1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản phục vụ quản lý tài nguyên than tại một số mỏ quảng ninh

135 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tiêu chí đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng mỏ khoáng sản chủ yếu dựa trên quan điểm của nhà đầu tư, chưa đánh giá giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản theo mức độ hiệu quả kinh tế xé

Trang 1

Nguyễn Tiến Chỉnh

nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản phục vụ quản lý tài nguyên than

tại một số mỏ quảng ninh

Luận án tiến sĩ kinh tế

Hà nội - 2007

Trang 2

Trường đại học mỏ - địa chất

Nguyễn Tiến Chỉnh

Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản phục vụ quản lý tài nguyên than

tại một số mỏ quảng ninh

Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp

Hà nội - 2007

Trang 3

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc

vµ ch­a tõng ®­îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶ luËn ¸n

NguyÔn TiÕn ChØnh

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

1.2 Tổng quan về chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 16

1.3 Tổng quan về phương pháp xác định giá trị tài nguyên khoáng sản 21

1.3.1 Phương pháp xác định giá đất theo khả năng sinh lời 21

1.3.2 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên qua giá khoáng sản 22

1.3.3 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ chi phí thăm dò 23

1.3.4 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ lợi nhuận 24

1.3.5 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ chi phí sản xuất 25

1.3.6 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ tô mỏ 26

1.3.7 Phương pháp mẫu xác định giá trị tài nguyên trên cơ sở chi phí đóng mỏ 28

1.3.9 Một số nghiên cứu đánh giá giá trị TNKS ở trong nước 33

Chương 2 - Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng

sản và phương pháp xác định.

35 2.1 Cơ sở lí luận về chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 35

2.2 Cơ sở thực tiễn về chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 45

2.2.1 Phân loại thuế trong khai thác tài nguyên khoáng sản 46

2.2.2 Thuế trong khai thác tài nguyên khoáng sản ở các nước 49

2.3 Xây dựng phương pháp xác định chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên

2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn phương pháp xác định chỉ tiêu đánh giá giá trị

Trang 5

2.3.2 Phương pháp xác định chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng

2.3.2.1 Công thức tính giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản và tô mỏ 70

2.3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 73

2.4 Xác định các thông số tính chỉ tiêu giá trị tự nhiên mỏ than và tô mỏ 75

2.4.1 Phân tích các thông số tính chỉ tiêu giá trị tự nhiên mỏ than 75

2.4.2 Xác định chi phí đầu tư và vốn sản xuất kinh doanh 76

2.4.3 Xác định chi phí khai thác than theo yếu tố và công đoạn 78

2.4.4 Xác định chỉ tiêu giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản và tô mỏ than 80

Chương 3 - áp dụng phương pháp xác định các chỉ tiêu giá trị tài

nguyên khoáng sản cho một số mỏ than vùng Quảng ninh

82 3.1 Điều kiện địa chất tài nguyên khoáng sàng than 82

3.7 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng than 112

3.8 Đề xuất cơ chế chính sách quản lý tài nguyên than trên cơ sở chỉ tiêu

giá trị tự nhiên mỏ than và tô mỏ 119

Danh mục công trình của tác giả đã công bố 122

Trang 6

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt CIF - Giá bao gồm cả chi phí vận chuyển và bảo hiểm (Costs, Insurants, Freights) FOB - Giá tại cảng (Free On Board)

TEC - Mô tả kinh tế- kỹ thuật (Техническо-экономическое соображение)

TEP - Tính toán kinh tế- kỹ thuật (Техническо-экономическое расчет)

TEO - Luận chứng kinh tế- kỹ thuật (Техническо-экономическое обоснование) NCKT - Nghiên cứu khả thi; NCTKT- Nghiên cứu tiền khả thi

NCKQ - Nghiên cứu khái quát (nghiên cứu cơ hội đầu tư)

BCĐT - Báo cáo đầu tư xây dựng công trình;

DAĐT - Dự án đầu tư xây dựng công trình

TKKT - Thiết kế kỹ thuật; TDT - Tổng dự toán xây dựng công trình

RGKT - Ranh giới khai trường

T1A - Trữ lượng theo chỉ tiêu Nhà nước, vỉa dầy  1,0m; độ tro 40%

T1B - Trữ lượng theo chỉ tiêu TVN, vỉa dầy  1,0m; độ tro từ 4050%

T2A - Trữ lượng theo chỉ tiêu TVN, vỉa dầy từ 0,31m; độ tro 40%

T2B - Trữ lượng theo chỉ tiêu TVN, vỉa dầy từ 0,31m; độ tro từ 4050%

TDSB - Thăm dò sơ bộ; TDTM- Thăm dò tỉ mỉ

ĐCTV - Địa chất thuỷ văn; ĐCCT - Địa chất công trình

PVT - áp suất vỉa so với áp suất miệng giếng khoan

TVN - Tổng công ty Than Việt Nam (Vinacoal- Vietnam Coal Corporation)

TKV - Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin – Vietnam National Coal Mineral Inductries Group)

IMCC - Industrial and Mine Investment Consulting Company (Công ty Tư vấn đầu tư

mỏ và công nghiệp) nay đổi thành

VIMCC – Vinacomin Investment Consulting Join Strock Company (Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp - TKV)

QTDN - Quản lý doanh nghiệp

TNKS - Tài nguyên khoáng sản

TSCĐ - Tài sản cố định

XDCB - Xây dựng cơ bản

Trang 7

Danh mục các bảng

Trang Bảng 1.1 Bảng phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn 12

Bảng 2.3 Các hình thức đánh thuế tài nguyên khoáng sản 59

Bảng 2.5 Tiền thuê đất văn phòng và khai trường mỏ (trong nước) 64 Bảng 2.6 Khung giá thuê đất (liên doanh với nước ngoài) 64

Bảng 2.8 Bảng thống kê chỉ tiêu IRR của ngành than 72 Bảng 2.9 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 75 Bảng 2.10 Bảng tổng hợp chi phí tính giá trị tài nguyên 79 Bảng 2.11 Chi phí nhiên, vật liêu của các phương tiện vận tải theo cung độ 80 Bảng 2.12 Bảng tính chỉ tiêu giá trị tự nhiên mỏ than và tô mỏ 81

Trang 8

Bảng 3.3 Bảng trữ lượng công nghệp mỏ than Bắc Cọc sáu 86

Bảng 3.6 Trữ lượng địa chất mỏ than Khe chàm III 90

Bảng 3.9 Đặc điểm địa chất công trình mỏ Núi béo 94 Bảng 3.10 Trữ lượng toàn vỉa theo cấp trữ lượng mỏ Núi béo 95 Bảng 3.11 Trữ lượng trong biên giới khai trường mỏ Núi béo 95 Bảng 3.12 Bảng các chỉ tiêu biên giới khai trường mỏ Núi béo 101 Bảng 3.13 Các thông số của hệ thống khai thác mỏ Núi béo 102 Bảng 3.14 Bảng liệt kê thiết bị công nghệ khai thác và vận tải mỏ Núi béo 104

Bảng 3.16 Giá than tối thiểu tại thị trường trong nước 106 Bảng 3.17 Các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Bắc Cọc sáu 107 Bảng 3.18 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Bắc Cọc sáu theo tỉ lệ lãi trên vốn sản xuất kinh doanh 107 Bảng 3.19 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Bắc

Bảng 3.20 Các chỉ tiêu đánh giá đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Khe chàm III 108 Bảng 3.21 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Khe chàm III theo tỉ lệ lãi trên vốn sản xuất kinh doanh 108 Bảng 3.22 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Khe

Bảng 3.23 Các chỉ tiêu đánh giá đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Núi béo 109 Bảng 3.24 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Núi béo

Bảng 3.25 Bảng biến động các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên mỏ Núi béo

Bảng 3.26 Mối quan hệ giữa chỉ tiêu Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản, Tô mỏ

và Chênh lệch tô mỏ với giá FOB than sạch bình quân 112 Bảng 3.27 Bảng tổng hợp chỉ tiêu kinh tế địa chất khoáng sàng than 116

Trang 9

Danh mục các sơ đồ và biểu đồ

Trang Sơ đồ 1.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng 17 Sơ đồ 2.1 Phân loại thuế trong khai thác tài nguyên khoáng sản 49 Sơ đồ 2.2 Phân chia lợi nhuận giữa chủ sở hữu tài nguyên với nhà đầu tư 70 Sơ đồ 2.3 Thành phần chi phí tính giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản 79 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ chênh lệch tô mỏ của mỏ Bắc Cọc Sáu theo giá FOBb/q 113 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ chênh lệch tô mỏ của mỏ Khe chàm III theo giá FOBb/q 114 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ chênh lệch tô mỏ của mỏ Núi Béo theo giá FOBb/q 115 Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ phân chia lợi nhuận mỏ Khe chàm III 118

Trang 10

Mở đầu 1- Tính cấp thiết của đề tài

Tài nguyên khoáng sản nói chung và than nói riêng là tài nguyên không tái tạo,

nó có xu hướng ngày càng cạn kiệt do đó việc quản lý khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên than là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay

Hiện nay, để phục vụ công tác quản lý tài nguyên khoáng sản (TNKS) mới chỉ tiến hành đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng theo các giai đoạn từ thăm dò đến chuẩn bị đầu tư nhưng chưa đánh giá giá trị TNKS Các tiêu chí đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng (mỏ khoáng sản) chủ yếu dựa trên quan điểm của nhà đầu tư, chưa

đánh giá giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản theo mức độ hiệu quả kinh tế xét trên quan

điểm của chủ sở hữu Với vai trò là chủ sở hữu tài nguyên khoáng sản, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật để quản lý, trong đó công cụ quan trọng là thuế tài nguyên, nhưng việc quản lý TNKS thông qua khung pháp luật hiện hành còn nhiều hạn chế

Việt Nam cũng như các nước đang phát triển đang rất cần huy động vốn và công nghệ của các nước phát triển vào ngành công nghiệp khai khoáng trong nước nhằm mang lại lợi ích tối đa cho quốc gia Trong khi đó mục đích chính của các công ty đa quốc gia đầu tư vào khai thác khoáng sản ở các nước đang phát triển chỉ nhằm mở rộng nguồn nguyên liệu cho công nghiệp ở chính quốc và thu lợi nhuận tối đa chứ chưa chú ý đến sự phát triển của các nước sở tại

