Vì vậy trong chính sách về tiền lương của Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ sáu đã nhấn mạnh: “ Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi sửa đổi một cách cơ bản ch
Trang 1LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNGI.TIỀN LƯƠNG
1 Khái niệm và bản chất của tiền lương
1.1 Khái niệm
a Quan điểm cũ về tiền lương
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động và nó che giấu sự bóc lột của nhà tư bản với người làm thuê Ở Việt Nam cách đây gần mười năm nhiều người coi tiền lương ở nước ta là một
bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu, do nhà nước phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ phù hợp với quy luật phân phối theo lao động Với quan điểm này, tiền lương mang nặng tính bao cấp và bình quân nên nó không khuyến khích được việc nâng cao trình
độ chuyên môn, tính chủ động của người lao động, xem nhẹ lợi ích người lao động do đó không gắn với thành quả mà họ tạo ra.
Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế đã làm bộc lộ những hạn chế của quan điểm cũ về tiền lương Đòi hỏi cần phải nhận thức lại đúng đắn hơn Vì vậy trong chính sách về tiền lương của Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ sáu đã nhấn mạnh: “ Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi sửa đổi một cách cơ bản chế độ tiền lương theo hướng đảm bảo yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân, xoá bỏ từng bước phần cung cấp còn lại trong chế
độ tiền lương, áp dụng chế độ trả lương gắn chặt với kết quả và hiệu quả kinh tế”.
b Quan điểm mới về tiền lương:
Theo quan điểm đổi mới của Đảng: “ Tiền lương là một bộ phận thu nhập quốc dân, là giá trị mới sáng tạo ra mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động phù hợp với giá trị sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất”.
Trong nền kinh tế thị trường thì tiền lương là một bộ phận quan trọng của giá trị hàng hoá, phản ánh giá cả sức lao động thể hiện trong giá cả hàng
Trang 2hoá thực hiện Vì vậy, việc trả lương, trả công lao động được tính toán toàn bộ một cách chi tiết trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị, các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế Để xác định tiền lương hợp lý cần tìm ra cơ sở để tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao động Người lao động sau khi bỏ ra sức lao động tạo ra sản phẩm thì được một số tiền công nhất định, có thể nói sức lao động được đem trao đổi lấy tiền công Vậy có thể coi sức lao động là một hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt.Tiền lương hay tiền công là giá cả của hàng hoá đặc biệt đó.
Ở nước ta hiện nay tiền lương được coi là giá cả sức lao động được hình thành qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với các quan hệ của nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do là giá cả của hàng hoá đặc biệt (sức lao động) nên để xác định tiền lương, tiền công hợp lý cần phải có cơ sở tính đúng, tính đủ giá trị sức lao động Đó là giá trị các yếu tố đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động đảm bảo cho người lao động hoà nhập với thị trường xã hội, thống nhất với giá cả hàng hoá khác Tóm lại phải đảm bảo nhu cầu về ăn, ở, đi lại, học hành cho người lao động.
Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành TW Đảng cho rằng việc
tổ chức tiền lương hợp lý có một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế của nền sản xuất Đảng ta chủ trương phải gắn chặt tiền lương với năng suất, chất lượng, hiệu quả Tiền lương thực
tế phải đảm bảo cho người ăn lương sống chủ yếu bằng lương, tái sản xuất sức lao động và phù hợp với khả năng của nền kinh tế quốc dân.
Với quan điểm này thì tiền lương, tiền công được trả đúng với giá trị sức lao động hơn, việc tiền tệ hoá tiền lương được triệt để hơn, xoá bỏ tính phân phối, cấp phát và trả lương bằng hiện vật Đồng thời khắc phục quan điểm coi nhẹ lợi ích cá nhân như trước kia, tiền lương phải được sử dụng đúng vai trò
là đòn bẩy kinh tế của nó nhằm kích thích người lao động gắn bó hăng say với công việc.
