo cácnguyên tắc sau:
1 Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sảntrên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Khoáng sản và các quy định của Chính phủ
2 Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản là cơ sở pháp lý chocông tác quản lý; cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản và đấu giá quyền khaithác khoáng sản
3 Khai thác khoáng sản phải đảm bảo nguyên tắc: Được quản lý, bảo vệ, khaithác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm; giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ môi trường;sử dụng công nghệ hiện đại, chế biến sâu, hiệu quả kinh tế cao và an toàn lao động;tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác và chế biếnkhoáng sản, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đã được cấpphép sản xuất kinh doanh hiệu quả
4 Hoạt động khoáng sản (HĐKS) phải phù hợp với chiến lược, quy hoạchkhoáng sản, đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gắn với
Trang 19bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, antoàn xã hội.
5 Khu vực hoạt động khoáng sản phải nằm trong Quy hoạch thăm dò, khaithác khoáng sản và không thuộc khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản mà chưa được cấp có thẩmquyền cấp giấy phép; kinh doanh, vận chuyển, sử dụng khoáng sản không có hóađơn, chứng từ hợp lệ
6 Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định pháp luật trong hoạt động khoáng sảnthì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu tráchnhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
1.2.3 Phân cấp quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản
2 Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm:
a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản; ban hành quychuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá trong điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm
dò khoáng sản;
b) Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản; lập,trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khoáng sản theo phân công củaChính phủ;
c) Khoanh định và công bố các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền; khoanhđịnh và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá quyền khaithác khoáng sản theo thẩm quyền;
d) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đào tạo, bồidưỡng nguồn nhân lực cho công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạtđộng khoáng sản;
đ) Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai tháckhoáng sản; chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác
Trang 20khoáng sản, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; tổchức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền;
e) Hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc đăng ký hoạt động điều tra cơ bản địachất về khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản;
g) Tổng hợp kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, tình hình hoạtđộng khoáng sản; quản lý thông tin, mẫu vật địa chất, khoáng sản;
h) Công bố, xuất bản các tài liệu, thông tin điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản;i) Thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia;
k) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền
3 Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình thực hiện quản lý nhà nước, trong đó có việc lập và trình phê duyệt quy hoạch
về khoáng sản theo phân công của Chính phủ; đồng thời phối hợp với Bộ Tài nguyên
và Môi trường trong quản lý nhà nước về khoáng sản
4 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
a) Ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định củaNhà nước về quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sảntại địa phương;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu
tư, Công nghiệp, Xây dựng, Quốc phòng, Công an, Văn hóa - Thông tin, Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tổng cục Du lịch khoanh địnhtrình Thủ tướng Chính phủ quyết định các khu vực cấm hoạt động khoáng sản theoquy định tại Điều 20 của Nghị định, khoanh định và phê duyệt khu vực cấm, khu vựctạm thời cấm HĐKS theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 160;
c) Tổ chức lập và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạchthăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đối với các loại khoáng sản thuộc thẩmquyền cấp giấy phép quy định tại điểm b khoản l Điều 56 của Luật Khoáng sản;
d) Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về khoángsản; thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản, môi trường và tài nguyênthiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự xã hội tại cáckhu vực có khoáng sản;
Trang 21đ) Phê duyệt trữ lượng trong báo cáo thăm dò khoáng sản làm vật liệu xâydựng thông thường (VLXDTT) và than bùn;
e) Cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy phép HĐKS, cho phép chuyểnnhượng, cho phép tiếp tục thực hiện quyền HĐKS trong trường hợp được thừa kế,theo thẩm quyền quy định tại điểm b khoản l Điều 56 của Luật Khoáng sản;
g) Quyết định phê duyệt và công bố khu vực đấu thầu thăm dò, khai tháckhoáng sản làm VLXDTT và than bùn; khoáng sản ở các khu vực đã được điều tra,đánh giá hoặc thăm dò, phê duyệt trữ lượng không nằm trong quy hoạch thăm dòkhai thác, chế biến khoáng sản của cả nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnphê duyệt hoặc không thuộc diện dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia; tổ chứcviệc thực hiện đấu thầu theo quy định sau khi được phê duyệt;
h) Chỉ đạo kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về khoáng sản tại địaphương; giải quyết hoặc tham gia giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về hoạt độngkhoáng sản và xử lý các vi phạm pháp luật về khoáng sản tại địa phương theo thẩmquyền quy định tại Điều 57 của Luật Khoáng sản và pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
i) Giải quyết việc giao đất, cho thuê đất để HĐKS tại địa phương theo quyđịnh của pháp luật về đất đai
5 Sở TN&MT cấp tỉnh
* Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền banhành của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về lĩnh vực tài nguyên và môi trường;
b) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hàng năm; chương trình, đề án, dự
án về lĩnh vực tài nguyên và môi trường và các giải pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên
và môi trường trên địa bàn;