Chủ trương của nước ta là mở rộng hợp tác với nước ngoài ––Tạo điều kiện để

đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với cam kết quốc tế của nước ta–[42] Nhà nước cũng sẽ tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài và các thành phần kinh tế khác được phép tham gia thăm dò

và khai thác tài nguyên khoáng sản Khi đó sẽ hình thành mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên (Nhà nước) với các chủ thể thăm dò và khai thác tài nguyên (doanh nghiệp) Nhà nước tại Điều 32 của Luật khoáng sản cho phép các doanh nghiệp được chuyển nhượng quyền khai thác mỏ, nhưng trong thực tế không thể căn cứ vào mức thuế tài nguyên hiện hành để chuyển nhượng Vì vậy, để hài hoà lợi ích, cần phải được nghiên cứu giải quyết chính sách thu tài chính sao cho vừa khuyến khích được các nhà tư bản đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro này vừa mang lại lợi ích tối đa cho đất nước

có tài nguyên khoáng sản

Trang 11

Trong các loại tài nguyên khoáng sản ở nước ta hiện nay than là một loại khoáng sản nhiên liệu rắn quan trọng Tuy nhiên, việc quản lý tài nguyên than còn chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác, sử dụng có hiệu quả loại tài nguyên không tái tạo được gọi là –vàng đen– của nước ta Hiện nay tỉ lệ tổn thất tài nguyên còn cao, nhưng trong quản lý tài nguyên than lại không có sự ràng buộc các doanh nghiệp khai thác phải tận thu và giảm tổn thất tài nguyên dưới mức cho phép Các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản bằng tiền mới bắt đầu được nghiên cứu, chưa hình thành thành hệ thống và chưa hoàn chỉnh, vì vậy mà chưa thể phục vụ cho mục đích quản lý tài nguyên than tại các mỏ ở Quảng Ninh Cho đến nay chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản mới chỉ được đề cập rải rác trong một vài tài liệu nghiên cứu và giảng dạy, chưa có công trình nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu áp dụng trong thực tiễn

Chính vì vậy, để quản lý tài nguyên than và giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên than với chủ thể (doanh nghiệp) thăm dò khai thác than, luận án cần tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản của các mỏ Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá giá tài nguyên khoáng sản (bằng tiền) nhằm xác lập cơ chế quản lý tài nguyên than, định giá chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ khoáng sản cho các doanh nghiệp Điều này rất quan trọng khi Tập đoàn hình thành mối quan hệ kinh tế mới hoặc khi liên doanh, hợp tác với nước ngoài

2- Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên than thông qua các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản (TNKS)

3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản trong

đánh giá kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sản

Phạm vị nghiên cứu là quản lý tài nguyên than của Tập đoàn Công nghiệp Than

- Khoáng sản Việt Nam (TKV) tại các mỏ than vùng Quảng Ninh

4- Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan phân tích về nghiên cứu và thực tiễn đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản; tổng quan về tình hình quản lý tài nguyên than

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về giá trị và giá cả (giá thương mại) tài nguyên khoáng sản

Trang 12

Xây dựng phương pháp, mô hình tính toán các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản: Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản, tô mỏ và chênh lệch tô mỏ

áp dụng phương pháp tính toán cho một số mỏ than và đề xuất cơ chế quản lý tài nguyên than trên cơ sở giá trị tự nhiên mỏ, tô mỏ và chênh lệch tô mỏ

5- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích được áp dụng để nghiên cứu phương pháp xác định các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê và xây dựng định mức chi phí

được áp dụng để lập bảng tính các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản 6- Những điểm mới của luận án

- Đã hệ thống hoá các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản Xây dựng phương pháp xác định giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản Xác lập tiêu chí đánh giá tài nguyên mỏ khoáng sản theo mức độ hiệu quả kinh tế

- Đã đề xuất phương pháp tách lợi nhuận bình quân của nhà đầu tư ra khỏi tổng thu nhập do khai thác tài nguyên khoáng theo tỉ lệ ứng với vốn sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, đồng thời phân định rõ giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản và tô mỏ

- Đề xuất xử lý chênh lệch tô mỏ và giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ khoáng sản

7- Các luận điểm bảo vệ

- Quản lý tốt tài nguyên than phải trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản, trong đó đánh giá tài nguyên mỏ khoáng sản theo mức độ hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào chỉ tiêu giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản bằng tiền

- Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản bằng tiền là giá trị do thiên nhiên ban tặng,

được biểu hiện bằng phần giá trị thặng dư còn lại sau khi trừ phần lợi nhuận ròng tỉ lệ với vốn tư bản ứng trước của nhà đầu tư

- Giá sàn đấu thầu khai thác, giá chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ khoáng sản phải căn cứ vào tô và chênh lệch tô mỏ của từng mỏ cá biệt

8- ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

ý nghĩa khoa học: Đã đưa ra cách tiếp cận mới về giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản kèm theo hệ thống các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản (bằng tiền)

Trang 13

Góp phần bổ sung và hoàn thiện môn khoa học kinh tế tài nguyên khoáng sản nói chung và phương pháp luận đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản nói riêng

ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) có cơ sở để xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể về quản lý tài nguyên khoáng sản (than); xác định mức phí tài nguyên than bổ sung; định giá chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ khoáng sản (than) Tham khảo phương pháp

đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản để ứng dụng trong xác định giá trị doanh nghiệp mỏ khi cổ phần hoá, bao gồm cả giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản và giá trị tài sản đã đầu tư

9- Độ tin cậy của các số liệu tính toán

Các cơ sở dữ liệu địa chất sử dụng trong luận án đã được cơ quan tư vấn xử lý trên cơ sở các tài liệu, báo cáo địa chất đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt; các thông

số kỹ thuật công nghệ khai thác mỏ theo tài liệu thiết kế; số liệu tính toán căn cứ vào các chỉ tiêu định mức kinh tế, kỹ thuật đã được Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ban hành

10- Cơ sở tài liệu và cấu trúc của luận án

Luận án được xây dựng trên cơ sở các tài liệu chuyên ngành, các tạp chí khoa học, các công trình nghiên cứu ứng dụng ở trong ngoài nước, các dự án đầu tư, các tài liệu thực tế ở các mỏ lộ thiên, hầm lò và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Cấu trúc của luận án gồm: Phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và kiến nghị, tổng

số 121 trang đánh máy vi tính, 53 bảng và 8 sơ đồ và biểu đồ được sắp xếp theo trình tự các chương

Trang 14

Chương 1 Tổng quan về nghiên cứu và thực tiễn đánh giá giá trị tài nguyên

khoáng sản 1.1 Tổng quan về quản lý tài nguyên khoáng sản (than)

Tài nguyên là nguồn của cải thiên nhiên chưa được khai thác hoặc đang tiến hành khai thác Khoáng sản là loại tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể được khai thác Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá và hiện

đại hoá đất nước Than là một trong những tài nguyên khoáng sản nhiên liệu rắn sơ cấp quan trọng rất cần được quản lý chặt chẽ

Quản lý nói chung là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định Hoạt động quản lý là hoạt động phát sinh khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được một mục tiêu chung Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu suất cao, thông qua những người khác Quản lý là nhằm phục vụ việc thực hiện một cách hữu hiệu mục tiêu của tổ chức Theo Henri Fayol (1841-1925) quản lý là thực hiện các chức năng: Hoạch định,

tổ chức, điều khiển và kiểm tra [23] Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu và định ra biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đó Tổ chức là chức năng quản lý có liên quan tới các hoạt động thành lập các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận những hoạt động cần thiết, xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận đó Điều khiển là các hoạt động hướng dẫn đào tạo,

đôn đốc, động viên và thúc đẩy các thành viên trong tổ chức làm việc với hiệu quả cao Chức năng quản lý của công việc kiểm tra là đo lường, chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra

Quản lý nhà nước là tổ chức và điều khiển kinh tế - xã hội theo luật pháp Quản

lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản (TNKS): Đối tượng quản lý là TNKS, điều tra cơ bản về TNKS và hoạt động khoáng sản (bao gồm: Khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản) của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước cho phép; mục đích quản lý đảm bảo hài hoà các lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động, lợi ích của nhà đầu tư (doanh nghiệp), của chủ sở hữu và lợi ích toàn xã hội; phương tiện quản lý của Nhà nước là pháp luật

Trang 15

Nội dung quản lý TNKS bao gồm: Cấp phép, thu hồi, cho phép chuyển nhượng, thừa kế hoạt động khoáng sản; điều tra khảo sát thăm dò TNKS; thu thập, tổng hợp,

đánh giá kinh tế địa chất TNKS, quản lý cơ sở dữ liệu, tài liệu về địa chất TNKS; tổ chức lập, thực hiện và kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch khai thác, chế biến TNKS– Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với TNKS gồm quyền chiếm hữu,

sử dụng và định đoạt, cần phải có hệ thống các chỉ tiêu để quản lý, trong đó các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản giữ vai trò quan trọng Nếu không có nó, chủ thể quản lý thiếu cơ sở để đánh giá tài nguyên mỏ khoáng sản, thiếu cơ sở để

định giá chuyển nhượng, bán quyền khai thác mỏ khoáng sản, thiếu căn cứ khoa học

để xác định thuế, phí tài nguyên

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNKS, Nhà nước đã ban hành luật khoáng sản, pháp lệnh thuế tài nguyên, luật môi trường và các văn bản dưới luật Trước năm 1990 các tổ chức và các cá nhân khai thác TNKS đều không phải nộp bất cứ một khoản tiền nào liên quan đến khai thác TNKS Điều này dẫn đến trước hết Nhà nước mất một nguồn thu Do tài nguyên không được quản lý chặt chẽ, các tổ chức không phải nộp thuế tài nguyên mà dẫn đến tình trạng lộn xộn trong khai thác và

sử dụng TNKS gây tổn thất nghiêm trọng và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái

Năm 1990 Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 06/HĐBT ngày 7/1/1991 quy định chi tiết thực hiện pháp lệnh thuế tài nguyên và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 07/TC-TC ngày 7/2/1991 hướng dẫn thực hiện nghị định của Chính phủ Đây là bước đột phá quan trọng nhằm khuyến khích các tổ chức khai thác và sử dụng TNKS một cách hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên không tái tạo này

Năm 1998 Pháp lệnh thuế tài nguyên (sửa đổi) đã được Uỷ ban Thường vụ quốc hội ban hành số 05/1998/PL-UBTVQH ngày 16/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị

định số 68/1998/NĐ-CP ngày 3/9/1998 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế tài nguyên (sửa đổi) và Thông tư số 153/1998/TT-BCT của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ

Pháp lệnh thuế tài nguyên đã được thực hiện một cách nghiêm túc ở tất cả các doanh nghiệp khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản, Pháp lệnh cũng đã góp phần lập lại trật tư khai thác trong ngành than, chấm dứt tình trạng khai thác than "thổ phỉ"

Trang 16

Luật môi trường đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ

8 thông qua (số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005) trong đó đã quy định rõ các điều khoản bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

Năm 2005 Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2005 đã thông qua Luật sửa

đổi và bổ sung một số điều của Luật khoáng sản đươc Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 7/12/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản [18] Trong đó đã quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý Nhà nước về TNKS

Chính phủ thống nhất quản lý mọi TNKS và hoạt động khoáng sản trong phạm vi cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và trình duyệt các văn bản pháp quy

về điều tra cơ bản địa chất TNKS, quản lý, bảo vệ TNKS và hoạt động khoáng sản; xây dựng, chỉ đạo thực hiện quy hoạch và phê duyệt báo cáo điều tra cơ bản địa chất TNKS; cấp phép, thu hồi, cho phép chuyển nhượng, kế thừa hoat động khoáng sản; tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn kiểm tra thực hiện pháp luật về khoáng sản; tổ chức thu thập và tổng hợp, lưu trữ quản lý tài liệu và mẫu vật về TNKS Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực được phân công các Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng tổ chức lập và trình Chính phủ phê duyệt chính sách, chiến lược, quy hoach, kế hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo vùng, lãnh thổ, theo loại khoáng sản; quản lý chỉ đạo và kiểm tra thực hiện sau khi được phê duyệt

