1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lớn môn luật dân sự 2 HLU

13 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 29,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tập lớn học kỳ môn luật dân sự 2 trường đại học luật HN

Trang 1

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: LUẬT DÂN SỰ 2

Đề số 17

Phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật.

HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1

2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 3

3 Một số trường hợp thực tế về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng pháp luật hiện hành 5

4 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 6

KẾT LUẬN 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bồi thường thiệt hại là một trong những chế định có sớm nhất và quan trọng nhất của pháp luật dân sự Trong đời sống có rất nhiều sự việc thực tế tranh chấp dẫn đến việc các cá nhân, tổ chức… phải phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân sự Bộ luật dân sự dành hẳn một chương riêng để quy định về vấn đề này Về mặt chủ thể điều kiện đầu tiên

để các chủ thể có thể thực hiện được trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

NỘI DUNG

1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước… Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây

ra thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện

Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 chỉ quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của các chủ thể khác Bởi vậy mà các chủ thể khác được coi là

có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, BLDS quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân

BLDS 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân tại Điều 586 như sau:

Trang 4

“1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường

mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”

Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi thường

thiệt hại do họ gây ra Điều này xuất phát từ “khả năng của cá nhân bằng hành

vi của mình xác lập,thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 19 BLDS 2015),

họ phải chịu trách nhiệm do hành vi trái pháp luật của họ bằng tài sản của chính

họ Tuy nhiên, trong điều kiện này, nhiều người tuy có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng khả năng về tài sản của họ trên thực tế không có tài sản riêng để bồi thường Vì vậy, khi quyết định bồi thường đối với những người này, có thể động viên cha mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha mẹ tự nguyện bồi thường thì ghi nhận sự tự nguyện đó mà không buộc cha mẹ phải bồi thường thay cho con em họ

Trang 5

Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Vì vậy, để xác định và nâng cao trách nhiệm của cha, mẹ trong việc giáo dục và quản lý con cái nên BLDS đã quy định cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con em họ gây ra Tuy nhiên, cách thức dùng tài sản để bồi thường được quy định đối với những người chưa thành niên khác nhau Đối với người dưới 15 tuổi thì cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường, nếu tài sản của cha mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường Đối với những người từ 15 đến dưới 18 tuổi thì áp dụng ngược lại, lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu

Những người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lí thì trường học, bệnh viện phải bồi thường, Nếu các tổ chức nêu trên mà không có lỗi thì cha mẹ, người dám hộ phải bồi thường “Thời gian quản lí” được hiểu là thời hạn trong đó các

tổ chức theo quy định về nghề nghiệp có nghĩa vụ giáo dục, chữa bệnh mà họ đã không thực hiện chức năng của họ, do lỗi của họ quản lí không tốt, người không

có năng lực hành vi, người dưới 15 tuổi gây ra thiệt hại cho những người khác (như tổ chức lao động cho các học sinh không tốt đi tham quan, dã ngoại do trường tổ chức, không có các biện pháp an toàn, bảo hộ, việc nhân viên bệnh viện không có biện pháp quản lí các bệnh nhân bị tâm thần…) Nếu cơ quan, tổ chức quản lí không có lỗi thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại

Người giám hộ đương nhiên, giám hộ được cử đối với những người phải

có giám hộ theo quy định tại Điều 47 BLDS 2015 được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường, người giám hộ có nghĩa vụ bổ sung Tuy nhiên, nếu họ chứng minh được rằng họ không có lỗi trong việc giám hộ họ không phải lấy tài sản của mình để bồi thường Trong trường hợp này sẽ không có người bồi thường thiệt hại bởi những người được giám hộ không có khả năng về năng lực

Trang 6

hành vi để bồi thường, nếu họ có tài sản, có thể dùng tài sản của họ để bồi

thường

2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Xuất phát từ đặc điểm các quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh cũng như địa vị pháp lí của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, những điều kiện khách quan cũng như chủ quan của người bị thiệt hại, người gây ra thiệt hại, tính khả thi của quyết định bồi thường…, BLDS đã quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại Điều 585

“1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi

thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy

ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”

Trang 7

Nguyên tắc chung là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là nguyên tắc công bằng, hợp lí phù hợp với mục đích cũng như chức năng phục hồi của chế định pháp luật này Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại, tạo điều kiện cho họ khắc phục tình trạng tài sản khi bị thiệt hại Điều này có ý nghĩa rất quan trọng khi thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của cá nhân bị xâm hại Việc quyết định bồi thường kịp thời có

ý nghĩa to lớn đối với nạn nhân trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại, bởi các chi phí cho việc cứu chữa bệnh nhân trong điều kiện này nhiều khi vượt quá khả năng của nạn nhân Cho nên việc quy định về thủ tục tố tụng để bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là rất cần thiết trong Bộ luật tố tụng dân sự

Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi của bản án, quyết định của tòa án, phù hợp với những điều kiện thực tế của các đương sự tham gia quan hệ bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 585 BLDS quy định: “Người chịu trách

nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.”

Quy định này chỉ định hình mà không quy định về định tính việc giảm mức bồi thường bao nhiêu? Việc giải quyết mức bồi thường phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ lỗi của người bị thiệt hại, người gây ra thiệt hại (vô ý nặng, nhẹ) Tòa án phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định giảm mức bồi thường

Tương tự như trên, thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại là cơ sở để giảm mức bồi thường Khái niệm quá lớn không thể quy định cụ thể bởi cùng thiệt hại với đại lượng không đổi, đối với cá nhân này là rất lớn nhưng với người khác lại không coi là lớn Mặt khác, cũng cần phân biệt việc giảm mức bồi thường với việc tạm hoãn thi

Trang 8

hành án vì trong khi thi hành án, người không có khả năng kinh tế trước mắt có thể được tạm hoãn thi hành án

Mức bồi thường thiệt hại có thể do các bên thỏa thuận hoặc tòa án quyết định Tuy nhiên, mức bồi thường thiệt hại đã thỏa thuận và quyết định có thể bị thay đổi nếu mức bồi thường “không còn phù hợp với thực tế” Việc xem xét các điều kiện thực tế và xác định sự phù hợp căn cứ vào yêu cầu của các bên, thực tế cần phải thay đổi mức bồi thường (người được bồi thường tăng thu nhập, phải chi phí thêm để chữa bệnh…) Việc xem xét tăng hoặc giảm mức bồi thường do tòa án xác định theo yêu cầu của các bên

3 Một số trường hợp thực tế về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng pháp luật hiện hành

Hiện nay vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cá nhân gây ra đang là một vấn đề lớn của xã hội Xung quanh việc xác định mức độ lỗi và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai, Bộ luật dân sự Việt Nam 2015

đã có nhiều quy định cụ thể về từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc xác định mức độ lỗi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về

ai lại là một vấn đề nan giải và tương đối khó khăn Bởi thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều sai sót trong việc xác định lỗi và tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể

Chẳng hạn: Có quan điểm rằng chủ thể gây thiệt hại cho người khác là là người chưa thành niên, người chưa thành niên có lỗi trực tiếp thực hiện hành vi trái pháp luật Nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại là của cha mẹ, người giám hộ là người bồi thường thay cho người chưa thành niên với ý nghĩa “con dại cái mang” Đối với trường hợp người chưa thành niên chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian người đó chịu sự quản lý của trường học Có tòa án xác định trường học là bị đơn dân sự trong vụ án và phải chịu trách nhiệm bồi

Trang 9

thường thiệt hại do học sinh của mình gây ra trong thời gian học tập, hoạt động tại trường còn cha mẹ của học sinh đó không được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp và không phải chịu trách nhiệm bồi thường do con mình gây ra Có tòa án lại xác định trường học và cha mẹ, người giám hộ học sinh đó sẽ là đồng bị đơn dân sự và liên đới bồi thường thiệt hại Trường hợp người gây thiệt hại là cán bộ công chức, người của cơ quan tiến hành tố tụng, việc cá thể hóa trách nhiệm hoàn trả của cán bộ công chức có lỗi là rất khó khăn

Có vụ thì Nhà nước bồi thường, có vụ thì không; nhất là rất ít trường hợp buộc được cán bộ công chức có lỗi cố ý gây thiệt hại Thực trạng này không sớm khắc phục sẽ làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân và tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, gây mất công bằng xã hội

4 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Về lập pháp: cần rà soát các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng của cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau để tiến hành sửa đổi

bổ sung hoặc ban hành mới nhằm đảm bảo tính thống nhất với các quy định mang tính nguyên tắc trong BLDS Cụ thể:

Bổ sung những văn bản hướng dẫn cụ thể giúp thẩm phán thuận lợi và thống nhất trong việc xác định lỗi của người giám hộ, tài sản của người chưa thành niên và xác định rõ tư cách bị đơn khi tham gia tố tụng

Cần có văn bản quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền giải quyết các

vụ việc khác nhau cũng như cơ chế phối hợp giải quyết giữa các cấp cùng liên đới chịu trách nhiệm bời thường thiệt hại, đặc biệt đối với trường hợp bồi

thường thiệt hại do cán bộ công chức nhà nước, người của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Trang 10

Vấn đề bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi hoặc mất năng lực hành

vi dân sự gây ra trong thời gian được trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quản lý thì trường học, bệnh viện, pháp nhân đó phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi Quy định này là nhằm nang cao trách nhiệm của trường học, bệnh viện, pháp nhân trong việc giám sát các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của mình Tuy nhiên, theo em các nhà làm luật cần phải sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật để làm rõ hơn yếu tố lỗi, phải quy định rõ như nào là lỗi trong quản lý của trường học, bệnh viện, pháp nhân chứ không phải lỗi trong việc gây ra thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên vi phạm pháp luật gây thiệt hại không chỉ là trách nhiệm vật chất, mà trong nhiều trường hợp còn là xâm phạm các giá trị thân nhân Nếu như có xâm phạm các giá trị thân nhân thì pháp luật sẽ bảo vệ như nào? Bởi quan hệ tài sản thì đền bù bằng tiền ngang giá, còn xâm phạm các giá trị nhân thân thì không thể quy ra tiền Trong

Bộ luật dân sự cần bổ sung những quy định về vấn đề này

Về tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của nhân dân, cụ

thể là chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nói chung và của cán bộ cán

bộ công chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng thông qua việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật Qua đó giúp mọi người ý thức được trách nhiệm của mình đối với chính các quyền dân sự gắn liền với bản thân, các quyền dân sự của người khác

và lợi ích chung của xã hội

Thực tế việc giám hộ đối với người chưa thành niên, người mất năng lực nhận thức thời gian qua còn nhiều thiếu sót Tình trạng bỏ nhà đi bụi vẫn còn xảy ra nhiều, một số trường hợp trộm cắp, đánh nhau, sử dụng ma túy… gây hậu

Trang 11

quả nghiêm trọng, làm mất trật tự an ninh xã hội Nhiều trẻ em và người mất năng lực nhận thức chưa được quản lý, chăm sóc theo quy định, sự phối hợp của gia đình, cha mẹ, người giám hộ với các tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ trên còn nhiều hạn chế Vì vậy, các cấp, ban, ngành nhất là các cơ quan cơ sở cần tuyên truyền, giáo dục cùng với gia đình thực hiện triệt để

Bộ luật dân sự; luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; luật hôn nhân và gia đình

và quyết định của Chính Phủ, bộ Y tế về việc quản lý, điều trị người tâm thần đặc biệt quyền giám hộ theo quy định của pháp luật cần được thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để hơn

Trách nhiệm của cha mẹ, nhà trường cơ sở y tế trong việc giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng cần được nâng cao Cha mẹ, nhà trường cần quan tâm hơn tới việc đổi mới tư duy về phương pháp giáo dục, quản lý, chăm sóc đối với cá nhân chưa thành niên dưới 18 tuổi để các em có một trí óc phát triển, có suy nghĩ chín chắn để có những lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy định của pháp luật để xã hội phát triển, công bằng và văn minh hơn

KẾT LUẬN

Qua việc tìm hiểu về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cá nhân gây ra ta thấy: không phải bất cứ cá nhân nào khi gây thiệt hại cũng đều phải tự mình bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ thuộc về những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và phải có khả năng thực tế để tiến hành để bồi thường thiệt hại xảy ra Các quy định pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tạo

cơ sở pháp lý để bảo vệ lợi ích, nhân thân của người bị thiệt hại, từ đó có căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bảo đảm quyền hợp pháp của con người và tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong xã hội Có thể thấy pháp luật luôn coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Tuy được quy định khá cụ thể và rõ ràng về vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2015 và các

Ngày đăng: 11/09/2020, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w