c) Dự thảo quy định tiêu chuẩn chức danh đối với cấp trưởng, cấp phó các tổchức trực thuộc Sở và Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trườngquận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
* Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Dự thảo các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp tỉnh về lĩnh vực tài nguyên và môi trường;
Trang 22b) Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, tổ chức lại các phòngnghiệp vụ, chi cục và đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; dự thảoquyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của chi cụcthuộc Sở theo quy định của pháp luật;
c) Dự thảo các văn bản quy định cụ thể về quan hệ công tác giữa Sở Tàinguyên và Môi trường với các Sở có liên quan và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện)
* Hướng dẫn tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mứckinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường được cơ quan nhà nướccấp trên có thẩm quyền ban hành; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnhvực tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh
* Liên quan đến lĩnh vực về tài nguyên khoáng sản:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan khoanh định các khu vực cấm,tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, xác định các khu vực đấu thầu thăm dò, khai tháckhoáng sản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đề xuất với Ủy ban nhândân cấp tỉnh các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản;
b) Tổ chức thẩm định đề án thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thôngthường và than bùn; tham gia xây dựng quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến vàsử dụng các loại khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Ủy ban nhân dâncấp tỉnh;
c) Tổ chức thẩm định hồ sơ về việc cấp, gia hạn, thu hồi, trả lại giấy phéphoạt động khoáng sản, cho phép chuyển nhượng, cho phép tiếp tục thực hiện quyềnhoạt động khoáng sản trong trường hợp được thừa kế và các đề án đóng cửa mỏthuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
d) Tổ chức thẩm định báo cáo thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thôngthường và than bùn thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
đ) Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản của các tổ chức, cá nhân;giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về hoạt động khoáng sản và xử lý hoặc kiến nghịxử lý các vi phạm pháp luật về khoáng sản theo quy định của pháp luật;
Trang 23e) Quản lý, lưu trữ và cung cấp thông tin, tư liệu về thăm dò khoáng sản làmvật liệu xây dựng và than bùn; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản đã được phêduyệt và định kỳ báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
1.2.4.1 Xây dựng thể chế, pháp luật về tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản là nguồn tài nguyên không tái tạo nên phải được quản lý, bảo vệ,khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao và bảo vệ môi trường
Trong những năm qua, chủ trương, chính sách pháp luật về khoáng sản củaĐảng và Nhà nước đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cho phát triển côngnghiệp khai thác khoáng sản theo hướng bền vững Nghị quyết 02-NQ/TW của BộChính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sáchkhá toàn diện cho quản lý khoáng sản Luật Khoáng sản năm 2010 được Quốc hộikhóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 với 86 điều,trong đó có tới 48 điều có nội dung hoàn toàn mới, có quy định lần đầu tiên quy địnhtrong quản lý khoáng sản đã được triển khai thực hiện đến nay được hơn 08 năm
Sau khi Luật Khoáng sản năm 2010 được thông qua, tính đến nay, Chính phủ
đã ban hành 3 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 1 Quyết định; các Bộ đãban hành 3 Thông tư hướng dẫn liên quan đến quản lý, khai thác khoáng sản
Như vậy, liên quan đến lĩnh vực khoáng sản hiện có 88 Văn bản quy phạmpháp luật (61 văn bản về khoáng sản, 27 văn bản về môi trường trong khai tháckhoáng sản) và 24 văn bản chỉ đạo điều hành của Thủ tướng Chính phủ còn hiệu lực
Đối với việc ban hành Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật: các Bộ có liên quan đãban hành, sửa đổi, bổ sung 9 Tiêu chuẩn ngành để áp dụng trong hoạt động khoángsản Ban hành 41 Quy chuẩn kỹ thuật về bảo vệ môi trường, trong đó có 21 Quychuẩn có liên quan đến hoạt động khoáng sản Ban hành 16 Tiêu chuẩn liên quan đếnhoạt động khoáng sản Hiện nay chưa có ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phươngtrong lĩnh vực khoáng sản cũng như môi trường trong khai thác khoáng sản
Đối với Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân cấp tỉnh: Theo số liệu thống kê của Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc
Trang 24hội từ báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến tháng 7/2018,Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh các địa phương đã ban hành 756văn bản, trong đó có 620 Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền (105 Nghịquyết của Hội đồng nhân dân, 515 quyết định của Uỷ ban nhân dân) trong quản lýnhà nước về khoáng sản và 136 văn bản chỉ đạo, điều hành trong quản lý nhà nước
về khoáng sản gắn với BVMT
Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành LuậtKhoáng sản, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản đã được các cơquan có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương ban hành kịp thời và khá đồng bộ,phù hợp với quy định của pháp luật về khoáng sản và quy định của pháp luật khác cóliên quan; đã thể chế hoá được các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thúcđẩy sự phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và tăng cườngcông tác quản lý nhà nước về khoáng sản
Việc ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật đã tạo hành lang pháp lý choviệc triển khai các hoạt động khai khoáng ở địa phương một cách kịp thời Có một sốtỉnh đã ban hành số lượng lớn văn bản như Đồng Nai (95 văn bản); Lâm Đồng (37);Bắc Giang (31); Bình Thuận (24); Cao Bằng (23)
1.2.4.2 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về tài nguyên khoáng sản
Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch về tài nguyên khoáng sản bao gồm: Quyhoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; Quy hoạch thăm dò, khai thác khoángsản chung cả nước; Quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làmvật liệu xây dựng cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoángsản khác cả nước