Điều tra cơ bản địa chất về TNKS là việc đánh giá tổng quan tiềm năng TNKS trên cơ sở điều tra cơ bản địa chất, làm căn cứ khoa học cho việc định hướng các hoạt

động khảo sát, thăm dò khoáng sản Khảo sát khoáng sản là hoạt động nghiên cứu tư liệu địa chất về TNKS, khảo sát thực địa nhằm khoanh định khu vực có triển vọng để thăm dò khoáng sản Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm tìm kiếm, phát hiện, xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản, điều kiện kỹ thuật khai thác, đánh giá kinh

tế địa chất TNKS và nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản

Các tổ chức, cá nhân được phép khai thác chế biến khoáng sản theo luật phải:

Được cấp có thẩm quyền cấp phép khai thác, chế biến khoáng sản trên cơ sở các báo cáo NCKT, báo cáo đánh giá tác động môi trường và thiết kế mỏ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Nộp tiền sử dụng số liệu, thông tin về TNKS của Nhà nước Nộp thuế tài nguyên theo luật định Thuế TNKS được tính trên sản lượng khoáng sản thương phẩm thực tế khai thác và theo giá bán Nộp báo cáo tổng hợp kết quả hoạt

Trang 17

động khai thác khoáng sản cho cơ quan quản lý áp dụng các công nghệ khai thác, chế biến tiên tiến Sử dụng hợp lý tài nguyên kết hợp với việc bảo vệ môi trường Thu hồi tối đa mọi loại khoáng sản đã được xác định là có hiệu quả kinh tế Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên giảm tổn thất và lãng phí tài nguyên khoáng sản Tổng hợp các chất hữu ích trong quá trình khai thác, chế biến và sử dụng TNKS Giảm thiểu tối đa những tác động xấu tới môi trường trong quá trình khai thác, chế biến và sử dụng TNKS; bảo vệ môi trường sinh thái Phải chịu mọi chi phí bảo vệ, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai; phải ký quỹ môi trường theo luật bảo vệ môi trường

Các tổ chức cá nhân được quyền khai thác TNKS theo quy định của Luật khoáng sản và được phép chuyển nhượng quyền khai thác cho tổ chức cá nhân khác, nhưng giá chuyển nhượng quyền khai thác mỏ khoáng sản hiện nay chưa có căn cứ

để xác định Vấn đề quyền khai thác mỏ khoáng sản gắn liền với sở hữu

Sở hữu tài nguyên khoáng sản Việt Nam đã được đề cập trong luật khoáng sản: –Tài nguyên khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý– [18, điều 1]

Như vậy, các cấp quản lý TNKS bao gồm: Cấp Trung ương: Chính phủ, các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng; Cấp địa phương là các Uỷ ban nhân dân, các sở Tài nguyên và Môi trường, Công nghiệp, Xây dựng của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các tổ chức được Nhà nước giao hoặc uỷ quyền như: Các Tập đoàn, các Tổng công ty nhà nước

Nhà nước giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam quản lý tài nguyên than –Tập đoàn có quyền quản lý và sử dụng các tài sản, nguồn lực được Nhà nước giao hay cho thuê là đất đai, TNKS theo quy định của pháp luật– Định hướng phát triển Ngành than được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 20/2003/QĐ-TTg ngày 29/1/2003 có ghi như sau: "Than là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý, là nguồn năng lượng không tái tạo Việc thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than phải tiết kiệm và hiệu quả"

Phát triển ngành than ổn định, đáp ứng nhu cầu về than cho nền kinh tế quốc dân, đảm bảo thị trường tiêu dùng trong nước ổn định, có một phần hợp lý xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ Phát triển than phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn vùng than Không

Trang 18

ngừng cải tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ để nâng cao năng suất đảm bảo

an toàn trong khai thác than Quản lý tài nguyên than chặt chẽ

Quản lý tài nguyên than của TKV trước hết là chấp hành pháp luật của Nhà nước

về quản lý TNKS và hoạt động khoáng sản, nhưng trong việc thực thi các văn bản pháp luật về quản lý TNKS, pháp lệnh thuế tài nguyên, môi trường vùng than còn nhiều bất cập phải cần được nghiên cứu giải quyết như: Chưa có quy định ràng buộc

và xử phạt đối với tổ chức khai thác làm tổn thất và thất thoát TNKS; thuế tài nguyên ở mức thấp, chưa có cơ sở để định giá chuyển nhượng quyền khai thác mỏ theo luật

định Tập đoàn quản lý tài nguyên than và hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, sàng tuyển than thông qua phương tiện quản lý là điều lệ, nội quy, quy chế nhằm đảm bảo trật tự, đảm bảo lợi ích chung của xã hội và của tổ chức Tập đoàn đã ban hành các văn bản phục vụ cho quản lý như: Quy phạm tìm kiếm, thăm dò địa chất các mỏ than khoáng Việt Nam; Quy định chỉ tiêu tính trữ lượng than Tổ chức chuyển đổi trữ lượng tài nguyên theo phân cấp mới Nhưng để quản lý TNKS trước hết phải tiến hành

đánh giá kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sàng (mỏ khoáng sản) Phải xác định các chỉ tiêu giá trị TNKS bằng tiền để quản lý Mặt khác, cũng cần phải xác định giá trị tô

mỏ và chênh lệch tô mỏ để định giá chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ có cơ sở khoa học vừa đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, Tập đoàn và nhà đầu tư Hiện nay xu hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong đó có các doanh nghiệp mỏ là không thể đảo ngược được Tuy nhiên, các doanh nghiệp mỏ khác với các doanh nghiệp khác ở chỗ sự tồn tại của doanh nghiệp mỏ gắn liền với trữ lượng TNKS Trong khi đó các doanh nghiệp mỏ tiến hành cổ phần hoá nhưng không tính giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản vào giá trị tài sản của mỏ để cổ phần hoá Ví dụ Công ty than Núi Béo được cổ phần hoá năm 2006 nhưng chỉ cổ phần hoá phần tài sản của mỏ với giá trị 47 tỉ và không đề cập cổ phần hoá giá trị tài nguyên mỏ khoáng sản Trong khi đó trữ lượng tài nguyên đến đáy mỏ theo thiết kế chỉ đủ khai thác với sản lượng 3,5-2,0 triệu tấn/năm đến năm 2013 là hết Đó cũng là vấn đề bất cập trong quản lý TNKS hiện nay cần được giải quyết

Để đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng và giá trị TNKS trước hết cần xem xét trữ lượng, tài nguyên khoáng sàng theo các tiêu thức khác nhau Đối tượng đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản là trữ lượng, tài nguyên khoáng sản Giá trị tài nguyên khoáng sản trong lòng đất gắn liền với chủ sở hữu Phân cấp trữ lượng và tài nguyên

Trang 19

than tương tự như phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn, một số thuật ngữ

và chỉ tiêu được cụ thể hoá phù hợp với đặc thù của tài nguyên than

Tài nguyên (Resources) là sự tích tụ tự nhiên các vật chất ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại ở trên hoặc trong lòng đất ở điều kiện mà khai thác chúng hiện tại hoặc sau này sẽ có lãi Trữ lượng (Reserves) là một phần tài nguyên khoáng sản đã xác định,

đang hoặc sẽ khai thác có lãi trong thời gian nhất định Như vậy, tài nguyên chỉ được gọi là trữ lượng khi nó đã được xác định và có hiệu quả kinh tế khi khai thác

Bể than: Là diện tích phân bố các trầm tích chứa than có các điều kiện thành tạo

và phát triển địa chất chung cho một thời kỳ địa chất nhất định Ranh giới bể than thường trùng với một đơn vị cấu trúc địa chất lớn ở Việt Nam có bể than Quảng Ninh,

bể than đồng bằng sông Hồng vv

Vùng than: Là một phần của bể than chia theo quy ước dựa vào đặc điểm địa lý

là chủ yếu có chú ý đến các yếu tố địa chất Trong bể than Quảng Ninh có các vùng than: Hòn gai-Cẩm phả, vùng than Bảo đài- Uông bí–vv

Khoáng sàng than: Là đơn vị không gian cơ sở chứa than có cấu trúc địa chất tương đối đồng nhất Nơi tập trung các trầm tích chứa than có quan hệ tương đối chặt chẽ tương đồng về hình thái nguồn gốc, về cấu tạo, kiến tạo, về điều kiện kỹ thuật khai thác Mỏ than có thể là một phần hoặc toàn bộ khoáng sàng được thiết kế

Vỉa than: Là một thể địa chất độc lập chiếm vị trí không gian nhất định trong các trầm tích chứa than Lớp đá nằm trên vỉa than là vách, lớp đá nằm dưới vỉa than là lớp trụ Vỉa than thường được coi là tương đối độc lập để điều tra thăm dò địa chất và đánh giá điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ

Theo chiều dày vỉa: Vỉa rất mỏng < 0,5m; vỉa mỏng 0,5  1,0m; vỉa trung bình 1,0  2,5m; vỉa dầy 2,5  15m; vỉa rất dầy >15m; Theo cấu tạo vỉa: Vỉa cấu tạo đơn giản là vỉa có từ 0 đến 2 lớp đá kẹp; vỉa cấu tạo phức tạp là vỉa có từ 3 đến 5 lớp đá kẹp, vỉa có cấu rất phức tạp là vỉa có trên 5 lớp đá kẹp Theo thế nằm của vỉa: Vỉa dốc thoải (0180); vỉa dốc nghiêng (180350); vỉa dốc đứng (350550); vỉa dốc đứng (>550) Nhóm mỏ thăm dò được phân chia như sau [37]: Nhóm mỏ I (đơn giản) gồm những khu mỏ có chứa các vỉa than có chiều dày ổn định hoặc tương đối ổn định Hình dạng vỉa than đơn giản Các vỉa chủ yếu có cấu tạo đơn giản Chất lượng than tương

đối ổn định Điều kiện kỹ thuật khai thác tương đối đơn giản Nhóm mỏ II (tương đối phức tạp) gồm những khu mỏ có chứa các vỉa than có hệ số biến thiên chiều dày từ

Trang 20

2540% (đối với vỉa mỏng) và từ 3565% (đối với vỉa dày) Vỉa than có cấu tạo tương

đối phức tạp Các vỉa than có cấu trúc kiến tạo phức tạp Chất lượng than khá biến đổi

Điều kiện khai thác mỏ tương đối phức tạp Nhóm mỏ III (phức tạp) gồm những mỏ chứa các vỉa than bị uốn nếp nhiều, có nhiều đứt gẫy cắt các vỉa than thành nhiều khối

có đặc điểm kiến tạo khác nhau, các nếp uốn, đứt gẫy phân bổ không theo quy luật Chiều dày và hình dạng vỉa biến đổi đột ngột Hình thái các vỉa than và kiến tạo mỏ rất phức tạp, nhiều nếp uốn và đứt gãy Các vỉa than có thế nằm dốc nghiêng đến dốc, độ dốc vỉa biến thiên phức tạp Chất lương than biến đổi không có quy luật Điều kiện khai thác mỏ (ĐCTV, ĐCCT, khí mỏ) thuộc loại phức tạp đến rất phức tạp Nhóm mỏ