Trang 31.2 Bản chất
Do chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới nên bản chất tiền lương ở nước ta sẽ hoàn toàn thay đổi so với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Trước đây, quan niệm cũ cho rằng nền kinh tế XHCN không thể là nền kinh tế thị trường mà là nền kinh tế hoạt động trên cơ sở kế hoạch hoá tập trung, và
do đó, về bản chất, tiền lương không phải là giá cả sức lao động, mà là một phần thu nhập quốc dân, được nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động Mỗi chính sách, chế độ
và mức lương cụ thể đều do nhà nước thống nhất ban hành để áp dụng cho mỗi người lao động, bất kỳ họ công tác ở khu vực hành chính sự nghiệp hay tại các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Chế độ tiền lương trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp trước đây gồm hai phần: phần bằng tiền được nhà nước phân phối cho cán bộ công nhân viên theo các thang, bảng lương; phần bằng hiện vật chiếm tỷ trọng lớn so với tiền lương cơ bản bằng tiền Phần bằng tiền với mức lương thấp, bình quân, không phân biệt rõ sự khác biệt chất lượng lao động Phần bằng hiện vật thì chắp vá, tuỳ tiện, không công bằng.
Trong cơ chế cũ, tiền lương của người lao động không phụ thuộc vào năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh mà quy định “cứng”
Do đó, tiền lương của người làm việc hiệu quả cũng bằng tiền lương của người làm việc kém hiệu quả Nhìn chung, tiền lương của người lao động chỉ chiếm một phần nhỏ trong giá thành sản phẩm Tình trạng tiền lương không đủ bảo đảm để tái sản xuất sức lao động đã làm cho đại bộ phận đời sống người lao động không được bảo đảm.
Chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, chính sách tiền lương cũng có thay đổi.
Theo quan điểm mới, tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ qui định Bản chất tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao
Trang 4động và người sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cung cầu Mặt khác, tiền lương phải bao gồm
đủ các yếu tố cấu thành để bảo đảm là nguồn thu nhập, là nguồn sống chủ yếu của bản thân và gia đình người lao động, và là điều kiện để người hưởng lương hoà nhập vào thị trường xã hội.
Tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động là từ hiệu quả sản xuất kinh doanh( một phần trong giá trị mới sáng tạo ra) Các đơn vị sản xuất phải bảo đảm cho người lao động có thu nhập tối thiểu bằng mức lương tối thiểu do nhà nước ban hành.
Những người lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và cơ quan, đoàn thể, hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định Nguồn tiền lương lấy từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm tiền lương mới đã thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt và đòi hỏi người lao động phải được trả lương theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể.
Trên đây là bản chất kinh tế của tiền lương Ngoài ra, tiền lương còn mang bản chất xã hội vì nó gắn liền với người lao động và cuộc sống của họ Sức lao động của con người không giống như các loại hàng hoá khác, mà là tổng thể các mối quan hệ xã hội.
2.Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
2.1 Tiền lương danh nghĩa
Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm, ngay trong quá trình lao động Trên thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa.
Trang 52.2 Tiền lương thực tế
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ.
2.3 Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Như trình bày ở trên, tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào gía cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện qua công thức sau:
Quan hệ giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa là rất phức tạp Bởi vậy, sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa, của giá cả phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Trang 63 Tiền lương cơ bản và mức lương tối thiểu
3.1 Tiền lương cơ bản
3.2 Tiền lương tối thiểu
Ở nước ta, trong chế độ tiền lương ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1993, tiền lương tối thiểu được hiểu như sau: Tiền lương tối thiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động làm cong việc giản đơn nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và diến ra trong môi trường lao động bình thường Số tiền đó đảm bảo cho người lao động mua được những tư liệu sinh hoạt thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi con và bảo hiểm lúc hết tuổi lao động.
4 Chức năng của tiền lương
Như chúng ta đều biết, con người là yếu tố quan trọng ảnh hưởng quyết định đến năng suất lao động Động cơ lao động của con người bắt nguồn từ hệ thống nhu cầu về vật chất và tinh thần Họ lao động với mục đích làm thoả mãn nhu cầu bản thân, tập thể và xã hội nhưng trước hết là nhu cầu của chính bản thân người lao động Càng nghiên cứu càng thấy nhu cầu con người ngày càng phong phú, đa dạng và không bao giờ dừng lại Tuỳ theo giới tính, lứa tuổi, đặc điểm tâm lý, không gian và thời gian mà những nhu cầu đó cũng khác nhau.
Nhu cầu ăn , mặc, ở, sinh hoạt là không thể thiếu được Điều này chỉ có thể giải quyết được thông qua tiền tệ – ở đây chính là tiền lương Như vậy, tiền lương thực sự là công cụ đắc lực , là động cơ chủ yếu thúc đẩy con người lao động, khuyến khích sản xuất phát triển.