1 Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản
a) Việc lập quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản phải bảo đảmcác nguyên tắc sau đây:
- Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, quy hoạch vùng, chiến lược khoáng sản;
- Định hướng cho quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước
Trang 25b) Căn cứ để lập quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản bao gồm:
- Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,quy hoạch vùng, chiến lược khoáng sản;
- Kết quả thực hiện quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản kỳtrước; tiền đề, dấu hiệu địa chất liên quan đến khoáng sản mới phát hiện
c) Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản phải có các nội dungchính sau đây:
- Lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ1:50.000; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về địa chất, khoáng sản;
- Đánh giá tiềm năng từng loại, từng nhóm khoáng sản; xác định vùng có triểnvọng về khoáng sản;
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản
kỳ trước;
- Xác định quy mô đầu tư, nhu cầu về thiết bị, kỹ thuật, phương pháp phântích, thí nghiệm phục vụ điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản;
- Giải pháp, tiến độ tổ chức thực hiện quy hoạch
2 Quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước
a) Việc lập quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước phải bảođảm các nguyên tắc sau đây:
- Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, anninh, quy hoạch vùng, chiến lược khoáng sản;
- Bảo đảm khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản phục vụnhu cầu hiện tại, đồng thời có tính đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và nhucầu khoáng sản trong tương lai;
- Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danhlam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác
b) Căn cứ để lập quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước bao gồm:
- Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quyhoạch vùng, chiến lược khoáng sản, quy hoạch ngành sản xuất sử dụng khoáng sản;
- Nhu cầu khoáng sản của các ngành kinh tế;
Trang 26- Kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản;
- Tiến bộ khoa học và công nghệ trong thăm dò, khai thác khoáng sản;
- Kết quả thực hiện quy hoạch kỳ trước; kết quả đánh giá môi trường chiếnlược theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
c) Quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước phải có các nộidung chính sau đây:
- Điều tra, nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
và thực trạng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản;
- Đánh giá thực trạng tiềm năng khoáng sản đã điều tra, thăm dò và nhu cầusử dụng khoáng sản của các ngành kinh tế;
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch kỳ trước;
- Xác định phương hướng, mục tiêu thăm dò, khai thác khoáng sản trong kỳquy hoạch;
- Khoanh định khu vực hoạt động khoáng sản, trong đó thể hiện cả khu vực
có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ Khu vực hoạt động khoáng sản được giới hạn bởicác đoạn thẳng nối các điểm khép góc thể hiện trên bản đồ địa hình hệ tọa độ quốcgia với tỷ lệ thích hợp;
- Khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt độngkhoáng sản; khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia;
- Giải pháp, tiến độ tổ chức thực hiện quy hoạch
3 Quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làm vật liệu xâydựng cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản khác cả nước
a) Việc lập quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làmvật liệu xây dựng cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoángsản khác cả nước phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
- Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, quy hoạch vùng, chiến lược khoáng sản, quy hoạch thăm dò, khai tháckhoáng sản chung cả nước;
- Bảo đảm khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản phục vụnhu cầu hiện tại, đồng thời có tính đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và nhucầu khoáng sản trong tương lai;
Trang 27- Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danhlam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác;
- Một loại khoáng sản sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau chỉ thể hiệntrong một quy hoạch
b) Căn cứ để lập quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sảnlàm vật liệu xây dựng cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhómkhoáng sản khác cả nước bao gồm:
- Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quyhoạch vùng, chiến lược khoáng sản, quy hoạch ngành sản xuất sử dụng khoáng sản,quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước;
- Nhu cầu khoáng sản cho chế biến và sử dụng của các ngành kinh tế;
- Tiến bộ khoa học và công nghệ trong thăm dò, khai thác khoáng sản;
- Kết quả thực hiện quy hoạch kỳ trước; kết quả đánh giá môi trường chiếnlược theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
c) Quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làm vật liệu xâydựng cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản khác
cả nước phải có các nội dung chính sau đây:
- Điều tra, nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá tình hình thăm dò, khai thác, chếbiến, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản trong khu vực hoạt động khoáng sản;
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch kỳ trước;
- Xác định nhu cầu sử dụng khoáng sản và khả năng đáp ứng nhu cầu trong
kỳ quy hoạch;
- Khoanh định chi tiết khu vực mỏ, loại khoáng sản cần đầu tư khai thác
và tiến độ khai thác Khu vực khai thác khoáng sản được giới hạn bởi các đoạnthẳng nối các điểm khép góc thể hiện trên bản đồ địa hình hệ tọa độ quốc gia với tỷ
lệ thích hợp;
- Xác định quy mô, công suất khai thác, yêu cầu về công nghệ khai thác;
- Giải pháp, tiến độ tổ chức thực hiện quy hoạch
1.2.4.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch về quản lý tài nguyên khoáng sản
- Nhà nước thống nhất quản lý Quy hoạch thăm dò, khai thác tài nguyênkhoáng sản; tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân có nguyện vọng đầu tư thăm dò,khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng
Trang 28- Các cơ quan chức năng được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ tăngcường công tác kiểm tra, cập nhật tình hình thực hiện Quy hoạch, điều chỉnh, bổsung Quy hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế nhằm tăng cường công tác quản
lý Nhà nước trong hoạt động khoáng sản, phục hồi môi trường tránh tình trạngchồng chéo với các quy hoạch khác
- Không cấp giấy phép cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh thăm dò, khaithác chưa đủ điều kiện (theo Nghị định 15/2012/NĐ-CP ngày 09/03/2012)
- Khi cấp giấy phép khai thác, các cơ quan chuyên môn sẽ phải tính toán rấtchi tiết từng yếu tố đảm bảo an toàn trên các lĩnh vực theo quy định của pháp luật.Quản lý, chỉ đạo chặt chẽ nội dung trên vẫn đảm bảo các quy định của pháp luật, antoàn về môi trường, môi sinh và trật tự an ninh xã hội, không thất thu ngân sách,bảo đảm việc khai thác theo quy hoạch
- Không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn giúp cáccấp trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản cấp cơ sở UBND huyện vàUBND cấp xã cần quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ tham mưu về quản lý các hoạtđộng khoáng sản, chú trọng nâng cao hiệu quả của công tác bố trí, đào tạo cán bộgiúp UBND các cấp thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vựckhoáng sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật
1.2.4.4 Tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên khoáng sảnCông tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản là giảipháp quan trọng để đưa luật vào cuộc sống, để đạt mục tiêu quản lý nhà nước, tạo sựchuyển biến mạnh mẽ cả trong nhận thức và hành động về lĩnh vực khoáng sản TạiNghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 25 tháng 4 năm 2011 về địnhhướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030 đã nêu rõ: “Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sảncần có sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, sự tham gia của cả hệ thống chính trị, nhằmtạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả trong nhận thức và hành động của nhân dân, đặc biệt
là các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản Đẩy mạnh hơn nữacông tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản dưới nhiều hình thức và
Trang 29phương pháp phù hợp Tập trung phổ biến, quán triệt nâng cao nhận thức của cán bộ,công chức làm công tác quản lý nhà nước về khoáng sản”
Bộ Tài nguyên & Môi trường đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác phổ biến, giáodục pháp luật về khoáng sản, nâng cao nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của tổchức, cá nhân hoạt động khoáng sản đối với bảo vệ môi trường Ngoài ra, còn tổchức Hội nghị trực tuyến tập huấn nghiệp vụ tính tiền cấp quyền khai thác khoángsản theo Nghị định số 203/2013/NĐ-CP cho các Sở, Ban ngành thuộc 63 tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương Đồng thời, tập huấn và giải đáp các thắc mắc của ngườidân, doanh nghiệp liên quan đến phương pháp tính tiền cấp quyền khai thác khoángsản để các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản có thể tự tính toán và chủđộng tính toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
Mục tiêu cụ thể của việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tàinguyên khoáng sản bao gồm:
- Tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đảmbảo ngươi dân nông thôn, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo được thông tin, tuyên truyền về chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo của các Bộ, ngành và các cấp về lĩnh vựctài nguyên và môi trường; phổ biến, hướng dẫn chi tiết việc quản lý, khai thác sửdụng hợp lý tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường, thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mình phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn
- Nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới vàhải đảo về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển bền vững
- Đảm bảo hầu hết cán bộ cấp xã, thị trấn; Đài truyền thanh cấp xã, thị trấn;cán bộ tài nguyên và môi trường; Hội phụ nữ xã; Hội nông dân xã, Đoàn thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh cấp xã; thư viện xã; điểm Bưu điện văn hóa xã và người dânđược tiếp cận các loại tài liệu, xuất bản tuyên truyền, phổ biến về pháp luật địa chất
và khoáng sản
1.2.4.5 Thanh tra, kiểm tra về tài nguyên khoáng sản
Công tác thanh tra, kiểm tra về tài nguyên khoáng sản tập trung vào các nộidung liên quan đến khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản như:
Trang 30công tác kiểm kê, quyết toán tài nguyên khoáng sản, công tác khai thác, sử dụngkhoáng sản đi kèm với khoáng sản chính, vấn đề khai thác hợp lý nhằm thu hồi tối
đa tài nguyên khoáng sản v.v
Ngày 26 tháng 11 năm 2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hànhThông tư số 51/2015/TT-BTNMT hướng dẫn một số nội dung thanh tra chuyênngành khoáng sản, bao gồm: thanh tra hoạt động thăm dò khoáng sản, thanh tra hoạtđộng khai thác khoáng sản
Đối tượng áp dụng là công chức thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổngcục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương; tổ chức, cá nhân được phép thăm dò khoáng sản, khaithác khoáng sản, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan
Trong hoạt động thăm dò khoáng sản, cơ quan chức năng sẽ thanh tra việcthực hiện quy định về thông báo kế hoạch thăm dò, báo cáo hoạt động thăm dòkhoáng sản; điều kiện thi công Đề án thăm dò khoáng sản, thay đổi phương pháp,khối lượng thăm dò, việc thực hiện quy định về khu vực được phép thăm dò khoángsản; nội dung kỹ thuật thăm dò khoáng sản
Đồng thời, thanh tra việc thực hiện các quy định khác như: thực hiện các biệnpháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường nêu trong đề án đã được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thẩm định; san lấp các công trình thăm dò đã hoàn thành (giếng, lò, hào,hố…); thực hiện biện pháp khắc phục khi đã gây ô nhiễm môi trường trong quá trìnhthăm dò khoáng sản độc hại
Đối với hoạt động khai thác khoáng sản, cơ quan chức năng sẽ thanh traviệc thực hiện các quy định về xây dựng cơ bản mỏ, báo cáo kết quả hoạt động khaithác khoáng sản, thăm dò nâng cấp trữ lượng khoáng sản, việc thực hiện các quyđịnh về khu vực khai thác khoáng sản; việc thực hiện các quy định về thiết kế mỏ,việc thực hiện quy định về Giám đốc điều hành mỏ, việc thực hiện các quy định vềlập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác, việcthống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản, việc thực hiện quy định về công suất đượcphép khai thác ghi trong Giấy phép khai thác khoáng sản, Thanh tra khai tháckhoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường thuộc trường hợp không phải cấp