IV (rất phức tạp) gồm những mỏ có cấu trúc địa chất đặc biệt phức tạp Chiều dày và hình dạng vỉa than đặc biệt không ổn định Hình thái các vỉa than và kiến tạo mỏ rất phức tạp, nhiều nếp uốn và đứt gãy, mật độ đứt gẫy cao Điều kiện khai thác mỏ đặc biệt phức tạp

Nhóm mỏ đưa vào thiết kế khai thác được phân chia như sau: Nhóm I bao gồm các mỏ có cấu tạo đơn giản, các vỉa than có giá trị khai thác ổn định về chiều dày và chất lượng; tỉ lệ các cấp (A+B)/(A+B+C1)  50%; cấp A 20% Nhóm II bao gồm những mỏ có cấu tạo phức tạp, phần lớn các vỉa than có giá trị khai thác không ổn

định về chiều dày và chất lượng Đối với nhóm này trữ lượng cấp B/(B+C1)  50% Nhóm III bao gồm những mỏ có cấu tạo rất phức tạp, các vỉa than có chiều dày và chất lượng thay đổi rất nhiều Thiết kế khai thác sẽ dựa vào trữ lượng cấp C1

Theo quy định trên chỉ có cấp C1 nay là cấp trữ lượng 111 mới được đưa vào thiết kế, như vậy hầu hết các các mỏ ở Việt Nam không đủ điều kiện địa chất để thiết

kế, nhưng trong thực tế trữ lượng và tài nguyên ở một mỏ không thể tách rời Khi quy hoạch khai thác ở giai đoạn dự án đầu tư tài nguyên đã được xác định vẫn phải đưa vào quy hoạch khai thác, đồng thời phải tính nhu cầu vốn đầu tư cho công tác thăm dò nâng cấp trữ lượng đảm bảo yêu cầu thiết kế ở giai đoạn TKKT

Trữ lượng, tài nguyên địa chất khoáng sàng được đánh giá theo các tiêu chuẩn

do Nhà nước quy định và tiêu chuẩn của TKV là cơ sở để xem xét tính trữ lượng và tài nguyên, lựa chọn công suất hợp lý, sơ đồ khai thông mở vỉa tối ưu và áp dụng công nghệ tiến tiến Trữ lượng, tài nguyên là những nhân tố ban đầu có liên quan trực tiếp tới việc đánh giá giá trị mỏ khoáng sản Tuy nhiên, chỉ tiêu tính trữ lượng chưa nhất

Trang 21

quán, cơ sở dữ liệu về trữ lượng tài nguyên đang trong thời kỳ chuyển đổi sẽ ảnh hưởng tới việc quản lý, đánh giá mức độ tổn thất và giá trị tài nguyên khoáng sản Trữ lượng, tài nguyên theo quy định phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn Việt Nam 2006 được phân loại như sau: Phân loại trữ lượng theo mức độ tin cậy gồm: Chắc chắn, tin cậy, dự tính và dự báo; Phân loại trữ lượng theo mức độ nghiên cứu đánh giá bao gồm NCKT, NCTKT, NCKQ; Phân loại trữ lượng theo mức độ hiệu quả kinh tế bao gồm: Có hiệu quả kinh tế, có tiềm năng hiệu quả kinh tế; chưa rõ hiệu quả kinh tế

Tổng hợp phân loại trữ lượng: Cấp A- Chắc chắn; Cấp B- Tương đối chắc chắn; Cấp C- Dự tính; Cấp P1- Suy đoán; Cấp P2- Phỏng đoán

Trữ lượng, tài nguyên khoáng sàng trước hết phụ thuộc vào quan điểm đánh giá

và phân cấp trữ lượng, nó tập trung chủ yếu vào 2 quan điểm sau: Đánh giá cấp trữ lượng ở Việt Nam trên cơ sở phân cấp trữ lượng của CHLB Đức, Liên Xô cũ theo mức

độ thăm dò A, B, C1, C2, P1, P2 và P3; Phân cấp trữ lượng theo thang đánh giá của các nước phương tây (Mỹ, Canada) biểu đồ dạng hộp M.C Kelvey

Việc nghiên cứu cải tiến ở Việt Nam nhìn chung phù hợp với xu thế trên Thế giới,

đề xuất của các nhà địa chất Việt Nam (Bảng 1.1) được ban hành tại Quyết định 06/2006/QĐ-BTNMT ngày 7/6/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường [4]

Bảng 1.1 Bảng phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn

quả kinh

tế

Trữ lượng NCKT (01) 111 Trữ lượng

Trang 22

Chỉ tiêu nhà nước đánh giá trữ lượng và tài nguyên địa chất (CTNN) được quy

định tại QĐ 167/UBCAN ngày 17/6/1977 của Uỷ ban Kế hoạch nhà nước

Bảng 1.2 Chỉ tiêu nhà nước tính trữ lượng và tài nguyên than

Bảng 1.3 Chỉ tiêu tính trữ lượng và tài nguyên than TVN

Tiêu chí Mỏ Lộ thiên Chỉ tiêu TVN Mỏ Hầm lò

Chiều dày vỉa Ak than % Chiều dày vỉa Ak than %

Việc lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá trữ lượng phụ thuộc vào điều kiện công nghệ,

điều kiện khai thác và chế biến sử dụng ở thời điểm đánh giá Với điều kiện công nghệ như hiện nay ở các mỏ lộ thiên các vỉa mỏng với độ nhiểm bẩn Ak trên 40% có thể khai thác được Do đó, TKV sử dụng tiêu chuẩn nội bộ của mình để xác định hệ số bóc giới hạn cho khai thác mỏ lộ thiên Đối với các mỏ hầm lò cần nghiên cứu công nghệ để khai thác triệt để các vỉa mỏng 0,8  dưới 1,2m; độ tro dưới 40% theo CTNN Tổng tài nguyên (Cấp A+B+C+P) các loại than trên toàn quốc đã tìm kiếm thăm

dò còn lại đến 1/1/2006 là: 6068 triệu tấn Trong đó trữ lượng, tài nguyên cấp (A+B+C): 4992 triệu tấn, chiếm 82,3 %; trữ lượng cấp 111 (A+B): 371 triệu tấn, chiếm 6,1 %; trữ lượng cấp 222 (C1): 2157 triệu tấn, chiếm 35,5 %; tài nguyên cấp 333 (C2):

2464 triệu tấn, chiếm 40,6%; tài nguyên cấp 334a (P1): 1076 triệu tấn, chiếm 17,7 % Trữ lượng, tài nguyên than Việt Nam theo phân loại cũ, (bảng 1.4) Trữ lượng tài

Trang 23

nguyên than phần lớn đã được giao cho TKV quản lý theo quyết định 481/QĐ/QLTN ngày 08/06/1995 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp

Bảng 1.4 Trữ lượng, tài nguyên than Việt Nam

Tên khu vực Trữ lượng, tài nguyên than theo chỉ tiêu nhà nước (ngàn tấn)

Tổng A+B+C A+B C 1 C 2 P Tổng cộng 6 068 496 4 992 222 370 609 2 157 236 2 464 377 1 076 274 A-Bể Quảng Ninh 4 049 559 3 484 716 315 155 1 401 399 1 768 161 564 843 1-Vùng Cẩm Phả 1 962 863 1 518 347 260 326 727 604 530 417 444 516 2-Vùng Hòn Gai 740 417 713 791 37 520 229 689 446 582 26 626 3-Vùng Uông bí 1 346 279 1 252 578 17 309 444 107 791 163 93 701 B-Than bùn 235 438 235 438 128 827 106 611

C-Vùng nội địa 165 109 165 109 55 454 91 901 17 755

D-Than địa phương 37 434 18 478 10 238 8 240 18 956 E-Vùng Khoái châu 1 580 956 1 088 481 524 871 563 610 492 475 Cộng các loại than 6 068 496 4 992 222 370 609 2 157 236 2 464 377 1 076 274 1-Than antraxit 4 155 783 3571984 327 765 1 450 063 1 794 156 583 799 2-Than ábitum 1 580 956 1 088 481 524 871 563 610 492 475 3-Than Nâu 96 319 96 319 42 844 53 475

4-Than bùn 235 438 235 438 128 827 106 611

–Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành than– [32] –

Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay là tỉ lệ tổn thất tài nguyên than quá lớn, nó thể hiện ngay từ khâu thiết kế áp dụng công nghệ và trong quá trình khai thác

Tổn thất tài nguyên theo nguyên nhân bao gồm:

- Tổn thất do điều kiện và công nghệ khai thác: Tổn thất do phải để lại trụ bảo vệ khi khai thác dưới các công trình quan trọng, dưới thành phố, khu công nghiệp; tổn thất do không khai thác được như dưới sông, suối–

-Tổn thất trong quá trình khai thác: Tổn thất do không khai thác hết chiều dày của vỉa Rơi vãi trong quá trình khai thác, vận chuyển, đổ đống, lưu kho, bốc rót–

-Tổn thất về chất lượng than: Nhiểm bẩn do lẫn đất đá trong quá trình khai thác;

vỡ vụn than trong quá trình vận chuyển

- Tổn thất trong quá trình sàng tuyển, chế biến, tiêu thụ và sử dụng than

Trang 24

Tổn thất tài nguyên thường có hai tỉ lệ: Tổn thất theo thiết kế và tổn thất thực tế

Sản lượng than nguyên khai đã khai thác từ 1955-2005 khoảng 360 triệu tấn Trong quá trình khai thác tổn thất thực tế theo thống kê từ 1998-2004 là 15,0%, trong

đó: Khai thác lộ thiên 7,9%; hầm lò 34,0% (bảng 1.5)

Tình hình phân tích trữ lượng địa chất, trữ lượng địa chất huy động, trữ lượng công nghiệp phục vụ cho thiết kế của các mỏ than, qua số liệu ở bảng 1.6 cho thấy phần trữ lượng có thể khai thác được trong các mỏ hầm lò so với toàn bộ trữ lượng địa chất trong ranh giới rất thấp bình quân đạt khoảng 40% Một trong những bất cập hiện nay là chưa thiết kế khai thác than đối với những vỉa từ 0,81,2m do đó tỉ lệ thất theo thiết kế còn cao Tỉ lệ tổn thất theo thiết kế của mỏ Khe chàm III là 37,6%; mỏ Bắc Cọc sáu là 25,3%

Bảng 1.6 Trữ lượng địa chất và công nghiệp một số mỏ hầm lò

Tên mỏ

Tổng trữ

lượng địa chất (T1A) ngàn tấn

Trữ lượng các vỉa không huy

động do

đ/k công nghệ (T2A)

Trữ lượng công nghiệp (ngàn tấn)

và cá nhân tận thu TNKS

Trang 25

Bộ Tài nguyên và môi trường đã ban hành quy định mới về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn Trong đó phân định rõ phần trữ lượng và phần tài nguyên của khoáng sàng theo mức độ tin cậy, mức độ nghiên cứu địa chất và mức độ hiệu quả kinh tế Việc đưa thêm hai yếu tố mức độ hiệu quả kinh tế và mức độ nghiên cứu đánh giá cùng yếu tố độ tịn cậy để chuyển đổi trữ lượng là hợp lý Tuy nhiên, điều đó là chưa

đủ để đánh giá toàn bộ khoáng sàng có kinh tế hay không? Mặt khác các tổ chức cá nhân được quyền khai thác TNKS theo quy định của Luật khoáng sản được phép chuyển nhượng quyền khai thác cho tổ chức cá nhân khác, nhưng giá chuyển nhượng quyền khai thác mỏ khoáng sản chưa có cơ sở và căn cứ để xác định

Vì vậy, cần phải nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị TNKS phục vụ cho quản

lý tài nguyên than như: Đánh giá tài nguyên khoáng sàng (mỏ khoáng sản), quản lý TNKS bằng các chỉ tiêu giá trị và định giá bán quyền khai thác mỏ khoáng sản

1.2 Tổng quan về chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản

Mục đích khi đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng (mỏ khoáng sản) là xác định giá trị của khoáng sàng (giá trị kinh tế, giá trị thương mại) và hiệu quả kinh tế trong

điều kiện sử dụng hợp lý tài nguyên và tuân thủ các yêu cầu về xã hội và sinh thái

Đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng là việc xác định các chỉ tiêu giá trị thiên nhiên, giá trị TNKS là những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế tài nguyên, hiệu quả khai thác, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội

Nguyên tắc đánh giá mức độ hiệu quả kinh tế:

- Khai thác TNKS mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp cho Nhà đầu tư, công nghiệp khai khoáng xét từ góc độ nhà đầu tư

- Khai thác TNKS mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ sở hữu (Nhà nước) xét từ góc độ chủ sở hữu TNKS

- Khai thác TNKS không những mang lại hiệu quả trực tiếp cho chủ sở hữu, nhà

đầu tư, mà xét trên góc độ nền kinh tế quốc dân còn mang lại hiệu quả kinh tế của các ngành khác sử dụng khoáng sản; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho sự phát triển của một vùng hoặc địa phương; đáp ứng nhu cầu về nguyên, nhiên liệu ban đầu cho các ngành kinh tế mũi nhọn phục vụ cho phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật hoặc an ninh quốc phòng của đất nước

Nguyên tắc cơ bản được giới hạn lựa chọn trong luận án là nghiên cứu chỉ tiêu

đánh giá giá trị TNKS (giá trị thương mại), những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế tài

Trang 26

nguyên khoáng sàng (mỏ khoáng sản) xét từ góc độ chủ sở hữu Nó phục vụ cho việc quản lý tài nguyên than và định giá bán quyền khai thác mỏ

Nội dung đánh giá kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sàng được đề cập khá chi tiết trong giáo trình giảng dạy chuyên ngành kinh tế quản trị doanh nghiệp Mỏ - Địa chất của trường Đại học Mỏ - Địa chất [39] Nội dung đánh giá bao gồm: Phân tích đặc

điểm kinh tế - địa lý, điều kiện tự nhiên và địa chất khoáng sàng; biên giới, trữ lượng khai trường; công suất, tuổi thọ, chế độ làm việc; kỹ thuật, công nghệ khai thác, sàng tuyển; bảo vệ môi trường và phục hồi môi sinh; tài chính kinh tế Trong đó xác định các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sàng (mỏ khoáng sản) là một nội dung quan trọng trong đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng

Việc nghiên cứu khoáng sản theo Luật khoáng sản có các giai đoạn sau: Điều tra cơ bản về địa chất tài nguyên khoáng sản do Nhà nước thực hiện Khảo sát, Thăm

dò, Khai thác, Chế biến do các công ty khai thác thực hiện, bảng 1.8

Bảng 1.8 Các giai đoạn đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng

Các giai đoạn đánh giá thăm dò Các giai đoạn đánh giá dự án

Mô tả kinh tế – kỹ thuật TEC Nghiên cứu khái quát NCKQ Tính toán kinh tế kỹ thuật TEP Nghiên cứu tiền khả thi NCTKT Luận chứng kinh tế kỹ thuật TEO Nghiên cứu khả thi NCKT Mức độ chi tiết và chính xác của việc đánh giá tuỳ thuộc vào thông tin ở từng giai

đoạn Sau mỗi giai đoạn đánh giá kết quả sẽ là tiền đề để trả lời câu hỏi có làm tiếp không? Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng bao gồm các chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị bằng tiền được tổng hợp ở sơ đồ 1.1

Chỉ tiêu số lượng

TNKS

Chỉ tiêu chất lượng TnKS

Hiệu quả kinh tế Tài nguyên

Từ góc độ Chủ sở hữu

Hiệu quả kinh tế xã hội

Từ góc độ Nền kinh tế QD

Chỉ tiêu giá trị Bằng tiền

Hệ thống Chỉ tiêu

Sơ đồ 1.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng

Trang 27

Các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng trước hết là các chỉ tiêu liên quan tới số lượng, chất lượng tài nguyên khoáng sản, đó là những chỉ tiêu phản ánh giá trị thiên nhiên của khoáng sàng (bảng 1.9 và bảng 1.10) Ngoài các chỉ tiêu đánh giá số lượng địa chất tài nguyên khoáng sàng còn đề cấp tới một số chỉ tiêu chất lượng than trong vỉa (bảng 1.11) Nếu chỉ tiêu số lượng và chất lượng than ở các khoáng sàng như nhau thì giá trị thiên nhiên bằng hiện vật của chúng là tương đương nhau Nhưng giá trị bằng tiền của khoáng sàng mỏ thì chưa chắc đã bằng nhau do chi phi khai thác có thể rất khác nhau

Bảng 1.9 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá địa chất khoáng sàng quặng

Stt Chỉ tiêu đ vị Ký hiệu Cách tính

1 Tài nguyên (trữ lượng địa chất thăm dò) 1000t Qđ

2 Tài nguyên (trữ lượng phần hữu ích TD) 1000t Qđh Qđh=Qđ x Cđ

9 Tỉ lệ phần hữu ích trong quặng tinh % Qs

10 Hàm lượng phần hữu ích trong quặng tinh % 

11 Sản lượng hàng hoá Tấn Qsf Qsf = Qc x 

Bảng 1.10 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá địa chất khoáng sàng than

Stt Chỉ tiêu đ vị Ký hiệu Cách tính

1 Trữ lượng địa chất (T1A, T1B, T2A, T2B) 1000t Qđ

2 Trữ lượng địa chất không huy động 1000t Qđk

3 Trữ lượng địa chất huy động 1000t Qđh Qđh = Qđ - Qđk

4 Tổn thất khai thác % Đt

6 Trữ lượng công nghiệp 1000t Qc

Qc=Qđ(100-Đt)/(100-Đb)

7 Tỉ lệ thu hồi than thương phẩm % 

8 Sản lượng than thương phẩm (hàng hoá) Tấn Qsf Qsf =Qc x 

Bảng 1.11 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng than của khoáng sàng

Stt Chỉ tiêu đ vị Ký hiệu Ghi chú

Trang 28

Bảng 1.12 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội

Stt Chỉ tiêu đvị Ký hiệu Cách tính

1 Giá trị gia tăng VA (GDP) Tr đ VA VA = D - Ctg

2 Giá trị gia tăng thuần (GDPn) Tr đ GDPn GDPn=VAat

3 Giá trị gia tăng quốc dân ròng NVA (NI) Tr đ NVA NVA=D-(Ctg+I+Rp)

4 Giá trị gia tăng quốc dân thuần NNVA Tr đ NNVA NNVA=NVAat

5 Giá trị thặng dư xã hội (M) Tr đ M M=NNVA-V

6 Giá trị thặng dư xã hội thuần (Mn) Tr đ Mn Mn=Mat

Trong đó: D(Gross Output) - Doanh thu; Ctg (Intermediate expenditure) - Chi phí trung gian; VA (Value Added) - Giá trị gia tăng; I (Investments) - Vốn đầu tư; Rp (Return of Payment)- Thu nhập ròng từ nhân tố nước ngoài: Thu nhập từ nước ngoài - thu nhập trả nước ngoài; V- Tiền nhân công

Bảng 1.13 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

Stt Chỉ tiêu đvị Ký hiệu Cách tính

1 Thu nhập trước thuế Tr đ Ptt

2 Lợi nhuận sau thuế Tr đ Pn

3 Chỉ tiêu doanh thu theo chi phí (SOC) đ/đ SOC D/C

4 Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng vốn (SOI) đ/đ SOI D/I

5 Tỉ suất doanh lợi theo vốn (ROI) đ/đ ROI P/I

6 Chỉ tiêu doanh lợi theo doanh thu (PMS) đ/đ PMS P/D

7 Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí (PMC) đ/đ PMC P/C

Trong đó: D- Doanh thu; C- Chi phí sản xuất; I- Vốn đầu tư; P- Lợi nhuận

Bảng 1.14 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư

Stt Chỉ tiêu đvị Ký hiệu Cách tính

1 Giá trị hiện tại thuần NPV (với r= %) Tr đ NPV NPV=(Ci-Co)at

2 Tỉ suất giá trị hiện tại thuần đ/đ S S=NPV/PVI

3 Tỉ lệ B/C đ/đ B/C (Ci)at/(Co)at

4 Tỉ lệ lãi nội tại IRR % IRR IRR=r khi NPV=0

5 Thời gian hoàn vốn (không chiết khấu) năm T Khi Io=(Pn+Kh+Lv)

6 Thời gian thu hồi vốn Tc (có chiết khấu) Năm Tc (Pn+Kh+Lv)at khi PVI=

Trong đó:

Trang 29

CI – Dòng tiền thu hàng năm; CO – Dòng tiền chi hàng năm; D - Doanh thu hàng năm; C - Chi phí vận hành sản xuất hàng năm; I – Chi phi đầu tư hàng năm; r – Suất chiết khấu; at - Hệ số chiết khấu; n - Thời hạn tồn tại của mỏ; Pn - Lợi nhuận ròng hàng năm; Kh - Khấu hao TSCĐ hàng năm; Lv - Lãi vay vốn đầu tư hàng năm;  (Pn + Kh + Lv)t at - Giá trị hiệu quả thuần thu được từ dự án; PVI =  I  at - Giá trị hiện tại của vốn đầu tư (Present Value of Investment)

Trong các nhóm giá trị bằng tiền còn thiếu nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế tài nguyên Chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản là chỉ tiêu thể hiện thu nhập của chủ sở hữu mỏ khoáng sản ở Việt Nam hệ thống các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản bằng tiền chưa được hoàn thiện: Về khái niệm, tên gọi chưa thống nhất; phương pháp tính toán các chỉ tiêu chưa có cơ sở khoa học Các chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản như: Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản, tô mỏ chưa áp dụng trong thực tiễn mới chỉ được đề cập trong giáo trình giảng dạy và một số tài liệu nghiên cứu trong nước Trong khi đó nó đã được sử dụng khá phổ biến ở các nước với mục đích, phương pháp và tên gọi khác nhau

Chỉ tiêu giá trị khoáng sàng ở Đức theo tác giả Povol Rybar (Slovakia) [26] được

sử dụng để cổ phần hoá mỏ khoáng sản; làm cơ sở để xác định giá chuyển nhượng hoặc bán quyền khai thác mỏ khoáng sản