Trang 7*> Xét một cách tổng quát, tiền lương có những chức năng sau:
quyết định sự ổn định và phát triển kinh tế của gia đình họ Tiền lương là nguồn nhằm đảm bảo chi phí để tái sản xuất sức lao động Vì vậy nó có tác động lớn đến thái độ của người lao động đối với sản xuất.
động phải có trách nhiệm cao với công việc, tiền lương phải tạo ra sự say mê nghề nghiệp Có tiền lương, người lao động tự thấy phải không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, đúc rút những kinh nghiệm để làm việc hiệu quả hơn.
nguyện nhận mọi công việc được giao, có gắng hoàn thành những công việc trong điều kiện sức lực và trí tuệ cho phép.
tiền lương còn với mục đích khác là thông qua việc trả lương để theo dõi giám sát người lao động, bắt họ làm việc theo ý đồ của mình, đảm bảo tiền lương chi
ra phải mang lại hiệu quả, kết quả rõ rệt Hiệu quả của tiền lương không chỉ được tính theo tháng mà còn được tính theo ngày giờ ở toàn doanh nghiệp, từng bộ phận, từng người.
*> Xét trên góc độ quản lý kinh doanh, quản lý xã hội:
Tiền lương là đòn bẩy kinh tế cực kỳ quan trọng Thông qua các chính sách về tiền lương, Nhà nước có thể điều chỉnh nguồn lao động giữa các vùng, khu vực theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
*> Xét trên phạm vi doanh nghiệp:
Tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích người lao động phát huy tài năng sáng tạo của họ, làm việc tận tuỵ, có tráchnhiệm cao với công việc Tiền lương cao hay thấp sẽ là yếu tố gắn bó người lao động với doanh nghiệp Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mà hầu hết lao động được tuyển dụng trên cơ sở hợp đồng lao động, người lao động có quyền làm việc cho nơi nào mà họ thấy có lợi nhất Tiền lương là nguồn sống của
Trang 8người lao động, họ đi làm thuê để được hưởng lương và muốn được hưởng lương cao, vì vậy tiền lương được sử dụng như đòng bẩy kinh tế, một công cụ quản lý bằng phương pháp kinh tế trong doanh nghiệp Thông qua tiền lương
có thể hướng người lao động làm việc theo định hướng của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất hợp lý, tăng cường kỷ luật lao động cũng như khuyến khích tăng năng suất lao động.
II NHỮNG YÊU CẦU, NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG CỦA TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG
1 Các quan điểm về tổ chức tiền lương
Theo qui định hiện nay của nước ta, Nhà nước không trực tiếp quản lý tổng quỹ tiền lương của các doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ tiền lương nhưng phải do cấp trên quy định đơn giá tiền lương và duyệt quy chế tiền lương của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền tự lựa chọn các hình thức trả lương trong doanh nghiệp trên cơ sở quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kích thích không ngừng tăng năng suất lao động Mức thu nhập của mỗi người trong doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và phụ thuộc vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác của từng người Nhà nước không can thiệp vào quỹ tiền lươgn của doanh nghiệp, không quản lý kế hoạch hoá tiền lương như trước mà chỉ giám sát sử dụng quỹ tiền lương Nhà nước không cho phép các doanh nghiệp trả lương cho người lao độngthấp hơn mức tối thiểu nhưng vẫn có chinhs sách điều tiết đối với những nơi có thu nhập cao như chính sách thuế thu nhập cao Các doanh nghiệp cần quan tâm tới những qui định này nhằm mục đích vừa tăng tổng quỹ lương của mình vừa phân phối tiền lương hợp lýcho mỗi công nhân, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa nhịp độ tăng tiền lươngvới nhịp độ tăng năng suất lao động Quĩ lương doanh nghiệp được hình thành khác nhau qua từng thời kỳvà đến nay quỹ lương trong doanh nghiệp đã được xác định bằng cách căn cứ vào đơn giá tiền lương.
Doanh nghiệp tự xây dựng đơn giá tiền lương trình cấp trên duyệt.
Nếu là sản phẩm do Nhà nước định giá thì đơn giá tiền lương được tính bằng lượng tiền tuyệt đối trên một đơn vị sản phẩm hoặc tỷ lệ tiền lương trên doanh thu.
Trang 9Nếu là sản phẩm doanh nghiệp tự định giá thì đơn giá tiền lương được tính bằng tỷ lệ tiền lương trên giá bán một đơn vị sản phẩm (nếu là sản phẩm
ổn định), là tỷ lệ tiền lương trên tỏng doanh thu ( nếu là sản phẩm không ổn định).