Trang 31Giấy phép khai thác khoáng sản, việc thực hiện quy định về đóng cửa mỏ khoángsản, việc thực hiện quy định sử dụng thông tin về khoáng sản của tổ chức, cá nhânhoạt động khoáng sản, việc thực hiện các quy định khác trong khai thác khoáng sản,Thanh tra thực địa tại khu vực khai thác khoáng sản.
Về thiết kế mỏ, lực lượng chức năng cũng sẽ thanh tra việc xác định tổ chức, cánhân khai thác khoáng sản áp dụng công nghệ khai thác, phương pháp khai thác trên cơsở: phương pháp khai thác thực tế (lộ thiên/ hầm lò/ phương pháp khai thác khác) so vớiphương pháp khai thác đã xác định trong Giấy phép khai thác khoáng sản, dự án đầu tưkhai thác hoặc thiết kế mỏ đã phê duyệt, công nghệ khai thác, hệ thống khai thác xácđịnh trong dự án đầu tư khai thác, thiết kế mỏ với thực tế khai thác
Ngoài ra còn xác minh thông tin, số liệu thống kê, kiểm kê trữ lượng khoángsản trên cơ cở văn bản, tài liệu sau: báo cáo định kỳ, báo cáo thống kê, bản đồ hiệntrạng, hệ thống số liệu sổ sách, chứng từ liên quan, trữ lượng khoáng sản địa chấtđược phép khai thác ghi trong Giấy phép khai thác khoáng sản, trữ lượng khoáng sảntăng/giảm theo kết quả thăm dò nâng cấp tính đến thời điểm kiểm kê được cơ quannhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc xác định trong quá trình lập bản đồ hiệntrạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng…
Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động khoáng sản, nhiều vi phạmcủa tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản đã bị xử lý, các sai sót trong công tác cấpphép hoạt động khoáng sản tại một số địa phương đã được khắc phục đáng kể, hạnchế tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, ý thức tuân thủ pháp luật về khoángsản của các cơ quan tổ chức, cá nhân Nhiều bất cập trong các quy định của hệ thốngvăn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản được phát hiện thông qua công tác thanhtra, kiểm tra đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặctrình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
1.2.5.1 Các nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước
a, Về bộ máy, cán bộ làm công tác quản lý
Trước năm 1996, khi hoạt động khoáng sản chưa sôi động, hoạt động khai thác
Trang 32khoáng sản trái phép còn ít, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản chưa phức tạpnhư hiện nay nhưng giúp cho Bộ Công nghiệp nặng có Cục Quản lý tài nguyênkhoáng sản Nhà nước và 02 Chi cục khu vực thuộc Cục thực hiện nhiệm vụ quản lýchuyên ngành về khai thác khoáng sản Hiện nay, hoạt động khoáng sản sôi động với
số lượng doanh nghiệp gấp hàng chục lần so với năm 1996, hoạt động khai tháckhoáng sản trái phép ngày một tinh vi và phức tạp; phạm vi quản lý nhà nước vềkhoáng sản rộng (gồm cả hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến), yêu cầucông tác quản lý nhà nước về khoáng sản ngày càng cao nhưng lực lượng làm công tácquản lý nhà nước ở Trung ương còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu củacông tác quản lý
Lực lượng cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường trực tiếp làcông tác quản lý nhà nước về khoáng sản của các tỉnh, thành phố còn thiếu về sốlượng, yếu về chất lượng Theo số liệu thống kê của năm 2016 chỉ có khoảng 50%cán bộ đang làm công tác quản lý nhà nước về khoáng sản có chuyên ngành về địachất - mỏ Cán bộ tại phòng Tài nguyên và Môi trường cấp quận/huyện còn thiếu về
số lượng, hầu hết làm công tác kiêm nhiệm, gần như không có chuyên môn về địachất - mỏ Điều này đã làm giảm hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về khoángsản tại địa phương và là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới công tác quản
lý nhà nước về khoáng sản tại các địa phương, nhất là trong thẩm định hồ sơ cấpgiấy phép hoạt động khoáng sản còn tồn tại, bất cập như đã nêu trên
b, Về hệ thống cơ quan thanh tra chuyên ngành khoáng sản
Cho đến nay, mô hình tổ chức thanh tra chuyên ngành khoáng sản chưa cómột hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương Lực lượng thanh tra chuyênngành khoáng sản hiện còn quá mỏng, chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn cũngnhư nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành, nhất là chuyên ngành khai thác khoáng sản,chức danh thanh tra viên chuyên ngành khoáng sản chưa được xây dựng để bổ nhiệm
đã làm giảm hiệu lực của công tác này
Do hạn chế về lực lượng, thiết bị, kinh phí như đã nêu trên trong khi đó địabàn quản lý rộng, phần lớn các mỏ nằm ở vùng sâu, vùng xa, hạ tầng giao thông thấpkém nên công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản đối với các
Trang 33doanh nghiệp khai thác khoáng sản của các địa phương chưa thường xuyên; các biệnpháp xử lý, chế tài chưa đủ mạnh để buộc doanh nghiệp hoạt động khoáng sản phảithực hiện đúng đề án, thiết kế khai thác mỏ; thực hiện các biện pháp bảo vệ môitrường, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản.
c, Về phân cấp quản lý, cấp giấy phép, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và sựphối hợp trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản
Chủ trương tăng cường phân cấp cho các địa phương là chủ trương đúng đắn.Thực tế thời gian qua việc phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sảncho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, thúcđẩy phát triển sản xuất, cái cách thủ tục hành chính Tuy nhiên, năng lực của cơ quantham mưu thực hiện nhiệm vụ phân cấp tại nhiều địa phương còn hạn chế nên nhiềugiấy phép, hồ sơ giấy phép đã cấp còn những tồn tại như đã nêu trên
Chưa có sự trao đổi thường xuyên về mặt chuyên môn, nghiệp vụ trong quátrình thẩm định, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản theo thẩm quyền giữa cơ quanchuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với cơ quan quản lý nhà nước ở Trungương Ngoài một số địa phương thực hiện khá thường xuyên việc gửi giấy phép thăm
dò, khai thác (kèm theo bản đồ khu vực thăm dò, khai thác) đã cấp cho Bộ Tàinguyên và Môi trường như Lạng Sơn, Hoà Bình, Đồng Nai, Sơn La, Hải Phòng,Đồng Tháp, An Giang v.v còn nhiều tỉnh, thành phố không thực hiện Điều nàygây khó khăn trong việc phối hợp kiểm tra, giám sát công tác cấp phép, không xử lýkịp thời những trường hợp cấp phép chưa đúng quy định của pháp luật