Đánh giá chỉ tiêu giá trị trữ lượng mỏ khoáng sản theo tác giả C.E.Mining (CHLBNga [59]) được tiến hành nhằm xác định mối quan hệ giữa Chủ sở hữu (Nhà nước) và Nhà đầu tư (doanh nghiệp); hoạch định cơ chế và phân chia sản phẩm; làm căn cứ để xác định các khoản phải trả cho việc khai thác tài nguyên trong lòng đất; xác định trình độ tận dụng tài nguyên, đánh giá tổn thất; xây dựng cơ chế quản lý trữ lượng về mặt kinh tế - địa chất

Theo tác giả A.B Kazdan và L.P Kobakhidze (CHLBNga [57, tr 99]) chỉ tiêu Thu nhập mỏ chênh lệch là chỉ tiêu phản ánh giá trị tự nhiên của khoáng sàng hay mỏ khoáng sản đựơc sử dụng để lượng hoá giá trị khoáng sàng bằng tiền; đánh giá kinh

tế địa chất khoáng sàng (mỏ khoáng sản); xác định trình tự khai thác

Việc phân tích tiền thuê mỏ ở Mĩ theo tác giả James W Boyd [47] nhằm xác định giá trị tài nguyên khoáng sản của chủ sở hữu Trên cơ sở đánh giá kinh tế mỏ khoáng sản và kết hợp với thuế suất hiện hành để xác định thuế suất cho thuê mỏ

Qua nội dung và các chỉ tiêu đánh giá kinh tế địa chất khoáng sàng hiện nay ở Việt Nam cho thấy: Hiệu quả kinh tế được phân tích là hiệu quả kinh tế xét từ góc độ nhà đầu tư tương tự như đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư Trong khi đó, đánh

Trang 30

giá giá trị TNKS xét từ góc độ chủ sở hữu TNKS chưa tiến hành trong thực tiễn Chưa

đề cập đến phần xác định giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản hoặc tô của mỏ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên (Nhà nước) và chủ thể khai thác tài nguyên (doanh nghiệp) Hiện nay, khi đánh giá kinh tế địa chất ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả hiệu quả kinh tế xã hội, sản xuất - kinh doanh và hiệu quả

đầu tư Những năm gần đây một số nhà kinh tế địa chất đã quan tâm, bước đầu nghiên cứu và tìm cách xác định các chỉ tiêu đánh giá giá trị TNKS nhằm phản ánh hiệu quả kinh tế tài nguyên của khoáng sàng (mỏ khoáng sản): Giá trị tự nhiên (bằng tiền) của mỏ khoáng sản, tô mỏ

Giá trị tự nhiên bằng tiền mỏ khoáng sản là giá trị trữ lượng tài nguyên của chủ

sở hữu tại mỏ khoáng sản, hay nói cách khác nó là thu nhập của chủ sở hữu được

đánh giá là có thể thu được nếu cho phép các nhà đầu tư được quyền khai thác mỏ khoáng sản đó

Như vậy, quản lý TNKS không chỉ cần các chỉ tiêu số lượng, tỉ lệ tổn thất tài nguyên, mà cần phải có các chỉ tiêu giá trị TNKS Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá giá trị TNKS phục vụ cho quản lý như: Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản, tô mỏ và chênh lệch tô mỏ Hệ thống chỉ tiêu đánh giá trị TNKS phục vụ cho chung cho quản lý TNKS trong đó có tài nguyên than Chỉ tiêu đánh giá giá trị tài nguyên than và giá trị TNKS là như nhau, chúng chỉ thể hiện sự khác nhau ở chi tiết tính toán doanh thu và chi phí theo đặc thù của từng loại khoáng sản rắn Hệ thống chỉ tiêu này hiện chưa hoàn thiện và chưa được tính toán áp dụng trong thực tiễn, vì vậy trong luận án này trước hết nghiên cứu áp dụng phục vụ cho việc quản lý tài nguyên than, một trong những tài nguyên nhiên liệu khoáng sản rắn khá phổ biến ở Việt Nam 1.3 Tổng quan về phương pháp đánh giá giá trị tài nguyên khoáng sản Quan điểm của Lê Đỗ Bình [31] và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng giá trị TNKS nên xét từ góc độ nền kinh tế quốc dân, có nghĩa là lợi ích tổng thể của việc khai thác TNKS đem lại cho nền kinh tế như đóng góp NI vào tăng trưởng nền kinh tế quốc dân GNP Nhưng tác giả cũng nhất trí cho rằng giá trị NI không phải là giá trị giá trị TNKS trong lòng đất Thực chất chỉ tiêu NI là chỉ tiêu bao gồm cả thu nhập của người lao động Nó có ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và chủ yếu được sử dụng phục vụ cho mục đích quy hoạch vùng, lãnh thổ để lựa chọn xem sử dụng đất trên mặt hay khai thác tài nguyên trong lòng đất có lợi nhất đối với nền kinh tế quốc dân

Trang 31

Một số nhà nghiên cứu đã đồng nhất việc đánh giá giá trị TNKS trong lòng đất với những chỉ tiêu hiệu quả đầu tư xét từ góc độ nhà đầu tư và hiệu quả sản xuất kinh doanh xét từ góc độ nhà quản lý [2, tr29] Đây là hai quá trình đánh giá hoàn toàn độc lập nhau Nhà đầu tư xem xét quá trình từ khi bỏ vốn đầu tư so sánh với lợi ích do đầu tư mang lại sau khi trừ thuế phí liên quan tới giá trị tài nguyên khoáng sản, còn giá trị

tự nhiên mỏ khoáng sản là phần thu nhập dự kiến thu được của chủ sở hữu sau khi trừ lợi nhuận bình quân của nhà đầu tư Nhà đầu tư ít nhất cũng phải thu được lợi nhuận bình quân thì họ mới bỏ vốn vào khai thác mỏ khoáng sản

Chính vì vậy, phương pháp đánh giá giá trị TNKS chỉ tập trung vào phân tích các phương pháp đã được các tác giả trong và ngoài nước sử dụng để đánh giá giá trị TNKS trong lòng đất

1.3.1 Phương pháp xác định giá đất theo khả năng sinh lời (1.1) Giá đất theo khả năng sinh lời = Lãi suất tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn r% Thu nhập P

(lãi suất không kỳ hạn VNĐ 0,25%/tháng (3%/năm) Trên đây là phương pháp định giá đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu đất phục

vụ mục đích công cộng Thu nhập là hiệu số giữa giá trị sản lượng trung bình thu được trong năm với chi phí hợp lý trên cùng đơn vị diện tích nhất định của từng hạng đất Giá kinh tế của đất được (Gt) trên 1ha ở năm t cũng có thể tính như sau [19]:

Gt = Pv x n x (1 + k)t (1.2)

Pv - Thu nhập ròng trên 1ha/vụ tại năm t = 0

N - Số vụ trong năm

k - Hệ số tăng, giảm năng suất của đất (dương hoặc âm)

Ưu điểm của phương pháp này là có thể tính khả năng sinh lời của đất có chứa tài nguyên tương tự khả năng sinh lời của đất thông thường Nó cho phép đánh giá tất cả các loại tài nguyên trong lòng đất trên 1 đơn vị diện tích của từng vùng phục vụ cho mục đích quy hoạch và quản lý tài nguyên môi trường

Tuy nhiên, TNKS khác với tài nguyên đất ở chỗ nó mất đi trong quá trình khai thác còn đất vẫn còn nguyên giá trị Để đánh giá được khả năng sinh lời của đất có chứa TNKS cũng không đơn giản, trên thực tế không đủ dữ liệu để so sánh hoặc định giá tương đương Mặt khác, khả năng sinh lời của đất có chứa tài nguyên ở đây được tính chung xét từ góc độ nền kinh tế quốc dân, không có sự tách biệt lợi nhuận của nhà đầu tư và chủ sở hữu

1.3.2 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên qua giá khoáng sản

Trang 32

Giá trị khoáng sàng (giá mỏ) được xác định thông qua giá nguyên liệu khoáng sản được áp dụng để tư nhân hoá các mỏ CHDCĐức cũ [19]

G=Q.g.k.n1 hay G = Q.g.n2 (1.3) Trong đó: G- giá trị khoáng sàng

Q- Trữ lượng nguyên liệu khoáng sản (chưa tính đến hệ số thu hồi trong khai thác và chế biến)

g- Giá nguyên liệu khoáng sản

m- Hệ số định mức biểu thị thương số của giá g (m =0,0010,1); m vàng=0,1 và m kim loại = 0,001  0,003

n- Hệ số định mức tuỳ theo cấp độ thăm dò của trữ lượng (theo phân loại London 1992) n=1,0 theo quan điểm của người bán; n=0,8 theo quan điểm của người mua; trữ lượng dự báo n=0,8  0,5; trữ lượng tiềm năng n=0,2  0,1

IMMM-Ưu điểm của phương pháp này thể hiện ở chỗ có thể coi khả năng mỏ khoáng sản như một doanh nghiệp mỏ Khi đó, các nhà hoạch định xác định giá trị khoáng sàng thông qua giá nguyên liệu khoáng sản, sản lượng và thời gian tồn tại Điều đó có nghĩa là chuyển từ việc xác định giá trị khoáng sàng chuyển sang định giá mỏ Việc

định giá này chỉ mang tính chất tương đối, trên thực tế được áp dụng định giá tài sản

để phục vụ cho việc tư nhân hoá một số mỏ đang khai thác (chuyển quyền sở hữu) Nhược điểm chính của phương pháp thể hiện ở chỗ, việc định giá mỏ này không nhằm giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên với chủ đầu tư và không đề cập tới ảnh hưởng của yếu tố thời gian tới giá trị khoáng sàng

1.3.3 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ chi phí thăm dò

và triển vọng khai thác

G = TC x k (1.5) Trong đó: TC- Tổng chi phí cho công tác thăm dò

k- Hệ số định mức (k=0,5  2,0) tuỳ thuộc vào triển vọng khai thác của khoáng sàng Giá trị khoáng sàng thông qua chi phí đã đầu tư cho công tác thăm dò [19]:

G = Q.(c k + g l) (1.6) Trong đó: G – Giá trị khoáng sàng

Q- Trữ lượng theo từng cấp thăm dò

c- Chi phí thăm dò theo từng cấp trữ lượng

k- Hệ số định mức theo cấp trữ lượng

Trang 33

g- Giá nguyên liệu khoáng sản

l- Hệ số định mức theo nguyên liệu khoáng sản

Giá trị khoáng sàng được xác định thông qua các cấp độ thăm dò khoáng sàng [19]:

G = Q k2 [(a+b)/Q + c d-1/2) k1 + n g v e/104] (1.7) Trong đó:

a, b, c – Hệ số hồi quy

d- Độ sâu tích tụ khoáng sàng trong lòng đất

n- Hệ số (n=0,01)

k1- Hệ số định mức

k2- Hệ số theo mức độ thăm dò (k=0,7 cấp C2; k=1 cấp C1 và k=1,2 cấp B)

v- Hệ số thu hồi trong khai thác

e- Hệ số thu hồi trong sàng tuyển

Về mặt lý, kết quả đầu tư cho công tác thăm dò mang lại giá trị cho tài nguyên khoáng sản Tuy nhiên, quan điểm xác định giá trị khoáng sàng xuất phát từ chi phí thăm dò không phản ánh đầy đủ và chi phí này không tương đồng với giá trị khoáng sàng Chi phí thăm dò không tỉ lệ thuận với giá trị khoáng sàng, hay nói một cách khác giá trị khoáng sàng không chỉ phụ thuộc vào chi phí thăm dò Giá trị khoáng sàng ở