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp phải được đăng ký với ngân hàng.
2 Yêu cầu của tổ chức tiền lương
Trong nền kinh tế thị trường khi sức lao động được thừa nhận là hàng hoá thì tiền lương chính là giá cả sức lao động Tiền lương phải đảm bảo đủ chi phí để nuôi sống người lao động và thoả mãn một phần nhu cầu trong cuộc sống của họ Việc tổ chức tiền lương phải nhằm xác định được những chế độ
và phụ cấp lương cũng như tìm được những hình thức trả lương thích hợp nhằm nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
Khi tổ chức tiền lương cho người lao động cần đạt những yêu cầu cơ bản sau:
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động Sức lao động thể hiện ở ttạng thái thể lực, tinh thần , tâm lý, sinh lý, thể hiện ở trình độ nhận thức, kỹ năng lao động, phương pháp lao động Sức lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất Nó là yếu tố quan trọng nhất vì sức lao động có khả năng phát động và đưa các tư liệu lao động, đối tưọng lao động vào trong quá trình sản xuất Mọi hoạt động chỉ có thể duy trì và phát triển với điều kiện không ngừng tái sản xuất sức lao động( tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng) Theo quan niệm này, hiện nay tiền lương là giá cả sức lao động do đó nó phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động.
- Làm cho năng suất lao động không ngừng được nâng cao.
- Bảo đảm tính đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu…Việc thanh toán tiền lương phải trên cơ sở khoa học công khai và rõ ràng để cho người lao động có thể tự mình thanh toán, dự đoán được số lương mà họ có thể nhận được hàng ngày, hàng tháng.Từ đó cố gắng nâng cao tay nghề, năng suất, cường độ để tăng
Trang 10tiền lương của bản thân, đồng thời xoá bỏ những yếu tố gây tính" mập mờ" trong việc trả lương.
3 Các nguyên tắc tổ chức tiền lương
Trong hệ thống tổ chức quản lý lao động, tổ chức tiền lương giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Tổ chức tiền lương tốt có tác dụng trả lương công bằng, hợp lý cho người lao động, tạo ra tâm lý làm việc thoải mái, phấn khởi trong sản xuất và giúp doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình
sử dụng lao động Để đảm bảo việc tổ chức tiền lương được thực hiện tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cần thực hiện những nguyên tắc cơ bản sau:
3.1 Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau
Nguyên tắc này đưa ra dựa trên quy luật phân phối theo lao động, đảm bảo sự công bằng trong việc trả lương cho ngưòi lao động Hai người có thời gian , tay nghề và năng suất lao động như nhau thì phải được trả lương ngang nhau Ngược lại, những lao động khác nhau thì trả lương khác nhau, không có bất kỳ sự phân biệt, đối xử nào trong việc trả lương Thực hiện nguyên tắc này nhằm xoá đi sự lạm dụng những tiêu thức bất hợp lý như: giới tính, dân tộc, màu da, tuổi tác để hạ thấp tiền lương của người lao động.
Thực hiện tốt nguyên tắc này có tác dụng kích thích người lao động hăng hái tham gia sản xuất góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất.
3.2 Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân
Đây là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức, vì có như vậy mới tạo cơ sở cho giảm giá thành, hạ giá bán và tăng tích luỹ Có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ này, cho phép thực hiện được nguyên tắc này:
- Tiền lương bình quân tăng lên phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan do nâng cao năng suất lao động (nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian lao động) Năng suất lao dộng tăng không phải chỉ do những yếu tố trên mà còn phụ thuộc trực tiếp vào những yếu tố khách quan khác ( áp dụng kỹ thuật
Trang 11mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ) Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có khả năng khách quan lớn hơn tốc độ của tiền lương bình quân.
- Không những thế khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động với tiền lương thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân ta thấy chúng cũng có mối quan hệ trực tiếp với tốc độ phát triển của khu vực I (sản xuất ra tư liệu sản xuất) và khu vực II (sản xuất vật phẩm tiêu dùng).
Do nhu cầu tái sản xuất đòi hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực
II về tốc độ tăng của tổng sản phẩm xã hội tính bình quân theo đầu người lao động (cơ sở của tiền lương thực tế) Ngoài ra sản phẩm của khu vực II không phải đem toàn bộ để nâng cao tiền lương thực tế, mà còn phải trích lại một phần để tích luỹ Do đó muốn đảm bảo phần còn lại cho tiêu dùng của công nhân viên chức không ngừng tăng lên cũng yêu cầu năng suất lao động xã hội phải tăng nhanh hơn.