Sự phối kết hợp giữa các Sở, ngành có liên quan tại một số địa phương vớichính quyền địa phương trong quản lý tài nguyên khoáng sản chưa khai thác cònchưa hiệu quả; chính quyền địa phương, nhất là cấp xã chưa thực sự cương quyết xử
lý lực lượng khai thác khoáng sản trái phép Công tác tuyên truyền, phổ biến phápluật về khoáng sản còn hạn chế, chưa sâu rộng, nhất là đối với nhân dân nơi có mỏkhoáng sản
1.2.5.2 Các nhân tố bên ngoài
Trong thực tế, mặc dù có số lượng lên tới hơn 2000 doanh nghiệp, nhưngngoài các doanh nghiệp lớn của Nhà nước như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng
Trang 34sản Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Hoá chất, Tổng công tycông nghiệp Xi măng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một số doanhnghiệp lớn tại một số địa phương thì phần lớn các tổ chức, cá nhân khai thác khoángsản trên địa bàn các tỉnh, thành phố có quy mô trung bình và nhỏ, năng lực tài chính,kinh nghiệm còn hạn chế, chưa đầu tư thích đáng để lựa chọn công nghệ, thiết bịhiện đại nhằm thu hổi triệt để, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản trong khai thác,chế biến;
Nhiều doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nhất là trong khai tháckhoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khai thác khoáng sản kim loại theoquy mô nhỏ có tâm lý đầu tư ngắn hạn, thu hồi vốn nhanh, chỉ quan tâm đến lợinhuận, không quan tâm nhiều đến thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, trách nhiệmđối với cộng đồng, xã hội trong khai thác, chế biến;
Lãnh đạo doanh nghiệp, Giám đốc điều hành mỏ chưa chú trọng nghiên cứucác quy định của pháp luật về khoáng sản; ý thức tuân thủ pháp luật của một sốdoanh nghiệp, tổ chức, cá nhân còn thấp nên tình trạng vi phạm pháp luật nhất là vềbảo vệ môi trường, tuân thủ quy trình, quy phạm kỹ thuật, an toàn lao động trongkhai thác, chế biến khoáng sản vẫn còn tồn tại
Một số thành phần người dân thiếu hiểu biết về pháp luật khoáng sản dẫn tớiviệc khai thác trái phép không theo quy hoạch, không xin cấp phép hoặc phát hiện rahành vi khai thác khoáng sản trái phép nhưng không báo với các cơ quan chức năng
Trang 35CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN CỦA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Thực trạng về tài nguyên khoáng sản và khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Thực trạng về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Khoáng sản chủ yếu của tỉnh Lạng Sơn là đá vôi, bauxit Tiếp đến là than đá,sét xi măng, sét gạch ngói, chì kẽm, antimon, sắt, Hiện nay đã ghi nhận được 100
mỏ và điểm khoáng sản thuộc 15 loại khoáng sản rắn, gồm:
- Khoáng sản nhiên liệu có than nâu
- Khoáng sản kim loại có sắt, mangan, đồng, chì - kẽm, bauxit, antimon và vàng
- Khoáng chất công nghiệp có barit, photphorit, dolomit, thạch anh tinh thể
- Khoáng sản làm vật liệu xây dựng có đá vôi, sét và puzơlan
Theo quy mô tích tụ khoáng sản đã phân chia các mỏ khoáng, điểm khoángsản và biểu hiện khoáng sản
2.1.1.1 Khoáng sản nhiên liệu
Than nâu: Trong tỉnh có 02 mỏ than nâu là Na Dương và Pó Lỏng cách nhau
4-5 km, thực chất là một dải than kéo dài theo phương Đông và Đông Bắc nằm trongbồn trũng trầm tích Neogen Na Dương, thành phần gồm sét bột kết, cát kết Mỗi mỏ
có từ 3-9 vỉa hoặc thấu kính than, bề dày thay đổi từ 0,4-16,5 m và một số lớp kẹp.Chất lượng than nâu ở Na Dương tốt hơn ở Pó Lỏng, tổng trữ lượng cả 02 mỏ
khoảng 98,6 triệu tấn Hiện nay, Công ty than Na Dương - VVMI chi nhánh Tổng
Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - VINACOMIN đang khai thác cung cấp cho Nhàmáy nhiệt điện Na Dương
2.1.1.2 Khoáng sản kim loại
Gồm có: Sắt, mangan, đồng, chì - kẽm, bauxit, antimon và vàng
a Sắt:
- Hiện nay có mỏ sắt nâu Gia Chanh và 05 điểm quặng sắt là Bản Lếch, BảnĐẫy, Chi Ma, Lân Ảng, Kẽm Càng Tất cả là quặng sắt limonit, rất ít gặp quặng sắt
Trang 36manhetit Trong đó, mỏ Gia Chanh và 03 điểm Bản Lếch, Chi Ma, Lân Ảng là quặngsắt gốc; 02 điểm còn lại chỉ gặp quặng lăn với chiều dài vài trăm mét, rộng vài chụcmét, hàm suất và hàm lượng quặng đều thấp nên không phù hợp với khai thác quy
mô công nghiệp
- Trữ lượng quặng tính cho mỏ Gia Chanh và tài nguyên dự báo tính cho 02điểm khoáng sản khác chưa đến 2 triệu tấn quặng, với hàm lượng Fe 40-50%, Mn5% Ngoài ra, còn có điểm quặng sắt Na Han, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng chưa
có số liệu điều tra nên chưa đưa vào sổ mỏ UBND tỉnh đã cấp phép khai thác tận thucho các Công ty cổ phần và tư nhân khai thác ở mỏ Gia Chanh và 4 điểm quặng: BảnLếch, Bản Đẫy, Chi Ma và Na Han; chỉ còn điểm mỏ quặng sắt Gia Chanh đang lậpthủ tục cấp phép theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010, các điểm khác đãhết hạn và thực hiện đóng cửa mỏ theo quy định
b Mangan: Có duy nhất 1 điểm quặng mangan kết hạch ở Pò Mỏ, phường
Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn với quy mô không lớn (100m x 70m), kích thướchòn lăn nhỏ, 5-7mm, mật độ quặng thưa, dưới 50% Hàm lượng mangan không cao,khoảng 10% Ngoài ra, còn điểm quặng mangan kết hạch Bản Giàng, huyện Bắc Sơnnhưng quy mô rất nhỏ và hàm lượng nghèo, không có giá trị công nghiệp
c Đồng: Có 03 điểm quặng đồng, 01 điểm ở núi Mẫu Sơn (điểm Pò Tày) và
02 điểm ở phía Tây Bắc thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập Quặng phân bố trongtrầm tích lục nguyên thuộc hệ tầng Mẫu Sơn Tại điểm quặng Pò Tày, quặng nguyênsinh và thứ sinh của đồng nằm trong mạch thạch anh và thuộc thành hệ đồng đa kim
đi cùng với chì kẽm, antimon, hàm lượng 0,75% Các điểm quặng đồng ở Đình Lậpthuộc thành hệ đồng cát kết, dạng xâm tán hoặc bám theo khe nứt của cát kết thànhphần là malachit và azurit, hàm lượng quặng đồng nghèo và quy mô nhỏ
d Chì-kẽm: Có 12 điểm chì - kẽm sulfur và oxit, trong đó có 08 điểm quặng
phân bố dọc đứt gãy Đồng Mỏ - Hữu Lũng, nằm dọc Quốc lộ 1A và 04 điểm quặngdọc đứt gãy Quốc lộ 4B Quặng thường phân bố gần ranh giới đá carbonat và lụcnguyên Theo không gian phân bố có thể phân chia 3 loại:
- Quặng chì- kẽm nằm trong đá carbonat có 07 điểm quặng Điểm quặng Mỏ
Ba đã khai thác từ thời Pháp, khu tuyển luyện có từ năm 1905-1914, nay vẫn còn lại
Trang 37nhiều lò cũ Quặng xâm tán trong các mạch calcit xuyên cắt đá vôi dolomit hoá, thânquặng dạng mạch, thấu kính, ổ, có chiều dày và hàm lượng biến đổi mạnh, quặng bịkhai thác khá nhiều 05 điểm quặng khác nằm trong đá vôi có quy mô nhỏ hơn làLân Phùn, Lũng Sài, Lũng Khòm, Phiêng Đán và Tân Lập.
- Quặng chì - kẽm nằm trong đá lục nguyên (cả quặng sulfur và quặng oxit)gồm 04 điểm quặng là Tinh Sùng, Tung Pha, Pác Bó và Khuôn Áng Quặng thườngphân bố trong đới dập vỡ hoặc trong mạch thạch anh xuyên cắt, hàm lượng nghèo vàquy mô nhỏ hơn quặng trong đá vôi Những thân quặng ở đây bị khai thác khá nhiều,
có những bãi thải và xỉ quặng khá lớn, đa phần các công trình cũ đã bị sập lở nênkhông có tài liệu tổng hợp
- Quặng chì kẽm nằm ở ranh giới giữa đá vôi và đá lục nguyên: Có 02 điểmquặng Na Chanh và Bản Lếch, trong đó có thân quặng nằm ở phần đá vôi, có thânquặng nằm ở trong cát kết Trữ lượng và tài nguyên dự báo tính được cho 06 điểmquặng gồm Mỏ Ba, Lũng Sài, Lũng Khòm, Nà Chanh, Khuôn Áng, Tung Pha cấpC2+P1 là 56.000 tấn Pb+Zn; các điểm Lân Phùn, Tân Lập, Tinh Sùng và Pác Bó đãkhai thác trước đây nhưng chưa có số liệu nên chưa tính được cụ thể Tổng trữ lượng
và tài nguyên dự báo cấp C2+P1 của toàn tỉnh khoảng 100 ngàn tấn chì kẽm, nhưngquặng phân bố rải rác trong các thân quặng nhỏ, hình thái phức tạp, không thuận lợicho khai thác công nghiệp
e Bauxit (nhôm): Bauxit là khoáng sản kim loại có quy mô và giá trị của tỉnh
Lạng Sơn, chúng có liên quan mật thiết với khối đá vôi màu xám sáng phân lớp dày hoặc
dạng khối thuộc hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam của
tỉnh, gồm 23 mỏ và điểm quặng (quặng bauxit và alit) tập trung thành 3 nhóm mỏ là:Nhóm mỏ bauxit Đồng Đăng - thành phố Lạng Sơn kéo dài khoảng 20 km theo hướngĐông Bắc - Tây Nam, thuộc huyện Văn Lãng và huyện Cao Lộc; nhóm mỏ bauxit nằm ởphía Tây Nam huyện Bắc Sơn; nhóm mỏ bauxit Văn Quan - Chi Lăng - Hữu Lũng
- Nhóm mỏ bauxit Đồng Đăng - thành phố Lạng Sơn: Đây là dải bauxit lớn
nhất, gồm 3 mỏ (Ma Mèo, Đồng Đăng, Tam Lung) và 03 điểm quặng (Khôn Pích,thành phố Lạng Sơn, Bản Lỏng) đã được Đoàn 19 và Đoàn 59 thăm dò Gồm cóquặng gốc và quặng lăn
Trang 38+ Quặng bauxit gốc quy mô lớn chỉ gặp ở mỏ Tam Lung, thân quặng kéo dài1,8 km, dày 20-40 m, các mỏ khác có kích thước nhỏ, chỉ là phần còn sót lại trên mặtbào mòn của đá vôi.
+ Bauxit lăn: Hầu hết các mỏ là quặng lăn trong các thung lũng đá vôi khépkín với chiều dài 200-700 m, có khi hàng km, rộng một vài trăm mét, chiều dày tầngvụn bở chứa quặng từ vài mét đến trên 20 m
+ Cả quặng gốc và quặng lăn thường có 3 loại cấu tạo: Hạt đậu trứng cá, dạngbùn (pelit) và dạng dăm kết Quặng lăn thường có chất lượng tốt hơn quặng gốc.Kích thước tảng lăn không đều, từ vài cm đến một vài mét Hàm suất các thân quặngtrong mỗi mỏ cũng rất khác nhau, từ vài trăm kg đến trên 1 t/m3 Có 02 mỏ trữ lượngtrên 10 triệu tấn là Ma Mèo và Tam Lung Trữ lượng B+C1+C2 đã tính được của 06
mỏ là 26,359 triệu tấn quặng UBND tỉnh đã cấp phép cho 03 đơn vị khai thác tậnthu ở mỏ Khôn Pích, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn
- Nhóm mỏ bauxit Bắc Sơn: Gồm 05 điểm quặng nằm ở rìa phía Bắc khối đá
vôi Bắc Sơn, cụ thể là bauxit Pa Éng, Lân Bát, Nà Nâm, Tân Hương và Gia Hoà.Hầu hết các điểm khoáng sản gồm các thân quặng bauxit lăn trong các thung lũng đávôi có kích thước khác nhau, kéo dài từ một vài trăm mét đến hàng km Quặng cómàu sắc và cấu tạo khá đa dạng Về chất lượng dải, bauxit Tân Hương và Nà Nâmtốt hơn dải bauxit ở Pa Éng và Lân Bát phân bố dọc quốc lộ 1B
Quặng gốc gặp ở phía Tây Tân Hương với một thân quặng kéo dài 3-4km,chiều dày không lớn (từ 1-3 m), nằm lót đáy của hệ tầng Đồng Đăng, xen lẫn các lớp
đá phiến silic và đá phiến vôi Đã có một số lỗ khoan đánh giá nhưng chất lượngquặng thấp (thuộc loại alit và sialit) và có kích thước nhỏ nên không tính trữ lượng
Các mỏ, điểm quặng bauxit và alit ở huyện Bắc Sơn đều có qui mô nhỏ (dưới
01 triệu tấn) Tổng trữ lượng cấp C2 và tài nguyên dự báo cấp P1 là 2,6 triệu tấn
- Nhóm mỏ bauxit Văn Quan và Chi Lăng: Dải quặng nằm ở rìa Đông Nam
khối đá vôi Bắc Sơn, kéo dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam khoảng 40-45km.Gồm 12 điểm khoáng sản là Ba Xã, Lũng Hủ, Cầu Bóng, Mai Sao Thượng, VạnLinh, Mỏ Cấy, Y Tịch, Tri Lễ, Bản Xó, Hữu Liên, Đèo Lối Hùm, Làng Giễn Cácđiểm khoáng sản này đã được điều tra, đánh giá; các thân quặng có quy mô nhỏ,
Trang 39phân bố trong các thung lũng và trên bề mặt bào mòn của đá vôi Ở dải bauxit nàythường có cả quặng gốc và quặng lăn.