đây chưa tính đến yếu tố thời gian và công suất mỏ

1.3.4 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ lợi nhuận

Công thức của tác giả D.H Hoscol (1877) [2]

R = r/((1+r)Pn-1) + r' (1.8) R- Giá trị tài nguyên

P - Lợi nhuận thuần tuý hàng năm

r - Suất chiết khấu vốn đầu tư (lợi nhuận định mức bằng 6% trên vốn đầu tư) r– – Suất chiết khấu tính đến sự rủi ro

n - Thời hạn khai thác mỏ

Công thức của tác giả Morkill [2]

R = P x ((1+r)(r x (1+r)nn-1)) = P x  (1.9)

P - Lợi nhuận hàng năm (lợi nhuận của các năm tương tự như nhau)

r - Suất chiết khấu; at – Hệ số chiết khấu at= (1+r)1 t

Trang 34

đơn giản cả về lý luận và thực tiễn ở đây các tác giả đã không tách biệt lợi nhuận đó của nhà đầu tư hay tô của mỏ

Nếu r–< r thì R < P  nếu r–> r thì R > P 

Ưu điểm của phương pháp này thể hiện ở chỗ lợi nhuận chính là cơ sở để đánh giá giá trị tài nguyên Điều đó hoàn toàn phù hợp với lý luận về học thuyết giá trị và giá cả Phương pháp đã đề cập tới yếu tố thời gian khi xác định giá trị tài nguyên

Phương pháp không chỉ rõ về lý luận và thực tiễn giá trị lợi nhuận nào được đưa vào để tính giá trị tài nguyên Phương pháp cũng không tách biệt được đâu là lợi nhuận của chủ đầu tư, đâu là thu nhập của chủ sở hữu tài nguyên Như vậy, sẽ chưa giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài nguyên và chủ đầu tư như mục tiêu ban

G – Giá trị tài nguyên

R – Tổng giá trị tô mỏ có tính đến yếu tố thời gian

Dt - Giá trị sản phẩm thu được năm t

Ct - Chi phí sản xuất năm t

E – Mức chiết khấu có tính đến hệ số rủi ro ( 1)

n - Thời hạn tồn tại của mỏ

Theo tác giả trong trường hợp mỏ sản xuất ổn định lâu dài giá trị tài nguyên được tính như sau:

K1 – Hệ số biến đổi chất lượng quặng khi khai thác

K2 – Tỉ lệ thu hồi quặng tuyển với hàm lượng đã định

G – giá bán 1 tấn kim loại

Giá trị tài nguyên phụ thuộc vào thời điểm đánh giá và thời điểm thực hiện dự án

Trang 35

Giữa thời điểm đánh giá và thời điểm thực hiện dự án hay thời gian bắt đầu khai thác tài nguyên có khoảng cách nhất định, nhưng điều đó không quan trọng bằng thời

điểm giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp ấn định thời điểm thanh toán với thời điểm bắt

đầu khai thác tài nguyên Nếu nhà đầu tư thanh toán trước thời điểm bắt đầu khai thác thì được giảm giá, ngược lại nếu thanh toán sau sẽ phải tăng giá tương ứng với giá trị

đồng tiền ở thời điểm thanh toán Nếu so sánh với những công thức tính tô mỏ khác thì

có thể hiểu rằng ở đây tác giả đã tách lợi nhuận của nhà đầu tư theo chi phí sản xuất với tỉ lệ lãi bằng tỉ lệ chiết khấu

Tác giả Mining 59 cho rằng –Khi đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên khoáng sản thông thường chia giá trị mỏ khoáng sản cho 1tấn trữ lượng nhưng điều này không phản ánh đúng thực chất của giá trị mỏ khoáng sản– Ví dụ hai khoáng sàng hoàn toàn giống nhau chỉ khác nhau về trữ lượng, mỏ này gấp 5 mỏ kia, không có nghĩa giá trị mỏ khoáng sản hay tô của mỏ này gấp 5 tô của mỏ kia Nguyên do là công suất của mỏ không tỉ lệ thuận với trữ lượng và thời gian hoạt động của mỏ tỉ lệ thuận với căn bậc 4 của trữ lượng (công thức thực nghiệm Taylor T=4 Q )

Ưu điểm của phương pháp này là giá trị mỏ khoáng sản đã được xác định từ thu nhập sau khi đã trừ chi phí kể cả lợi nhuận của nhà đầu tư Phương pháp cũng đã đề cập tới ảnh hưởng của yếu tố thời gian khi xác định giá trị mỏ khoáng sản Đồng thời phân biệt được giá trị ở thời điểm đánh giá với thời điểm khai thác

Nhược điểm chính của phương pháp thể hiện ở chỗ lợi nhuận của chủ đầu tư tính theo chi phí là không hợp logic Tỉ lệ lợi nhuận nhà đầu tư tính theo chi phí không nhất thiết đồng nhất với hệ số chiết khấu

1.3.6 Phương pháp xác định giá trị tài nguyên tiếp cận từ tô mỏ

Giá trị tài nguyên được tính toán trên cơ sở khoản tiền phải trả hàng năm về tô

mỏ trong cả đời mỏ (tính bằng tỉ lệ % so với doanh thu khoảng 8-15%) Phương thức này được xét đến khi chủ mỏ thuê khoáng sàng phải trả 1 lần cho toàn bộ thời gian thuê với giá trị đã được chiết khấu về thời điểm thanh toán

Công thức của nhà kinh tế Tiệp (1980-1985) B Soukup liên quan tới khai thác quặng [2]

R = Q(g x M x K1 x Kn2 - (c+I/Q) x 1.1) x (1+En)

n - 1 (1+En)n x En (1.15)

R – Giá trị tự nhiên mỏ khoáng sản của khoáng sàng (giá khoáng sàng)

Q - Trữ lượng khai thác T/mỏ;

Trang 36

g - Giá 1 tấn sản phẩm (kim loại, chất hữu ích)

M - Hàm lượng trung bình %

K1 - Hệ số biến đổi chất lượng quặng khi khai thác ( 1)

K2 - Hệ số thực thu kim loại ( 1)

c – Chi phí khai thác và chế biến

n - Tuổi mỏ

I/Q– Suất đầu tư trên 1 tấn trữ lượng

1,1– Lợi nhuận định mức được tính ở mức 10% tính trên cả chi phí và đầu tư

Về thực chất Q(g x M x K1 x Kn2 - (c+I/Q) x 1.1) là lợi nhuận bình quân năm Tồn tại của công thức này là lợi nhuận của nhà đầu tư không phân biệt rõ ràng

Trong quá trình chuyển hoá sang nền kinh tế thị trường một số nhà nghiên cứu

đề xuất: Tính bình quân (đồng nhất hệ số hiệu quả với lãi suất vay ngân hàng En=r)

R = Q x K x (g - (c + r x i))

n- 1(1+r)n r (1.16)

Q - Trữ lượng than, tấn

K - Hệ thu hồi trong khai thác %

 - Tỉ lệ than sạch %

g - Giá bán 1 tấn than

c - Chi phí khai thác 1 tấn than

r – Lãi suất vay dài hạn

Cách tính này thực chất cũng chính là Tổng thu nhập của mỏ đã chiết khấu về thời điểm hiện tại Theo tác giả K.L Pozariski lợi nhuận hàng năm ở đây là tô mỏ cấp sai (thu nhập mỏ chênh lệch) và được tính như sau:

Trang 37

lao động Chênh lệch giữa tổng thu nhập của mỏ cá biệt với tổng chi phí thăm dò cho khoáng sàng đó theo tác giả là lỗ hoặc lãi của công tác địa chất tại khoáng sàng đó Theo NV Volodomonov (1959) Giá trị tô mỏ cấp sai được xác định như sau [57]:

Trong đó:

g – Giá trị biên của sản phẩm

z – Giá thành sản phẩm theo từng khu

Q – Trữ lượng tính toán theo từng khu

Hk, Hg, Hl – Hệ số tách thành phần có ích khi khai thác, làm giầu và luyện Tô mỏ cấp sai tính theo giá thành là chỉ tiêu có tính đến điều kiện tự nhiên - xã hội, vị trí địa lý của khoáng sàng và cả những khoản chi mà nó không có Sai sót ở

đây là tác giả khi đánh giá sản phẩm cuối cùng không tính đến giá trị thặng dư do lao

động ngành khai khoáng tạo ra và giá trị tô mỏ cấp sai theo tác giả được xác định theo từng khu chứ không phải toàn bộ khoáng sàng

Qt – Trữ lượng tổn thất khi khai thác

P – Lợi nhuận phân biệt hàng năm

Theo quan điểm của tác giả thì giá trị khoáng sàng không có chiết khấu về thời

g – Giá 1 tấn quặng

z – Chi phí sản xuất 1 tấn quặng

r – Mức lãi suất

Một trong những tồn tại cơ bản ở thời điểm đó là giá cả bán buôn hàng hoá được

định giá trên cơ sở giá thành bình quân ngành, không phù hợp với lý luận kinh điển về giá khoáng sản và tô mỏ Chính vì vậy, một số nhà nghiên cứu chuyển sang đánh giá trị khoáng sàng thông qua giá thành, chi phí quy đổi và chi phí khoáng sàng đóng sẽ

được đề cập phân tích ở phương pháp mẫu xác định giá trị kinh tế khoáng sàng 1.3.7 Phương pháp mẫu xác định giá trị khoáng sàng trên cở sở chi phí đóng mỏ

Trang 38

Phương pháp mẫu của tập thể các nhà khoa học nga do viện sĩ H.P.Phedorenko

Zt - Chi phí sản xuất (bao gồm chi phí vận hành và khấu hao) năm t

En - Tiêu chuẩn quy đổi chi phí theo thời gian ( 1)

t=1, 2, 3–n - Thời hạn tồn tại của mỏ, năm

Giá trị sản phẩm được tính theo 4 trường hợp giá sau:

gb - Giá bán buôn trên cơ sở chi phí bình quân ngành

gq = (zđ + En x kđ) – Giá tính theo chi phí quy đổi tính trên 1 tấn mỏ đóng

gđ = (zđ) - Giá thành sản phẩm mỏ đóng

gl = (zđ + mđ) - Giá tới hạn được tính bằng giá thành mỏ đóng cộng với lãi định mức mỏ đóng; kt – Vốn đầu tư tính trên 1 tấn sản phẩm năm t

zt - Giá thành sản xuất trên 1tấn sản phẩm năm t ; m - Lợi nhuận định mức;

En - Hệ số hiệu quả định mức vốn đầu tư;

Bảng 1.15 Tổng hợp các phương án đánh giá kinh tế khoáng sàng

Trang 39

R1- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng nhưng ý nghĩa kinh tế không rõ ràng vì [(gb- (ct + Kt/Q)] không phải là lợi nhuận; lượng chi phí đầu tư hàng năm rất biến

động; giá bán buôn công nghiệp gb theo giá bình quân ngành Đánh giá theo phương

án này sẽ làm giảm trữ lượng trong cân đối

R2- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng có những tồn tại tương tư như R1; chỉ tiến bộ hơn ở chỗ không làm giảm trữ lượng

R3- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng, nhưng theo phương án này giá trị