Tóm lại trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ công ty, xí nghiệp muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ thì không còn con đường nào khác là làm cho năng suất lao động tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Vi phạm nguyên tắc trên sẽ tạo ra những khó khăn trong việc phát triển sản xuất và nâng cao đời sống người lao động.
Tuy nhiên trong một giai đoạn đặc biệt ngắn, nguyên tắc này cần phải được tôn trọng ở cả tầm vi mô và vĩ mô Chỉ khi tốc độ tăng năng suất lao dộng tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân thì của cải xã hội mới được tích luỹ tạo điều kiện cho nền sản xuất mở rộng và giúp xã hội không ngừng phát triển.
3.3 Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Mỗi nền kinh tế có một điều kiện sản xuất khác nhau, phân phối theo lao động khác nhau.Do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ cống hiến và hao phí sức lao động của từng người Bởi vậy cần phải xây dựng chế độ tiền lương hợp
lý giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó tạo điều kiện thu hút và điều
Trang 12phối lao động vào những ngành kinh tế có vị trí trọng yếu và những vùng có tiềm năng sản xuất lớn đồng thời nó phải kích thích con người trong quá trình sản xuất đáp ứng nhu cầu của quy luật kinh tế, quy luật phân phối theo lao động, quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối trong nền kinh tế quốc dân Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung lần thứ 6 chỉ rõ:" Lao động có kỹ thuật, lao động ở những ngành nghề nặng nhọc, độc hại, ở những vùng có điều kiện khó khăn cần được đãi ngộ thích đáng" Tiền lương bình quân giưã các ngành trong nền kinh tế quốc dân khác nhau thông thường do một số nhân tố sau quyết định:
- Trình độ lành nghề bình quân của người lao động trong mỗi ngành.
- Điều kiện lao động khác nhau.
- Ý nghĩa kinh tế mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên do điều kiện sinh hoạt, mức sống ở các khu vực khác nhau của đất nước ta là khác nhau Điều kiện sinh hoạt ở miền núi khó khăn hơn đồng bằng, mức sống thành phố cao hơn nông thôn, vì vậy khi tính lương thì ảnh hưởng của các yếu tố này cũng phải được xét đến.
3.4 Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động
Xã hội muốn tồn tại thì con người phải thường xuyên tiêu dùng của cải vật chất Để có được của cải vật chất thì nền sản xuất hàng hoá phải tiến hành liên tục, do đó sức lao động yếu tố cơ bản cấu thành quản trị sản xuất cung cầu luôn được sử dụng và tái tạo.
Thực hiện nguyên tắc này, tiền lương phải là giá cả sức lao động phù hợp với quan hệ cung cầu lao động và pháp luật của nhà nước Thực hiện việc trả lương theo việc gắn với giá trị mới sáng tạo ra Đòng thời phản ánh đúng kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Mức lương tối thiểu phải là nền tang chính sách tiền lương và có cơ cấu hợp lý về sinh học, xã hội học, bảo hiểm, tuổi già và nuôi con.
Tiền lương của người lao động là để tái sản xuất sức lao động tức là đảm bảo cho đời sống của bản thân họ và gia đình của người lao động Điều quan trọng là tư liệu sinh hoạt mà người lao động nhận khi họ chuyển hoá số tiền
Trang 13nhận được qua các khâu phân phối lưu thông trực tiếp là giá cả của phương thức phục vụ thị trường.
4 Quĩ tiền lương và cơ cấu quỹ tiền lương
Tiền lương hay thu nhập đều được lấy từ quỹ phân phối của doanh nghiệp Quỹ phân phối theo số lượng và chất lượng lao động do kết quả sản xuất kinh doanh mang lại, đó là bộ phận chi phí quan trọng của doanh nghiệp, biểu hiện bằng tiền là quỹ tiền lương.
Vậy quĩ tiền lương là tổng số tiền doanh nghiệp phải trả cho cán bộ công nhân viên trong danh sách do doanh nghiệp quản lý theo số lượng và chất lượng lao động mà mỗi người đã cống hiến Quỹ tiền lương của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có thể do cấp phát thông qua ngân sách nhà nước, dựa trên hệ thống bảng lương do chính phủ qui định, hoặc theo nguyên tắc tự cân đối, tự trang trải, lấy thu bù chi, đảm bảo trả lương đầy đủ cho người lao động, đồng thời có thêm tích luỹ mở rộng sản xuất.