+ Quặng bauxit gốc phân bố ở phía Đông Ba Xã, Lũng Hủ, Cầu Bóng và phíaNam Y Tịch Quặng gốc ở mỏ Ba Xã và Y Tịch có quy mô lớn hơn cả, chiều dài lộkhông liên tục 1-3km, dày 2-30 m, có xen ít đá lục nguyên Bauxit gốc thường cómàu xám xanh, tím đỏ; cấu tạo pelit, hạt đậu - trứng cá, ít hơn là cấu tạo dạng dămkết Chất lượng quặng gốc thấp hơn quặng lăn Quặng ở Y Tịch tốt hơn ở Ba Xã
+ Quặng bauxit lăn: Các điểm quặng hầu hết nằm trên bề mặt bào mòn của đávôi tuổi C-P, một số ít nằm trên đá lục nguyên xen carbonat Diện phân bố quặng sakhoáng có kích thước rất khác nhau từ một vài trăm mét đến một km Kích thướctảng lăn, độ góc cạnh cũng như màu sắc, cấu tạo rất đa dạng ngay trong cùng mộtthân quặng Hàm lượng Al2O3: 30-54%; SiO2: 5-20%
Trữ lượng và tài nguyên dự báo của bauxit gốc ở 02 mỏ Ba Xã và Y Tịchkhoảng trên 2 triệu tấn quặng Trữ lượng và tài nguyên dự báo quặng lăn của cácđiểm quặng còn lại là 4,7 triệu tấn quặng Từ 1997- 2005, UBND tỉnh đã cấp phépkhai thác tận thu 09 diện tích thuộc 5 điểm quặng là: Ba Xã: 1, Lũng Hủ: 1, VạnLinh: 3, Mỏ Cấy: 3 và Y Tịch: 1
Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo cấp B+C1+C2+P1 của 3 nhóm mỏ thuộcvùng quặng bauxit Lạng Sơn là 35 triệu tấn quặng
f Antimon: Có 5 điểm quặng antimon và antimon-vàng thì 4 điểm nằm ở phía Bắc
của tỉnh, thuộc huyện Tràng Định và huyện Bình Gia Quặng xâm tán trong các mạch,hoặc đới mạch thạch anh nằm trong đá phun trào axit của hệ tầng Sông Hiến (T1sh) hoặctrong lục nguyên xen phun trào, chiều dày mạch quặng thay đổi từ 0,2-1,6m, hàm lượng
từ 0,2-17,2% Sb Đi cùng còn có khoáng sản vàng và chì - kẽm, có nơi đạt hàm lượngcông nghiệp Tại Mỏ Sao, La Sơn và Sam Sao quặng đã bị khai thác khá nhiều, còn lạicác công trình lò, giếng cũ Hiện nay, UBND tỉnh đã cấp phép khai thác ở điểm quặngCốc Lùng, xã Đề Thám, huyện Tràng Định và xã Hoa Thám, huyện Bình Gia
g Vàng:
Vàng là khoáng sản phân bố rải rác tại một số khu vực của tỉnh Lạng Sơn,thường liên quan với các đá lục nguyên xen phun trào axit, bazơ và các khối magma
Trang 40nhỏ phát triển trong đá vôi, thành phần là granit hoặc diabas Trong sổ mỏ và điểmquặng của tỉnh Lạng Sơn năm 1994 đã đăng ký 01 mỏ và 30 điểm quặng-điểmkhoáng hoá Au (trong đó có 25 điểm quặng gốc) Vàng gốc lớn nhất là mỏ Nà Pái,thuộc huyện Bình Gia, tại đây, quặng hoá phân bố trong đới dập vỡ của đá riolit xencát kết nằm ven rìa khối đá vôi, gồm các đới mạch thạch anh sulfur chứa vàng dày từ0,1-8m, hiện tượng kaolin hoá, pyrophilit hoá, thạch anh hoá rất phát triển Hàmlượng vàng thay đổi từ 0,3g/t đến hàng trăm g/t.
Các mạch quặng vàng gốc ở Tràng Định cũng nằm trong phun trào riolitnhưng thường đi cùng với antimon Còn vàng gốc ở huyện Chi Lăng thường xâm tántrong các đai mạch diabas xuyên cắt đá vôi, đá lục nguyên hoặc phun trào axit, hàmlượng đôi khi đến 10 g/t
Các điểm quặng vàng sa khoáng có triển vọng phân bố ở Văn Mịch, dọc theosông Bắc Giang và trong các thung lũng karst khép kín, nằm kề các thân quặng gốctrong các mạch diabas Quặng thường nằm trong tầng cuội sỏi, cát lót đáy của trầmtích Đệ Tứ hoặc trong vỏ phong hoá của các đai mạch chứa vàng Nhiều nơi nhândân khai thác tự do gây ô nhiễm môi trường và phát sinh các tệ nạn xã hội
2.1.1.3 Khoáng chất công nghiệp
Thuộc nhóm khoáng sản này, trên địa bàn tỉnh có barit, photphorit, thạch anhtinh thể, dolomit
a Barit: Barit gặp phân bố bố rải rác trên địa bàn tỉnh; có 03 điểm quặng barit
là Bản Hấu, Phai Cải, Thiện Kỵ và 02 điểm quặng barit đi cùng chì - kẽm là TungPha và Nà Chanh Ngoài ra còn 02 điểm quặng nằm ở Mỏ Ấm thuộc huyện HữuLũng và Cái Sen thuộc huyện Đình Lập đã khai thác tận thu nhưng hầu như không
có số liệu nên không đưa vào sổ mỏ Trong 05 điểm quặng thì 02 điểm Bản Hấu, Nà
Chanh, barit nằm trong đá vôi, còn lại nằm trong đá lục nguyên và lục nguyên xenphun trào Các điểm quặng đều có quy mô nhỏ, chất lượng khá tốt, hàm lượngBaSO4 từ 60-90 %
b Photphorit: Hiện có mỏ Địa Phận và 02 điểm khoáng sản Vĩnh Thịnh,
Đồng Ngầu Các mỏ và điểm khoáng sản này nằm gần nhau, phân bố thành dải kéodài, đều thuộc huyện Hữu Lũng Quặng photphorit thường được tích đọng trong các