R3 giảm đáng so với R1 và R2 Đánh giá theo chỉ tiêu này sẽ không đầy đủ vì chi phí quy đổi không thể hiện giá sản phẩm cuối cùng

R4- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng có ưu điểm hơn so với R3 ở chỗ nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên của khoáng sàng chứ không phụ thuộc vào giai đoạn khai thác, nhưng ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu cũng vẫn không rõ ràng

Đặc điểm cơ bản của 4 phương án trên là đưa dòng tiền vốn đầu tư vào công thức chứ không phải khấu hao Thời điểm đầu tư không trùng lặp với thời điểm sản xuất ra sản phẩm Xét về bản chất giá trị và giá trị thặng dư chỉ được hình thành khi sản phẩm dự kiến trở thành hàng hoá, mà giá trị tô mỏ là thành phần của giá trị thặng dư do lao động sống ngành mỏ tạo ra Chính vì vậy, 4 chỉ tiêu trên có dòng tiền vốn

đầu tư trong công thức nên ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu không rõ ràng

R5- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng được tính theo chênh lệch giữa giá cả và giá thành toàn bộ Đó chính là Lợi nhuận P được sử dụng từ lâu để đánh giá khoáng sàng Lợi nhuận thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hiệu quả khai thác khoáng sàng thuận lợi về điều kiện tự nhiên so với bình quân ngành Tuy nhiên, tô mỏ cấp sai trên đây không phải đại lượng đích thực vì

nó được tính trên giá bình quân ngành

R6- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng được so sánh giữa giá thành mỏ

đóng với giá thành khai thác ở mỏ cá biệt Nó là tô mỏ cấp sai thu được do khai thác khoáng sàng có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn so với khoáng sàng đóng (có điều kiện tự nhiên xấu nhất) Tô mỏ cấp sai xuất hiện ở tất cả các khoáng sàng cá biệt trừ khoáng sàng đóng là bằng không Chỉ tiêu R6 thể hiện hiệu quả do khai thác ở khoáng sàng thuận lợi, nhưng không tính đến lợi nhuận định mức cần có để đảm bảo hoạt

động sản xuất bình thường của tất cả các khoáng sàng kể cả khoáng sàng đóng

R7- Là chỉ tiêu đánh giá kinh tế khoáng sàng được so sánh giữa giá thành tính theo chi phí quy đổi của khoáng sàng đóng (zđ + En x kđ) với chi phí quy đổi của

Trang 40

khoáng sàng cá biệt (zi + En x ki) Tính chi phí quy đổi theo vốn đầu tư EnxK sẽ rất biến

động theo thời gian khi đánh giá khoáng sàng kể cả khoáng sàng cá biệt lẫn khoáng sàng đóng Biên độ giao động của gđ và zt sẽ ảnh hưởng đáng kể đến đại lượng hiệu quả kinh tế khoáng sàng Sử dụng chi phí quy đổi để đánh giá thì khoáng sàng có vốn

đầu tư lớn sẽ có giá trị thấp do đó có thể dẫn đến việc trì hoãn khai thác các mỏ có tiềm năng giầu có, hiệu quả kinh tế cao

Một số nhà nghiên cứu cho rằng EnxK thể hiện vai trò của sản phẩm thặng dư và

có thể sử dụng để tính tô mỏ cấp sai, một số khác cho là không đúng vì EnxK về bản chất kinh tế không thể coi là lợi nhuận định mức Chi phí quy đổi không thể đóng vai trò chi phí xã hội cần thiết vì nó không phản ánh thực chất chi phí của doanh nghiệp

Nó chỉ là tiêu chí so sánh khi lựa chọn phương án tối ưu với chi phí vận hành và chi phí

và cho phép khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản Điều gây tranh cãi ở

đây là tỉ lệ lãi định mức và xác định lợi nhuận định mức như thế nào?

R9- Là Tổng thu nhập khai thác khoáng sàng được tính theo giá sản xuất khoáng sàng đóng so với giá thành khoáng sàng cá biệt Chi phí cá biệt ở chỉ tiêu R9 khác với chỉ tiêu R8 là giá thành chứ không phải giá sản xuất, do đó về giá trị tuyệt đối nó chuyển từ tô mỏ chênh lệch thành tổng sản phẩm thặng dư Tổng thu nhập là chỉ tiêu

đánh giá kinh tế khoáng sàng thường được sử dụng

Theo A.B Kazdan và L.P Kobakhidze (1960) [57]: Giá trị tô mỏ cấp sai được xác

định thông qua giá cả được xác định tại mỏ đóng là mỏ có điều kiện khó khăn nhất (Co + P1xWo + P2 x Io) so với mỏ cá biệt [(Ci + P1xWi + P2 x Ii)

R = [(Co + P1xWo + P2 x Io) - [(Ci + P1xWi + P2 x Ii)] (1.33) Trong đó:

C - Giá thành sản phẩm

P1xW + P2xI - Sản phẩm thặng dư do lao động sống trong quá trình sản xuất tạo ra

Ngày đăng: 30/05/2021, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ngô Thế Bính (2006), Những vấn đề đổi mới của quản lý kinh tế công nghiệp mỏ, Bài giảng dành cho Cao học - NCS chuyên ngành kinh tế quản trị doanh nghiệp Mỏ -Địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đổi mới của quản lý kinh tế công nghiệp mỏ
Tác giả: Ngô Thế Bính
Nhà XB: Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Năm: 2006
5. Nguyễn Tiến Chỉnh (1999), Xác định địa tô mỏ than, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học, Tổng công ty Than Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định địa tô mỏ than
Tác giả: Nguyễn Tiến Chỉnh
Nhà XB: Tổng công ty Than Việt Nam
Năm: 1999
6. Nguyễn Tiến Chỉnh (2003), Nghiên cứu chênh lệch địa tô mỏ - Cơ sở điều tiết nội bộ TVN, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chênh lệch địa tô mỏ - Cơ sở điều tiết nội bộ TVN
Tác giả: Nguyễn Tiến Chỉnh
Nhà XB: Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Năm: 2003
8. Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp (2004), Báo cáo nghiên cứu khả thi mỏ than Bắc Cọc Sáu, Tổng công ty Than Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả thi mỏ than Bắc Cọc Sáu
Tác giả: Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp
Nhà XB: Tổng công ty Than Việt Nam
Năm: 2004
9. Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp (2004), Báo cáo nghiên cứu khả thi mỏ Khe chàm III, Tổng công ty Than Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả thi mỏ Khe chàm III
Tác giả: Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp
Nhà XB: Tổng công ty Than Việt Nam
Năm: 2004
10. Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp (2004), Thiết kế kỹ thuật mỏ than Núi béo, Tổng công ty Than Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế kỹ thuật mỏ than Núi béo
Tác giả: Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp
Nhà XB: Tổng công ty Than Việt Nam
Năm: 2004
11. David Ricardo (2002), Những nguyên lý của kinh tế học và thuế khoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý của kinh tế học và thuế khoá
Tác giả: David Ricardo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Egorova V.B (1994), –Kinh nghiệm điều tiết thuế trong ngành khai thác mỏ của Canada–, Tạp chí Ugol (3), Thông tín KH-CN-KT than (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm điều tiết thuế trong ngành khai thác mỏ của Canada
Tác giả: Egorova V.B
Nhà XB: Tạp chí Ugol
Năm: 1994
13. Hội đồng Trữ lượng khoáng sản Việt Nam (1974), Quy định tạm thời về nội dung và cách trình bầy các tài liệu tính trữ lượng than để trình duyệt tại hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tạm thời về nội dung và cách trình bầy các tài liệu tính trữ lượng than để trình duyệt tại hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản
Tác giả: Hội đồng Trữ lượng khoáng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1974
14. Hội đồng Trữ lượng khoáng sản Việt Nam (1975), Quy phạm về yêu cầu nghiên cứu, mức độ tìm kiếm thăm dò và phân cấp trữ lượng các mỏ than, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm về yêu cầu nghiên cứu, mức độ tìm kiếm thăm dò và phân cấp trữ lượng các mỏ than
Tác giả: Hội đồng Trữ lượng khoáng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1975
20. Phedelov V.C (1990), –Tiền trả sử dụng tài nguyên- Cơ sở của địa tô ở các xí nghiệp mỏ–, Thông tín KH-CN-KT than (6/1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền trả sử dụng tài nguyên- Cơ sở của địa tô ở các xí nghiệp mỏ
Tác giả: Phedelov V.C
Nhà XB: Thông tín KH-CN-KT than
Năm: 1990
23. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật đầu tư (59/2005/QH11 ngày 29/11/2005), Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam
Năm: 2005
24. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1996), Luật khoáng sản (9/1996/QH9 ngày 20/3/1996), Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật khoáng sản, (46/2005/QH11 ngày 14/6/2005), Nghị định 160/2005/NĐ-CP ngày 7/12/2005 của Chính phủ, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khoáng sản
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam
Năm: 1996
25. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (9/2003/QH11 ngày 17/6/2003), Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003, Nghịđịnh 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (9/2003/QH11 ngày 17/6/2003)
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam
Năm: 2003
26. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Luật xây dựng (16/2003/QH11 ngày 26/11/2003), Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005 của Chính phủ, Cơ sở dữliệu luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xây dựng
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam
Năm: 2003
27. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1998) Pháp lệnh thuế tài nguyên sửa đổi (số 05/1998/PL-UBTVQH10 ngày 16/4/1998) và Nghị định 68/1998/NĐ-CP ngày 3/9/1998, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thuế tài nguyên sửa đổi (số 05/1998/PL-UBTVQH10 ngày 16/4/1998) và Nghị định 68/1998/NĐ-CP ngày 3/9/1998
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam
Năm: 1998
28. Razovski Iu.V, (1991), –Thuế thu nhập siêu ngạch–, Thông tin KH-CN-KT than (5/1997), tr 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập siêu ngạch
Tác giả: Razovski Iu.V
Nhà XB: Thông tin KH-CN-KT than
Năm: 1991
30. Tikhonov V.I (1989), –Địa tô chênh lệch và cơ chế kinh tế trong ngành công nghiệp mỏ–, Thông tin KH-CN-KT than (7/1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa tô chênh lệch và cơ chế kinh tế trong ngành công nghiệp mỏ
Tác giả: Tikhonov V.I
Nhà XB: Thông tin KH-CN-KT than
Năm: 1989
31. Lê Aí Thụ (1995), Báo cáo kết quả đề tài đánh giá địa chất kinh tế các khoáng sản quan trọng theo quan điểm kinh tế hiện đại, Đề tài nhánh đề tài cấp Nhà nước mãsố KT-01-12, Viện Địa chất và Khoáng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đề tài đánh giá địa chất kinh tế các khoáng sản quan trọng theo quan điểm kinh tế hiện đại
Tác giả: Lê Aí Thụ
Nhà XB: Viện Địa chất và Khoáng sản
Năm: 1995
33. Tổng công ty Than Việt Nam (1998), Hướng dẫn chi tiết quy định chỉ tiêu tính trữ lượng than áp dụng trong nội bộ TVN, Quyết định 2034/QĐ-ĐC ngày 19/9/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chi tiết quy định chỉ tiêu tính trữ lượng than áp dụng trong nội bộ TVN
Tác giả: Tổng công ty Than Việt Nam
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w