Thành phần quỹ tiền lương của doanh nghiệp gồm các khoản chủ yếu sau:
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế ( theo thời gian và theo sản phẩm).
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc, nghỉ phép hoặc đi học.
- Các khoản tiền thưởng trong sản xuất, các khoản phụ cấp thường xuyên ( phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp làm đêm )
- Có nhiều cách phân loại cơ cấu quỹ tiền lương nhưng hiện nay quỹ tiền lương chủ yếu được phân loại theo hai cách sau đây:
Cơ cấu quỹ tiền lương theo đối tượng trả bao gồm:
+ Quỹ tiền lương sản xuất
+ Quỹ tiền lương quản lý
Trang 14+ Quỹ tiền lương phục vụ và phụ trợ
Cơ cấu quỹ tiền lương của người lao động theo tính chất của sản phẩm hoàn thành công việc, bao gồm:
+ Quỹ tiền lương sản phẩm mới
+ Quỹ tiền lương sản phẩm truyền thống
+ Quỹ tiền lương làm thêm giờ
+ Quỹ tiền lương bổ sung
Theo quy định hiện nay của nhà nước, doanh nghiệp có quyền tự chủ xây dựng quỹ tiền lương nhưng phải được cấp trên trực tiếp duyệt và giao đơn giá tiền lương cho đơn vị Doanh nghiệp có quyền tự chọn hình thức trả lương trên
cơ sở quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động Nhà nước cho phép các doanh nghiệp trả lương cho người lao động thấp hơn lương tối thiểu nhưng cũng có chính sách điều tiết đối với những người có thu nhập cao, nhà nước xây dựng và ban hành các thang lương, bảng lương.
- Thang lương: Là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những người công nhân cùng nghề hoặc cùng nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp bậc của họ Mỗi thang lương gồm một số bậc lương và các hệ số phù hợp với các bậc lương đó.
- Bảng lương: Về cơ bản giống như thang lương nhưng có khác ở chỗ mức độ phức tạp của công việc và mức độ phụ thuộc vào công suất thiết kế và qui mô của doanh nghiệp.
- Mức lương: Là số lượng tiền để trả công cho người lao động trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng) phù hợp với các bậc trong thang lương.
Thông thường chỉ qui định mức lương bậc một với hệ số của bậc tương ứng.
Công thức tính như sau:
L i = L 1 x H i ( i = 1….n)
Trong đó:
Trang 15L i : Mức lương cơ bản phải tìm
Để tính quỹ tiền lương trong các doanh nghiệp cần phải biết một số thông tin cơ bản sau: Tổng số cán bộ công nhân viên, các hệ số điều chỉnh, các khoản phụ cấp và đặc biệt là mức lương tối thiểu.
Theo Nghị định 28/CP qui định mức tiền lương tối thiểu là 144.000đ/tháng Mức lương này không đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của gia đình người lao động Đến ngày 27/03/2000 chính phủ ra nghị định số 10/CP điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng lên 180.000đ/tháng áp dụng trong cả nước từ ngày 01/01/2000 Đây là một cố gắng rất lớn trong việc nâng cao tiền lương
và thu nhập của người lao động trong điều kiện nền kinh tế nuớc ta có nhiều khó khăn Tuy nhiên ngay cả mức lương tối thiểu này cũng chưa đáp ứng được các điều kiện: Tái sản xuất sức lao động, phát triển sức lao động về chất (nâng cao trình độ văn hoá, tinh thần, khoa học, kỹ thuật cho người lao động), chi phí
để nuôi gia đình người lao động và có tích luỹ.
Từ 2001, có một số cơ quan áp dụng mức lương tối thiểu là 210.000đ/tháng theo qui định của Nhà nước từ ngày 01/01/2001.
Đến 2003, mức lương tối thiểu theo qui định của Nhà nước là 290.000đ/tháng.
Để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của người lao động và gia đình họ, chính phủ cần phải luôn quan tâm đến việc điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo đời sống cho người lao động theo quan điểm: Bảo đảm sự mềm dẻo, linh hoạt của tiền lương theo những qui luật của thị trường, kết hợp với những chính sách kinh tế xã hội của nhà nước.
III CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG
1 Chế độ tiền lương cấp bậc
1.1 Khái niệm
Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những văn bản qui định của Nhà nước mà các xí nghiệp, doanh nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho